Đất nước ta đã và đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì vậy hơn bao giờ hết nhà trường phải đào tạo ra những con người năng động sáng tạo, tiếp thu kiến thức hiện đại gắn với thực tế sản xuất của đất nước và có khả năng tìm ra giải pháp cho những vấn đề do cuộc sống công nghiệp hiện đại đặt ra. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay là một yêu cầu hàng đầu đặt ra cho ngành giáo dục. Để việc đổi mới có hiệu quả đòi hỏi phải cải tiến cả nội dung và phương pháp giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Song để HS nắm vững nội dung chúng ta cần cải tiến các phương pháp dạy học. Mỗi phương pháp dạy học có ưu điểm và nhược điểm nhất định của nó, không có phương pháp nào hoàn mỹ đối với mọi mục tiêu giáo dục. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà lựa chọn phương pháp giáo dục thích hợp, sử dụng từng phương pháp dạy học đúng lúc, đúng chỗ và biết kết hợp những phương pháp khác nhau để sử dụng có hiệu quả làm quá trình nhận thức của người học dễ dàng hơn, đúng với ý mục tiêu của GV đặt ra. Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học diễn ra một cách sôi động cả về lý luận cũng như về thực tiến. Định hướng đổi mới giáo dục được nghị quyết T.Ư lần 2 BCHTƯ khóa VIII khẳng định: “Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, các phương diện dạy học hiện đại vào quá trình dạy hoc đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh”. Theo định hướng trên, nhiều phương pháp dạy học tiên tiến đã được áp dụng trong môn Văn, trong đó có phương pháp cấu trúc. Đây là là phương pháp giảng dạy dựa trên thành tựu của việc áp dụng phương pháp cấu trúc trong nghiên cứu tác phẩm văn chương. Ở đó, việc tìm hiểu tác phẩm dựa vào việc phân tích các thành phần cấu tạo nên tác phẩm cũng như mối tương quan của chúng với nhau. Thay vì đi ngay vào nội dung và nhấn mạnh đến những ý nghĩa đạo đức của tác phẩm hoặc sự diễn dịch văn bản như các lý thuyết phê bình truyền thống, nhà phê bình cấu trúc luận sẽ tìm kiếm một cấu trúc văn bản có ý nghĩa. Các thành phần của tác phẩm được “soi dưới lăng kính cấu trúc” là: các tình tiết, những đặc tính và của các động cơ nhân vật, hoàn cảnh, ngôn ngữ và hình tượng. Ở đó, ta sẽ xem các thành phần có điểm gì giống và khác biệt so với cấu trúc thông thường của các tác phẩm văn học. Sự ra đời của phương pháp cấu trúc được xem như một cuộc cách mạng triệt để về lý thuyết phê bình văn học, vì sự xuất hiện của nó đồng nghĩa với sự lật đổ các quan niệm truyền thống có tính cách nguyên lý tồn tại trước đó. Lý thuyết cấu trúc luận đã loại trừ những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình phê bình văn học như: tác giả, hiện thực, lịch sử cùng những yếu tố mang màu sắc kinh nghiệm và đạo đức xã hội của khuynh hướng nhân bản nơi cái tôi chủ thể luôn đóng vai trò then chốt của mọi động hướng phê bình.Việc đưa phương pháp dạy học này trong dạy tác phẩm văn học hiện thực phê phán ở trường THPT là hoàn toàn hợp lý. Hướng đổi mới này không những nâng cao hiệu quả dạy học môn khoa học mà còn phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con người trong giai đoạn hiện nay. Phương pháp dạy học nàycó nhiều ưu điểm, đóng vai trò quan trọng trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống. Cụ thể: Phát huy tư duy khoa học, logic trong học tập của học sinh. Phát triển năng lực khái quát, tổng hợp, liên hệ trong học Ngữ văn. Phát triển ngôn ngữ khoa học và kèm theo sự vững vàng trong lập luận. Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thói quen tự tìm tòi, khám phá.Như vậy, chúng ta thấy phương pháp cấu trúc là phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm, là một trong những con đường nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức học sinh. Tuy nhiên hiện nay việc áp dụng phương pháp này chưa được triển khai một cách có hiệu quả, đặc biệt trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT. Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN TRONG SÁCH NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CẤU TRÚC” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG I 13
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 31
CHƯƠNG 2 35
ĐỔI MỚI DẠY HỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CẤU TRÚC 35
2.1 Yêu cầu vận dụng dạy học theo phương pháp cấu trúc 35
2.2 Thiết kế giáo án bài tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán “Chí Phèo” theo phương pháp cấu trúc 56
CHƯƠNG 3 80
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 80
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 81
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
PHỤ LỤC 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đã và đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, vì vậy hơn bao giờ hết nhà trường phải đào tạo ra những con người năngđộng sáng tạo, tiếp thu kiến thức hiện đại gắn với thực tế sản xuất của đất nước và
có khả năng tìm ra giải pháp cho những vấn đề do cuộc sống công nghiệp hiện đạiđặt ra Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay là một yêu cầu hàngđầu đặt ra cho ngành giáo dục Để việc đổi mới có hiệu quả đòi hỏi phải cải tiến cảnội dung và phương pháp giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Song để
