- Nghiên cứu được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đến đường lối, chính sách củatriều Nguyễn đối với việc vận hành đất nước.- Tái hiện một cách khách quan, chân thực về những công việc
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3
5 Cấu trúc đề tài 4
6 Phân công nhiệm vụ 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: Bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực thế kỉ XIX tác động đến vấn đề độc lập dân tộc 5
I Công cuộc bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây 5
II Vấn đề biên giới Việt - Thanh 7
1 Giai đoạn 1802- 1858………8
2 Giai đoạn 1858 - 1885……… 9
III Về quan hệ Nguyễn - Xiêm 11
Chương 2: Nhà Nguyễn đối với vấn đề độc lập dân tộc 14
I Những tiêu chí để xác định vấn đề độc lập dân tộc 14
1 Toàn vẹn lãnh thổ……….15
2 Không có sự chiếm đóng của bất kì quân đội nước ngoài trên lãnh thổ ………….16
3 Tự chủ trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại và có chính quyền vững mạnh thống nhất……… 18
II Nhà Nguyễn với việc giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc từ năm 1802 đến 1858 18
1 Chính sách đối nội……… 18
1.1 Chính trị……….18
1.2 Kinh tế………22
1.3 Quân sự……… …27
1.4 Luật pháp………31
Trang 22 Đối ngoại……… …32
2.1 Chính sách ngoại giai của triều Nguyễn với các nước lân bang……….32
2.2 Chính sách của triều Nguyễn với các nước phương Tây………34
3.Chính sách của nhà Nguyễn đối với Thiên Chúa Giáo……… 40
III Nhà Nguyễn với vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc trước sự xâm lược của thực dân Pháp từ năm 1858 – 1884 45
1 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và chính sách ngoại giao của triều Nguyễn đối với Thực dân Pháp từ 1858 - 1884……….45
2 Những hoạt động quân sự của triều Nguyễn chống lại sự xâm lược của Thực dân Pháp……… 53
3.Nhà Nguyễn và vấn đề canh tân đất nước……… …60
Chương 3: Vai trò của nhà Nguyễn đối với vấn đề độc lập dân tộc 60
I Vai trò của nhà Nguyễn trong vấn đề độc lập dân tộc từ 1802 - 1858 60
II Những đóng góp của nhà Nguyễn trong quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp 61 III Trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước vào tay thực dân Pháp 61
1 Trách nhiệm của triều đình……… ……61
2.Trách nhiệm của các cá nhân nắm giữ trọng trách của đất nước………….… 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Độc lập dân tộc đã trở thành một giá trị thiêng liêng của dân tộc Việt Nam Với thờigian làm chủ đất nước dài ngắn khác nhau, triều đại nào cũng có ưu nhược điểm, mặt tíchcực và mặt tiêu cực, không nhiều thì ít Tuy nhiên, sự đánh giá về những mặt này đối vớivương triều Nguyễn có vẻ đặt biệt hơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta.Đặc biệt ở chỗ các nhà sử học chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhautrong quan điểm Chẳng hạn có những nhà sử học cho rằng nhờ có nhà Nguyễn nên dântộc ta mới có được một đất nước Việt Nam rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay, thìcũng có những nhà sử học khác lại lên án triều Nguyễn là một triều đại “bán nước” và
“cực kỳ phản động”
Triều đại này đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử hết sức quan trọng trong dòng chảy lịch
sử của dân tộc Đó là công cuộc thống nhất đất nước, mặc dù từ khi phong trào Tây Sơn
nổ ra, đất nước về cơ bản đã được thống nhất Nhưng phải đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi thì tình trạng phong kiến phân quyền mới thực sự chấm dứt
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nhằm sáng tỏ được giai đoạn từ năm 1802 - 1858 triều Nguyễn đã thành mộtquốc gia hoàn toàn độc lập; có một lãnh thổ thống nhất, có sự tự chủ trong các hoạt độngđối nội, đối ngoại của mình; đi sâu nghiên cứu để cho chúng ta thấy được vai trò của nhàNguyễn trong giai đoạn này, thấy được những đóng góp của nhà Nguyễn đối với lịch sửdân tộc trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đồng thời, giai đoạn này cũng cho ta thấy đượcnhững nguyên nhân nào để cho thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta vào năm 1558
Đề tài còn làm sáng tỏ được sự mất nước của nhà Nguyễn vào tay thực dân Phápvào năm 1884 đó là sự tất yếu hay không tất yếu; thấy được sự nhu nhược của cả mộtvương triều đồng thời cũng thấy được những nỗ lực của vương triều ấy để bảo vệ nền độclập của dân tộc Để từ đó, có một đánh giá khách quan nhất về vương triều Nguyễn (1802
- 1858), để thấy được công và tội của gia tộc này trong một vết đen tối của lịch sử dântộc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Trang 4- Nghiên cứu được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đến đường lối, chính sách củatriều Nguyễn đối với việc vận hành đất nước.
- Tái hiện một cách khách quan, chân thực về những công việc mà nhà Nguyễn đãlàm để ổn định, bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển của đất nước
- Tập trung làm rõ trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước vào tay thựcdân Pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhà Nguyễn với vấn đề độc lập dân tộc Trong
đó đề tài đi sâu vào vấn đề nhà Nguyễn đã có những biện pháp gì để bảo vệ và duy trì nềnđộc lập của mình và đặc biệt hơn đó là thái độ của cả vương triều Nguyễn đối với sự xâmlược của thực dân Pháp, những hành động nào để bảo vệ nền độc lập dân tộc hay đó là sựđầu hàng dần dần qua những bản hiệp ước để rồi mất độc lập vào tay người Pháp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu:Từ năm 1802 đến năm 1884 (tức làtừ khi triều Nguyễnđược xác lập vào năm 1802, đến năm 1884 Pháp buộc triều Nguyễn ký điềuước Patơnốt Hiệp ước này mang ý nghĩa một bản khai tử đối với chủ quyềnđối ngoại của vương triều Nguyễn)
Không gian nghiên cứu : nghiên cứu theo chiều dài lịch sử của vương triềuNguyễn
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh kếthợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác Quá trình nghiên cứu được bắt đầubằng phương pháp thu thập thông tin qua sách báo, tài liệu để chọn ra những khái niệm
và tư tưởng cơ bản làm cơ sở lý luận của đề tài, tiếp đó nhóm tiến hành việc phân tích cáctài liệu đã thu thập được và tổng hợp chúng để xây dựng thành một hệ thống khái niệm,phạm trù mới cũng như các quan điểm, nhận định mang ý kiến độc lập của nhóm Trongquá trình thực hiện đề tài này người viết đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiêncứu như thống kê, sưu tầm, xử lí tư liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp… nhưng chủ đạovẫn là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Trang 54.2. Nguồn tư liệu
Đề tài được thực hiện dựa trên những nguồn tư liệu mà nhóm đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu như:
- Tham khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước gồm các nhóm tài liệu như: các báo cáo kết quả công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành về giai đoạn triều Nguyễn
- Tham khảo các cuốn sách như: Lịch sử Việt Nam – tập 5 (Trương Thị Yến - chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam – toàn tập (Trương Hữu Quýnh - chủ biên), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885
(Yoshiharu Tsuboi), v.v
- Tham khảo trung tâm dữ liệu trên các trang web chính thống có liên quan đến nhà Nguyễn và dòng tộc họ Nguyễn
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh thế giới và khu vực tác động đến vấn đề độc lập dân tộc Chương 2: Độc lập dân tộc dưới thời Nguyễn (1802 – 1858)
Chương 3: Vai trò của nhà Nguyễn đối với vấn đề độc lập dân tộc
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: Bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực thế kỉ XIX tác động đến vấn
đề độc lập dân tộc
I Công cuộc bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Vào đầu thế kỷ 19 cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản trên thế giới là sựtăng cường xâm nhập và nô dịch thuộc địa của phương Tây Quá trình phát sinh, pháttriển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với sự xâm lược thuộc địa Ngay trong buổi bình minhcủa chủ nghĩa tư bản, vào thế kỷ XVI thì đại bộ phận của châu Mỹ - Latinh đã trở thànhthuộc địa của đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Nhiều vùng duyên hải châu Á, châuPhi cũng không thoát khỏi số phận trở thành thuộc địa của tư bản phương Tây Từ cuốithế kỷ XVIII, vì những lý do kinh tế - chính trị, việc xâm chiếm thuộc địa được giai cấp
tư sản thống trị các nước đẩy mạnh Nói một cách khác, chủ nghĩa tư bản ngày càng pháttriển thì nguy cơ đe đọa độc lập của các nước phương Đông càng trở nên nghiêm trọng.Giai cấp tư sản phương Tây đã đi khắp nơi trên thế giới để tìm đến mọi mục tiêu cóthể thâm nhập Họ không từ bất cứ một thủ đoạn nào từ mua chuộc, lừa bịp đến dùng vũlực, đàn áp quân sự và núp dưới chiêu bài đi truyền giáo, thương mại để che đậy âmmưu xâm lược của mình
Hầu hết các nước tư bản phương Tây đều có những lý do xác đáng để biện minhcho việc đi tìm và xâm chiếm thuộc địa của mình Chính sách bành trướng thuộc địa làđộng cơ chung lôi cuốn các nước châu Âu, và nội dung chủ yếu trong đường lối đối ngoạicủa tư bản phương Tây là xâm lược thuộc địa Thuộc địa là nơi có ý nghĩa quan trọng đặcbiệt với chính quốc: nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu, nhiên liệu, nhân công; nơi tiêu
Trang 7thụ hàng hóa của chính quốc và đem lại nguồn lợi nhuận kếch xù cho nhà tư bản Do tầmquan trọng của thuộc địa như vậy, nên giai cấp tư sản phương Tây đã bất chấp mọi luật
lệ, quyền lợi của các dân tộc phương Đông để tìm cách xâm nhập vào châu Á, Phi, Mỹ Latinh
-Vào thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia châu Á, Phi, Mỹ - Latinh đang ở trong giaiđoạn phát triển của chế độ phong kiến Ở một số nước thuộc châu Phi còn ở trong tìnhtrạng bộ lạc và thậm chí đang còn tồn tại chế độ cộng sản nguyên thủy Đến đầu thế kỷXIX thì toàn bộ châu Mỹ - Latinh đã mất độc lập Riêng châu Á, nhìn riêng lẻ từng quốcgia thì chúng ta thấy vẫn có sự phát triển nhất định nhưng so sánh với phương Tây đã tiếnhành cách mạng công nghiệp thì châu Á có trình độ phát triển chậm chạp và kém hơn Đa
số các vương quốc phong kiến châu Á đều có nền kinh tế nông nghiệp, kỹ thuật canh táclạc hậu, năng suất lao động thấp, chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến phần nào triệt tiêuđộng lực sản xuất của người lao động, đời sống nông dân, nhân dân lao động nói chunglâm vào cảnh bần cùng Công - thương nghiệp cũng chẳng khá hơn, mọi hoạt động củathương mại đều bị trở ngại lớn, đó là chính sách “bế quan” , một chính sách mà hầu nhưnước châu Á nào cũng áp dụng như một cách tự vệ trước nguy cơ xâm nhập của phươngTây
Cụ thể như Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm La, Việt Nam đều từ chối mở cửa thôngthương với bên ngoài Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nhu cầu thuộc địa càng giatăng, giai cấp tư sản tìm mọi cách mở cửa vào thị trường châu Á, trong khi xã hội châu Ávẫn tiếp tục ở trong “giấc mộng của sự bế quan” Các nước châu Á từ chối quan hệ vớiphương Tây, cố thủ trong một đường lối đối ngoại “tự cô lập” Tất cả điều đó khiến chochâu Âu ý thức được ưu thế của mình, người phương Tây thực tế hơn, khoa học hơn vàvật chất hơn trong công cuộc đi chinh phục đất đai Họ đã lợi dụng sự lạc hậu, yếu kém
về kinh tế, chính trị, xã hội của các nước châu Á để bắt ép hoặc dùng ưu thế về sức mạnhquân sự, buộc giai cấp cầm quyền các nước này “mở cửa”, mở đường cho công cuộc đi
“khai hóa” một cách có hệ thống vào đầu thế kỷ XIX
Đa số giai cấp thống trị châu Á về cơ bản thiếu một sự chuẩn bị đối phó với nguy cơngoại xâm, không tích cực xây dựng, củng cố quốc phòng, chấn hưng và phát triển kinh
