1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên

105 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 396,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học hiện đại, người thầy phải tôn trong những nguyên tắc: Bám sát đặc trưng bộ môn, phát huy chủ thể người học, gắn với đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại... Nhưng làm cách nào để người học viên (HV) thực sự là chủ thể tiếp nhận một cách sáng tạo trong quá trình học bộ môn Ngữ văn một môn nghệ thuật “trò diễn nằng ngôn từ”, để HV được “trả lại những gì thuộc về nó” (J. Dewey) là một thách thức không nhỏ, thậm chí quá phức tạp đối với người thầy giáo dạy Ngữ văn ở trường phổ thông bình thường, chưa nói rằng công việc dạy học lại ở một trường miền núi với đối tượng có thể xem là đặc biệt như HV ở Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) tỉnh..... Để phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất cho học sinh, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhiều hướng đi, nhiều cách dạy: Nêu và giải quyết vấn đề, trực tuyến Internet, hướng đối thoại, hợp tác, dự án... Nhưng phát triển năng lực tự học đối với HV Bổ túc THPT còn là vấn đề cần phải nghiên cứu một cách kĩ lưỡng sâu sắc hơn.1.2. Nghị quyết 29 NQTW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã ghi: “Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách”. ... Vậy bằng cách nào để giúp cho HV miền núi có thể rút ngắn được khoảng cách tri thức, hình thành ở họ quá trình tự đào tạo để giải quyết được những vấn đề cụ thể của địa phương, bảo đảm được tính dân tộc, hiện đại, thiết thực với con đường ngắn nhất và sự đầu tư hiệu quả nhất?1.3. Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường miền núi chung và tỉnh ...... nói riêng là dạy học văn trên giảng đường khác tiếng (....... có 21 dân tộc anh em, trong đó có 03 dân tộc chiếm số lượng chủ yếu: Thái, H’Mông, Kinh). Việc dạy học phải có tính nguyên tắc riêng trong “sự tương quan về văn hóa giữa hai dân tộc” .. và “bản dịch thích hợp” .... Đặc biệt là người công dân mới ......, các dân tộc anh em thông qua tiếng Việt phổ thông để tiếp nhận tác phẩm văn chương.1.4. Việc dạy văn hiện nay tập trung vào việc phát triển năng lực và phẩm chất người học chứ không nghiêng về truyền đạt kiến thức như trước đây. Để có thể đạt được mục tiêu trên, người thầy dạy văn tại các Trung tâm GDTX cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HV. Đặc biệt là tập trung vào dạy cách học, cách nghĩ, phát triển năng lực tự học của HV. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết 29 NQTW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” …1.5. Dạy học bộ môn Ngữ văn nếu ngữ nghiêng về phát triển năng lực phân tích, khái quát tổng hợp, kiến tạo những cấu trúc mới trong giao tiếp, nếu văn học sử và tập làm văn nghiêng về việc so sánh, phân tích, tổng hợp và tạo lập những văn bản mới bảo đảm tính khoa học, sáng tạo thì dạy học tác phẩm văn chương lại tập trung vào việc phát triển năng lực tiếp nhận hết sức phong phú và đa dạng: Tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, kết hợp cụ thể và khái quát, nhận biết loại thể để định hướng tiếp nhận và đặc biệt là năng lực tự đánh giá, thẩm định, thanh lọc tâm hồn. Để đạt được những mục tiêu phong phú và lớn lao ấy, người thầy dù tài năng nhưng cũng không thể trang bị hết được cho HV mà chỉ bằng cách là kích thích năng lực tự học, tạo ra được động lực tự học cho HV. Vậy động lực tự học được bắt đầu từ đâu? Động lực tự học bắt nguồn từ cảm xúc và hứng thú. LêNin trong “Bút ký tự học” có viết: “Nếu không có cảm xúc thì không và không bao giờ con người có khát vọng đi tìm chân lý”. Quá trình tự học là sự chủ động của mỗi cá nhân khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét. “Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng” …1.6. Trong giáo dục thì giáo dục lòng yêu lao động là khó nhất và học tập là thứ lao động bền bỉ, gian khổ nhất trong các lao động của con người. Nhưng có điều là học tập văn chương lại thường xuyên giải quyết vấn đề tiếp nhận hình tượng. Trong nhiều loại hình tượng nghệ thuật thì hình tượng văn học là độc đáo và đặc sắc nhất. Nó tác động đến tất cả các giác quan của con người. Vì vậy nó cũng có những thuận lợi nhất định trong việc tạo ra cảm xúc của người tiếp nhận cũng từ đó mà việc kích thích tự học trong dạy học tác phẩm văn chương có những lợi thế riêng của nó.1.7. Điều 44 trong Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập” …. Như vậy, GDTX đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí cho người dân, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người. Ngoài ra, GDTX còn có một vai trò đặc biệt quan trọng, đó là góp phần xây dựng một xã hội học tập tạo cơ hội điều kiện thuận lợi cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ học tập thường xuyên, học tập liên tục và học tập suốt đời. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo trên nên đối tượng HV Bổ túc THPT tại Trung tâm GDTX tỉnh ... rất đa dạng về trình độ lứa tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh, khả năng tiếp thu và lĩnh hội tri thức. Do vậy mà việc tự học đối với mỗi HV như là một lẽ tồn tại của sự học hành, giúp họ có được tri thức bền vững.Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh ........” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân). Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương. Từ đó, giúp HV có thói quen tự học, phát huy tinh thần học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

Trang 1

Tến đề tài: “Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở

Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim

1.2 Nghị quyết 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghịlần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới cănbản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã ghi: “Phát triển hài hòa, hỗ trợgiữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiênđầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn,vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối

Trang 2

tượng chính sách” [ ] Vậy bằng cách nào để giúp cho HV miền núi cóthể rút ngắn được khoảng cách tri thức, hình thành ở họ quá trình tự đàotạo để giải quyết được những vấn đề cụ thể của địa phương, bảo đảmđược tính dân tộc, hiện đại, thiết thực với con đường ngắn nhất và sự đầu

tư hiệu quả nhất?

1.3 Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường miền núichung và tỉnh nói riêng là dạy học văn trên giảng đường khác tiếng( có 21 dân tộc anh em, trong đó có 03 dân tộc chiếm số lượng chủyếu: Thái, H’Mông, Kinh) Việc dạy học phải có tính nguyên tắc riêngtrong “sự tương quan về văn hóa giữa hai dân tộc” [ ] và “bản dịchthích hợp” [ ] Đặc biệt là người công dân mới , các dân tộc anh emthông qua tiếng Việt phổ thông để tiếp nhận tác phẩm văn chương

1.4 Việc dạy văn hiện nay tập trung vào việc phát triển năng lực

và phẩm chất người học chứ không nghiêng về truyền đạt kiến thức nhưtrước đây Để có thể đạt được mục tiêu trên, người thầy dạy văn tại cácTrung tâm GDTX cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiệnđại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HV Đặc biệt là tậptrung vào dạy cách học, cách nghĩ, phát triển năng lực tự học của HV.Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết 29- NQ/TW Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyềnthụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cáchnghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mớitri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” […]

Trang 3

1.5 Dạy học bộ môn Ngữ văn nếu ngữ nghiêng về phát triển năng

lực phân tích, khái quát tổng hợp, kiến tạo những cấu trúc mới trong giao

tiếp, nếu văn học sử và tập làm văn nghiêng về việc so sánh, phân tích,

tổng hợp và tạo lập những văn bản mới bảo đảm tính khoa học, sáng tạo

thì dạy học tác phẩm văn chương lại tập trung vào việc phát triển năng

lực tiếp nhận hết sức phong phú và đa dạng: Tri giác ngôn ngữ, tái hiệnhình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, kết hợp cụ thể và khái quát, nhậnbiết loại thể để định hướng tiếp nhận và đặc biệt là năng lực tự đánh giá,thẩm định, thanh lọc tâm hồn Để đạt được những mục tiêu phong phú vàlớn lao ấy, người thầy dù tài năng nhưng cũng không thể trang bị hếtđược cho HV mà chỉ bằng cách là kích thích năng lực tự học, tạo ra đượcđộng lực tự học cho HV Vậy động lực tự học được bắt đầu từ đâu?Động lực tự học bắt nguồn từ cảm xúc và hứng thú Lê-Nin trong “Bút

ký tự học” có viết: “Nếu không có cảm xúc thì không và không bao giờcon người có khát vọng đi tìm chân lý” Quá trình tự học là sự chủ độngcủa mỗi cá nhân khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét

“Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú tìm tòi, của lựa chọn, của địnhhướng ứng dụng” […]