HS nắm vững nội dung chúng ta cần cải tiến các phương pháp dạy học Mỗiphương pháp dạy học có ưu điểm và nhược điểm nhất định của nó, không cóphương pháp nào hoàn mỹ đối với mọi mục tiêu giáo dục Tùy theo mục tiêu cụthể mà lựa chọn phương pháp giáo dục thích hợp, sử dụng từng phương pháp dạyhọc đúng lúc, đúng chỗ và biết kết hợp những phương pháp khác nhau để sử dụng
có hiệu quả làm quá trình nhận thức của người học dễ dàng hơn, đúng với ý mụctiêu của GV đặt ra Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học diễn ramột cách sôi động cả về lý luận cũng như về thực tiến Định hướng đổi mới giáo dụcđược nghị quyết T.Ư lần 2 BCHTƯ khóa VIII khẳng định: “Đổi mới phương phápgiáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạocủa người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, các phương diện dạy họchiện đại vào quá trình dạy hoc đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” Theo định hướng trên, nhiều phương pháp dạy học tiên tiến đã được áp dụngtrong môn Văn, trong đó có phương pháp cấu trúc Đây là là phương pháp giảngdạy dựa trên thành tựu của việc áp dụng phương pháp cấu trúc trong nghiên cứutác phẩm văn chương Ở đó, việc tìm hiểu tác phẩm dựa vào việc phân tích các
Trang 3thành phần cấu tạo nên tác phẩm cũng như mối tương quan của chúng với nhau.Thay vì đi ngay vào nội dung và nhấn mạnh đến những ý nghĩa đạo đức của tácphẩm hoặc sự diễn dịch văn bản như các lý thuyết phê bình truyền thống, nhà phêbình cấu trúc luận sẽ tìm kiếm một cấu trúc văn bản có ý nghĩa Các thành phầncủa tác phẩm được “soi dưới lăng kính cấu trúc” là: các tình tiết, những đặc tính vàcủa các động cơ nhân vật, hoàn cảnh, ngôn ngữ và hình tượng Ở đó, ta sẽ xem cácthành phần có điểm gì giống và khác biệt so với cấu trúc thông thường của các tácphẩm văn học Sự ra đời của phương pháp cấu trúc được xem như một cuộc cáchmạng triệt để về lý thuyết phê bình văn học, vì sự xuất hiện của nó đồng nghĩa với
sự lật đổ các quan niệm truyền thống có tính cách nguyên lý tồn tại trước đó Lýthuyết cấu trúc luận đã loại trừ những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình phêbình văn học như: tác giả, hiện thực, lịch sử cùng những yếu tố mang màu sắc kinhnghiệm và đạo đức xã hội của khuynh hướng nhân bản - nơi cái tôi chủ thể luônđóng vai trò then chốt của mọi động hướng phê bình
Việc đưa phương pháp dạy học này trong dạy tác phẩm văn học hiện thựcphê phán ở trường THPT là hoàn toàn hợp lý Hướng đổi mới này không nhữngnâng cao hiệu quả dạy học môn khoa học mà còn phù hợp với xu hướng đổi mớiphương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con người trong giai đoạn hiện nay.Phương pháp dạy học nàycó nhiều ưu điểm, đóng vai trò quan trọng trọng trongviệc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹpnếu thực hiện lâu dài và có hệ thống Cụ thể:
- Phát huy tư duy khoa học, logic trong học tập của học sinh
- Phát triển năng lực khái quát, tổng hợp, liên hệ trong học Ngữ văn
- Phát triển ngôn ngữ khoa học và kèm theo sự vững vàng trong lập luận
- Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thói quen tự tìm tòi, khám phá
Trang 4Như vậy, chúng ta thấy phương pháp cấu trúc là phương pháp dạy học cónhiều ưu điểm, là một trong những con đường nhằm tích cực hoá hoạt động nhậnthức học sinh Tuy nhiên hiện nay việc áp dụng phương pháp này chưa được triểnkhai một cách có hiệu quả, đặc biệt trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “ĐỔI MỚIPHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁNTRONG SÁCH NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CẤU TRÚC” là cầnthiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học Ngữ văn
Phương pháp dạy học Ngữ văn đã được nghiên cứu từ lâu Vận dụng phươngpháp dạy học phù hợp vào giờ dạy học Ngữ văn cũng là một vấn đề đã được nhiềungười nghiên cứu, nhiều giáo viên quan tâm Việc thống kê hết các tài liệu liênquan tới vấn đề này là điều khó khăn, song ở đây, chúng tôi xin phép chỉ nêu ra cáctài liệu phổ biến và có nhắc tới các phương pháp hiện đại
Trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” do GS Phan Trọng Luận chủ biên,
ta thấy các tác giả đã đề cập đến các phương pháp dạy học dành riêng cho mônNgữ văn, như: thuyết trình, vấn đáp, làm bài tập, ngoại khóa,… Ngoài ra, trongnhững giáo trình, tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy học văn xuất bản trong
thời gian gần đây (Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Phương pháp dạy học Văn, NXB ĐHSP, 2004; Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa, Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT, những vấn đề cập nhật, NXB ĐHSP, 2006, v.v.), phương pháp
dạy học văn học cũng được chính thức đề cập đến Các tác giả đều có điểm chung
là nhìn nhận phương pháp là điều để hỗ trợ cho việc dạy học Nhưng các tác giảchưa nhắc tới phương pháp cấu trúc Đồng thời, các cuốn sách có một số nội dungkhá cũ, chưa cập nhật Chúng ta chỉ tham khảo được tư tưởng đề cao ngoại khóa
Trang 5xuyên suốt trong cuốn sách của thầy Nhiều phần viết nặng về lí thuyết Thiết kế cụthể ra sao, đặc biệt ở chương trình lớp 11 thì chưa được nhắc tới.