tế, thực hiện việc đổi mới về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, tự mình làm suyyếu mình Trong tình thế đó, nhân dân dù có tinh thần chống xâm lược rất ngoan cường,cuối cùng giai cấp phong kiến cũng phải nhượng bộ thực dân Như vậy, sự phát triểnmạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản thế giới trong đầu thế kỷ XIX là tiền đề dẫn đến việc tăngcường chính sách bành trướng thuộc địa của các cường quốc tư bản
Trang 8Tại Đông Nam Á, một khu vực địa lý, lịch sử quan trọng, từ thế kỷ XVI đến đầu thế
kỷ XIX cũng bắt đầu quá trình suy thoái Đối diện với văn minh phương Tây và với nguy
cơ xâm nhập của tư bản nước ngoài, giai cấp phong kiến cầm quyền các vương quốc ởkhu vực Đông Nam Á đều lúng túng, bế tắc Sự trì trệ của chế độ phong kiến đã góp phầnlàm cho giới thống trị luẩn quẩn không tìm thấy đối sách thích hợp để thay đổi vận mệnhđất nước và bắt kịp được vận hội mới của thời đại Trong thế kỷ XIX, Đông Nam Á đãtrở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây Tại khu vực này chỉ có nướcXiêm La vẫn giữ được độc lập về chính trị Thực chất Xiêm chỉ độc lập về mặt hình thức,bởi bị ràng buộc hàng một loạt các hiệp ước bất bình đẳng được ký với Anh, Pháp, HàLan, Hoa Kỳ, Nhật, Đức
Trong bối cảnh của cả khu vực như vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài nhữngbiến động chính trị mà tư bản phương Tây tạo nên trong quá trình tìm kiếm thuộc địa vàkhu vực ảnh hưởng
II Vấn đề biên giới Việt - Thanh
1 Giai đoạn 1802 – 1858
Xưa nay, vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề vấn đề vô cùng nhạy cảm Đặc biệt,Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng ngay sát cạnh nhau thì việc thườngxuyên xảy ra những va chạm, xung đột biên giới cũng là lẽ thường tình Hơn nữa, việcláng giềng phương Bắc đem quân xâm lược nước ta đã không là chuyện là từ nghìn đờinay
Đến nửa đầu thế kỷ XIX, việc giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ vẫn là một trongnhững nội dung quan trọng của mối quan hệ bang giao hai nước Việt - Trung Ngoài hoàncảnh địa lý là hai nước láng giềng trực tiếp thì còn có nhiều nhân tố khách quan và chủquan khác tác động đến vấn đề biên giới và lãnh thổ giữa hai bên lúc này
Trước hết, phải thấy rằng, về phía Việt Nam thì vùng biên giới tiếp giáp TrungQuốc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số như Nùng, Tày, Thái… Các dân tộcthiểu số này ở vùng núi non hiểm trở, xa trung tâm quyền lực chính trị, nên ít nhiều được
tự do Do đó, từ rất lâu đời, các triều đại phong kiến Việt Nam đã đối xử với họ theochính sách “Ky mi”, tức ràng buộc một cách lỏng lẻo và “tranh thủ” các tù trưởng - ngườiđứng đầu những dân tộc thiểu số này bằng cách ban chức tước, tặng phẩm, gả côngchúa…để cốt tạo mối ràng buộc giữa họ với chính quyền Trung ương Và nhà Nguyễncũng không ngoại lệ Song mặt khác, chính vì họ ở xa trung tâm quyền lực chính trị nhưvậy nên thực tế rất dễ bị đế chế Trung Hoa dụ dỗ, mua chuộc Đây cũng là nhân tố tiềm
ẩn gây nên những ảnh hưởng xấu đến biên giới, lãnh thổ Việt Nam
Trang 9Trong khi đó, Trung Quốc chưa bao giờ chịu từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam Vìvậy, nhà Thanh luôn tận dụng thời cơ để uy hiếp chủ quyền lãnh thổ, gây mất ổn địnhbiên cương nước Việt dưới nhiều mức độ khác nhau Đó cũng là nhân tố địa - chính trịquan trọng khiến cho vấn đề biên giới, lãnh thổ Việt Nam thời Nguyễn tiềm tàng nhữngnguy cơ bất ổn, buộc nhà Nguyễn phải thường xuyên đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phónhằm bảo vệ chủ quyền biên giới và toàn vẹn lãnh thổ.
Vào tháng 7 năm 1828, phủ Khai Quang tỉnh Vân Nam nước Thanh cho lính sangđịa giới Tuyên Quang, truy bắt phạm nhân là Triệu Ứng Lũng Trước sự việc ấy, triềuNguyễn đã quở trách trấn thủ Tuyên Quang và cho viết thư báo với trấn thủ Vân Nam đểngăn chặn những sự việc tương tự với lời lẽ cứng rắn “Kẻ tội ác trong thiên hạ đều nhưnhau, kẻ phạm tội trốn đi xa, cố nhiên cần phải bắt cho được Nhưng giới hạn bờ cõi,Nam Bắc rõ ràng, sao lại xông xáo vượt qua giới hạn như thế…về sau có người nướcThanh trốn sang thì báo cho quan biên giới bắt hộ giải sang, không được vượt qua biêngiới”1 Hay năm 1831, nhà Thanh đã cho 600 quân sang chiếm đồn Phong Thu (LaiChâu) và đòi quân Việt phải rút đi Với tinh thần kiên quyết bảo vệ lãnh thổ quốc gia “xửtrí cho thích đáng mới giữ được quốc thể”, vua Minh Mạng đã cử tướng Nguyễn ĐìnhPhổ đem hơn 1000 biền binh của thành hạt và 10 thớt voi tiến lên Hưng Hoá (Sơn La, LaiChâu ngày nay) để đòi lại Quân Nguyễn được lệnh nghiêm giữ, nếu quân Thanh rút luitrước thì cũng về trấn đợi lệnh Quân Thanh bấy giờ tiến bức đồn Phong Thu khôngthành, phải lui về động Bình Lư Triều đình đã giao cho các tù trưởng địa phương caiquản và phòng giữ đồn Phong Thu2
Cũng trong nửa đầu thế kỷ XIX, ngoài một số vụ việc tranh chấp biên giới nói trên,trong quan hệ giữa hai nước còn nổi lên vấn đề về lãnh hải mà nhà Nguyễn luôn phảiquan tâm, tìm cách giải quyết
Trong suốt nửa đầu thế kỷ thứ XIX, các sử sách nhà Nguyễn đều đã ghi lại các quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa với tên gọi là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, ĐạiTrường Sa hay Vạn lý Trường Sa Trong các sách địa lý, lịch sử và bản đồ cổ của ViệtNam triều Nguyễn đều khẳng định chủ quyền nước ta đối với các quần đảo này
Qua đây, có thể thấy rằng, ở giai đoạn này, mặc dù có những va chạm về vấn đềbiên giới giữa hai nước Việt - Trung, song nhìn chung những va chạm ấy chưa dẫn đếnchiến tranh Mặc dù nhà Thanh đã nhiều lần cho quân sang Việt Nam cướp phá, gây rối
an ninh biên giới song kết quả đều không thể xâm phạm được đất đai, lãnh thổ của Việt
1Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Đại Nam thực lục, tập
II, Nxb Giáo dục, tr.752.
2Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Đại Nam thực lục, tập
III,Nxb Giáo dục, tr 183 -184.
Trang 10Nam Để có được điều đó, chúng ta không thể phủ nhận công lao của nhà Nguyễn trong
nỗ lực nhằm bảo vệ bằng mọi giá biên giới lãnh thổ giữa hai nước Điều này một lần nữakhẳng định tính độc lập về thực chất của nhà Nguyễn trong quan hệ ngoại giao với TrungQuốc thời bấy giờ Dù nhân nhượng “thần phục” về hình thức, song luôn giữ vữngnguyên tắc bất biến: Bất xâm phạm lãnh thổ, biên giới và chủ quyền dân tộc
2 Giai đoạn 1858 – 1885
Vào nửa sau thế kỷ XIX, trong các bộ sử của cả hai nước đều ghi về việc bọn thổphỉ và giặc cướp vi phạm biên giới Việt Nam (cả đất liền và hải đảo) dưới nhiều hìnhthức Lúc này bọn thổ phỉ phần lớn đóng ở trong những vùng miền núi sát biên giới, nhưcác tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hưng Hoá, Tuyên Quang…của Việt Namhay hoạt động chủ yếu ở ven biển của hai nước như phía Bắc lưu vực sông Hồng, phíaNam lưu vực sông Tây Giang…Bọn thổ phỉ và hải tặc thường hoành hành trong nhữngvùng thượng du, rừng sâu núi cao hay tại những vùng biển có nhiều hải đảo nhỏ rải rácnày bởi đây là những địa điểm lý tưởng để chúng dễ dàng ẩn náu và hoạt động Hơn nữa,nơi đây lại là những nơi ở xa trung tâm quyền lực của quốc gia nên nhà nước rất khókiểm soát Trong giai đoạn này, nhà Nguyễn đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăntrong việc diệt trừ bọn thổ phỉ và giặc cướp để bảo vệ biên giới, lãnh thổ
Một trong những biện pháp mà nhà Nguyễn sử dụng lúc này để bảo vệ an ninh biêngiới, toàn vẹn lãnh thổ là dùng con đường ngoại giao hòng trấn áp những vụ vi phạm biêngiới trái phép Chẳng hạn, vào năm 1868, vua Tự Đức đã cử sứ bộ (đứng đầu là Lê Tuấn)sang Trung Hoa thông qua nhà cầm quyền địa phương ở hai tỉnh Quảng Đông và QuảngTây để xin Bắc Kinh gửi gấp một đơn vị quân đội đến vùng thượng du Bắc Kỳ trấn áp,đánh đuổi giặc Ngô Côn ở tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng Ngô Côn vốn là dư đảng củaThái Bình Thiên Quốc sang chiếm đất tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Cao Bằng Đến tháng Giêngnăm sau (1869), nhà Thanh đã sai Đề đốc tỉnh Quảng Tây là Phùng Tử Tài sang với 31doanh quân đội chính quy, gồm 15.000 binh để hội với quân tiễu phỉ của Vũ Trọng Bình
Sự hợp tác quân sự giữa hai nước được thực hiện trên cơ sở thoả thuận ngoại giao đã thuđược một số kết quả Phùng Tử Tài và Vũ Trọng Bình đã dồn Ngô Côn đến đường cùng
và giết hắn ở thành Bắc Ninh vào tháng 8 năm 1869…Đến năm 1875 và 1879, quânThanh còn giết được Hoàng Sùng Anh - thủ lĩnh quân Cở Vàng và Lý Dương Tài - thủlĩnh người Tàu tự xưng là dòng dõi nhà Lý ở Việt Nam 3
Đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dù ở giai đoạn từ 1858 đến 1885không xảy ra tranh chấp lãnh hải nhưng tàu đánh cá, tàu buôn và cả tàu của bọn cướp Tàu
3Yoshiharu Tsuboi, Hội sử học Việt Nam, (1992), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885,Nxb
Tri thức, tr 161 – 167.
Trang 11Ô vẫn luôn đi lại trong lãnh hải Việt Nam, đe doạ đến an ninh biên giới Do vậy, trongsuốt giai đoạn này, nhà Nguyễn tiếp tục thực hiện những biện pháp bảo vệ quần đảoTrường Sa và Hoàng Sa trước đó, như: nghiêm cấm các tàu đánh cá Trung Quốc vượtquá lãnh hải quy định; cho phép tỉnh Quảng Yên dùng tàu binh để “thuyết phục” tàu đánh
cá Trung Quốc quay về hải phận của mình; cứu hộ tàu bị nạn; truy bắt tàu cướp…
Qua những sự kiện nêu trên cho thấy, trong giai đoạn này, tuy xảy ra rất nhiều vụ vachạm biên giới giữa hai nước Việt - Trung, song bằng con đường ngoại giao mềm dẻo,nhà Nguyễn đã giữ cho những va chạm ấy không bùng phát thành chiến tranh Tuy mềmdẻo trong ngoại giao với “Thiên triều” để nhằm bảo vệ an ninh, lãnh thổ biên giới, songxuyên suốt từ đầu đến cuối, nhà Nguyễn luôn giữ vững một nguyên tắc bất biến là quyếtkhông để Trung Hoa xâm phạm chủ quyền biên giới và toàn vẹn lãnh thổ Những cuộcđấu tranh đến cùng dưới mọi hình thức để trấn áp bọn thổ phỉ, cướp biển vi phạm anninh, biên giới Tổ quốc đã minh chứng rất rõ nét cho điều đó
Nếu như trong nửa đầu thế kỷ XIX, trên biên giới đất liền, mặc dù giữa hai nước đã
có những va chạm, xung đột, song nhìn chung chúng chưa diễn ra thường xuyên và liêntục thì từ đầu thập niên 50 trở đi, những va chạm, xung đột ấy đã bùng phát với tần suấtlớn Nhân tố chủ yếu làm nên biến chuyển này là sự tràn lấn một cách ồ ạt, thường xuyêncủa nhiều đám giặc cỏ và thổ phỉ từ bên kia biên giới Trung Quốc đến các tỉnh biên giớiViệt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh…, đe dọanghiêm trọng an ninh biên giới và đời sống nhân dân
Trong nửa sau thế kỷ XIX, nhà Nguyễn một mặt tiếp tục phuơng sách cắt cử quanquân triều đình ra biên giới dẹp giặc và ban thưởng thích đáng cho những người đã lậpcông như những giai đoạn trước4, mặt khác phải sử dụng thêm nhiều phương sách mớitrong việc giải quyết vấn đề biên giới Lúc này, triều Nguyễn không chỉ tìm cách muachuộc (thông qua cho đất, phong chức tước) một số tướng giặc như Lưu Vĩnh Phúc,Hoàng Thắng Lợi để họ hội quân với triều đình nhằm chống lại giặc cỏ và thổ phỉ mà còn
cử sứ thần sang Trung Quốc xin nhà Thanh phái quân trợ giúp để tiêu trừ thổ phỉ (vàotháng 4 năm1868)5
Đó là những chính sách mới mà nhà Nguyễn áp dụng trong việc giải quyết vấn đềbiên giới ở nửa sau thế kỷ XIX Mặc dù sự có mặt của quân Thanh ở Bắc Kỳ và sự khoảnđãi, ưu ái của nhà Nguyễn dành cho quan quân Thanh triều lúc này khiến cho nhàNguyễn vấp phải không ít nghi ngại từ phía thực dân Pháp cũng như tiêu tốn không ít tàilực, vật lực, song xét trong một chừng mực nhất định thì sự hợp tác giữa hai nhà nước
4Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Đại Nam thực lục, tập
VII, Nxb Giáo dục, tr 1117.
5Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Sđd, tr.1103.
Trang 12Việt -Thanh thời gian này đã hạn chế được nạn thổ phỉ, cướp bóc biên giới, giữ gìn anninh, lãnh thổ quốc gia Tính đến năm 1881, tình hình biên giới phía Bắc đã ổn định hơntrước, nạn giặc cỏ và thổ phỉ về cơ bản bị đẩy lùi Đó cũng là những thành quả đáng ghinhận mà nhà Nguyễn thu được trong quan hệ ngoại giao với nhà Thanh ở giai đoạn này.Trong khi đó, đối với biên giới trên biển, một mặt triều Nguyễn tiếp tục duy trì cácphương sách của những triều đại trước, mặt khác sử dụng những cách thức mới để khẳngđịnh mạnh mẽ hơn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa Bởi thế mà, bên cạnh việc duy trì những đội hải quân để bảo vệ biển, điều tra,khảo sát địa hình và tài nguyên biển như thời kì trước thì lần đầu tiên, hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa đã được nhắc đến với tần suất lớn trong các bộ sử chính thống củanhà nước Không những thế, đến năm 1838, triều Nguyễn còn cho vẽ bản đồ đất nước
một cách đầy đủ với tên gọi là Đại Nam nhất thống toàn đồ, trong đó khẳng định cụ thể
chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảoHoàng Sa Đây đã trở thành cứ liệu lịch sửquan trọng cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc của các thế hệ ngườiViệt Nam về sau
Đến năm 1874, triều Nguyễn kí Hiệp ước Giáp Tuất thừa nhận sự lệ thuộc về mặtngoại giao với Pháp Chín năm sau (năm 1883), nhà Nguyễn tiếp tục kí Hiệp ước Hác-măng công nhận sự bảo hộ của thực dân Pháp trên đất Việt Kéo theo đó, vấn đề biêngiới, lãnh thổ Việt Nam không còn do triều Nguyễn tự chủ giải quyết nữa mà đã thuộcquyền quyết định của thực dân Pháp Từ đây, ở những thời kì tiếp theo, chúng ta sẽ đượcchứng kiến những trao đổi, thỏa hiệp giữa hai bên Pháp - Hoa về biên giới Việt - Trung
và sự giảo hoạt của giới cầm quyền nhà Thanh trong việc đánh đổi với Pháp một vài lợiích thương mại để giành lấy một số vùng đất giàu tài nguyên vốn là của Việt Nam
III Về quan hệ Nguyễn - Xiêm
Triều Nguyễn trong quan hệ với nước Xiêm La vào nửa đầu thế kỷ XIX đã có địnhhướng ngoại giao hòa hảo và thiện chí Từ lúc Gia Long kiến lập nên triều đại, ông đãthiết lập những mối quan hệ láng giềng hòa hiếu phản ánh tinh thần ngoại giao hòa bình,mềm mỏng trong sách lược và cứng rắn trong nguyên tắc đối ngoại Ngay những tác giả
có phần khắt khe khi đánh giá về ngoại giao triều Nguyễn cũng phải công bằng mà nhậnđịnh: “Lúc đầu thì đối với Xiêm, triều đình Nguyễn giữ một niềm hòa hảo”6
6Trần Văn Giàu, (1958), Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1958, NXB Văn Hóa, Huế,
tr.100.
Trang 13Xiêm La là đất nước mà Gia long trú ngụ khi chưa tạo đựng đế nghiệp Xiêm vương
và Gia Long kết giao và thường qua lại giúp đỡ nhau, họ còn là đồng minh trong một liênminh quân sự tự nguyện chống lại âm mưu của Miến Điện Đó chính là những tiền đềdẫn đến đường lối ngoại giao thân thiện với Xiêm La của triều Nguyễn
Theo đuổi mục tiêu ngoại giao hòa bình, triều Nguyễn nhận thức sâu sắc nước taxưa nay vẫn giao hảo với Xiêm La, ví thử có xảy ra mối giao tranh thì sự lợi hại chẳngphải là nhỏ Như vậy, triều Nguyễn hiểu rằng giữ mối giao hảo với Xiêm là cần thiếtnhưng các vua Nguyễn cũng biết rằng quan hệ hòa hiếu với Xiêm La cũng rất mỏngmanh, nguyên nhân xuất phát từ vấn đề Vạn Tượng, Chân Lạp Theo “Minh Mệnh chínhyếu”, Minh Mạng cũng biết rõ là: “Chân Lạp từ khi nội thuộc bản triều cho tới nay, ngườiXiêm la không thể không cay cú thắc mắc Bởi vậy, mọi kế hoạch biên phòng các ngươicần phải trù liệu cho hết sức chu đáo”7
Đi theo đường lối đối ngoại hòa bình tích cực cho nên triều Nguyễn không bị mấtcảnh giác trong khi phòng bị biên giới Năm 1809, Gia Long đã từ chối không cho Xiêm
La mượn đường Lào đi sứ, năm 1815 vua cũng kiên quyết không cho sứ Xiêm La đi theođường Châu Đốc, Hậu Giang về nước Triều Nguyễn tuy hết sức nhân nhượng Xiêm La,
về tình thì chu đáo, vẹn toàn, về lý thì luôn luôn thể hiện tinh thần độc lập tự chủ toàn vẹncương thổ quốc gia Khi Vạn Tượng và Xiêm La đánh nhau, triều Nguyễn xác định thái
độ dứt khoát: “Họ đánh với Vạn Tượng thì mặc họ, không được xâm phạm tới biên thùythuộc vùng mường mán của ta, nếu họ không nghe lời thì chiến sự sẽ bùng nổ”8 Tuy vậy,xuất phát từ định hướng ngoại giao hòa bình, hòa mục với láng giềng, triều Nguyễn chủtrương “liệu cơ mà làm, bất tất vội đánh nhau truớc để mang tiếng tự mình gây hấn”9.Vua Minh Mạng kiên trì tư tưởng “Trẫm nhất thiết không bao giờ nghe theo cái lýluận bỏ bạn tìm thù” Khi quân Xiêm đã vượt biên giới vào địa phận nước ta, tinh thầnchống xâm lăng nhưng không hiếu chiến của triều Nguyễn được thể hiện rất rõ MinhMạng phái sứ giả đi dò xét và chuẩn bị thương thuyết, dụ rằng: “Nếu quả thực có Xiêmđến đất ta, thì phải trước phái người đưa thư đến vặn hỏi Xiêm đến đây vì ý gì Xemchúng đáp lại thế nào? Nếu chúng trả lời bằng giọng hòa hảo thì tùy nghi biện bác khiếnchúng đuối lý phải tự rút lui, ấy là kế hay nhất” Đến lúc không còn đấu tranh ngoại giaođược nữa, triều Nguyễn phải thực hiện biện pháp quân sự song vẫn theo đuổi mục tiêuhòa bình trong quan hệ với Xiêm La Triều Nguyễn chủ trương đuổi quân Xiêm La ra
7Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Đại Nam thực lục, tập
III, Nxb Giáo dục, tr 277.
8Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Sđd, tr.290.
9Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2004), Đại Nam thực lục, tập
II, Nxb Giáo dục, tr.584.
Trang 14khỏi đất nước và không truy để diệt đến cùng “quân ta cũng đi kiểm soát bờ cõi khôngnên vượt qua biên giới mà đuổi theo đến cùng”
Chúng ta không thể kết luận vội vã và thiếu công bằng về đường lối ngoại giao củatriều đình Huế trong quan hệ với Xiêm La Trên thực tế, từ cuối thời Gia Long cho đếnthời Minh Mạng, Việt Nam là chủ của miền Đông bán đảo Đông Dương, đến năm 1828,Chân Lạp thuộc quyền bảo hộ của triều Nguyễn, Trấn Ninh, Hạ Lào đều quy thuận nhàNguyễn Nếu vua Minh Mạng không thận trọng trong quan hệ bên ngoài đối với các vùngbiên cương, đặc biệt trong quan hệ với Xiêm, không sớm thi muộn Xiêm cũng sẽ tiến vàoChân Lạp hoặc Hạ Lào (Xiêm giáp giới với cả hai nước này), khi đó miền Nam của ViệtNam sẽ gặp khó khăn và an ninh của đất nước sẽ bị đe đọa
Triều Nguyễn hết sức nhân nhượng với Xiêm La Theo “Đại Nam thực lục” thì đến
khi Xiêm “bỏ láng giềng”, “Người Xiêm bỏ bạn chuốc thù, manh tâm gây chiến” ViệtNam mới buộc lòng từ bỏ sách lược hòa hoãn bởi Minh Mạng nhận thấy “một cuộc hòađàm, khó lòng nói được, nay chúng đã đi sâu vào nội địa” Như vậy, triều Nguyễn luôn ýthức sâu sắc về sự yên ổn hòa bình của mối quan hệ Việt Nam - Xiêm La, tìm mọi cáchduy trì quan hệ ngoại giao với Xiêm La cho tới lúc Xiêm La khởi binh gây chiến
Vấn đề ngoại giao giữa triều Nguyễn với Xiêm La trong nửa đầu thế kỷ XIX chứađựng nhiều nội đung khá phức tạp và do những mối quan hệ khác trong khu vực chi phối(vấn đề Chân Lạp và Vạn Tượng là ví dụ điển hình) Chính do điều kiện khách quan ấy
mà quan hệ Việt - Xiêm cuối cùng xấu đi và dẫn tới chiến tranh,về cuộc chiến mà nhàNguyễn tiến hành với Xiêm La, chúng ta không thể lên án một chiều chính sách đối ngoạixâm lược của phong kiến Việt Nam được Đối với Xiêm La, triều Nguyễn có tranh chấp,
có mâu thuẫn, song các vua Nguyễn vẫn không tự mình gây chiến tranh và hận thù vớiXiêm La
Suốt cả chiều dài lịch sử gần 50 năm đầu của thế kỷ 19, trong quan hệ với Xiêm La,triều Nguyễn vẫn tuân theo đường lối ngoại giao mềm mỏng nhún nhường Minh Mạngtừng dụ quan quân: Nếu Xiêm La sang xâm phạm lãnh thổ Việt Nam thì lỗi tự họ, phảichống lại, nhưng giữ chặt biên giới không đuổi theo nếu Xiêm thua chạy Như thế, triềuNguyễn chống xâm lược nhưng nêu cao khí phách anh hùng, không hung hăng, hiếuchiến
Qua quan hệ với nước Xiêm La, chúng ta hiểu thêm phần nào ngoại giao của triềuNguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX Đó là chiến lược ngoại giao hòa bình tích cực củaphong kiến Việt Nam
Trang 15Chương 2: Nhà Nguyễn đối với vấn đề độc lập dân tộc
I Những tiêu chí để xác định vấn đề độc lập dân tộc
Độc lập dân tộc luôn là một trong những vấn đề cốt lõi và quan trọng nhất đối vớimột quốc gia, một dân tộc Để hiểu rõ hơn về vấn đề độc lập dân tộc, trước hết, chúng tacần hiểu đúng về khái niệm độc lập Độc lập khi gắn với một quốc gia dân tộc, thường
được hiểu là “trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác”10, tức là quyền tự chủ về mặt chính trị,không bị can thiệp bởi một chủ thể bên ngoài khác Hay ta có thể hiểu theo một cáchkhác, mở rộng hơn, độc lập chính là quyền bất khả xâm phạm của một quốc gia, một dântộc trên các mặt lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…
Từ cách hiểu đó về độc lập dân tộc, chúng ta có thể thấy được một số nội dung cụthể của khái niệm này Trước hết độc lập dân tộc được biểu hiện ở việc một quốc gia cóchủ quyền về lãnh thổ của mình, tức là sự toàn vẹn lãnh thổ, thứ hai là sự tự chủ trongthực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, và cuối cùng là một quốc gia, dân tộc độclập khi không có sự chiếm đóng của nước ngoài trên lãnh thổ nước mình Như vậy vớinhững nội dung đó, chúng ra sẽ làm cơ sở để tiếp cận với vấn đề nhà Nguyễn với độc lậpcủa dân tộc trong khoảng thời gian từ năm 1802 đến năm 1884, tức là trong khoảng thờigian nhà Nguyễn đóng vai trò là lãnh đạo đất nước