1.6 Trong giáo dục thì giáo dục lòng yêu lao động là khó nhất vàhọc tập là thứ lao động bền bỉ, gian khổ nhất trong các lao động của conngười Nhưng có điều là học tập văn chương lại thường xuyên giải quyếtvấn đề tiếp nhận hình tượng Trong nhiều loại hình tượng nghệ thuật thìhình tượng văn học là độc đáo và đặc sắc nhất Nó tác động đến tất cảcác giác quan của con người Vì vậy nó cũng có những thuận lợi nhấtđịnh trong việc tạo ra cảm xúc của người tiếp nhận cũng từ đó mà việckích thích tự học trong dạy học tác phẩm văn chương có những lợi thếriêng của nó

Trang 4

1.7 Điều 44 trong Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Giáo dụcthường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốtđời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ họcvấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việclàm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước cóchính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọingười, xây dựng xã hội học tập” […] Như vậy, GDTX đã góp phầnquan trọng trong việc nâng cao dân trí cho người dân, đào tạo nguồnnhân lực cho xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người Ngoài ra,GDTX còn có một vai trò đặc biệt quan trọng, đó là góp phần xâydựng một xã hội học tập tạo cơ hội điều kiện thuận lợi cho mọi lứatuổi, mọi trình độ học tập thường xuyên, học tập liên tục và học tậpsuốt đời Xuất phát từ mục tiêu đào tạo trên nên đối tượng HV Bổ túcTHPT tại Trung tâm GDTX tỉnh rất đa dạng về trình độ lứa tuổi,nghề nghiệp, hoàn cảnh, khả năng tiếp thu và lĩnh hội tri thức Do vậy

mà việc tự học đối với mỗi HV như là một lẽ tồn tại của sự học hành,giúp họ có được tri thức bền vững

Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở Trung tâm GDTX

tỉnh ” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân) Với đề tài này,chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp dạyhọc tác phẩm văn chương Từ đó, giúp HV có thói quen tự học, phát huytinh thần học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề mà từ trước đến nay có rấtnhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia và nhiều GV đề cập ở

Trang 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1950 của thập kỷ XX, khi nói

về công tác huấn luyện và học tập đã nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn

tự học”

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là người đã có nhiều công trình nghiêncứu về tự học như: “Học và dạy cách học”; “Tự giáo dục, tự học”;“Luậnbàn về kinh nghiệm tự học”

Bên cạch đó cũng có nhiều đề tài luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩnghiên cứu về vấn đề tự học Tuy nhiên chưa có công trình, bài viếtnào đi sâu vấn đề phát triển năng lực tự học dành cho đối tượng HV

Bổ túc THPT qua dạy học tác phẩm tự sư Sau khi khảo sát các công

trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy “Phát triển năng lực tự học tác phẩm tự sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh ” là vấn đề mới,

thiết thực

3 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình tự học,luận văn đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm phát triển năng lực tựhọc, tự tiếp cận chiếm lĩnh tri thức về tác phẩm văn chương một cáchchủ động, từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học cho HV, giúp

HV không những học tốt tác phẩm văn chương mà còn học tốt các mônhọc khác, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của Trung tâm

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp pháttriển năng lực tự học và thực trạng tự học tác phẩm tự sự của học viên ởTrung tâm GDTX tỉnh Đề ra một số biện pháp nhằm phát triển năng lực

tự học tác phẩm tự sự cho học viên Bổ túc THPT thông qua dạy tác phẩm

Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12

Trang 6

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển nănglực tự học của HV trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh

5.2 Để xuất các biện pháp để phát triển năng lực tự học của HVtrong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh

5.3 Thể nghiệm vận dụng các biện pháp để phát triển năng lực tựhọc của HV trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh

(Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân)

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Nghiên cứu các tài liệu, các vấn đề lý luận có liên quan đến bộmôn Ngữ văn và vấn đề tự học, tổng hợp, hệ thống hoá các văn bản chủtrương đường lối, Nghị quyết về chiến lược phát triển giáo dục và đàotạo của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp khảo sát điều tra: Được sử dụng khi tìm hiểu thựctrạng dạy và học tác phẩm tự sự

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng sau khi tiến hànhkhảo sát để đánh giá kết quả điều tra

- Phương pháp thể nghiệm: Sử dụng khi tiến hành thiết kế giáo án

và tiến hành dạy thử để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của đề tài

7 Đóng góp của luận văn

Trang 7

- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học văn, biến quá trình giáodục thành quá trình “tự giáo dục”, thực hiện mục tiêu, chiến lược màĐảng đã đề ra cho ngành Giáo dục

- Đưa ra một số biện pháp phát triển năng lực tự học của học viêntrong dạy học tác phẩm tự sự

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học tác phẩm tự sựcủa học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Trang 8

- Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự học đóng vai trò quan trọngnhất trong việc học tập Bác cho rằng trong cách học, phải lấy tự học làmnòng cốt Vì tư tưởng ấy nên Bác đã trở thành một tấm gương sáng vềtình thần và phương pháp tự học Lênin cũng nói: “ Học, học nữa, họcmãi” Anhxtanh cũng nói: “ Kiến thức chỉ có được qua tư duy của conngời ” Gibbon khẳng định: “Mỗi ngời đều phải nhận hai thứ giáo dục,một thứ do ngời khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn - do chínhmình tạo lấy.” [17,tr34]

- Thủ tướng Phạm Văn đồng, một trong những học trò xuất sắc củachủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận thể hiện và làm phong phú tư tưởng

về tự học qua quan niệm: “Đối với các em HS điều quan trọng có tầm cỡrộng lớn là tránh tham lam nhồi nhét, tránh lối học vẹt, chỉ cần học thuộclòng điều thầy giảng, đối với GV cần sử dụng phương pháp dạy người

Trang 9

học suy nghĩ, tìm tòi, hiểu rộng hơn điều thầy nói, mở rộng tư duy vànăng lực sáng tạo của người học …, Làm sao cho giờ học là cơ hội đểthầy trò thảo luận tranh luận từ đó các em rút ra nhữngđiều cần học, cầnbiết…”[13, tr 47-51] Trong lí luận và thực tiễn, đồng chí cũng chỉ rõ

"Phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuậttrong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học

có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việcmột cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại "[10]

- Từ các quan điểm chỉ đạo trên, các nhà nghiên cứu của chúng ta

đã đi sâu vào nghiên cứu để đưa ra kiến giải thoả đáng về khái niệm tựhọc Có thể thống kê các quan niệm của GS Nguyễn Cảnh Toàn, PhanTrọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn, Trần Bá Hoành

Nhóm 1: Các tác giả cho rằng tự học là một hình thức tổ chức dạyhọc Tác giả Trần Bá Hoành chỉ rõ "Giáo viên phải biết hướng dẫn, tổchức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho học sinhkhông chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phươngpháp tự học… Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phươngpháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tìnhhuống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họlòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người Làm đượcnhư vậy thì kết quả học tập sẽ tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự họckhi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống xã hội"[17, tr.50] Hìnhthức dạy học này mang tính chất tích cực rõ rệt Tuy nó có sự tổ chức,điều khiển của GV trực tiếp hoặc gián tiếp của GV nhưng điều cốt yếu

để đạt được thành công của quá trình học phải do nỗ lực tự học của HS

Trang 10

Nhóm 2: Có tác giả lại xem hoạt động tự học là một phương thức

tự nghiên cứu, tìm hiểu của HS để nâng cao tri thức của bản thân Có thểlấy một số quan niệm của các nhà nghiên cứu như TS Lê Ngọc Trà, PGS

Lê Khánh Bằng,…để làm ví dụ Các nhà nghiên cứu trên đều cho rằngbản chất của tự học là tự làm việc với chính mình, nghiên cứu tài liệu,trao đổi với bạn bè, với nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn Tự học

là tự đi tìm lấy kiến thức Đây là hoạt động được xét về phái người học

TS Hà Thị Đức khẳng định: “Tự học là hình thức hoạt động cá nhân, dobản thân ngời học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập trênlớp hay ngoài lớp , có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường vàtrong suốt cả cuộc đời” [14, tr.12]

Tóm lại: Qua tìm hiểu các quan niệm về tự học ở trên, chúng tôithấy tự học là vấn đề ngày càng được quan hơn trong giáo dục học Cácnhà nghiên cứu đều thừa nhận tự học là một nhu cầu, một năng lựccần có của mọi người, đặc biệt trong thời đại ngày nay Có nhiều tác giảnghiên cứu về tự học vì thế nên quan điểm về khái niệm tự học rất phongphú Có người cho đó là cách dạy, có người cho đó là cách học Đây đều

là các quan niệm đúng về khái niệm tự học Từ đó, ta thấy mục tiêu quantrọng của các nhà trường là trang bị cho cả GV và HS phương pháp tựhọc