Ngoài các tài liệu nhìn nhận chung về phương pháp dạy học Ngữ văn còn cónhững tài liệu phân tích sâu vào một số phương pháp mới Ví dụ như trong giáotrình giảng dạy “Giáo dục 2”, thạc sĩ Nguyễn Thị Cúc có đề cập đến hình thức hợptác: nêu định nghĩa, chỉ ra các loại nhóm, những chú ý khi thực hiện các loại nhóm.Tác giả cũng chỉ ra được những tác dụng tích cực khi sử dụng nó: phát huy vai trò
tích cực của HS, giúp HS chủ động trong học tập Hay trong bài Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản Ngữ văn (Tạp chí Giáo dục số 156, tháng 4/2004), GS Nguyễn
Trọng Hoàn đã đánh giá cao phương pháp đọc hiểu với việc học tác phẩm Ngữvăn, trong đó có đề cao vai trò tự cảm thụ của học sinh với hoạt động đọc hiểu cácvăn bản văn học trong chương trình Ngoài ra, có một số luận văn đi vào tìm hiểu
về phương pháp dạy học văn, như luận văn “Tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 10đọc ngoại khoá phần Văn học Việt Nam” của Hồ Thị Kim Chung (Trường ĐHSPTPHCM, 2014) Luận văn đưa ra phương hướng cụ thể cho phần đọc ngoại khóacủa lớp 10 Biện pháp và cách thức tiến hành rất rõ ràng, song phần đọc ngoạikhóa, nhất là ngoại khóa văn học dân gian, đã có nhiều nơi nghiên cứu, thực hiệnrồi Cái thiếu của ngoại khóa văn học bây giờ là chương trình lớp 11, 12
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy họcNgữ văn nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về phươngpháp cấu trúc trong dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán
2.2 Những nghiên cứu về phương pháp cấu trúc
Từ trước đến nay đã có nhiều phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn họctheo nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc tiếp cận tácphẩm văn học không bị phiến diện mà chính xác và sâu sắc hơn thì phương phápluận nghiên cứu văn học đã khảo sát và đưa ra các bình diện nghiên cứu nó một
Trang 6cách toàn diện trên cơ sở phân tích tính khoa học về tính tương quan của tác phẩm.Hiện nay, công trình nghiên cứu và bài viết nói về phương pháp cấu trúc còn ít Ởđây, chúng tôi xin nêu ra ra một số công trình, bài viết tiêu biểu:
Cuốn “Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học” của Trịnh Bá Đĩnh đã cungcấp cho ta cái nhìn toàn diện về khái niệm, sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc từxưa đến nay Tuy nhiên, hầu hết nghiên cứu trong cuốn sách tập trung vào cáckhuynh hướng và tác phẩm nước ngoài Do vậy, cuốn sách chỉ tạo kiến thức nềncho luận văn trong tiếp cận phương pháp cấu trúc
Cuốn “Tiếp nhận cấu trúc văn chương" của Hồ Thế Hà” đã đúc kết kinhnghiệm tri thức, kinh nghiệm suy tư cũng như là kinh nghiệm giảng dạy theophương pháp cấu trúc của tác giả Cuốn sách như một sự tổng kết về mặt khoa học
và tư tưởng của Hồ Thế Hà, từ những lựa chọn lý thuyết văn học nước ngoài nhưnghiên cứu về Trường phái hình thức Nga, về lý thuyết Tự sự học và văn học kỳ ảocủa T Todorov, về Mỹ học tiếp nhận, Thông diễn học…đến việc áp dụng các lýthuyết ấy để soi chiếu, thẩm định và đánh giá những mặt yếu và thiếu của phê bìnhvăn học Việt Nam hiện đại như Phê bình văn học Việt Nam – Bản chất và thựctiễn, Phê bình văn học nhìn từ nhiều phía, Mối quan hệ tương tác trong sáng tạo vàtiếp nhận văn học hiện nay ở ta Tiếp nhận cấu trúc văn chương của Hồ Thế Hà cóthể xem là tác phẩm quan trọng trong việc giúp các sinh viên, các nhà nghiên cứutham khảo, vì nó chứa đựng một khối lượng tri thức về lý luận văn học tương đốiđầy đủ, được tác giả hệ thống hóa theo các chủ đề nghiên cứu một cách chặt chẽ.Tuy vậy, nó chưa có phần áp dụng cho dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thực phêphán ở Ngữ văn 11
Có tác giả lại tìm hiểu phương pháp cấu trúc qua một tác phẩm nhất định,trong đó có cuốn sách “Loại hình tác phẩm “Thiền uyển tập anh”” của NguyễnHữu Sơn là công trình quy mô đầu tiên bàn chuyên về “Thiền uyển tập anh” theo
Trang 7phương pháp cấu trúc Các nhà nghiên cứu văn học đi trước phần lớn chỉ bàn vềlịch sử văn học, về tiến trình văn học dân gian hoặc các quan hệ giao lưu văn hoá,văn học giữa ta với Trung Quốc và Ấn Độ Nguyễn Hữu Sơn khác hẳn, ông đưa ramột cách phân tích văn học mới đối với tác phẩm văn xuôi này theo cách phân tíchcấu trúc – loại hình Từ đó, tác giả phát hiện ra kết cấu của truyện tiểu sử tất nhiênphải khép kín Môtip “quy tịch” kết thúc các “tiểu truyện” cũng được dành cho sựphân tích và suy ngẫm không kém nghiêm túc Tác giả đã thấy hết tầm quan trọngcủa yếu tố kết thúc Hầu hết những cái chết đều được chuẩn bị trước (chiếm 61/68truyện), các kết thúc được lập trình sẵn, không có điều gì bất ngờ xảy ra Tuy việcphân tích cấu trúc – loại hình của Nguyễn Hữu Sơn có đôi khi chưa nhất quán, vẫncòn chiểu theo lối mô tả lịch sử và trình bày các sự kiện trực cảm nhưng về cơ bản,tác giả đã làm rõ được cấu trúc loại hình qua một tác phẩm cụ thể.