Như vậy với những biểu hiện của khái niệm “độc lập dân tộc”: Toàn vẹn lãnh thổ;không có sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ; tự chủ trong hoạt độngkinh tế - chính trị, trong việc thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại; có chính quyềnvững mạnh thống nhất, chúng tôi sẽ xem xét thái độ và quan điểm của một số vị vua đầutriều Nguyễn về các nội dung này dựa trên một số tư liệu có được Từ đó chúng tôi sẽ làmnền tảng để đi sâu hơn vào những chính sách, biện pháp mà nhà Nguyễn đã thực hiệnnhằm bảo vệ nền độc lập của dân tộc trong khoảng thời gian đã được đề cập ở trên
Trang 16gia, dân tộc Phạm vi của lãnh thổ chính là một trong những yếu tố tạo nên ảnh hưởng vàquyền lực của một quốc gia Lãnh thổ càng rộng thì khả năng tạo ra sức mạnh bên trongcủa một quốc gia càng lớn Chính vì lẽ đó, trong lịch sử của nước ta, mỗi khi một triềuđại nào được thiết lập thì vấn đề bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ luôn được coi trọng và đặt lênhàng đầu Đối với triều đình nhà Nguyễn cũng thế, sau khi thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
“hoàn chỉnh từ Nam Quan đến Cà Mau”11, trên những cơ sở được Nguyễn Huệ chuẩn bị
từ trước đó, triều đình Nguyễn Ánh đã có nhiều chỉ dụ, quy định về việc bảo vệ lãnh thổ,
cụ thể là việc bảo vệ biên giới phía Bắc, Tây Nam và chủ quyền đối với biển đảo Theonhư nhận xét của cố giáo sư Trần Văn Giàu: “Về phương diện lãnh thổ quốc gia, so sánhvới tất cả các triều đại trước thì dưới triều Nguyễn, nước Việt Nam rộng lớn hơn hết”12.Chính vì lẽ đó ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã được các vua triều đại này nhận thức rõ
và có nhiều chính sách để thực thi
Việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên biển cũng được các vua nhà Nguyễn chútrọng Từ thế kỉ XVII, các chúa Nguyễn đã phái đội Hoàng Sa ra thăm dò, hoạt động tạihai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó tiếp tục là sự ra đời của nhiều đội dân binhkhác Đến thời nhà Nguyễn, công việc này vẫn được duy trì Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã:
“Tháng Giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình (…) Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại cho cả thủy quân phối hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình…”13 Sang đến thời Minh Mạng việc đo đạc thủy trình chủyếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình, côngviệc này liên tục được thực hiện qua các năm: 1833, 1835, 1836 Bên cạnh đó, MinhMạng cũng chăm lo, bảo đảm an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùngbiển xung quanh hai quần đảo Năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng:
“Trong hải phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không phân biệt được nông hay sâu Gần đây thuyền buôn thường bị nạn Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn”14 Như vậy có thể thấy việcthực thi chủ quyền trên biển cũng được các vua triều Nguyễn quan tâm và tiến hànhthường xuyên Bên cạnh đó nhà Nguyễn cũng có những chính sách bảo vệ vùng biển đảo
ở phía Bắc, có hàng trăm đảo lớn nhỏ với địa hình phức tạp
2 Không có sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ
11Trần Văn Giàu, “Vài nhận xét về thời nhà Nguyễn”, Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, Kỷ yếu hội nghị,
Nxb.Khoa học xã hội, Tp.HCM, tr.281
12 Trần Văn Giàu, sđd, tr.281
13TS.Nguyễn Nhã, Kỷ yếu hội thảo khoa học, “Các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền của
Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỉ XVII đến khi thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam”,Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, Nxb Thế giới, Hà
Nội, tr.153.
14Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện Sử học (dịch), (2007), Sđd.
Trang 17Đồng thời với việc củng cố vương quyền và xây dựng đất nước, từ vua Gia Longđến Minh Mạng việc đề phòng và chống lại nguy cơ can thiệp, chiếm đóng của nướcngoài luôn được nhận thức và có các biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm sự độc lập, tự chủcủa đất nước Nó được thể hiện qua một số chính sách của nhà Nguyễn trong việc giaolưu buôn bán với phương Tây, thái độ đối với triều đình Mãn Thanh, những chính sáchcấm đạo Thiên Chúa,
Trước hết có thể thấy, những chính sách về thương mại của nhà Nguyễn cũng mộtphần nhỏ nào thể hiện được ý thức về sự can thiệp của các nước phương Tây Việc giaolưu buôn bán với các nước phương Tây hầu như bị hạn chế đến mức thấp nhất Có lẽ,chính sự giao thiệp từ sớm của Nguyễn Ánh với Pháp nói riêng và với các nước phươngTây khác nói chung, đã làm cho ông có một cái nhìn thiếu thiện cảm và ông lo sợ về sựbành trướng của tư bản phương Tây trong đất nước mình Ngoại giao giữa triều đình Huếvới Pháp được bắt đầu từ sớm do mối quan hệ thân thiết giữa Nguyễn Ánh và một số cánhân người Pháp Sự giúp đỡ của những người này trong việc giúp Nguyễn Ánh đánh bạiquân Tây Sơn là một phần không nhỏ, chính vì thế sau khi lên ngôi năm 1802, NguyễnÁnh đã cho những người này giữ những chức vụ trong triều và có thái độ hiền hòa, tôntrọng Nhưng đối với các nước phương Tây, trong đó có cả Pháp thì thái độ của NguyễnÁnh vẫn không hề thay đổi Điều này được thể hiện rõ qua việc Nguyễn Ánh cự tuyệt khimột tàu chiến của Pháp đến Đà Nẵng năm 1817 nhằm yêu cầu vị vua này thực hiện hiệp
ước năm 1787 Còn đối với người Anh, Nguyễn Ánh cho rằng: “họ không thuộc chủng tộc của chúng ta, do vậy họ không được phép cư trú tại Việt Nam”.15
Đến thời Minh Mạng việc hạn chế thương nghiệp với phương Tây lại tiếp tục đượcduy trì, nhưng năm 1839, sự can thiệp của thực dân Anh vào Trung Hoa được khơi màubằng những tiếng đại bác Với sự kiện này “Minh Mạng đã được đánh thức”, nhà vua ýthức được nguy cơ trước mắt đang đe dọa độc lập tự chủ của đất nước, đây lý do sâu xakhiến ông quyết định điều chỉnh đường lối ngoại giao từ cổ truyền tự thủ, thụ động sangđường lối ngoại giao cởi mở “hợp tác” với phương Tây trong những năm tháng cuối đờimình Vì lý do an ninh nên dù không ngăn cấm hoạt động buôn bán với phương Tâynhưng triều đình Huế chỉ cho mở cửa Đà Nẵng để thuyền buôn phương Tây đến buônbán Ta có thể thấy giai đoạn 1839 - 1840 được coi là thời kì hợp tác của vua MinhMạng Đến thời Thiệu Trị, chính sách về thương nghiệp với các nước phương Tây vẫnkhông có gì thay đổi so với thời Minh Mạng, nhưng vào năm 1844, sự thiếu thiện chí củangười Pháp trong một cuộc thương thuyết tại Đà Nẵng, thông qua việc tấn công thuyềncủa người Việt, đã làm cho vua Thiệu Trị quay lưng với chính sách hòa hợp từ trước,Thiệu Trị đã nghĩ đến vấn đề chiến tranh với người Pháp, không cho thuyền của Pháp bỏ
15Chu Tuyết Lan (2007), “Quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn và phương Tây”,Những vấn đề lịch sử triều
Nguyễn, Nxb.Văn hóa Sài Gòn, Tp.HCM.
Trang 18neo ở các cửa biển Và rồi chính sách “không phương Tây” được vua Tự Đức tiếp tụcduy trì vào những năm sau đó.
Cũng với vấn đề chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài, vào năm 1830, như đã đềcập ở phần trên, 600 quân của nhà Thanh đã kéo vào phía Bắc nước ta để đòi vùng PhongThu (Hưng Hóa), nhưng chính vua Minh Mạng đã sai quân lên trấn áp và sử dụng cácbiện pháp hòa bình nhằm đẩy quân Thanh về nước
Có thể thấy cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược vào năm 1858, các vị vuatriều Nguyễn luôn có ý thức cao đối với âm mưu can thiệp, chiếm đóng từ các thế lực bênngoài
3 Tự chủ trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại và có chính quyền vững mạnh thống nhất.
Điều đáng ghi nhận về công lao của nhà Nguyễn đó là trong những năm của nửađầu thế kỉ XIX, các vị vua đã cho mở rộng bờ cõi và xây dựng được một thiết chế quản líđất nước thống nhất từ Bắc đến Nam Để khẳng định sự tự chủ trong mọi hoạt động vềkinh tế, chính trị, văn hóa, và đối ngoại, triều Nguyễn đã có những chính sách góp phầncủng cố và gia tăng năng lực cùng vị thế của Việt Nam thời bấy giờ
Những chính sách cụ thể sẽ được nhóm chúng tôi làm rõ hơn ở phần sau Và nhìnchung, từ năm 1802 - 1858, Việt Nam là một đất nước độc lập, tự chủ với toàn vẹn lãnhthổ và sự cố gắng của nhà nước trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ ấy Đương nhiên,Việt Nam bấy giờ cũng là một quốc gia không có bóng dáng của sự xâm lược hay bịchiếm đóng bởi ngoại bang và sự tự chủ được khẳng định trên các phương diện của bộmáy nhà nước từ trung ương đến địa phương
II Nhà Nguyễn với việc giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc từ năm 1802 đến 1858
1 Chính sách đối nội
1.1 Chính trị
Sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã làm chủ một lãnh thổ trải dài từ ải NamQuan đến tận mũi Cà Mau Để xây dựng được chính quyền vững mạnh triều đình nhàNguyễn phải xây dựng được một hệ thống chính trị thống nhất do lúc này vẫn đang tồntại những chế độ thống trị khác nhau: Đàng Ngoài vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc củachế độ chính trị nhà Lê, miền Trung lại chịu ảnh hưởng của nhà Tây Sơn, miền Nam làvùng đất mới được khai phá, dân cư rất hỗn loạn Do vậy, triều Nguyễn mà lúc bấy giờ làthời Gia Long vẫn quyết định theo mô hình hệ thống chính quyền thời Lê Qua việc cải tổhoàn thiện bộ máy nhà nước mới được thực hiện một cách quy củ và triều Nguyễn trởthành một nhà nước quân chủ chuyên chế phát triển đến đỉnh cao
Thiết lập nhà nước quân chủ chuyên chế
Trang 19Các vua Nguyễn xây dựng nhà nước theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trungmọi quyền lực vào tay nhà vua, tiếp tục chế độ quân chủ chuyên chế thời Lê sơ nhưngđược nâng lên ở mức cao hơn, nhằm ứng phó với những biến chuyển của xã hội.