1.1.2 Khái niệm tự học

Trong hệ thống ý kiến như trên, tác giả luận văn nhất trí với hệthống ý kiến thứ hai, ở đó, ta xem tự học như một phương thức tự đàotạo Xét về quan điểm này, có rất nhiều công trình nghiên cứu đưa ranhững khái niệm khác nhau về tự học Có thể liệt kê một số định nghĩasau:

Trang 11

- "Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sửtrong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệcải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàncảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinhnghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể" [35]

- Hoặc định nghĩa: “Tự học là công việc tự giác của mỗi người donhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiếnthức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sựtiến bộ xã hội" [17, tr.1]

- Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cũng phát biểu về khái niệm này:

“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, nhẫn nại, khách quan,

có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, lòng say mê khoa học, ý muốnthi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vựchiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.”[15; tr.59-60)

Dù là định nghĩa nào thì ta cũng thấy điểm chung của khái niệm tựhọc là: người học chủ yếu phải tự học bằng SGK, các tài liệu học tập liênquan và kế hoạch, điều kiện, phương tiện của mình để đạt được mục tiêuhọc tập Bản chất của nó là người học biến quá trình đào tạo thành quátrình tự đào tạo

Tự học có những đặc điểm sau [8; tr.9]:

1 Tự học có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân

Trang 12

Ở dạng tự học này giáo viên đóng vai trò chủ đạo, do đó thông quaviệc thiết kế bài giảng, giáo viên phải tạo điều kiện phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của học sinh

- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của người dạy, lúc nàyngười học phải tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự học,

tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng,

kỹ xảo theo yêu cầu của nội dung đã được hướng dẫn

Đây là dạng tự học diễn ra ngoài giờ lên lớp dưới sự quản lý của cáclực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Các lực lượng trong nhàtrường chủ yếu đóng vai trò gián tiếp thông qua yêu cầu các nội dung

tự học, còn lực lượng trực tiếp quản lý hình thức tự học này chính là xãhội và gia đình học sinh

Tự học có chu trình liên tục, diễn ra theo hình xoắn ốc mà ở đóđiểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác Saumỗi chu trình kiến thức của ngời học lại được nâng lên một tầm mới Cụthể như sau:

Trang 13

1 Tự nghiên cứu.

2 Tự thể hiện

3 Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân của HS Tự học cũng làcông việc khó khăn, phải trải qua chu trình, hình thức, nhiều đòi hỏi Tuynhiên, không thể có thể làm hộ học sinh việc đó

1.1.3 Vai trò của năng lực tự học

Với bản thân mỗi cá nhân, tự học có vai trò quan trọng Nhiềungười có khát vọng học vấn cao đẹp song hoàn cảnh lại chịu sự thiệtthòi Vì vậy, không phải ai cũng được may mắn đến trường Họ phải lấy

tự học để bù đắp Nhiều vĩ nhân đã thành đạt từ trong cuộc đấu tranh

vư-ơn lên bằng con đường tự học Song chính nhờ tự học, họ đã thành đạt,hơn nữa lại được thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp Quảthực, tự học là biểu hiện chí lớn lập nghiệp của mỗi con người trên conđường hoà nhập vào cộng đồng Lịch sử đã chứng minh rằng có nhiềutấm gương thành công do tự học Các danh nhân, nhà văn hoá, nhà chínhtrị, nhà khoa học lớn thành công đều do tự học Có nhiều người thành đạtnhờ tự học như các giáo sư, nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn, LêTrí Viễn, Lê Đình Kị,… Có người chưa hề đi tu nghiệp tại nước ngoàilần nào nhưng kết quả tự học đã được nhà nước công nhận và phongtặng các danh hiệu cao quý

Với đất nước, tự học cũng có ý nghĩa lớn Nhận xét về vai trò của

tư học với đất nước ta hiện nay, GS Pham Trọng Luận đã viết: “Tự họcđang trở thành chìa khoá vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay.Tốc độ thông tin ở cấp vũ trụ, nhu cầu luân chuyển tri thức diễn ra dữ

Trang 14

dội đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng phải có khả năng thích ứng,hoà nhập, tự khẳng định cá nhân trong guồng máy văn hoá, kinh doanh,lập nghiệp Điều đó đòi hỏi mỗi thành viên phải không ngừng tự bổ túctri thức bằng con đường tự học Tự học là con đường tự khẳng định, làcon đường sống và thành đạt của những ai muốn vươn lên đỉnh cao trítuệ của thời đại thông tin siêu tốc ngày nay Tự học - chiếc chìa khoávàng cần được mài sáng thêm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước hiện nay Tự học là con đường dân chủ hoá giáo dục vàkhoa học một cách có hiệu lực nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớncủa mỗi thành viên trong sự nghiệp đi nhanh, đón đầu lên đỉnh cao khoahọc công nghệ hiện đại Muốn mỗi người có thể đóng góp vào sự nghiệpcông nghiệp hoá thì phải huy động tiềm năng của mỗi công dân Tự học,

tự vươn lên trong cuộc sống và hoạt động xã hội của bản thân là con ường tích luỹ và đầu tư chất xám, trí tuệ cho sự nghiệp chung của đất nư-

đ-ớc trong vận hội mới ngày nay.” [9,tr19]

Đối với học sinh THPT, tự học có ý nghĩa vô cùng quan trọng Thế

kỉ XXI là thế kỉ của nền công nghệ thông tin, nó đòi hỏ bản thân mỗi conngười, trong đó có HS phải có những phẩm chất mới, thích ứng với nhịpsống của xã hội Tự học sẽ giúp các em tự hoàn thiện kĩ năng, phẩmchất, lối sống của bản thân, tránh lạc hậu Nó nhằm giúp các em rènluyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán độc lập,rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân

Tư duy của HS sẽ được phát triển theo chiều hướng tốt Trong tự học,tính độc lập của HS sẽ được phát huy cao độ Bên cạnh việc thụ hưởng

sự giáo dục, hướng dẫn của thầy cô giáo, HS phải nỗ trong việc tiếpnhận kiến thức Nó không nằm ngoài khả năng tìm tòi, sáng tạo của HS

Đó có thể chỉ là các thao tác giản đơn nhằm khắc sâu kiến thức như sưu

Trang 15

tầm tài liệu, so sánh đối chiếu hay từ những vấn đề cụ thể mà rút ra ýnghĩa, bản chất của sự vật, hiện tượng Học sinh ngày nay rất năng động,lại thêm sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm khả năng tự học của HSđược nâng cao Quá trình tìm tòi tri thức sẽ lôi cuốn HS, tạo cơ sở cho

HS làm chủ được tri thức, lối sống và hành vi của mình HS được lôicuốn vào niềm đam mê khám phá, phát hiện và sáng tạo Biết cách tựhọc, HS sẽ rèn được thói quen làm việc độc lập, khoa học làm tiền đềcho công việc lao động mai sau Những HS ngay từ khi học phổ thông

đã biết tự học chắc chắn sẽ thành đạt hơn trong cuộc sống Thực tế đãchứng minh không ít những tấm gương thành đạt đều biết nghiên cứu từnhững năm còn thơ ấu Tự học góp phần thể hiện nhân cách trưởngthành và tính độc lập, tự chủ cao trong học tập của HS THPT Việc pháttriển năng lực học tập, năng lực tư duy cho HS THPT là vấn đề đángquan tâm ở mọi quốc gia Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay học tậpbằng phương pháp ghi nhớ và tái hiện tỏ ra không còn hiệu quả cao nữa.Tính độc lập, sáng tạo của HS không được kích thích, khơi gợi Cần phải

có một cách thức đào tạo khác để phát huy sự chủ động của HS, tự học làmột trong những cách đó Quả thực, nhân cách người học sinh chính làphẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình đàotạo tại nhà

Tự học còn là cách thức, là nội lực quyết định sự phát triển tri thứccủa học sinh Không ai có thể nắm hộ các tri thức cho HS Chỉ có tựnắm bắt thì các em mới có thể ghi nhớ và vận dụng tri thức về sau Hơnnữa, nếu các em tự mình tìm ra được kiến thức thì các em sẽ ghi nhớ vôcùng lâu, khả năng sáng tạo và tư duy logic cũng được hoàn thiện hơn

Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi HS trên con đườnghọc vấn thừờng xuyên của cả cuộc đời Tri thức thu nhận được qua quá

Trang 16

trình tự lực tư duy mới là tri thức bền vững Quá trình tự học khác vớiquá trình học thụ động, nhồi nhét kiến thức Quá trình tự học diễn ra theođúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của

sự hứng thú, tìm tòi, của lựa chọn Kiến thức tự học bao giờ cũng vữngchắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo Bên cạnh đó, tự học còn là