Luận án “Các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉXXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại” của Hoàng Cẩm Giang cũng là một gợi ý haycho việc tiếp cận tác phẩm từ phương pháp cấu trúc Luận án đã đi sâu vào cấu trúctừng thể loại, nhất là tiểu thuyết Tác giả chỉ ra tiểu thuyết có cấu trúc gồm: cốttruyện, nhân vật, ngôn ngữ,…Từ đó, tác giả soi vào sự phát triển của tiểu thuyếtViệt Nam để thấy rằng cùng chung cấu trúc đó song tiểu thuyết từng thời kì cónhững sáng tạo riêng
Trong bài viết “Nghiên cứu tác phẩm văn học trên bình diện cấu trúc vănbản nghệ thuật”, cô giáo Đào Thị Hải Yến cũng đã nêu ra vai trò cùng một số địnhhướng trong sử dụng phương pháp này Cô khẳng định nghiên cứu tác phẩm vănhọc trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật giúp người nghiên cứu, một mặtnắm được đặc trưng thẩm mĩ, bản chất của ngôn ngữ văn học; mặt khác, xác lậpđược các nguyên tắc, các hệ thống thao tác văn bản hoá tác phẩm một cách chuẩnxác, cũng như hiểu sâu hơn ý nghĩa của việc văn bản hoá tác phẩm một cách khoa
Trang 8học Đồng thời, nghiên cứu phải bao gồm: cấu trúc văn bản nghệ thuật, bình diệnvăn hoá- lịch sử, bình diện tâm lí xã hội Cần chú ý thêm mối liên hệ nội tại xuyênsuốt từ đầu đến cuối tác phẩm là tương quan giữa nội dung và hình thức Giữa nộidung và hình thức có sự thống nhất, hài hoà cao độ.
Nguyễn Văn Dân trong bài viết “Góp phần tìm hiểu phương pháp cấu trúc”cho ta hiểu một số khía cạnh của phương pháp này Ở đó, tác giả đã định nghĩa cấutrúc là toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nênmột chỉnh thể Từ đó, tác giả đi vào xem xét phương pháp cấu trúc trong nghiêncứu tác phẩm văn học từ trước tới nay, chỉ ra sự phức tạp, đa dạng của nó Từ đó,tác giả đề cao chủ nghĩa hậu cấu trúc hiện nay, vì chủ nghĩa này đã vượt cả giớihạn của lý thuyết hiện tượng học Từ đó, một mặt tác giả việc phân tích cấu trúccủa tác phẩm văn học là hoàn toàn cần thiết và có ích ; một mặt tác giả lưu ý việctìm hiểu tác phẩm không thể và không có quyền hạn chế trong cấu trúc chung mànên mở rộng ý nghĩa của nó vượt ra ngoài các dữ kiện của tác phẩm
PGS.TS.Trịnh Bá Đĩnh trong bài “Phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loạihình” đã nêu ra một số ý kiến về phương pháp cấu trúc qua việc đọc loại hình tácphẩm “Thiền uyển tập anh” Phương pháp cấu trúc đi vào tìm hiểu về kiểu loại(type) của tác phẩm Cách làm này là đúng bởi vì mỗi kiểu loại sẽ có một cấu trúcriêng và có chức năng riêng trong hệ thống văn học trung đại Ta không nhìn đốitượng nghiên cứu của mình bằng con mắt lịch sử mà nhìn nó bằng cái nhìn đồngđại Tác phẩm vì thế được phân tích về phương diện quảng tính: cấu trúc toàn thể
và các bộ phận, quan hệ của tác phẩm với các hiện tượng khác của văn học và vănhoá thời đại, với văn học dân gian, huyền tích, sử tích…
Tóm lại, số công trình, bài viết về phương pháp cấu trúc còn ít Số lượng côngtrình, bài viết đề cập tới áp dụng phương pháp này trong dạy học Ngữ văn còn ít
Trang 9hơn, hầu như chưa có chỉ dẫn cụ thể Đương nhiên, trong tác phẩm văn xuôi hiệnthực phê phán ở Ngữ văn 11 thì càng chưa có.
2.3 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán 1930-1945
Văn học hiện thực phê phán là một trào lưu văn học công khai, tồn tại hợppháp, xuất hiện trong giai đoạn 1930-1945 Đây là một dòng văn học lớn, ra đờinhằm đáp ứng một phần những yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp và đấutranh dân tộc lúc bấy giờ Các nhà văn tiến bộ - bạn đường của giai cấp công nhân,như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, NamCao… đã sử dụng chủ nghĩa hiện thực phê phán như một vũ khí chiến đấu Phươngpháp giảng dạy tác phẩm văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đã được một sốtác giả quan tâm, nghiên cứu Ở đây, ta có thể liệt kê một số công trình, bài viếttiêu biểu:
- Dạy học Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ - Ngữ văn 11 ban cơ bản) từ thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng (Luận văn Thạc sĩ Sư
phạm Ngữ Văn, Vũ Thị Mận, Đại học Giáo dục, 2010)
- Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Ban Cơ bản) (Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Ngữ Văn, Nguyễn
Văn Tuấn, Đại học Giáo dục, 2010)
- Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (PGS TS
Nguyễn Viết Chữ, Nhà xuất bản Giáo dục, 2010)
- Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông (tập 1)
(GS Phan Trọng Luận, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998)
Trang 10- Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11 (tập 1) (TS Nguyễn Văn Đường, Nhà
xuất bản Hà Nội, 2009)
Tuy nhiên, các công trình trên chưa có đề cập tới việc áp dụng phương phápcấu trúc một cách đầy đủ trong dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán lớp11
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu và triển khai phương phápcấu trúc đã được các nhà nghiên cứu quan tâm song như vậy vẫn chưa đủ cho mônNgữ văn Các cuốn sách, bài viết đã đề cập tới phương pháp, hoạt động dạy họcNgữ văn nhiều song ít có tài liệu nói về phương pháp cấu trúc Đây là phần thiếusót cần phải bổ sung ngay Chính vì vậy, tôi mong muốn làm luận văn này đểđóng góp một phần vào việc triển khai phương pháp cấu trúc vào dạy học văn hiệnnay, mà đầu tiên là dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán lớp 11
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu.