Triều Nguyễn là một triều đại chuyên chế cực đoan, mọi quyền hành đều thâu tóm vềtay nhà vua Nhằm thể hiện ý chí trường tồn của dòng họ, các vua Nguyễn tập trungnhiều của cải xây dựng đền đài lăng tẩm chỉ để thể hiện quyền uy của triều đình
Hệ thống cơ quan hành chính
Vua là người đứng đầu đất nước, nắm cả vương quyền và thần quyền Nắm hoàntoàn quyền hành quyết định trong tay, nhà vua trực tiếp nắm tất cả các bộ, các viện Vua
là người quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước, tuy mỗi tháng đều có đại triều,
có đình nghị để xem xét các việc hệ trọng của đất nước nhưng quyền quyết định cuốicùng cũng do nhà vua, và nhà vua cũng tùy theo ý mình mà quyết định Vua được coi làcon trời, vua có quyền hành tuyệt đối với tất cả mọi người tất cả mọi thứ trên đất nước
của mình, vua là chủ muôn dân là chủ của tất cả ruộng đất, núi rừng, sông biển “vua thực
tế là tên điền chủ đầu sỏ lớn nhất trong nước có toàn quyền định đoạt trong sự chi dụng
tô thuế” 16
Dưới vua có 6 bộ :
Bộ Hộ: tài chính, tô thuế, kho tàng, vật giá
Bộ Lại: tuyển chọn quan lại, ban phẩm tước, soạn thảo chiếu chỉ
Bộ Binh: tuyển lính, các ngạch võ quan, điều động quân đội, an ninh xã hội,
Bộ Hình: Soạn luật, thi hành hình phạt, xét duyệt tố tụng
Bộ Công: Xây dựng cung điện, lăng tẩm, thành lũy, đóng tàu thuyền, đắp đườngsá,
Bộ Lễ: Thi cử, tế tử, phong thần,
Đứng đầu mỗi Bộ là Thượng thư, giúp việc cho thượng thư có các quan tả hữu thamtri, tả hữu thị lang Mỗi bộ lại tùy vào công việc mà phân chia các ty chuyên trách Cơmật viện gồm có một số đại thần bàn những quốc sự quan trọng, nhưng ý kiến quyết địnhvẫn là ý kiến của nhà vua Bên cạnh 6 bộ còn có các viện: Cơ mật viện, Đô sát viện, Hànlâm viện, Thái y viện, lục tự (Đại lý tự, Thái thượng tự, Quang lộc tự, Thượng bảo tự,Thái bộc tự, Hồng lô tự)…, các khoa đạo chuyên trách giám sát các địa phương Ngoàicác cơ quan trung ương, triều Nguyễn còn lập ra một hệ thống cơ quan hành chính cáccấp để quản lý đất nước.17
16 Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng, Nxb.Thành Phố Hồ Chí Minh, tr 35.
17Trương Thị Yến, Lịch sử Việt Nam - tập 5, Nxb Khoa học xã hội.
Trang 20Thời Minh Mạng, điều đầu tiên được quan tâm đến đó là việc cải tổ lại cơ quantrong đó có hai cơ quan đắc lực trong việc hỗ trợ triều đình là Văn thư phòng - Nội các và
Cơ mật viện
Nội các chia thành 4 tào: Thượng bảo, Ký chú, Đồ thư và Biểu bạ Thượng bảo giữ
ấn quốc bảo, ngọc tỷ và ấn triện; Ký chú giữ việc phiếu, nghĩ,dụ, chỉ; Đồ thư giữ văn thơ,sách vở; Biểu bạ giữ việc kiểm soát và đóng thành biểu chương, sổ sách để lưu trữ Nhưvậy, Nội các không những là cơ quan văn phòng của nhà vua mà còn là nơi lưu giữ vănthư, tư liệu của triều Nguyễn
Cơ mật viện là hội đồng tư vấn tối cao cho Hoàng đế, có nhiệm vụ hoạch định chiếnlược quân cơ, nội an, bang giao và cả phát triển kinh tế, văn hóa, dân sinh đồng thờiđây cũng là cơ quan giám sát mọi công việc của triều chính, bảo quản các tài liệu tối mật,quốc bảo,
Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt
11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên
cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu
Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn,đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ởViệt Nam Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùngcòn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân,
là phủ trực thuộc Trung ương Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên 18.Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc(mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh)
và Tuần phủ(dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh) Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuếkhóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp Phụ trách về quân sự cóchức lãnh binh Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổnhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn Hệ thốngchính quyền được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống nàynhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước
19
Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã Quan chức của triều đình chỉ phân ra tớiphủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị Tổng gồm có vàilàng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra
18Trương Hữu Quýnh (2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập I, Nhà xuất bản Giáo dục.
19Trương Hữu Quýnh (2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập I, Nhà xuất bản Giáo dục.
Trang 21quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng 20 Nhìn chung, cơ cấu hành chính của cáctổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi
có sự biến xảy ra
Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số,Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi Năm
1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà choquan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện Sau đó, MinhMạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinhnắm giữ để khống chế các vùng nàytốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địaphương, vua Tự Đứcsau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan
Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu
Có thể thấy bộ máy chính quyền đã được không ngừng củng cố để có thể phục vụđắc lực cho việc quản lí đất nước Tuy nhiên, việc tập trung quyền lực càng cao thì tấtnhiên sẽ để lại nhiều mặt tiêu cực trong việc đề ra chính sách cai trị
Chế độ quan lại
Đội ngũ quan lại ban đầu của triều Nguyễn chủ yếu là những người có công giúpvua Nguyễn Ánh chống Tây Sơn Những người có công kể cả những người Pháp đềuđược vua Gia Long ban thưởng, ban chức tước
Bên cạnh hình thức tuyển dụng quan lại qua hình thức khoa cử nhà Nguyễn còn cómột số hình thức khác là tuyển cử
Theo Trần Trọng Kim, người ta “thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theonghĩa của các nước Tây Âu ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nhogiáo có nhiều chỗ khác nhau ” 21 Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quantrọng, thì vuagiao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét Quan lại bất kỳ lớn bé đềuđược đem ý kiến của mình mà trình bày Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vuachuẩn y, rồi mới thi hành Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gìtrái phép thường Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền canngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này22 Quan chức củatriều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân.Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại đia phương
20Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Học.
21 Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, tr 198
22 Trần Trọng Kim (1971), sđd , tr 198-199.
Trang 22Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổngvà một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch củacác làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.
Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định
rõ rệt giai chế phẩm bật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2bậc Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩmvới mình Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnhnhà23 Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi,cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuếtùy theo quan văn hay võ, hàm cao haythấp Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm Tuy bộ máy không thật sựcồng kềnh, nhưng tệ tham nhũngvẫn là một trong những vấn đề lớn Trong bộ luật triềuNguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này24
1.2 Kinh tế
Nông nghiệp
Đầu thế kỉ XIX, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Cơ cấu ruộng đấtgồm hai bộ phận: ruộng đất công và ruộng đất tư Ruộng đất tư là đất riêng do tư nhântrồng trọt và nộp thuế cho triều đình Đất này có thể mua bán, thừa kế, nếu triều đìnhmuốn trưng dụng phải trả tiền bồi thường Ruộng đất công là đất của triều đình giao cho
xã, thôn sử dụng và không được đem ra mua bán Ruộng này cứ 3 năm phân chia lại mộtlần cho dân để mỗi người đều có một số ruộng tương tự nhau một cách công bằng, cáchnày gọi là phép quân điền
Trải qua thời gian nội chiến kéo dài thì sang đến thế kỷ XIX tình hình nông nghiệptrở nên sa sút Ngay khi lên ngôi, Gia Long đã ra lệnh cấm mua bán ruộng đất công vàquy định chặt chẽ việc cầm cố các loại công điền, công thổ để đảm bảo đất cày cho nôngdân Ngay khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã quan tâm tới việc khuyến khích khẩnhoang Trong những năm chiến tranh, ruộng đất bị bỏ hoang rất nhiều Nhà Nguyễn rấtchú trọng đến vùng đất Nam Bộ và khuyến khích người dân đến khẩn hoang, kế tiếpphong trào khẩn hoang thời nội chiến, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cánhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình Tuy nhiên chủ trương khai hoang củavua Gia Long chưa thật sự đem lại kết quả đáng kể
Năm 1804, Gia Long ra lệnh chỉ tịch thu những ruộng đất của quan lại triều TâySơn và ruộng trang trại riêng của Tây Sơn làm quan điền Tất cả mọi người đều được chia
23 Nguyễn Thế Anh (2008), sđd
24 Nguyễn Thế Anh (2008), sđd
Trang 23ruộng công ở xã, từ quan lại cấp cao tới những người dân nghèo đều được chia phần Tớithời Minh Mạng định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần không kể phẩm bật cao thấpđều được hưởng một phần khẩu Triều đình thực hiện chế độ ruộng lương rất hậu vớimong muốn khuyến khích nhân dân vào quân đội và cũng là để triều đình và binh lính có
sự gắn bó mật thiết với nhau hơn
Chính sách quân điền tuy có được điều chỉnh nhiều lần, nhưng vẫn không có tácdụng đáng kể Chính sách quân điền thực tế chỉ là giải pháp mang ý nghĩa tượng trưng,dân nghèo vẫn không có ruộng cày, tình hình này vẫn kéo dài tới thời Tự Đức, triều đình
tỏ ra bất lực
Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởngphạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưngcũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang.Việc khai khẩn đất hoang mở ra liêntục dưới bốn vị vua đầu triều
Doanh điền: được thực hiện bằng cách di dân lập ấp Năm 1828, Nguyễn Công Trứ
đề xuất chủ trương khai hoang quy mô và được cử làm doanh điền sứ và thu được nhữngkết quả rõ nét Các ruộng được khai khẩn theo hình thức doanh điền được xếp vào tư diềnquân cấp - người khai khẩn được được quyền sử dụng nhưng không được chuyển nhượng
và sau khi chiết ruộng đó được cấp cho người khác
Đồn điền: Hình thức này đã được Nguyễn Ánh vận dụng từ năm 1790 Năm 1802vua Gia Long cho giải ngũ một số binh lính cấpcho ruộng đất và lập đồn điền Sang thờiMinh Mạng, việc sử dụng binh lính đi lập đồn điền ngày càng được đẩy mạnh Một lựclượng quan trọng trong các đồn điền đó chính là tù phạm
Việc lập đồn điền giải quyết được vấn đề kinh tế tài chính và đáp ứng được nhu cầu
an ninh.25
Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởngphạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưngcũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang.Việc khai khẩn đất hoang mở ra liêntục dưới bốn vị vua đầu triều Năm 1841, vua Thiệu Trị ra lệnh khen thưởng cho phú hào
mộ dân lập ấp Người nào chiêu mộ 5 suất đinh khai khẩn được 10 mẫu trở lên thì đượcthưởng 20 quan …
Chính sách ruộng đất và chế độ quân điền
Bên cạnh công điền của làng xã vẫn còn tồn tại và ngày càng phát triển các loại tưđiền, cụ thể như sau:
+ Tư điền: được mua bán, cầm cố và truyền cho con cháu Khi cần trưng dụng nhà nước
có bồi thường Về nguyên tắc, tư điền bỏ hoang bị nhà nước sung công
25Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam thế kỷ XIX (1802 – 1884), Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 57.
Trang 24+ Công điền: được giao cho làng xã phân cấp và không được mua bán Khi cần thiết nhànước có thể sử dụng ruộng đất công làng xã Ngoài ra, còn một số loại ruộng khác cũngthuộc diện công điền (trợ sưu điền, học điền, bổn thôn điền, ) nhưng chiếm tỉ lệ rấtnhỏ26.