HS học được cả cách học, cách nghiên cứu Vì vậy, trong nhà trường, cốtlõi của việc dạy học phải là dạy cách tự học để HS tự mình học đượccách học, cách tư duy Tác động dạy của thầy là vô cùng quan trọngnhưng vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự họcmới là nhân tố quan trọng

Tự học trong nhà trường THPT còn giúp giải quyết vấn đề: kiếnthức thì nhiều mà thời gian tiết học thì có hạn Dù cố gắng thì thời gianhọc cũng có giới hạn Hơn nữa, trong cả đời người, không phải ai cũng

có điều kiện học tập chính quy ngay lập tức Tự học, tự bổ túc kiến thức,cập nhật hoá thông tin là con đường tất yếu Nếu không GV sẽ luôn bịcháy giáo án, còn bản thân HS thì không tiếp thu đầy đủ kiến thức nhưmong muốn

Hơn nữa, hình thành việc tự học cho học sinh còn góp phần vào đổimới phương pháp dạy học theo nguyên tắc sư phạm hướng vào ngườihọc Việc chú trọng đến vai trò của HS chính là đổi mới phơng pháp dạyhọc theo hướng tiến bộ Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn:

“Chương trình SGK phải đảm bảo dạy cho HS những nguyên lí cơ bản,toàn diện về các mặt đức dục, trí dục, mĩ dục, đồng thời tạo cho các emđiều kiện phát triển óc thông minh, khả năng độc lập suy nghĩ sáng tạo”.Coi trọng yếu tố HS là xu hướng đổi mới của giáo dục hiện nay Sự đổimới phương pháp hai chiều sẽ kích thích quan hệ tương tác giữa GV và

HS để xác định sự phù hợp, tương ứng của hành động Quá trình dạy

Trang 17

học còn là quá trình nhận thức Đổi mới phương pháp không thể tách rờinội dung tri thức Vận dụng linh hoạt cách thức tự học để tìm hiểu nộidung tri thức sẽ giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của nó Tóm lại, hình thành thói quen tự học cho HS có vai trò to lớn vềnhiều phương diện Nó không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức tốt hơn,hình thành phong cách sống năng động mà còn giúp đổi mới phươngpháp dạy học theo nguyên tắc hướng vào HS.

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển năng lực tự họccho HS

1.1.4.1 Yếu tố khách quan

a Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉthị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có liên quan tớiquá trình giáo dục đào tạo của thầy và trò nhà trường Cùng đó là nộidung chương trình đào tạo của nhà trường

- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉthị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phải đề cập, quantâm tới hoạt động tự học của HS Nhiều bài viết đã khẳng định vai tròcủa tự học: “Xã hội Việt Nam đang có những sự chuyển mình Nhiềuvấn đề, nhiều kiến thức, nhiều quan niệm mới hôm qua còn đợc chấpnhận, hôm nay đã có thể không còn thích hợp nữa Trong lúc đó, mụctiêu giáo dục không phải chỉ nhằm đào tạo nghề nghiệp trớc mắt cho conngười mà phải đào tạo con ngời thích ứng linh hoạt với những hoàncảnh, nghề nghiệp, những công việc luôn thay đổi sau này Đó chính lànhững con ngời thạo việc, năng động, sáng tạo, biết lo cho bản thân, biếtcống hiến cho cộng đồng.” [9; tr.89] Hiện nay chính sách của Nhà nước

Trang 18

và của bộ Giáo dục đều đề cập tới Song triển khai thế nào ở các trườngthì còn nan giải.

- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường phải quan tâm,dành số tiết cho hoạt động tự học, ví dụ như tổ chức ngoại khóa, yêu cầu

HS phải tổ chức các hình thức học nhóm, học theo đôi bạn cùng tiến,…Điều này tuy có được nhắc tới ơ các trường song thực hiện hiệu quảkhông thì còn phải xem từng trường

b Phương pháp dạy học của giáo viên

GV phải là người có năng lực hướng dẫn, nhận xét và thẩm địnhkết quả tự học của HS GV có nhiệm vụ thông qua giáo dục đánh thứccác tiềm năng của HS, khơi dậy, phát triển cái nội lực đó GV phải dạycho HS từng bước tự học, tự đọc sách, tìm tòi, tra cứu,phát hiện cái mới.Thông qua sự hướng dẫn của GV, HS sẽ phát huy tính tích cực, chủ độngcủa mình để tiếp nhận tri thức và phát triển nhân cách cho phù hợp thờiđại Những con ngời năng động, sáng tạo đó là sản phẩm của các GV cónăng lực chuyên môn và phẩm chất tốt đẹp GV phải giữ vai trò định hư-ớng, đề xuất các vấn đề cho HS tự học, biết thẩm định kết quả tự học của

HS Điều kiện này có vai trò quyết định nhất với chất lượng nghiên cứucủa HS GV phải tạo được môi trờng, không khí tự học trong mỗi giờhọc, mỗi HS Môi trường này có được do công sức đóng góp của cả GV

và HS trong quá trình học tập HS sẽ được làm quen với phong cách họctập tự lực và cách phương pháp tự học Các em có thể trao đổi kiếnthông tin cần thiết với nhau hoặc với GV, cao hơn là việc trình bày kếtquả tự học của mình trước bạn bè, GV Đây là công việc khó khăn, cần

có thời gian lâu dài để tiến hành nhng nó vô cùng cần thiết với việc hìnhthành thói quen tự học cho HS Nếu GV có ý thức, nỗ lực liên tục ngay

Trang 19

trong từng hoạt động nhỏ, môi trường tự học cho HS tại nhà trờng sẽhình thành.

c Các điều kiện cơ sở vật chất phòng học, thư viện, hệ thốngmạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu thamkhảo …phục vụ cho tự học

Trường phải cố gắng xây dựng những phòng tự học Phải làm sao

để đảm bảo các trường đều thư viện cung cấp phương tiện thiết bị, sáchgiáo khoa và các tài liệu tham khảo, …phục vụ cho tự học Thứ ba làphòng tin học cùng hệ thống mạng Internet nên sớm cập nhật để HS cóthêm cơ hội tra cứu tư liệu

Tại nhà, HS phải sắp xếp cho mình một không gian tự học riêng.Tốt nhất là học tại phòng riêng, nếu không ít nhất HS cũng phải có góchọc tập cá nhân Góc học tập phải yên tĩnh, tránh xa mọi yếu tố gâynhiễu như: truyền hình, ca nhạc, điện tử, để HS tập trung cao nhất vàoviệc tự học Góc học tập nên đầy đủ phương tiện học tập và bài trí gọngàng, đơn giản “Có được môi trờng nghiên cứu khi làm việc độc lập ởnhà, HS sẽ có điều kiện thả mình trong những phút giây tưởng tợng, liêntưởng, có thời gian so sánh đối chiếu giữa văn bản này với văn bản khác

để tìm ra những kiến giải hợp lí.” [9; tr.85]

d Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải cóquỹ thời gian phù hợp, nên học sinh phải bố trí kế hoạch thật khoa học

để đảm bảo quá trình tự học đạt hiệu quả

Tại nhà, HS nên sắp xếp khoảng thời gian phù hợp cho việc tựhọc Việc đi học thêm ở ngoài không thể thay thế được tự học, thậm chí

nó còn phản tác dụng nếu HS học quá nhiều, không chú ý tới tự học Bản

Trang 20

có ý thức tự học Các em có thể làm việc độc lập với SGK, sách thamkhảo, tìm hiểu trước những vấn đề liên quan tới văn bản sắp học như:cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đề tài nhân vật, Nếu biết sử dụngthời gian tự do vào chuẩn bị bài, ôn bài, nghiên cứu thì HS sẽ nhận đượcnhững thông tin bổ ích có lợi cho quá trình học tập lâu dài, hình thànhthói quen tự học đồng thời thấy say mê môn văn hơn.