Áp dụng phương pháp cấu trúc vào trong dạy học tác phẩm văn xuôi hiện thựcphê phán lớp 11 để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trường THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Tìm hiểu cơ sở lý luận của phương pháp cấu trúc
b Điều tra thực trạng sử dụng thực trạng dạy học bài học văn xuôi tự sự phêphán ở trường THPT
c Nghiên cứu quy trình sử dụng phương pháp cấu trúc phù hợp trong quátrình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Việc áp dụng phương pháp cấu trúc trong dạy học học tác phẩm văn xuôi hiệnthực phê phán lớp 11 để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trườngTHPT.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu lý luận về phương pháp cấu trúc để ápdụng trong dạy học Ngữ văn
- Bài học được chọn để áp dụng phương pháp cấu trúc là tác phẩm văn xuôi
tự sự phê phán trong chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT, gồm hai bài: “ChíPhèo” và “Hạnh phúc một tang gia”
5 Phương pháp nghiên cứu
a Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa, tổng kết các tài liệuliên quan đến đề tài nghiên cứu để xác lập cơ sở lý luận cho đề tài
+ Nghiên cứu lý thuyết về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học và cáctài liệu khoa học cơ bản liên quan đến đề tài
b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Sử dụng các mẫu phiếu điều tra; tròchuyện phỏng vấn giáo viên và học sinh để thu thập thông tin về thực trạng sửdụng các phương pháp dạy học, chất lượng dạy học môn hóa học, mức độ hiểu biếtcủa cán bộ, giáo viên về phương pháp cấu trúc
+ Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động học và dạy của giáo viên, họcsinh để thu thập những thông tin cần thiết
+ Thực nghiệm sư phạm: Để đánh giá chất lượng và hiệu quả hệ thống kiếnthức, kế hoạch bài giảng đã xây dựng theo hướng tích cực hoá hoạt động nhậnthức, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Trang 12c Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng thống kê toán học để xử lý cáckết quả nghiên cứu.
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo; nội dung chính củaluận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Đổi mới dạy học bài tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán theophương pháp cấu trúc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 131.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Khái lược về các phương pháp dạy học văn
Môn Văn là môn học đã có từ lâu đồng thời là môn chính trong các môn học
Vì thế, hệ thống phương pháp của môn Văn khá phong phú với những đặc trưngriêng biệt Ngày trước, phương pháp dạy học văn thiên về thuyết giảng, song ngàynay với việc đổi mới toàn diện giáo dục, phương pháp dạy học văn đã có nhiềuthay đổi Trong nước ta, định hướng đổi mới căn bản, toàn diện phương háp dạyhọc văn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang được nói tớinhiều: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng củangười học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trungdạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớpsang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngtrong dạy và học” [24] Đây là hướng đi đúng của nền giáo dục nước ta nói chung
và dạy học văn nói riêng
Từ sự thống kê, chúng ta có thể kể ra một số phương pháp chính yếu trongmôn văn như sau:
1.1.1.1 Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp ( đàm thoại ) là phương pháp trong đó “giáo viên đặt ra câu hỏi đểhọc sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua
đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học” [13,59]
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giảiquyết vấn đề thường như sau:
Trang 14- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
o Tạo tình huống có vấn đề;
o Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
o Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
o Đề xuất cách giải quyết;
o Lập kế hoạch giải quyết;
o Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
o Thảo luận kết quả và đánh giá;
o Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ratrong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽđóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc củanhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thànhviên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Trang 15Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành [13,64]:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
· Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
1.1.1.3 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xửnào đó trong một tình huống giả định Phương pháp đóng vai có những ưu điểmsau [16,69] :
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trongmôi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạođức và chính trị – xã hội
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
Trang 16Cách tiến hành có thể như sau :
o Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõthời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai
o Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
o Các nhóm lên đóng vai
o Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai
- Vì sao em lại ứng xử như vậy ?
- Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được cách ứng xử( đúng hoặc sai )
o Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phùhợp ? Chưa phù hợp ở điểm nào ? Vì sao ?
o Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống
1.1.1.4 Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinhđược nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Thực hiện phương phápnày, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận[16,75]
Cách tiến hành
o Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm
o Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
o Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừmột ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
o Phân loại ý kiến
o Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
1.1.1.5 Phương pháp dạy học theo dự án
Trang 17Đây là một hình thức dạy học trong đó “người học thực hiện một nhiệm vụhọc tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm cóthể giới thiệu” [16,87] Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực caotrong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việcthực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh Ở phân môn học hát hợp xướng, nhiệm vụđặt ra cao nhất bao giờ cũng là hoàn thành tốt một bài hợp xướng ở mức độ khó Cách thức tiến hành:
o Xác định vấn đề để xây dựng thành dự án
Giáo viên phải có kiến thức liên môn để xâu chuỗi, tổng hợp các kiến thức đó
tổ chức thành một dự án phù hợp với điều kiện thực tiễn Do vậy, dự án phải mangtính xã hội, thời sự sâu sắc Ta có thể hình thành một số loại dự án như sau: Họcthông qua việc phục vụ cộng đồng, giải quyết vấn đề, hợp tác trực tuyến:
Về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các nhiệm vụ sau: Xác định mụctiêu của dự án, thiết lập hoạt động cốt lõi, lập kế hoạch đánh giá, thiết kế các hoạtđộng
Trước khi tổ chức thực hiện dự án, giáo viên cần dành ra một buổi học để triểnkhai dự án đến HS: giới thiệu tên dự án và nội dung tóm tắt, thảo luận với HS vềcác giai đoạn thực hiện dự án, phổ biến tiêu chí đánh giá, nhắc nhở HS một số vấn
đề khác: thời gian hoàn thành, tinh thần, thái độ làm việc,
Sau khi đã nắm được nội dung của dự án, các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết.Các nhóm HS thảo luận để lập kế hoạch thực hiện dự án, phân công công việc đến
Trang 18từng thành viên trong nhóm và các em độc lập giải quyết từng nhiệm vụ trong dựán.