Chế độ quân điền của nhà Nguyễn thể hiện ro sự ưu ái đối với quan lại và binh lính.Ngoài ruộng đất khẩu phần, binh lính còn được hưởng phụ cấp gọi là lương điền, từ 7 sàođến 1 mẫu tùy theo loại lính Ruộng đất công xã vốn bị thu hẹp nhiều đến thời Nguyễn lạicàng thu hẹp thêm do vậy ruộng đất cấp cho nông dân càng ngày càng ít
Trên thực tế chế độ quân điền cũng là biện pháp trói buộc người nông dân vào thôn
xã để thực hiện tô thuế, lao dịch và binh dịch Nạn chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địachủ không ngừng phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt
Đê điều
Nhà Nguyễn cũng rất chú trọng công tác đê điều, đặt Nha đê chính và chức quanTổng lý chuyên trách coi sóc việc đê điều, đồng thời triều đình cũng thường xuyên kiểmtra tu bổ đê điều ở các địa phương để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp của nông dânđược thuận lợi Đặc biệt ở phía Nam nhà Nguyễn còn cho đào những con kênh như:Thoại Hà, Vĩnh Tế Những con kênh này có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiêu phèn,rửa mặn cho vùng đất phía nam, giúp nhân dân thuận lợi trong quá trình sản xuất nôngnghiệp mà đặc biệt là trồng lúa nước Bên cạnh đó hai con kênh này cũng là đường biêngiới tự nhiên giữa nước ta và Chân Lạp, bảo vệ nước ta khỏi những sự xâm nhập đe dọacủa các thế lực bên ngoài
Thương nghiệp
Từ thời Lê đến thời Tây Sơn những bến cảng như Hà Nội, Hội An các thươngthuyền cập bến vô cùng đông đúc Các giáo sĩ phương Tây từng ghi nhận rằng Gia Địnhthành vào thời các chúa Nguyễn có đến hơn 10 vạn dân cư Sang thế kỉ XIX, đất nướcthống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán trong và ngoài nước
Trang 25Dưới thời vua Gia Long, nhiều kênh được khai đào, các trục đường chính được sửachữa và đắp mới, vừa phục vụ cho nhu cầu hành chính quân sự vừa đáp ứng được nhucầu thông thương Tuy nhiên việc nhà nước độc quyền mua bán đã nhiều sản phẩm côngnghiệp quan trọng đã ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của nội thương Nhiều thịtrấn chợ đầu mối đã xuất hiện trên cả nước
Nhà Nguyễn cũng đã thống nhất được đơn vị đo lường và tiền tệ Tuy cách thức đolường từng khu vực có những khác biệt nhưng về cơ bản vẫn có chuẩn mực chung
Triều đình chỉ nới lỏng trong việc giao thương buôn bán với với Trung Quốc.Thương nhân Việt Nam buôn bán nhỏ lẻ hàng hóa với những thương nhân người TrungQuốc để kiếm lời chứ không làm ăn quy mô lớn, vì vậy thương nghiệp không phát triển.Trong khi ở trong nước tình hình sản xuất thủ công nghiệp không mấy phát triển Giaolưu buôn bán giữa các địa phương trong cả nước có khi còn gặp khó khăn do tình trạngnổi loạn, các cuộc khởi nghĩa nông dân, đồng thời nạn hải phỉ hoành hành Tất cả nhưngyếu tố đó đã làm cho nền thương nghiệp của Việt Nam từ từ xuống dốc
Trang 26Có thể thấy những vị vua đầu triều Nguyễn đã cố gắng củng cố, phát triển nềnthương nghiệp của nước ta nhưng mắc phải một sai lầm lớn là “trọng nông ức thương”,nên không thể tạo điều kiện cho nước ta có sự thay đổi phù hợp theo xu thế phát triển củathời đại Nên kinh tế đi vào quá trình trì trệ suy thoái, cộng với những chính sách khôngphù hợp của triều đình nhà Nguyễn là nguyên nhân đưa nước ta nằm trong tằm ngắm xâmlược của tư bản phương Tây mà thiết nghĩ nếu không có Pháp thì nước ta cũng khó thoátcảnh trở thành thuộc địa.
Các vua đầu triều Nguyễn đã đưa ra nhiều chính sách, biện phát nhằm xây dựng vàphát triển nền kinh tế, củng cố sức mạnh của đất nước, qua đó củng cổ và bảo vệ nền độclập, tự chủ của dân tộc Chúng ta không thể phủ nhận rằng tình hình kinh tế - xã hội củađất nước đã được cải thiện rất nhiều so với thời gian trước, nhưng bên cạnh đó có nhiềuchính sách đã gây ra những tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế, mà tiêu biểu
là chính sách “bế quan tỏa cảng” và “trọng nông ức thương” Những dấu hiệu của khủnghoảng đã bắt đầu xuất hiện và cho đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, đất nước talại rơi vào một tình thế vô cùng khó khăn, triều đình nhà Nguyễn tỏ ra lúng túng trướcthời cuộc, đời sống của nhân dân trong nước lại càng trở nên cơ cực
Thủ công nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống vì vậy công nghiệp chỉ chiếm một
bộ phận rất nhỏ trong nền kinh tế Hình thức chủ yếu của công nghiệp nước ta là thủ côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp Một bộ phận của thủ công nghiệp còn chưa tách ra khỏinông (công nghiệp tại gia), công nghiệp tại gia là sự chế biến nguyên liệu ngay tại giađình nông dân, đó là thuộc tính của nền kinh tế tự nhiên
Tuy nhiên vào thế kỉ XIX, ở nước ta đã hình thành những khu vực chuyên môn sảnxuất thủ công nghiệp Sự chuyên môn hóa được đưa lên cao và hình thành nên nhữnglàng thủ công chuyên làm những nghề rất tinh xảo, như làng Kim Bôi đúc đồ đồng, làngBưởi làm các loại giấy, Bát Tràng làm gốm… Thậm chí ở những thành thị sầm uất như
Hà Nội đã hình thành nên những làng nghề thủ công nghiệp tập trung ở những đường phốhay khu phố theo từng ngành nghề Những người có chung một ngành nghề với nhauthường tập hợp lại thành một tổ chức gọi là phường hội Mỗi phường hội đều có quy chếriêng, và được tổ chức chặt chẽ Ở mỗi phường hội nghề thủ công và nghề buôn bán đượckết hợp lại với nhau
Triều đình cũng khuyến khích thủ công nghiệp, khen thưởng cho những thợ giỏi,nhà vua thường sai người đi trưng dụng những thợ giỏi về làm việc cho vua hoặc triềuđình Những thợ thủ công giỏi được nhà nước trưng dụng được sử dụng vào việc xâydựng những cung điện, thành trì hoặc làm những công việc như đúc súng, đóng tàu, đúctiền Ngoài ra còn có những xưởng chuyên sản xuất những đồ dùng phục vụ cho nhu cầucủa vua và hoàng tộc như đồ trang sức, gấm vóc, đồ gốm…
Trang 27Nhà nước giữ độc quyền công nghệ khai mỏ mà đặc biệt là đối với những khoángvật quý như kẽm, bạc, vàng Nhà nước cũng cho thầu khoán Trung Quốc làm rồi đóngthuế bằng bao nhiêu nguyên liệu khoáng sản Nhà nước còn cho lập những “hộ” khi cầnnhững món hàng nào đó, cần sắt thì lập “hộ sắt”, cần vàng thì lập “hộ vàng”, cần gỗ limthì lập “hộ thiết mộc”… tập hợp những người làm nghề đó rồi đánh thuế sản vật.
Những người thợ giỏi nhất thường bị nhà nước trưng dụng, có khi trưng dụng cảđời Trong khi đó đối với các làng nghề, các phường hội quy chế phức tạp, hình thức
“giấu nghề” rất ngặt nghèo làm cho những làng nghề đó hầu như chỉ được độc quyền bởimột gia đình hay một phường nhất định Chính vì những nguyên nhân này mà thủ côngnghiệp không có điều kiện để phát huy hết những thế mạnh và sáng tạo của mình Khiếncông thương nghiệp chỉ bó hẹp ở một khu vực nhất định
1.3 Quân sự
Từ thời nhà Lý nước ta đã thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, cho quân línhluân phiên luyện tập tái ngũ và về nhà cày ruộng Chính sách này càng được vận dụnglinh hoạt sáng tạo ở các triều đại phong kiến tiếp theo như Trần, Lê Yếu tố then chốt làmnên thành công của các triều đại phong kiến Việt Nam là sự gắn bó mật thiết giữa nhànước và nhân dân “Ngụ binh ư nông” được ban hành và thực hiện thành công đã chothấy các triều đại phong kiến Lý, Trần đã biết kết hợp giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợigiai cấp, đề cao tư tưởng gần dân, dựa vào nhân dân để phòng giữ đất nước và đánh bạinhững đội quân xâm lược hùng mạnh
Triều Nguyễn được xác lập đầu thế kỉ XIX không phải là sản phẩm của cuộc đấutranh nhân dân mà là kết quả của việc lật đổ phong trào nông dân Tây Sơn Chính vì thế
mà ngay từ buổi ban đầu mâu thuẫn giữa nhà Nguyễn với nông dân trong cả nước đã gaygắt, mặc dầu mức độ có giảm so với thời kì Trịnh - Nguyễn Bởi nguyên do đó mà nhàNguyễn không thực hiện chế độ “ngụ binh ư nông” như các triều đại trước mà chủ trươngcho xây dựng lực lượng quân đội vững mạnh Dưới thời nhà Nguyễn quân đội cũng đượcchia ra thành hai bộ phận chính là thủy binh và bộ binh
Bộ binh dưới thời nhà Nguyễn luôn được duy trì rất đông tới hàng chục vạn người,được tuyển chọn theo chế độ quân dịch Theo quy định của triều đỉnh cứ ba đến bốn suất
đinh thì lấy một suất lính, tuy nhiên trên thực tế con số này luôn cao hơn “Chẳng hạn, theo thống kê, số đinh năm 1820 là 620.240, mà số lính tuyển lại đến 204.220 người (bằng 1/3 số đinh)”27 Thành phần chủ yếu tham gia trong quân đội nhà Nguyễn chủ yếu
là những người nông dân, còn con cháu của các nhà giàu có, quan lại thì được miễnkhông phải đi lính hoặc dùng tiền để tìm người đi thay Do nhà Nguyễn không áp dụngchế độ “ngụ binh ư nông” nên triều đình thực hiện chế độ ruộng lương rất hậu với mong
27Nhiều tác giả (2005), Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb Đại học sư phạm, tr 381.