Tại nhà trường, “GV nên tạo ra những khoảng thời gian rỗng cho

HS nghiên cứu Thời gian ấy có thể chỉ là 5 đến 10 phút trớc khi vào bàimới Song cũng có thể là 15 phút để HS giải quyết những câu hỏi hớngdẫn tự học của GV Thời gian cho công việc nghiên cứu có thể được GVđan cài trong giờ đọc văn cụ thể với các phương pháp dạy học khác.Nhiều khi đứng trước một tình huống có vấn đề, GV có thể dừng lại đểnêu vấn đề và yêu cầu HS suy nghĩ giải quyết Nếu vấn đề khó, GV cóthể gợi ý cho HS về nhà tự giải quyết.” [9; tr.86]

1.1.4.2 Yếu tố chủ quan

Đây là các yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến kết quả củahoạt động tự học Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhânngười học là yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả củahoạt động tự học Sự trợ giúp của yếu tố ngoại lực chỉ có tác dụng hỗ trợ,kích thích các yếu tố nội lực phát triển Nội lực của học sinh bao gồm:

a Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt động

tự học đó là nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng

tự học

HS phải nhận thức được tầm quan trọng của tự học và có thái độtốt trong tự học thì việc rèn luyện, bồi dưỡng các kỹ năng tự học

Trang 21

cho HS Bên cạnh đó, phải hướng dẫn các em phương pháp, hình thức

tự học, kỹ năng tự học đó là: đọc sách, ghi chép, hệ thống hoá,khái quát hoá, tự kiểm tra đánh giá v.v Để tự học đạt kết quả thì HSphải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả

và tự tin vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập,duy trì tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạtđộng tự học

b Yếu tố sức khoẻ cá nhân

Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất nhiều năng lượngthần kinh Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảocho hoạt động tự học đạt hiệu quả Bộ óc của HS không phải là cái máytính để GV nạp dữ liệu liên tục Hiện tượng HS học quá tải còn diễn raquá nhiều Khi phải chịu sức ép lớn của thi cử, học hành, HS không thể

có niềm say mê học tập, thậm chí học tập với HS trở thành “cơn ácmộng” Có học tập phải có nghỉ ngơi Khi học nên tập trung hết sức đểđạt hiệu quả cao nhất, sau đó nghỉ ngơi thoải mái, không lo lắng tới bàihọc nữa “Học ra học, chơi ra chơi” là cách sống và làm việc hiệu quả,khoa học nhất

HS có thể kết hợp điều độ giữa học tập và nghỉ ngơi qua việc cânbằng giấc ngủ, bằng các hoạt động vui chơi giải trí hay thay đổi các hoạtđộng trí tuệ Vấn đề này có liên quan tới quá trình chăm sóc sức khoẻcho HS tại gia đình đồng thời là sự tiếp cận sinh tồn đối với giáo dục

Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đócác yếu tố chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóngvai trò chi phối Nắm được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúpquản lý tốt hoạt động tự học của học sinh

Trang 22

1.1.5 Những hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực tự họccủa học viên

Hoạt động dạy học của GV bao gồm các nhân tố: mục đích, nộidung, phương pháp, phương tiện,…Các nhân tố cấu trúc này có mốiquan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau nhằm tạo ra chấtlượng, hiệu quả của quá trình dạy học Trong các nhân tố trên, hoạt độnghọc của trò là nhân tố trung tâm của quá trình dạy học bởi các hoạt độngkhác của nhà trường đều hướng vào hai hoạt động trọng tâm này

Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học HS không thểhình thành ngay thói quen tự học nếu không có GV hướng dẫn Muốnhình thành thói quen tự học cho HS, ngoài sự nỗ lực của bản thân HS,

GV phải có hoạt động dạy học phù hợp, giúp HS phát huy năng lực tựhọc GV phải có biện pháp tổ chức giờ học cụ thể để giúp HS thực hiệnvệc tự học.Chất lượng của quá trình dạy học được quyết định bởi hiệuquả của việc dạy tác động đến việc tự học Tác động sẽ là kích thích nộilực phát triển nếu người thầy gợi mở, khuyến khích sự hứng thú, say mêhọc tập của người học Hoạt động dạy của GV đóng vai trò tổ chức, điềukhiển, hướng dẫn Hoạt động học của HS diễn ra chủ động, tự giác, sángtạo GV là người truyền thụ kiến thức (sản phẩm có sẵn) và tổ chức điềukhiển các hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành cho học sinhnăng lực, phương pháp và ý chí học tập HS khai phá kiến thức, tự đàotạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức và nắm chắc kiến thức.Người thầy phải giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận thức củahọc sinh với tư cách là người tổ chức và kiểm tra, chất lượng dạy học sẽđạt hiệu quả cao khi hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học củangười trò có sự cộng hưởng lẫn nhau Những hoạt động này thể hiện tính

Trang 23

dõn chủ cao giữa GV và HS, thể hiện sự tin tưởng ở năng lực của HS.

Đú cũn là những hoạt động dạy học tớch cực phự hợp với xu thế đổi mới

phương phỏp dạy học hiện giờ Những hoạt động này sẽ được núi chi tiết

hơn ở chương 2 của luận văn

Hầu hết các phơng pháp đều nhằm phát huy tính tự học của HS

và đều có đặc điểm chung là:

- Dạy học bằng việc tăng cờng tổ chức các hoạt động cho HS

- Dạy học chú trọng rèn luyện phơng pháp tự học

- Tăng cờng học tập cá nhân và hoạt động nhóm

- Dạy HS tự đánh giá, tự điều chỉnh

Nú được cụ thể húa qua cỏc bảng sau:

động của mỡnh 5.HS học thuộc lũng 5.HS học cỏch học, cỏch sống, cỏch giải

Trang 24

quyết vấn đề 6.GV độc quyền đánh giá 6.HS tự đánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở

cho GV cho điểm

Bảng : Phối hợp hoạt động dạy và học [8; tr8]

Cung cấp thông tin then chốt, cơ bản,

kết luận đúng…

Nghe, thông hiểu, hợp tác với GV

-Xây dựng, giao bài tập, tình huống

học tập

-Hướng dẫn HS phương pháp học

tập, nghiên cứu, tìm tòi kiến thức,

thảo luận, tranh luận, đóng vai, vận

Xét cụ thể trong dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS,

ta có thể chú ý tới một số hoạt động sau:

Trang 25

- GV cần bồi dưỡng động cơ tự học cho HS Mọi hoạt động củacon người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ, động cơ hoạtđộng là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đãđịnh Do vậy, hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho HS là yếu tố quyếtđịnh tới tự học

- GV cần xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học cho HS Kế hoạch

tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lýdựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điềukiện được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từngmôn học Có kế hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tậpmột cách khoa học, năng động, sáng tạo và hiệu quả hơn

- GV cần xây dựng nội dung tự học Nội dung tự học là hệ thốngkiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn thành và hệ thốngkiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà thầy côgiảng trên lớp

- GV cần bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS Tự học phải đượchình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học v.v mà có thể gọi là

kỹ

năng tự học Do vậy, GV cần phải hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện kỹnăng tự học cho HS Xây dựng phương pháp tự học của bản thân theomột kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệuquả học tập cao hơn

- Cuối cùng, GV cần xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả

tự học Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh hàng ngày,hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học và thực hiện kế hoạch tự học

Trang 26

sai lệch giúp học sinh điều chỉnh kế hoạch tự học Kiểm tra đánh giá kếtquả tự học là chức năng nhiệm vụ của giáo viên và cán bộ quản lý thôngqua hiệu suất đào tạo của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh 1.1.6 Phát triển năng lực tự học của học viên trong dạy học tácphẩm tự sự

1.1.6.1 Đặc điểm bài học tác phẩm tự sự

Bài học tác phẩm tự sự là một trong những phần quan trọng củachương trình Ngữ văn Đây là các bài học có dung lượng lớn, nội dungphong phú, phức tạp nên thường là bài học chính và mất nhiều công tìmtòi Trong các tác phẩm đó, ta phải tìm hiểu xem nhà văn đã về nhữnghiện tượng xảy ra ra sao, nhân vật với số phận, tính cách cụ thể thế nào

và đặc biệt là tóm tắt được cốt truyện hoàn chỉnh của tác phẩm Qua đó,

ta hiểu thêm gì về tâm trạng, tình cảm của con người Cần chú ý, trong

tự sự, người kể đóng vai trò như người được chứng kiến, biết rõ toàn bộ

sự kiện, hiện tượng ấy và kể lại cho mọi ngời nghe Sự kiện, hiện tượngxảy ra trong truyện thường có quá trình, có mở đầu, diễn biến và kếtthúc Tác phẩm nào cũng có nhân vật và sự kiện So với những nhân vậttrong tác phẩm trữ tình, nhân vật trong tác phẩm tự sự được kể lại, khắchoạ tỉ mỉ, cụ thể, đầy đặn hơn Những nhân vật chính thường là nhữnghình tượng cụ thể, tiêu biểu cho một tầng lớp nào đó trong cuộc sốnghoặc thể hiện mơ ước, tư tưởng của tác giả Thế giới nhân vật tự sự thư-ờng rất phong phú, đa dạng Tự sự thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu

và tưởng tượng Trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng có hình tượng ngời

kể truyện Người kể truyện có thể tham gia vào câu truyện như một nhânvật nhưng cũng có thể nhu một người dẫn truyện Ngoài ngôn ngữ nhânvật trong tác phẩm còn có ngôn ngữ người kể truyện