1.1.1.6 Phương pháp đọc hiểu
Đây là phương pháp giáo viên giúp HS đọc trực tiếp văn bản, tự mình cảmnhận, lí giải, thưởng thức, ghi nhớ văn bản Đọc- hiểu là hoạt động duy nhất để họcsinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học, tránh sự áp đặt từ bên ngoài kể cả từthầy cô, ngăn chặn được sự suy giảm năng lực đọc của học sinh trong điều kiện cácphương tiện nghe nhìn ngày càng phổ biến…Điều này rất phù hợp với qui luật tiếpnhận văn học và qui luật phát triển tư duy cũng như sự hình thành nhân cách
Qui trình cơ bản của đọc hiểu như sau [13,79]:
Đọc kĩ trước hết phải đọc thật nhiều lần Đây là một kiểu đọc có tần số cao.
Đọc để giới hạn quang cảnh và bối cảnh xã hội và những vấn đề của nó và để tìmvấn đề (tính có vấn đề) của con người qua việc xác lập đường dây sự kiện, tìnhhuống, trạng thái trong quan hệ với nhân vật văn học
Trang 19Đọc để biểu hiện, làm bộc lộ mối liên hệ thông nhất nhiều mặt của đời sống
và nghệ thuật, của trí tuệ và tình cảm ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản Đọcchậm, phát hiện những cái mới lạ của từ ngữ, hình ảnh, sự kiện của thế giới suy tư
và tâm tình nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong giao tiếp với môitrường sống của nhân vật và tác phẩm Thống kê những mối quan hệ giữa nhân vậtvới sự kiện, tình huống chính Sơ đồ hóa mạng lưới hệ thống giữa các yếu tố hìnhthức và nội dung, bộ phận và toàn thể, chi tiết và chỉnh thể của tác phẩm Thamkhảo thời điểm sáng tác, chặng đường nghệ thuật, sự chuyển biến tư tưởng của nhàvăn để xác định cảm hứng sáng tác của nhà văn trong tác phẩm
Đọc để bổ sung những nội dung mới, làm giàu có về ý nghĩa xã hội và ý vịnhân sinh của tác phẩm Đọc biểu hiện sự đánh giá và thưởng thức giá trị vĩnhhằng của tác phẩm, tái hiện lại chặng đời của hình tượng nhân vật trung tâm vàkhái quát sự vận động của hình tượng từ đầu cho đến hết Đọc nhận ra giá trị và ýnghĩa của kết thúc tác phẩm đối với đời sống Phân tích và đánh giá ý nghĩa của kếtthúc tác phẩm đối với đời sống Phân tích và đánh giá ý nghĩa thời đại lịch sử, ýnghĩa xã hội, đạo đức và ý nghĩa nghệ thuật thẩm mĩ của hình tượng đối với quákhứ, hiện tại và tương lai
Với đọc hiểu trong nhà trường, giáo viên và học sinh có thể tuân theo quy trìnhsau:
a Chuẩn bị cho giờ đọc hiểu trên lớp:
- Học sinh đọc tiểu dẫn về văn bản
- Học sinh nên đọc kĩ tác phẩm trước ở nhà
- Đọc kĩ chú thích
- Đọc và trả lời hệ thống câu hỏi đọc hiểu
- Đối chiếu, kiểm tra lại quá trình đọc hiểu, xem kĩ phần Ghi nhớ trong SGK
b Giờ học trên lớp
Trang 20- Giáo viên cho học sinh đọc diễn cảm, đọc phân vai văn bản.
- Học sinh đưa ra cách hiểu khác nhau đối với văn bản
- Học sinh thảo luận các câu hỏi ở phần hướng dẫn đọc hiểu và câu hỏi có liênquan tới văn bản Mọi ý kiến đều được tôn trọng
- Có thể đọc diễn cảm lại với những văn bản đặc biệt
1.1.1.7 Phương pháp diễn giảng
Diễn giảng là phương pháp giáo viên dùng lời và các phương tiện phi ngôn ngữkhác để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, tạo nên sự liên kết giữa các vấn đề đó, vớikinh nghiệm hiện có của người học, qua đó giúp người học lĩnh hội được kiếnthức Như vậy, có thể hiểu diễn giảng chính là phương pháp trình bày, thông báomột hệ thống một vấn đề mới cho HS Giáo viên dùng lời nói cũng các phương tiệnthông tin, nghe- nhìn để diễn giảng cho người học nghe, phát hiện và hiểu các kháiniệm, hiện tượng, nguyên lí của các quá trình
Ưu điểm của phương pháp này so với phương pháp khác là giúp cho người dạychủ động trong tiến trình đào tạo, tập trung vào chủ điểm, kiểm soát được nội dung
và thứ tự thông tin truyền đạt trong thời gian định trước; truyền đạt được một khốilượng kiến thức lớn trong một thời gian giới hạn; phù hợp với số đông người học,phù hợp với điều kiện thiếu trường lớp, phương tiện
Bên cạnh ưu điểm, phương pháp diễn giảng còn tồn tại một số nhược điểm: ngườidạy không nắm được thông tin phản hồi của học sinh, chỉ có thông tin một chiều,người học bị động; khó nắm được hiệu quả của bài giảng, người học dễ nhàmchán, giảm chú ý Phương pháp này cũng không phát huy một cách hiệu quả trongvấn đề đào tạo kĩ năng cho học sinh
Như vậy, để đạt được hiệu quả cao trong phương pháp diễn giảng GV cần: Làmcho người học nắm được mục tiêu, yêu cầu của bài giảng, chủ điểm và ngôn ngữdiễn giải phù hợp với trình độ HS; phải chú trọng đến phần mở đầu và tóm tắt bàigiảng; tốc độ diễn giải phù hợp với người nghe; GV phải biết điều chỉnh cách diễn
Trang 21giảng; cần thường xuyên dùng câu hỏi để kiểm tra sự hiểu bài của người nghegiảng.