Trang 28muốn khuyến khích nhân dân vào quân đội và cũng là để triều đình và binh lính có sự gắn
bó mật thiết với nhau hơn
Bộ binh thời Nguyễn được phân làm ba hạng là thân binh có nhiệm vụ hộ vệ vua,cấm binh có nhiệm vụ bảo vệ hoàng thành và tinh binh có nhiệm vụ phòng thủ kinh đô và
đi trấn giữ ở các tỉnh Về tổ chức, quân đội được biên chế theo hệ thống như sau: đơn vịnhỏ nhất là ngũ (có 5 người), tiếp đến là thập (10 người), rồi đến đội (50 người), vệ (mỗi
vệ bằng 10 đội), doanh (mỗi doanh có 2500 người) Binh lính nhà Nguyễn được trang bịcòn khá lạc hậu có thể nói là lỗi thời so với tư bản phương Tây, một vệ được trang bị 2khẩu thần công, 200 khẩu điểu thương, đến thời Tự Đức bộ binh còn sử dụng giáo mác vàsúng điểu thương, tuy vậy thì 10 người mới có 1 khẩu súng Nhầm hiện đại hóa quân độinâng cao sức chiến đấu, Tự Đức cũng đã cho người mua súng của nước ngoài và đúcthêm súng ở trong nước Tuy nhiên phần nhiều những loại súng mua về từ nước ngoài lànhững loại súng kiểu cũ, những thứ “phế thải” của tư bản phương Tây, trong khi đó súngđược sản xuất trong nước cũng chỉ theo khuôn mẫu cũ không có sự cải tiến
Về thủy binh, có sáu vệ thủy binh đóng ở kinh đô, ngoài ra còn có thủy quân đóng ởcác đồn lũy ở các tỉnh ven biển, đặc biệt là ở các hải cảng quan trọng Dưới thời GiaLong thủy quân đạt con số 17.600 người, được trang vũ khí và tàu chiến khá hoàn chỉnh.Với 3 tàu chiến theo kiểu phương Tây 100 chiến thuyền lớn được trang bị từ 50 đến 70máy chèo, có nhiều súng bắn đá, đại bác, 200 chiến hạm nhỏ được bọc đồng mỗi chiếcchở từ 16 đến 20 đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ mỗi chiếc có 40 đến 44 mái chèo đượctrang bị 1 đại bác và nhiều súng bắn đá
Hệ thống phòng thủ dưới thời nhà Nguyễn
Kinh thành Huế
Sau khi Nguyễn Ánh lật đổ vương triều Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn năm 1802 ông
đã rất chú trọng đến việc xây dựng những hệ thống tiền tiêu, những công trình quân sựmang tính chất phòng thủ nhằm chống lại sự dòm ngó, xâm phạm của các thế lực nướcngoài Đặc biệt khi chọn Huế làm kinh đô của vương triều, Gia Long đã cho xây dựng hệthống phòng thủ cảng biển và đảo, hệ thống sơn phòng ở các tỉnh miền trung để che chắncho kinh thành Huế
Hệ thống phòng thủ quân sự thời nhà Nguyễn có thể phân làm ba loại là hệ thốngphòng thủ ở kinh thành Huế, hệ thống phòng thủ ở các cảng, các đảo và hệ thống phòngthủ ở các tỉnh miền núi Với mục đích phòng thủ là chính, từ năm 1805 Gia Long đã choxây dựng kinh thành Huế với diện tích lên đến 520 ha nằm ở bờ bắc của con sông Hương.Đây là công trình xây dựng đồ sộ, quy mô với hàng vạn lượt người tham gia thi công,hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, didân, dời mộ, đắp thành kéo dài từ năm 1805 dưới triều vua Gia Long mãi cho đến năm
1832 dưới triều vua Minh Mạng mới hoàn thành Có thể nói Kinh thành Huế là một trong
Trang 29những công trình không chỉ mang ý nghĩa phòng thủ quân sự đơn thuần mà nó còn là mộtcông trình kiến trúc vĩ đại của nhà Nguyễn, có giá trị vượt thời gian Năm 1993, quần thể
di tích cố đô Huế (bao gồm cả kinh thành Huế) đã được UNESCO công nhận là Di sảnvăn hóa thế giới
Hệ thống phòng thủ ở các cửa biển
Đà Nẵng là một trong những hải cảng quan trọng và giữ vị thế chiến lược của đấtnước Vào thời Nguyễn Đà Nẵng càng có một vị thế vô cùng quan trọng vì nó nằm rấtgần Kinh thành Huế, chính bởi vì thế mà triều đình Nguyễn đã rất chú trọng xây dựng hệthống phòng thủ liên hoàn, quy mô, kiên cố ở những điểm then chốt của thành phố này
Để phòng ngừa sự thâm nhập trái phép của các tàu phương Tây và cấm các giáo sĩ truyềnđạo hoạt động, nên việc phòng thủ và cấp báo ở cửa biển Đà Nẵng dưới thời Minh Mạngđược xếp vào tình trạng tối khẩn Lực lượng quân đội của triều đình được bố phòng ở cửa
biển Đà Nẵng cũng tăng cường theo thời gian “Năm 1838, quân số giữ cửa Đà Nẵng là
39 người, đặt dưới sự chỉ huy của quan Lãnh binh tỉnh Quảng Nam, Năm 1847, dưới triều Thiệu Trị còn đặt thêm chức Lãnh binh thủy sư tỉnh Quảng Nam”28
Để bảo vệ cửa Đà Nẵng, Năm 1813 Gia Long đã cho xây dựng hai thành Điện Hải
và An Hải, thiết kế theo kiểu thành Vauban, đứng đầu mỗi thành là quan thành úy TriềuNguyễn còn cho xây dựng một hệ thống đồn lũy dày đặc để kiên cố để bảo vệ cảng ĐàNẵng ở cự ly gần ở bên trái cửa Đà Nẵng là đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, ởbên phải có các đồn Hóa Khê, Mỹ Thị Thậm chí ngay mũi đất nhô ra giữa sông Hàn còn
có đồn Nại Hiên nhằm chặn đánh những chiến thuyền địch muốn dùng đường sông đểtiến vào nội địa Với hệ thống những công trình phòng thủ đó đã cho thấy rằng Đà Nẵngtrong mắt triều đình Huế có một vị trí cực kì quan trọng đối với việc bảo vệ kinh thànhHuế
Thuận An được biết tới từ thời nhà Hồ, lúc đó cửa biển này mang tên cửa Eo, saunày đổi thành cửa Noãn rồi cửa Nhuyễn, mãi đến năm 1813, Gia Long mới đổi tên cửaNhuyễn thành cửa Thuận An Thuận An là cửa biển quan trọng bậc nhất của kinh đô Huế,triều đình cho đặt thủ sở, đặt một chức thủ ngữ và một chức tấn thủ, có 3 đội lính lệ cónhiệm vụ đi tuần phòng ngoài biển Để bảo vệ cửa biển quan trọng này triều đình đặt rachức quan thành thủ úy quản lính vệ Phòng hải đứng đầu, đặt quân đội thường trực có 7đội Vệ tấn binh phòng hải Để canh phòng cho cửa ngõ quan trọng này triều đình khôngnhững chỉ sử dụng những đội lịnh ứng trực mà còn chú ý đến lực lượng ngư dân địaphương, để đi tuần thám, phát hiện những hiện tượng bất thường báo cáo cho triều đình.Lực lượng phòng giữ cửa biển Thuận An cũng ngày một được tăng cường, phiên chế
quân ngũ, phân công ứng trực cũng vô cùng chặt chẽ “Văn bản pháp quy năm 1832 cả triều đình ghi rõ: số lính thuộc lệ tấn thủ cửa biển Thuận An là 124 người, nay phiên chế
28 PGS.TS Sử học Đỗ Bang (2011), Hệ thống phòng thủ miền trung dưới triều Nguyễn, Nxb.Văn hóa – Thông tin, tr.
57
Trang 30làm ba đội Thuận An Nhất, Nhị và Tam; mỗi đội do một viên chánh đội trưởng và hai viên đội trưởng chỉ huy”29 Cũng giống như cửa Đà Nẵng triều đình Huế cũng xây dựngnên một hệ thống phòng thủ liên hoàn với những pháo đài đồn lũy dày đặc cả trên đất liềncũng như trên biển
Ngoài hệ thống phòng thủ quân sự quan trọng ở hai cửa biển có vị trí chiến lượcthen chốt để bảo vệ kinh thành Huế là Đà Nẵng và Thuận An triều Nguyễn còn cho bốphòng ở các cửa biển khác như Tả Trực (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Hữu Trực (QuảngTrị, Quảng Bình), Tả Kỳ (Bình Định, Phú Yên), Hữu Kỳ (Hà Tĩnh, Nghệ An, ThanhHóa
Hệ thống công trình phòng thủ vùng núi
Triều Nguyễn cho xây dựng các đồn, bảo để trực tiếp bảo vệ các nguồn (đơn vịhành chính ở miền núi, tương đương với các tổng) Số lượng đồn và binh lính tùy thuộcvào tình hình an ninh ở các địa phương Quân lính trong các đồn chủ yếu được tuyểnngay ở địa phương lúc có biến thì thường được tăng thêm quân lính ở tỉnh và triều đình.Quân số ở các đồn thường không đồng đều, trung bình từ 40 đến 50 binh lính canh gác.Triều đình thực hiện chế độ luân phiên trấn giữ, cứ 6 tháng đến một năm thì cho đổi lính,
đặc biệt ở những nơi có nhiều lam chướng thì cứ 3 tháng là luân phiên “Theo liệt kê trong sách Đại nam nhất thống chí (bản triều Tự Đức), đến giữa thế kỉ XIX, miền Trung
có đến 180 đồn, bảo; trong đó lũy dài Tĩnh Man ở Quảng Ngãi chiếm 114 bảo; sau đó là tỉnh Bình Định 23 bảo”30 Trong hệ thống đồn lũy miền núi xây dựng dưới thời nhàNguyễn thì Tĩnh man trường lũy ở Quảng Ngãi là nổi tiếng nhất
Có thể nói nhà Nguyễn đã không hề có thái độ chủ quan mà còn rất nghiêm túc
trong việc xây dựng hiện đại hóa quân đội ngày càng vững mạnh hơn Ngay từ khi lật đổvương triều Tây Sơn nhà Nguyễn đã cho xây dựng một đội quân đủ mạnh với lực lượngthường trực lên tới hàng chục vạn binh lính Đồng thời nhà Nguyễn cũng rất chú trọngviệc tổ chức, phiên chế quân đội một cách chặt chẽ, tiến hành sản xuất, mua vũ khí củanước ngoài để trang bị cho các binh chủng Tuy vũ khí dưới thời Nguyễn được trang bịcòn khá lạc hậu so với tư bản phương Tây nhưng so với các nước trong khu vực thìkhông thua kém bất kì quốc gia nào Nhưng quân số đông hay trang bị vũ khí hiện đạikhông phải là yếu tố quyết định đến thành bại của cuộc chiến Trên thực tế nước ta đãtừng khuất phục rất nhiều đạo quân xâm lượt đông hơn gấp nhiều lần, trang bị vũ khí hiệnđại hơn rất nhiều Từ đó mới thấy được rằng trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thìyếu tố lòng dân mới là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc chiến, toàn dân một lòng thì
dù kẻ thù có mạnh đến đâu cũng có thể đánh bại, nhược bằng dân đã không theo thì cầmchắc thất bại trong tay Như Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã có câu nói nổi tiếng:
29 PGS.TS Sử học Đỗ Bang (2011), sđd, tr 71
30 PGS.TS Sử học Đỗ Bang (2011), sđd, tr 143-144
Trang 31“Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo” Chính vì vậy mà cho dù đã tổ chứcquân đội rất chặt chẽ, bố trí phòng thủ dày đặc nhưng nhà Nguyễn chỉ có thể đứng vữngtrong một thời gian ngắn khi Pháp sang xâm lược nước ta.
1.4 Luật pháp
Năm 1811, vua Gia Long chỉ dụ cho Nguyễn Văn Thành soạn một bộ luật Đến
1815, bộ luật được soạn xong và ban hành, lấy tên là “Hoàng triều luật lệ”, về sau thườnggọi là bộ luật Gia Long
Bộ luạt gồm 21 quyển chính với 398 điều và 1 quyển phụ lục với 30 điều, cộng là
22 quyển, bố cục như sau:
+ Quyển 1: Biều kê các luật
+Quyển 2 và 3 (45 điều): Quy tắc định luật lệ
+ Quyển 4 và 5 (27 điều): Luật hành chính
+ Quyền 6,7 và 8 (66 điều): Luật dân sự (thuế, ruộng đất và nhà ở, hôn thú, kho tàng, chovay, chợ búa )
+ Quyển 9 (26 điều): Lễ tục ( hiến tế, nghi lễ )
+ Quyển 10 và 11 (58 điều): Luật binh (cấm binh, binh chế, đồn lũy, trạm dịch )
+ Quyển 12,13,14,15,16,17,18,19,20 (166 điều): Luật hình sự (Phản nghịch, giết người,
ẩu đả, lăng nhục, thóa mạ, khiếu nại, tố cáo, bất chính, xảo trá, gian dâm, giam giữ, cáctội hình hình sự khác )
+ Quyển 21 (10 điều): dinh tạo ( các công trình kiến trúc, đê điều )
+ Quyển 22: Các tội tương đương (đối chiếu luật định).31
Bộ Luật Gia Long thể hiện rõ ý đồ bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đềcao địa vị của quan lại và gia trưởng Đặc biệt tội phản nghịch chống lại nhà vua bị trừngtrị rất khốc liệt Trong bộ luật Hồng Đức của triều Lê, quyền lợi của các nhân, của phụ nữđuọc chú ý ở một mức độ nhất định Trái lại trong bộ luật Gia Long, tinh thần tôn trọngquyền lợi các nhân và phụ nữ đã biến mất, sự chú ý đến sản xuất nông nghiệp và cáccông trình thủy lợi cũng mờ nhạt Trải qua các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức
bộ luật được bổ sung bằng các sắc vụ Những điều bổ sung này càng làm cho luật lệ triềuNguyễn thêm khắc nghiệt
31 Nguyễn Phan Quang, sđd, tr 19 - 20
Trang 32Cũng lưu ý rằng, tuy nói tham khảo các luật thời trước nhưng trong thực tế bộ luậtGia Long là dựa hẳn vào bộ luật nhà Thanh Đại bộ phận luật lệ thậm chí đến cả chú thích
là các điều luật, hầu như chép nguyên văn bộ luật nhà Thanh Những chi tiết thay đổi bớt
bỏ, bổ sung trong một số điều luật chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể
2 Chính sách đối ngoại
2.1 Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước lân bang