Trang 27

Trong các bài học tác phẩm tự sự, bài học về tác phẩm tự sự hiệnđại Việt Nam là phần quan trọng hơn cả Hơn nữa, nó chiếm thời lượngkhá lớn trong chương trình Đặc biệt, các bài học này thường liên quantới thi tốt nghiệp, thi chuyển cấp 2, 3 Do vậy, các bài học này có nhiềuthuận lợi trong việc phát huy năng lực tự học của HS Trong chơng trìnhvăn ở THPT hiện nay, các tác phẩm tự sự hiện đại đợc phân bố ở học kì

2 lớp 11 và toàn bộ lớp 12 Các tác phẩm này đều nằm trong trọng điểm

ôn tập thi tốt nghiệp và thi đại học của HS Người biên soạn đã u ái dànhlượng thời gian lớn cho việc học các tác phẩm này Đây là bài học chiếm

số tiết nhiều Mỗi tác phẩm cần ít nhất 2 tiết để khám phá Điều đóchứng tỏ tầm quan trọng của bài học tác phẩm tự sự ở trường THPT.Trong SGK, các tác phẩm tự sự hiện đại giới hạn ở thời kì 1930 tới

1975 Nó đã miêu tả chân thực xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8

và hai cuộc kháng chiến của dân tộc So với các tác phẩm trung đại, tácphẩm tự sự hiện đại lớn hơn về số lượng và hoàn thiện hơn về chất lư-ợng Điều nổi bật để phân biệt tác phẩm trung đại và tác phẩm hiện đại là

ở hình thức nghệ thuật Hình thức văn học hiện đại có sự đổi mới, cáchtân để tiếp cận văn chơng hiện đại thế giới Các tác phẩm đều thoát khỏiđặc trưng cơ bản của văn học trung đại nhu tính ước lệ, cách điệu, sùng

cổ, phi ngã “Hiện đại hoá là quá trình nền văn học dân tộc dần dần từ

bỏ, đoạn tuyệt hệ thống thi pháp cũ, thi pháp văn học trung đại để xáclập hệ thống thi pháp mới- thi pháp văn học hiện đại” [13; tr.20] Hệthống thi pháp của văn xuôi hiện đại rất đa dạng, phong phú, không cốđịnh Nó thể hiện rõ ý thức cá nhân, cá tính của cái tôi trước cuộc sống Trong các bài học tác phẩm tự sự hiện đại trên, “Vợ nhặt” làmột trong những bài hay và khó Bài học giúp ta hiểu được tình cảm thêthảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

Trang 28

do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra, hiểu được niềm khát khaohạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêuđùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động ngèo khổ ngay trên bờvực thẳm của cái chết Đồng thời, qua đó, ta biết thêm những nét đặc sắc

về nghệ thuật như: sáng tạo tình huống, gợi không khí, miêu tả tâm lí,dựng đối thoại

1.1.6.2 Phát triển năng lực tự học của học viên trong dạy học tác phẩm

tự sự

Bài học tác phẩm tự sự có nhiều ưu thế trong việc phát triển nănglực tự học cho HS Đầu tiên, đó là vì nó là một tác phẩm văn chương.Trong quá trình tiếp nhận văn chương, HS phải là chủ thể, phải tự cảmthụ chứ không thể áp dụng những nguyên tắc, công thức từ người khácnhư trong các môn Toán, Lí, Hóa, Chính điều này cũng nói lên đặcđiểm riêng biệt của bài học tác phẩm tự sự nói riêng và môn văn nóichung Bạn đọc tiếp nhận tác phẩm tự sự một cách sáng tạo bằng kinhnghiệm cảm thụ của mình, sau đó lại đem những gì lĩnh hội được ápdụng vào cuộc sống Mối quan hệ giữa bạn đọc với tác phẩm là mối quan

hệ hữu cơ Tính nghệ thuật, độc đáo của tác phẩm tự sự còn quy định cảđặc điểm chủ quan trong tiếp nhận môn văn Bạn đọc tiếp nhận tác phẩmvới chủ quan của mình, với sự lựa chọn nhất định, vì thế tác phẩm tồn tạitrong tâm trí bạn đọc không hoàn toàn giống nhau

Tính chủ quan này đã làm phong phú thêm giá trị tác phẩm tự sự.Bạn đọc không phải đối tượng tiếp nhận thụ động mà chính là ngườiđồng sáng tạo với tác giả Bạn đọc cũng trở thành một nghệ sĩ trong quátrình tìm hiểu tác phẩm

Trang 29

Vì vậy, trong học văn, HS phải chú ý tới năng lực cảm thụ sángtạo của mình, phải biến mình thành chủ thể cảm thụ trong quá trình tìmhiểu tác phẩm tự sự Tác phẩm tự sự từ chỗ là tiếng nói nội tâm của nhàvăn sẽ trở thành vấn đề nội tâm của HS HS phải vận dụng nhiều nănglực nhận thức của bản thân để tiếp nhận một đối tượng thẩm mĩ, biến nóthành tài sản của mình Sự ngăn cách giữa nhà văn và HS càng ít thì quátrình cảm thụ càng nhanh, càng sâu sắc Tự học trong bài học tác phẩm

tự sự chính là việc “huy động một cách có cơ sở khoa học phù hợp vớiquy luật cảm thụ văn học những năng lực chủ quan của bản thân HS để

HS chủ động tích cực hứng thú tham gia vào quá trình dạy và học văn,

do đó tạo đợc một hiệu quả toàn diện về tư tưởng, thẩm mĩ, về hiểu biết

và kĩ năng, về văn học và nhân cách” [12; tr.132]

Để phát huy được năng lực tự học, HS phải đọc nhiều Ở phạm vinhỏ, HS phải đọc nhiều lần tác phẩm hoặc văn bản văn chương để cảmthấu mặt hình thức và nội dung tác phẩm hoặc văn bản Ở phạm vi rộnghơn, HS nên đọc nhiều sách về văn học và các tài liệu liên quan để bổsung vốn tri thức văn học cho bản thân Đọc sách phải đi kèm liên tưởng,tưởng tượng Sức hoạt động của liên tưởng càng mạnh bao nhiêu thì sứccảm thụ càng sâu, càng nhạy bén bấy nhiêu Liên tưởng là đầu mối củanhững rung động thẩm mĩ, của những xúc cảm nghệ thuật HS còn phải

có óc tưởng tượng trong việc dựng lại cảnh đời, con người, cảnh vậttrong tác phẩm Cần phải đưa các hiện tượng thực tế thông qua óc tưởngtượng của mình truyền cho nó một sức sống mới Mức độ tưởng tượngcao nhất là HS dựng lại được cuộc sống trong sách như cảnh sống thựcvới những con ngời đi đứng, nói năng với những cảnh đời sinh động Đó

là cách sáng tạo của nghệ sĩ nhưng cũng là cách đọc sách sáng tạo

Trang 30

Tự học tác phẩm tự sự nói riêng và học văn nói chung còn là biếtvận dụng những gì lĩnh hội được ở văn vào việc nâng cao chất “người”của bản thân Để phát huy năng lực cảm thụ, HS không chỉ đọc sáng tạo

mà còn phải biết tham gia vào nhiều hoạt động xã hội để nâng cao kinhnghiệm sống của bản thân HS có thể tham gia vào những hoạt động củanhà trường, quan sát cuộc sống xung quanh, lao động vừa sức, thamquan, Những việc tưởng nhỏ này nhưng sẽ giúp HS trưởng thành, độclập hơn trong cuộc sống và trong cảm thụ văn chương

Ngoài ra, trong quá trình học tác phẩm tự sự, HS cũng phải rènluyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo, đạt hiệu quả giao tiếp cao.Mục đích của tự học văn là phải rèn luyện cho HS có khả năng tự mình

có thể nói, viết trung thành, sáng sủa, chặt chẽ, chính xác và hay những

gì mình nghĩ Làm tốt những điều này thì tự học tác phẩm tự sự mới có ýnghĩa

1.1.7 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và vấn đề phát triểnnăng lực tự học của học viên thông qua dạy học tác phẩm tự sự

Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và vấn đề phát triển năng lực

tự học của học viên thông qua dạy học tác phẩm tự sự thể hiện ở sự cảmthụ sáng tạo của HS Trong tự học tác phẩm tự sự, cảm thụ sáng tạo của

HS là quan trọng nhất Cơ chế tự học chỉ hoạt động thực sự khi có sựtham gia của HS dưới sự hướng dẫn của GV

Tuy thế, tự học tác phẩm tự sự trong nhà trường vẫn phải đảm bảoyếu tố: Học sinh phải đảm bảo mối quan hệ qua lại với GV và nhà văn.Cảm thụ văn chương phải có định hướng, kế hoạch theo tiêu chí giáodục Cảm thụ trong nhà trường không được tự do như ngoài xã hội Nócòn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau như: mục tiêu giáo dục,