1.1.2 Lí thuyết về cấu trúc và phương pháp cấu trúc
1.1.2.1 Định nghĩa
a Cấu trúc
Phạm trù cấu trúc đã được nhiều tài liệu cả trong và ngoài nước định nghĩa.Trong đó, có định nghĩa tỏ ra giống với định nghĩa về hình thức nhưng nói chung,phạm trù trung tâm của khái niệm cấu trúc là nội dung, gồm các mối quan hệ nộitại Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm "cấu trúc" có nghĩa là "Toàn bộ nói chungnhững quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể" [19,39] Từđiển Encarta 99 của Mỹ cũng định nghĩa cấu trúc là "Một tập hợp các bộ phận cómối quan hệ liên kết với nhau của bất cứ một sự vật phức hợp nào; một bộ khung"[11,19] Từ điển Larousse của Pháp cũng định nghĩa cấu trúc là "Cách sắp xếp giữacác bộ phận của một tập hợp cụ thể hay trừu tượng", hay là "Việc tổ chức các bộphận của một hệ thống làm cho nó có một tính cố kết mạch lạc và mang tính đặctrưng thường xuyên" [11,19] Nó có xuất xứ từ từ Latin "structura", nghĩa là "xâydựng", "kiến tạo"
Theo định nghĩa cấu trúc nói trên thì cấu trúc là các mối quan hệ giữa cácthành phần của một sự vật Đồng thời, phân tích cấu trúc của sự vật đó cũng là sựphân tích các thành phần cấu tạo nên nó Thành phần cấu tạo này luôn có mối quan
hệ mật thiết, cái nọ ảnh hưởng cái kia chứ không đứng riêng biệt Đúng như Platoncũng đã từng nói: "Thực thể là do mối liên hệ làm nên" [11,20]
Có thể lấy ví dụ với cấu trúc của văn bản văn học Hiện giờ, các nhà khoahọc chia cấu trúc của một tác phẩm ra làm ba loại, bao gồm: cấu trúc văn bản nghệthuật, bình diện văn hoá- lịch sử, bình diện tâm lí xã hội Trong đó, cấu trúc vănbản nghệ thuật là cấu trúc mang tính khách quan, khoa học và hiện giờ đang được
Trang 22áp dụng nhiều nhất Trong luận văn này, chúng tôi xin được đi sâu vào loại cấutrúc này
Xét trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật thì mối liên hệ nội tại xuyênsuốt từ đầu đến cuối tác phẩm là tương quan giữa nội dung và hình thức Giữa nộidung và hình thức có sự thống nhất, hài hoà cao độ Hêghen cho rằng: “Nội dungchẳng phải là cái gì khác mà là hình thức chuyển hoá ra nội dung và hình thứcchẳng phải là cái gì khác mà là nội dung chuyển hoá ra hình thức” [11,27] Phântích tác phẩm văn học là phải thông qua hình thức để nói nội dung và tập trungphân tích những hình thức nghệ thuật mang tính nội dung
Nội dung và nghệ thuật trong văn bản nghệ thuật lại chia thành các thành tốnhỏ hơn Mặc dù cách phân chia có nhiều ý kiến khác nhau song nói chung, hiệnnay, nhiều nhà nghiên cứu đi theo hướng chia nội dung nghệ thuật văn bản thànhcác bình diện sau:
- Đề tài: là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa và miêu tả, thể hiện tạothành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đónhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm Có thể nói, đề tài là khái niệmtrung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thânđời sống Người ta có thể xác định đề tài trên hai phương diện: bên ngoài và bêntrong Nói đến phương diện bên ngoài là nói đến sự liên hệ thuần túy đến phạm vihiện thực mà tác phẩm phản ánh Tuy nhiên, để tránh sự đồng nhất đề tài và đốitượng phản ánh và thấy được tính chất của phạm vi được phản ánh, cần phải đi vàophương diện bên trong của đề tài Ðó là cuộc sống nào, con người nào được thểhiện trong tác phẩm Nói cách khác, đó chính là tính chất của đề tài bên ngoài.Trong trường hợp này, đề tài chính là vấn đề được thể hiện trong tác phẩm và trongnhiều trường hợp nó trùng khít với chủ đề
Trang 23- Chủ đề: là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài.Nói cách khác, chủ đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêulên trong tác phẩm mà nhà văn cho là quan trọng nhất Ví dụ: Qua Vợ nhặt, KimLân đã phản ánh cuộc sống khốn khổ của nhân dân ta trong nạn đói khủng khiếpnăm 1945 và tình cảm hướng về cách mạng của họ đồng thời nêu lên một vấn đề
có ý nghĩa nhân bản sâu sắc : Ðó là cái tình trong cuộc sống đời thường của nhữngngười lao động trong một hoàn cảnh gần như hoàn toàn bế tắc Trong “Mùa lạc”,Nguyễn Khải quan tâm đến sự thay đổi số phận của những con người đã từng chịunhiều bất hạnh trong xã hội cũ, nay đã tìm lại được niềm vui, hạnh phúc và chỗđứng trong xã hội mới
- Tư tưởng: là nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thểsống động của tác phẩm văn học cũng như những vấn đề nhân sinh được đặt ratrong đó Tư tưởng là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của những cảmnhận, suy nghĩ về cuộc đời Do yêu cầu của tư duy khái quát, người ta thường đúckết tư tưởng của tác phẩm bằng một số mệnh đề ngắn gọn, trừu tượng Thực ra, tưtưởng náu mình trong những hình tượng sinh động, những cảm hứng sâu lắng củatác giả Biêlinxki cho rằng: "Tư tưởng thơ, đó không phải là phép tam đoạn luận,không phải là giáo điều mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng" Nếu có thểcoi đề tài và chủ đề thuộc về phương diện khách quan thì tư tưởng tác phẩm thuộc
về phương diện chủ quan của nội dung tư tưởng tác phẩm Tư tưởng tác phẩm vănhọc là sự khái quát của cả hai phương diện: lí giải, nhận thức và khát vọng của nhàvăn thể hiện trong tác phẩm thông qua hình tượng nghệ thuật Nó gắn bó chặt chẽvới đề tài và chủ đề và được biểu hiện tập trung ở ba phương diện: Sự lí giải chủ