Đối với Trung Hoa
Dựa vào những tài liệu lịch sử cho phép chúng ta khẳng định trong các tất cả cácquan hệ ngoại giao với các nước lân bang, triều Nguyễn đặt quan hệ ngoại giao với nhàMãn Thanh (Trung Quốc) lên hàng ưu tiên số một
Ngay từ năm 1802, vua Gia Long đã cử hai sứ đoàn sang nhà Thanh, đem giao lạicho nhà Thanh những sách ấn mà họ đã ban cho triều đình Tây Sơn và xin đặt quốc hiệu
“Việt Nam” Các vua triều Nguyễn xem việc tuyên phong của nhà Thanh là điều rất quantrọng Nếu chưa có lễ tuyên phong đối với vị vua kế vị triều Nguyễn thì coi như chưađược thừa nhận chính thống; còn được công nhận và phong vinh thì mới thật là chínhthống, trong nước sẽ không có một lực lượng nào dám tranh giành cơ nghiệp đế vươngcủa mình
Triều Nguyễn có thông lệ là đều đặn cử sứ đoàn mang cống phẩm sang dâng nộpcho nhà Thanh Ngoài ra cứ mỗi lần nhà Thanh có lễ mừng hay cáo tang, triều Nguyễnđều cử sứ bộ mang lễ vật sang dâng nộp Chẳng hạn năm Gia Long thứ 18, nhân dịpmừng thọ 60 tuổi của vua Gia Khánh, triều Nguyễn cử sứ đoàn cho cần chánh điện học sĩNguyễn Xuân Tình dẫn đầu sang chúc mừng
Theo Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, có thể
thấy rằng trong năm quyển ghi chép vấn đề bang giao thì bốn quyển thực chất là ghi chép
về quan hệ giữa triều Nguyễn và nhà Mãn Thanh Bốn cuốn này ghi chép tỉ mỉ những quyđịnh chặt chẽ mà triều Nguyễn phải thực hiện trong quá trình quan hệ với nhà Thanh, từthể thức việc sai sứ, lễ phẩm, đệ văn thư đến thể thức tiếp sứ nhà Thanh Đại lễ tuyênphong, đại lễ dụ tế, lễ tiếp kiến Tất cả những điều này thể hiện nhà nước Việt Nam dướitriều các vua Nguyễn vẫn có nhu cầu duy trì quan hệ chủ nhà với thượng quốc bằngphương cách gửi cống phẩm Thực tế đó cũng chỉ ra rằng, sự mong muốn có quan hệ hòahiếu để góp phần đảm bảo an ninh quốc gia Việt Nam Đây cũng là cách đảm bảo giá trịphong vương mà hoàng đế tiên triều đã ban cho Việt Nam và những người kế vị; và cũng
là dịp trao đổi tặng vật, mặc dù tặng vật ngày càng giảm Triều đình Huế có cơ hội nhận
được nhiều tặng vật quý giá kể cả thương phẩm lẫn các sản phẩm “tinh thần” từ phía
triều đình nhà Thanh
Trước âm mưu đẩy mạnh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp vào những năm 70của thế kỉ XIX, Tự Đức đã lấy quan hệ tôn chủ để cầu cứu nhà Thanh đánh Pháp Việc
Trang 33làm này một mặt là sự phản kháng thực dân Pháp Xâm lược, nhưng mặt khác lại biểuhiện một tinh thần ỷ lại, dựa dẫm không còn giữ vững quyền tự chủ, tự cường dân tộc.Tuy nhiên nhà Thanh lúc này không đủ sức để giữ vũng chủ quyền của đất nước họ trước
ý đồ xâm lược của các nước phương Tây Nhà Thanh cũng đã giúp đỡ nhưng vì mục đíchcủa mình mà đã nhanh chóng bắt tay với Pháp và bỏ mặc Việt Nam Mỗi khi đạt đượcthỏa thuận với triều Nguyễn thực dân Pháp đều sử dụng nhà Mãn Thanh để bảo trợ vềPháp lý quốc tế cho những kết quả của chính sách xâm lược của chúng
Trong quan hệ với nhà Thanh không phải cái gì triều Nguyễn cũng nhất mực phụctùng, phụ thuộc Thông thường từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiêu Trị sứ nhà Thanh chỉđến Thăng Long làm lễ tuyên phong cho các vua triều Nguyễn nhưng sau này thì các sứnhà Thanh phải đến tận kinh đô Huế để làm lễ cho các vua Nguyễn Đối với những hànhđộng nhà Thanh xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam triều Nguyễn đã kiên quyếtđối phó để thu hồi hay bảo vệ đất đai của Tổ quốc
Đối với các nước Đông Nam Á
Triều Nguyễn cũng rất quan tâm đến mối quan hệ với các nước Đông Nam Á Đặcbiệt thời trị vì của vua Minh Mạng được xem là đỉnh cao của các quan hệ này Quan hệgiữa Việt Nam và các nước này có tính chất đa dạng, phức tạp hơn đó là quan hệ giữanước “bảo hộ” và nước “được bảo hộ” (chủ yếu là giữa Việt Nam và hai vương quốc AiLao và Cao Miên) Còn quan hệ với các nước Đông Nam Á khác đôi lúc đã diễn ra sựđụng độ quân sự căng thẳng, nhưng nhìn chung nét nổi bật là quan hệ “hòa hiếu thânthiện”
Các sự kiện trong quan hệ giữa triều Nguyễn với Vạn Tượng và Cao Miên chủ yếu
là việc các sứ thần hay đích thân các quốc vương của hai nước này đến Việt Nam yêu cầuđược giúp đỡ, tạ ơn,…còn triều Nguyễn đóng vai trò người bảo hộ đúng mực, có tinhthần trách nhiệm và không cố bám giữ địa vị “bảo hộ” của mình
Quan hệ triều Nguyễn với vương quốc Xiêm La vừa tế nhị, vừa phức tạp, ít ổn địnhchứa đựng những mâu thuẫn gay gắt và đụng độ chủ yếu là quan hệ giữa hai nước lớntrong khu vực đối với vấn đề Chân Lạp và Vạn Tượng Triều Nguyễn với cách xử trímềm dẻo, song kiên quyết đã giữ được độc lập tự chủ của đất nước Và cuối cùng vẫn giữđược mối quan hệ hòa hảo, thân thiện với Xiêm La, quan hệ này được thể hiện qua thămhỏi tặng lễ vật chúc mừng Những năm đầu thời Gia Long, nhà Nguyễn và triều đìnhXiêm vẫn giữ quan hệ hòa hiếu Từ sau năm 1810, quan hệ giữa triều Nguyễn và Xiêm
La khá phức tạp bị chi phối bởi nội tình của Chân Lạp và Vạn Tượng, nhất là khi cả triềuNguyễn và Xiêm La đều muốn tranh giành ảnh hưởng đối hai nước này
Theo sử của nhà Nguyễn thì ba lần quốc vương Miến Điện cử sứ thần sang ViệtNam dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị Về phía triều Nguyễn thì cũng cóđôi lần cử sứ thần hoặc thủ hạ đến Miến Điện Mặc dù, nhà Nguyễn cũng không bao giờ
Trang 34tỏ ý nghiêng về một phía, nhưng có những lúc triều Nguyễn muốn liên kết với Miến Điện
để đối phó với ảnh hưởng của Xiêm La Tuy nhiên, việc giữ gìn quan hệ ổn định vớiXiêm La vẫn được ưu ái hơn
So với vương quốc Xiêm La và Miến Điện thì đối với các nước trong khu vực ĐôngNam Á như Malaysia, Inđônêsia, Philiphin triều Nguyễn chỉ có quan hệ về buôn bán chủyếu là quan hệ từ một phía – là nhà Nguyễn Ngoài ra triều đình còn cử quan lại đi côngcán ở các nước này
Các vua triều Nguyễn đều ý thức được tầm quan trọng của chính sách ngoại giao vàviệc bang giao với các nước Ngay trong những ngày đầu tiên lên ngôi, vua Tự Đức đãban bố “Bang giao chiếu” Từ đó chúng ta có thể thấy được các vua triều Nguyễn cũng đãnhận thức rất đúng về tầm quan trọng của chính sách ngoại giao với các nước lân cận
Nhìn chung, triều Nguyễn có một chính sách ngoại giao rõ ràng, mềm dẻo và có
thể nói là phù hợp với tình hình thực tế Chính sách đó lấy quan hệ ngoại giao với MãnThanh làm trung tâm, chú ý đến các nước có quan hệ đồng văn, đồng chủng với ViệtNam Cố gắng phát huy vai trò trung tâm trong các khối nước trên bán đảo Đông Dương.Tuy phục tùng nhà Thanh nhưng triều Nguyễn cũng không mù quáng phục tùng và chịulép vế đối với nhà Thanh về vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Chính sách ngoại giao rộng rãi của triều Nguyễn chủ yếu diễn ra trong thời hai vuađầu đó là Gia Long và Minh Mạng, đến vua Thiệu Trị và Tự Đức thì quan hệ thưa dần.Nhưng nhìn chung thì chúng ta có thể kết luận các mối quan hệ đó có lúc căng thẳng –đụng độ có lúc thân thiện – hòa hiếu chứa đựng chính sách gây ảnh hưởng bành trướngthế lực của nhà Nguyễn với chính sách tương tự của vương quốc Xiêm La và Miến Điệnđối với Vạn Tượng và Cao Miên Mặt khác nó cũng chứa đựng những mâu thuẫn giữacác nước Đông Nam Á với các nước phương Tây Từ đó có thể thấy được tình hình chínhtrị rất phức tạp lúc bấy giờ
Có thể nói nhà Nguyễn có một chính sách ngoại giao bảo thủ, thiển cận với phươngTây nhưng với các nước trong khu vực thì vua quan nhà Nguyễn cũng đã có cái nhìn thực
tế và cư xử khá hợp lí cho phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ
2.2 Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước phương Tây
Ở thời Gia Long trị vì (1802-1820), chính sách ngoại giao của Triều đình nhàNguyễn đối với Pháp là khá hòa nhã cởi mở ở thời kỳ đầu, nguyên nhân phần nhiều vìGia Long muốn trả ơn những người Pháp, đặc biệt là Giám mục Bá Đa Lộc đã giúp đỡông trong công cuộc đối đầu với Tây Sơn, từ đó thống nhất đất nước Việc buôn bán traođổi với người Pháp vẫn còn rất cởi mở, Gia Long cũng tạo rất nhiều điều kiện để các nhàbuôn Pháp dễ dàng hòa nhập với Việt Nam như phái người trong triều đình đến giúp đỡ,miễn thuế cho các tàu buôn, chỉ dẫn nên đem mặt hàng gì đến để bán,…
Trang 35Tuy nhiên, Gia Long vẫn hết sức cẩn trọng trong việc đi lại với người Pháp, đặc biệt
là một sự kiện làm triều đình nhà Nguyễn không thể không đề phòng ý đồ của Pháp Đó
là vào năm 1817, một thuyền trưởng của tàu buôn Pháp là Kergariou xin được gặp gỡdâng quà cho Gia Long và nhắc đến Hiệp ước 1787 Gia Long phái quan đến tiếp đãi tử
tế nhưng không cho Kergariou triều kiến với lý do Kergariou không có quốc thư Đối lạivới thái độ này của Gia Long, người Pháp lúc đó khi thì trách sự độc đoán chuyên chếcủa ông, khi thì trách Kergariou nhắc lại Hiệp ước 1787 làm nhà vua bất mãn, tức giận
Dù là nguyên nhân gì người Pháp bày ra để biện giải cho sự thất bại này đi chăng nữa thìđây cũng là sự kiện để triều đình nhà Nguyễn phải càng đề phòng sự nhòm ngó của Pháphơn.32
Nhà vua không ký kết bất kỳ một hiệp ước nào với Chính phủ Pháp cũng như nhữngthương nhân và các nhà truyền giáo người Pháp Nói một cách khác, bởi vẫn còn vướngmắc việc nhờ người Pháp giúp đỡ nên vua Gia Long không thể thẳng thắn khước từnhững yêu cầu của người Pháp, nhà vua một mặt phải giữ thái độ dung hòa, một mặt phảitìm mọi cách để từ chối ký kết hiệp ước với người Pháp Thế nhưng chủ trương chốngPháp của vua Gia Long vẫn được thể hiện ra ít nhiều trong những quyết định của mình.Đặc biệt là ở cuối thời kỳ trị vì của mình, Gia Long đã bắt đầu siết chặt hơn những chínhsách đối với các tàu buôn Pháp Việc chọn hoàng tử Đảm (Minh Mạng sau này) làmngười kế vị mình cũng được xem là một hành động điển hình nhất trong việc thể hiện chủtrương này của Gia Long Đến thời Minh Mạng, mối quan hệ với người Pháp như nhữngngười có công giúp Nguyễn Ánh trước kia gần như chấm dứt Minh Mạng không cònquan tâm đến việc giao hiếu mà nguyên nhân cơ bản khiến cho vua Minh Mạng cũng nhưcác vị vua kế vị quan ngại mối quan hệ ấy là do nhận thấy mối đe dọa nền độc lập dân tộc
và chủ quyền quốc gia đến từ Pháp Mặc dù khước từ mối quan hệ thông thương, nhưngđối với các thuyền buôn của Pháp đến nước ta vẫn được triều đình Huế đối đãi ưu hậu,nếu gặp tai nạn cũng thường được giúp đỡ
Đối với nước Anh, tuy Gia Long giữ thái độ hữu hảo với người Pháp nhưng lạikhông mấy mặn mà với người Anh Trước khi lên ngôi, giữa Nguyễn Ánh và người Anh
đã có xích mích, sau khi lên ngôi, lại chịu ảnh hưởng bởi của những vị quan người Pháptrong triều mà Gia Long lại càng không muốn giao thương với người Anh
Còn đối với Hoa kỳ thì cũng không được mấy thuận lợi, chủ yếu vì các thương nhân
và tàu Mỹ đến Việt Nam vào cuối thời Gia Long - đầu thời Minh Mạng, khi nhà Nguyễn
đã bắt đầu có những sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của mình đối với các nướcphương Tây, không còn thả lỏng như trước mà cứng rắn hơn.33
32Đinh Xuân Lâm, “Triều Nguyễn trước âm mưu bành trướng của tư bản Phương Tây (1802-1858)”, Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử, số 11-12/1993, tr 5.
33 Trần Nam Tiến (2006), Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước Phương Tây dưới triều Nguyễn (1802-1858), Nxb
Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, tr 73.