Trang 31

định hướng của nhà trường, người GV, Tác phẩm tự sự trong nhàtrường đến với HS không hoàn toàn giữ nguyên những quan hệ vốn cóvới bạn đọc nói chung Tác phẩm tự sự trong SGK chịu sự lựa chọn củangời soạn sách, của Bộ Giáo dục & Đào tạo Có những tác phẩm không

có điều kiện giữ nguyên vẹn khi biên soạn Tự học tác phẩm tự sự trongnhà trường đã phần nào bị chi phối bởi mục tiêu giáo dục Nó phải hư-ớng theo vấn đề mà người soạn sách đưa ra Tác phẩm tự sự trong nhà tr-ường là công cụ giáo dục đặc biệt giúp HS phát triển toàn diện về nhâncách Bởi thế, tự học tác phẩm tự sự cũng có định hướng, hệ thống, kếhoạch rõ ràng hơn Tự học tác phẩm tự sự của HS còn chịu ảnh hưởngsâu sắc từ GV Cảm thụ của GV làm cơ sở cho việc tự học của HS GV

là người luôn đi sát quá trình HS cảm thụ tác phẩm HS sẽ chuyển hoáthành cảm thụ của bản thân qua việc tiếp thu hướng dẫn của GV cùng sựtìm tòi, sáng tạo của bản thân và có sự hồi đáp để GV, nhà văn có sựđiều chỉnh thích hợp GV và HS cùng hợp tác, bình đẳng trong việc tìmkiếm vẻ đẹp văn chương

Như vậy, việc tự học của HS nằm trong cơ chế phối hợp hài hoà,cân đối nhà văn – GV - HS Có thể mô hình hoá theo sơ đồ sau [12;tr.59]

Nhà văn

Trang 32

Học sinh Giáo viên

b Phương pháp nghiên cứu gồm:

- Phương pháp quan sát với đối tượng quan sát là các giờ hoạt động ngoại khóa, cách thức giáo viên tổ chức giờ học, hoạt động tham gia của học sinh Phương pháp quan sát được phối hợp cùng phương pháp trò chuyện với giáo viên và học sinh ngay sau buổi học được quan sát

- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi với đối tượng điềutra: Giáo viên và học sinh khối 12 trung tâm GDTX tỉnh… Nội dungđiều tra là nhận thức của giáo viên về sự hấp dẫn của tác phẩm tự sự, vềvai trò của hoạt động dạy học hợp tác cũng như cách thức tổ chức giờhọc cho học sinh khối 12 trong giờ học tác phẩm tự sự, những khó khăn

và đề xuất của giáo viên đối với việc tổ chức hoạt động này

c Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát:

- Đối tượng, địa bàn khảo sát: Giáo viên, học sinh trung tâm GDTXtỉnh …… (5 GV, 110 HS) Các trường này có đội ngũ cán bộ; giáo viên

Trang 33

nhiệt tình, ham học hỏi và có kinh nghiệm trong giảng dạy, có nhữngđiều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ.

- Thời gian khảo sát: từ tháng 3-2015 đến 4-2015

d Nội dung khảo sát:

- Khảo sát cách thức giáo viên tổ chức giờ học tác phẩm tự sự ởTrung tâm GDTX tỉnh

- Khảo sát hoạt động tham gia giờ học của học sinh và thái độcủa HS với tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh

- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên và học sinh về dạy học hợptác

1.2.1.2 Kết quả khảo sát

a Mặt đã làm được

Về các hoạt động tổ chức giờ học của giáo viên:

Qua câu hỏi 2 trong mẫu khảo sát 1 (Phụ lục 1), tôi thấy trong quá trình dạy học, một số GV đã có sự cố gắng trong việc áp dụng phương pháp dạy học hiện đại như: cho HS thuyết trình, nêu vấn đề,… Nó thể hiện giáo viên đã có ý thức về việc làm mới giờ học, ý thức được hoạt động của thầy và trò trong giờ học Hoạt động của thầy là hướng dẫn, điều khiển HS tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức Cụ thể, ở mỗi nội dung bài học thầy đưa ra những câu hỏi gợi dẫn để HS trao đổi, thảo luận lời Để tránh sự suy diễn chủ quan, tùy tiện của HS, sau mỗi câu trảlời của HS thì thầy giáo luôn có sự định hướng cụ thể Hoạt động của trò: Trò chủ động, tích cực khám phá tri thức trong giờ học Trước mỗi câu hỏi gợi dẫn của thầy; HS chủ động trao đổi , thảo luận và tích cực trình bày ý kiến của mình

Trang 34

- Hoạt động chủ yếu của giáo viên vẫn là thuyết trình và vấn đáp Nóthể hiện qua bảng sau:

Bảng thống kê các hoạt động GV sử dụng trong giờ học tác phẩm

- Xuất phát từ thực trạng như vậy nên tôi có kiến nghị áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng tự học cho học sinh trong giờ học Văn nói chung và học tác phẩm tự sự “Vợ nhặt” nói riêng Để đánh giá hiểu biết của GV và HS về hoạt động này, tôi có đưa ra câu hỏi 3 trong mẫu khảo sát 1 và câu hỏi 3 trong mẫu khảo sát 2 (Phụ lục 1) Kết quả thu được là

Trang 35

đa số GV và HS đều biết tới hoạt động này song không rõ ràng Nó thể hiện qua bảng sau:

Bảng hiểu biết của GV và HS về hoạt động tự học trong giờ học Ngữvăn

Hiểu rõ Có hiểu Có biết qua Không biết

Đặc điểm tác phẩm tự sự là có cốt truyện, nhân vật Điều đó giúp

HS dễ dàng tiếp cận tác phẩm qua việc tự đọc, tự tóm tắt, phân tích tácphẩm HS có thể tự tóm tắt cốt truyện, chỉ ra các tình huống truyện nổibật Với nhân vật, HS có thể thống kê và nêu các đánh giá, phân tích củamình Đây là công việc HS hoàn toàn có thể tự tiến hành Nó đơn giảnnhưng GV không thể làm thay vì đó là một bước quan trọng trong học

Trang 36

văn Có tự đọc tác phẩm HS mới hiểu tác phẩm, tiếp thu đợc những gì

GV giảng HS sẽ phát huy năng lực tự học qua việc tìm hiểu tác phẩm.Những tác phẩm tự sự hiện đại còn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vớicuộc sống của HS Qua tác phẩm, các em thấy được bản thân mình trong

đó Do vậy, GV có thể giúp HS tự học qua việc liên hệ thực tế cuộc sống

và đặt ra các tình huống để HS vận dụng tốt những tri thức đó Trongquá trình vận dụng tri thức, HS tự hệ thống lại vốn tri thức sẵn có, tựmình giải quyết những vấn đề đặt ra Năng lực tư duy, cảm thụ văn học

sẽ được huy động trong quá trình HS tự tiếp cận, vận dụng tri thức củatác phẩm

Mặt khác, xét trong mối quan hệ liên môn, phân môn giảng văn(đọc văn) có mối quan hệ với nhiều phân môn khác Bài học tác phẩm tự

sự hiện đại là nguồn t liệu, dẫn chứng phong phú để làm sáng tỏ nhữngnhận định trong bài văn học sử, lí luận văn học Nếu không có kiến thức

cụ thể của bài giảng văn bổ trợ, kiến thức văn học sử, lí luận văn học sẽrất khô khan, áp đặt Việc đan cài các dẫn chứng về tác phẩm sẽ làm kiếnthức khái quát về văn học thú vị và có sức thuyết phục hơn Bài giảngvăn còn có ảnh hưởng lớn tới bài học tập làm văn Muốn viết được mộtbài văn phải nắm chắc kiến thức về tác phẩm Giờ tập làm văn một phầncũng là giờ ôn tập lại kiến thức của giờ giảng văn Với phân môn tiếngViệt, từ lâu phân môn giảng văn đã có mối quan hệ tất yếu và tự nhiên.Bài giảng văn là nguồn dẫn chứng tổng quát và rộng lớn nhất để HS hiểu

về những kiến thức tiếng Việt Qua lời giảng của GV và văn bản tácphẩm, HS được tiếp xúc với những cách diễn đạt chuẩn và nghệ thuật

Từ đó, HS lại đem những kiến thức của bài tiếng Việt để hỗ trợ cho việcdiễn đạt lại những suy nghĩ về tác phẩm Có thể thấy, phân môn giảng

Trang 37

văn có tác động lớn tới các phân môn khác Kiến thức bài ưhọc tác phẩm

tự sự là tiền đề giúp học các phân môn khác tốt hơn

Ngoài tính chất liên môn, bài học tác phẩm tự sự hiện đại còn cótính liên cấp Nó có nhiệm vụ khái quát hoá và nâng cao kiến thức về tácphẩm văn học mà HS đã được học ở cấp THCS Ở THPT, HS vừa được

ôn lại các tác phẩm đã học vừa đợc tiếp xúc mở rộng thêm với các tácgiả, tác phẩm mới Kiến thức ở THPT rộng và có hệ thống hơn Các tácphẩm dài và phức tạp hơn Được hưởng nền móng tri thức về tác phẩm

tự sự từ THCS, HS không còn xa lạ gì với cách tiếp cận bài học mới

nh-ng nó cũnh-ng đòi hỏi HS phải tìm kiếm thêm nhiều thônh-ng tin, tài liệu để

mở rộng kiến thức Tự học sẽ giúp HS hệ thống và mở rộng lượng kiếnthức của mình

Chính vì những điều trên, phần lớn giáo viên và học sinh hào hứngkhi học tác phẩm “Vợ nhặt”

Qua câu hỏi 1 trong mẫu khảo sát 1 và câu hỏi 2 trong mẫu khảo sát

2 (Phụ lục 1), tôi thấy đa số GVvà HS đều cảm thấy đây là văn bản truyện rất hay, có giá trị về nhiều mặt và tạo được sức cuốn hút với HS Hơn nữa, tài liệu tham khảo cho văn bản này tương đối nhiều Chứng tỏ,đây là tác phẩm phù hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh Điều này

sẽ tạo tiền đề để HS phát huy năng lực tự học và hợp tác với nhau trong giờ học

Bên cạnh đó là đội ngũ giáo viên của trường Đa số có nhiều kinhnghiệm trong việc bồi dưỡng học sinh Bên cạnh đó, trường còn có lựclượng giáo viên trẻ mới ra trường, năng nổ, nhiệt tình, tích cực,nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy như các thầy cô lớn tuổi.Nhìn chung, trường có nhiều giáo viên giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 38

Những thuận lợi này chỉ có tác dụng khi người học ý thức được và

có sự vận động, quyết tâm tự học GV phải tận dụng những thuận lợi nàyđồng thời giúp HS ý thức được điều đó để việc tự học đạt hiệu quả cao

2.2.3 Khó khăn của bài học tác phẩm tự sự hiện đại với việc hìnhthành thói quen tự học cho HS THPT

“Không có con đường nào thênh thang ” (Mác) Tự học cũngvậy Nó cũng đặt ra một số khó khăn sau:

Giảng văn hiện nay chủ yếu vẫn đi theo lối cũ Mặc dù việc đổimới phơng pháp đã được nhắc tới từ lâu nhng việc áp dụng vào nhà trư-ờng còn hạn chế Kiểu dạy quen thuộc là GV đọc cho HS chép hoặc chỉthuyết giảng đơn độc HS cũng không có thói quen tự mình tìm hiểu tácphẩm trớc khi GV truyền đạt Kiểu dạy và học này đã tạo ra một sức ỳlớn trong giáo dục hiện nay, đặc biệt khi GV và HS đứng trước sức épcủa thi cử Thay đổi quan niệm và cách dạy cũ cần một quá trình lâu dài

và liên tục GV cần ý thức rõ về vai trò của người học Thay vì: “dạy cáigì?” là: “dạy như thế nào?” Thay thuyết giảng bằng việc khuyến khích

HS tự học

Khả năng bao quát của HS chưa cao, nhiều tác phẩm dung lượnglại khá dài, có tác phẩm lại hàm súc, nhiều lớp tư tởng Với những tácphẩm quá dài HS chỉ đợc tiếp xúc với đoạn trích, không được tiếp xúc cảtác phẩm Do vậy, HS có thể gặp khó khăn trong quá trình tự tiếp cận tácphẩm Các em phải đọc kĩ văn bản trong SGK, tìm đọc toàn bộ tác phẩm.Điều này sẽ được giải quyết bằng sự giải đáp, hướng dẫn khéo léo và sựkhích lệ kịp thời của GV

Thời lượng giảng dạy còn quá ít so với khối lượng kiến thức đồ sộ

Trang 39

Thời lượng ở nhiều bài học còn quá ít để đáp ứng yêu cầu về dunglượng kiến thức, kĩ năng HS cần đạt được Điều đó làm nảy sinh tâm lídạy cho hết bài trong GV Giá trị của tác phẩm không thể khai thác mộtcách sâu sắc chỉ vỏn vẹn trong mấy tiết học Đây vừa là thuận lợi vừa làkhó khăn Nó chỉ thành thuận lợi khi GV biết giao việc cho HS chuẩn bị

ở nhà Nếu không tiết học dễ thành một giờ độc thoại hoặc không hoànthành

Những khó khăn trên đang đặt ra mâu thuẫn cho dạy tự học vănnói chung và dạy tự học tác phẩm tự sự hiện đại nói riêng Tuy vậy,chúng ta có thể khắc phục những khó khăn này bằng sự kiên trì, đầu tiên

là thay đổi tư tưởng sau đó là áp dụng các biện pháp cụ thể trong từngbài học Khắc phục được những khó khăn này thì dạy và học văn mới đạthiệu quả cao Tự học không dễ dàng nhưng cũng không khó tới mứckhông làm đợc

Một hạn chế của TLN nữa là một số HS còn chây lười làmviệc, ỷ lại các bạn khác; hoặc nói chuyện riêng trong quá trình các bạnthảo luận Trong quá trình HS thảo luận, GV khó có thể quan sát hết

HS nào đang bàn luận bài tập với các bạn trong nhóm hay đang nóichuyện riêng Ngoài ra vẫn còn một số em ỷ lại vào các bạn trongnhóm, còn có em e dè chưa dám nói

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Tự học là một hình thức học tập có ý nghĩa lớn với mọi người đangtheo đuổi con đờng học tập Việc tự học là cần thiết trong suốt cả chặngđường đời, vì thế, nên rèn tự học ngay từ khi còn nhỏ và phải rèn thànhthói quen trong học tập, lao động HS THPT là một đối tợng phù hợp đểrèn thói quen tự học Ai cũng có thể tự học.HS THPT càng có khả năng

đó Nếu hình thành đợc cho HS thói quen tự học ta sẽ đào tạo đợc nhữngcon ngời năng động, sáng tạo, thích ứng với thời đại mới và công cuộcđổi mới của đất nớc ta

Muốn hình thành được thói quen tự học cho HS, ta phải có cáchdạy học để HS phát huy tối đa khả năng trí tuệ của mình Trước hết, phải

có niềm tin vào năng lực của HS GV phải lấy tự học làm mục đích dạy

Ngày đăng: 06/12/2015, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bình (1998), Bài phát biểu tại Hội thảo “Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1998
6. Phạm Văn Đồng (1998), Thư gửi Hội thảo “Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1998
1. Trần Thị Tuyết Anh (chủ biên) (2006), Giáo trình Giáo dục học, tập 1, NXB ĐHSP Khác
7. Phạm Văn Đồng, Dạy học là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 28 Khác
8. Lê Thanh Hà (2006), Bước đầu tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khác
9. Lê Thị Diệu Hoa (2005), Biện pháp phát triển năng lực tự nghiên cứu của HS THPT trong dạy học tác phẩm văn chương, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục Khác
10. Lê Văn Hồng (2001), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB ĐHQG HN Khác
11. I.F.Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực của HS như thế nào, NXB GD Khác
12. Phan Trọng Luận – Nguyễn Thanh Hùng (2005), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐHQGHN Khác
13. Nguyễn Đăng Mạnh (2004), Lịch sử văn học Việt Nam, NXBĐHSP Khác
14. Vũ Thị Sáu (2003), Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua giờ học tác phẩm tự sự hiện đại, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục Khác
15. Nguyễn Thuần, Vận dụng phương pháp dạy học hợp tỏc vào dạy Ngữ văn lớp 10P ở trường THPT chuyờn Lý Tự Trọng - Thành phố Cần Thơ, ĐH Cần Thơ, 2008 Khác
16. Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Quá trình Dạy-Tự học, NXB Giáo dục Khác
17. Nguyễn Cảnh Toàn (2001), Tuyển tập tác phẩm tự học - Tự giáo dục - Tự nghiên cứu, trường Đại học sư phạm Hà Nội Khác
18. Thái Duy Tuyên (1998), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, NXB GD Khác
19. Đinh Gia Trinh (1944), Học lấy và học ở nhà trường, báo Thanh Nghị số 95 Khác
19. Trung tâm nghiên cứu Giáo dục Dân tộc (2007), Báo cáo tổng kết -Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Quang Uẩn ( chủ biên) (1999), Trần Hữu Luyến - Trần Quốc Thành, Tâm lí học đại cương, Nxb đại học quốc gia Hà Nội Khác
21. Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, Nxb đại học quốc gia Hà Nội Khác
24. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w