đề, cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ
- Cảm hứng nghệ thuật: là cảm hứng của nhà văn và cảm hứng tư tưởng củatác phẩm Nó có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một Cảm hứng
Trang 24tư tưởng là tình cảm mãnh liệt, một ham muốn tích cực, là tư tưởng của nhà vănđược thể hiện cụ thể, sinh động trong hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Bếnkhông chồng của Dương Hướng thể hiện tâm trạng khắc khoải, một ước mơ vềhạnh phúc đích thực của cuộc đời thường, là sự cảm thông sâu sắc với những conngười đã chịu nhiều mất mát Tràng giang của Huy Cận là một nỗi buồn mênhmông, vô tận trước cảnh trời rộng, sông dài, là sự nhỏ bé, cô đơn của con ngườitrước cái vô cùng của thiên nhiên, vũ trụ
- Nhân vật: Nhân vật là con người hoặc sự vật được nhà văn miêu tả trong tácphẩm bằng phương tiện văn học Nhân vật truyện ngắn có thể là con người có tên,
có thể là những người không có tên hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó(như tôi, ta, ) Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng mộtcách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn,chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm “Chiếc quan tài” của Nguyễn CôngHoan Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có nhữngdấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặcđiểm riêng Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thôngthường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu banđầu đó Nhân vật có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét,xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọngnhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm
- Cốt truyện: Trong văn học truyền thống cốt truyện là vấn đề quan tâm hàngđầu của nhà văn bởi vì nó là yếu tố hàng đầu tạo nên sự hấp dẫn của tác phẩm Cốttruyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩmsong những sự kiện ấy phải mang hướng điển hình hóa nhằm thể hiện chủ đề tưtưởng của tác phẩm Thông qua cốt truyện, nhà văn vừa khái quát những xung đột
xã hội, vừa thể hiện tâm hồn, tình cảm và sự đánh giá chủ quan của họ đối với cuộc
Trang 25sống Vì vậy, cốt truyện là sự hiện thực hóa cuộc đời vào tác phẩm nhưng có sángtạo và mang tính chủ quan Mỗi nhà văn lại xây dựng những cốt truyện khác nhaunhằm thể hiện quan điểm, thái độ, ý đồ tư tưởng, phong cách nghệ thuật, cá tínhsáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống, dù họ cùng xuất phát từ một xung đột xãhội giống nhau.
- Kết cấu: Tất cả những yếu tố, bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chứctheo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhấtđịnh gọi là kết cấu Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinhđộng, phức tạp của tác phẩm văn học Kết cấu là yếu tố tất yếu của mọi tác phẩm.Nếu khái niệm cốt truyện nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biếncố trong tác phẩm tự sự và kịch thì kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều
- Loại thể: Mọi tác phẩm văn học đều tồn tại trong các hình thức thể loại nhấtđịnh: một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ, một vở kịch, một kísự Không có tác phẩm văn học nào được xây dựng ngoài những hình thức quenthuộc đó Mỗi loại truyện; thơ; kí; kịch đều có các phương thức tổ chức, phươngthức tái hiện gần gũi với nhau và từ đó qui định sự tiếp nhận văn học Nhà văncũng như người đọc đều hiểu mình sáng tác hay tiếp nhận loại tác phẩm này chứkhông phải loại tác phẩm khác Lí luận văn học đã khái quát các tác phẩm khácnhau thành một số loại thể nhất định dựa theo những qui luật loại hình Những quiluật này chi phối, qui định các yếu tố khác nhau của tác phẩm văn học Mỗi loạithể khác nhau có các loại nhân vật, kết cấu, lời văn khác nhau Chẳng hạn khi nóiđến loại tác phẩm trữ tình, ta có thể nhắc đến nhân vật trữ tình, kết cấu trong thơtrữ tình, lời thơ, câu thơ, đoạn thơ, luật thơ Nói đến tác phẩm tự sự, có thể nói đếnnhân vật tự sự, kết cấu trong tác phẩm tự sự, lời văn tự sự Qua tác phẩm kịch, cóthể nói đến nhân vật kịch, kết cấu kịch, lời đối thoại, hành động kịch
Trang 26- Lời văn nghệ thuật: chính là ngôn từ trong tác phẩm Nó có tính chính xác,trong sáng Chỉ với những lời văn chính xác, trong sáng, nhà văn mới có thể biểuhiện một cách đúng đắn và đầy đủ những sắc thái, cảm xúc, những điều mà nhàvăn muốn diễn đạt Thứ hai, nó có tính hàm súc, là sử dụng một số lượng chất liệutối thiểu mà đạt được hiệu quả nghệ thuật tối đa Tính mơ hồ, đa nghĩa cũng là mộtđặc điểm của lời văn nghệ thuật dù đây cũng là đặc điểm dễ nhận thấy trong lời nóihằng ngày Trong văn học, tính mơ hồ, đa nghĩa được nhân lên và trở thành mộtđặc điểm nổi bật bởi vì người nghệ sĩ thường hướng tới lời văn mơ hồ, đa nghĩanhằm tạo nên những tầng lớp nghĩa khác nhau, nhằm "khêu gợi vô số những tưtưởng, những quan niệm, những cách giải thích" Một đặc trưng có tầm quan trọngnhất nhằm phân biệt lời văn nghệ thuật với lời văn thuộc các lĩnh vực khác là tínhtạo hình và biểu cảm Tạo hình là tạo nên một lời văn giàu hình ảnh, tái tạo đốitượng trong hình thái cụ thể, không lặp lại của nó.
b Phương pháp cấu trúc
Phương pháp cấu trúc tuy chưa có một định nghĩa thống nhất, song qua nghiêncứu của các nhà khoa học, ta phần nào định nghĩa được nó Vladimir Propp, nhànghiên cứu truyện cổ dân gian người Nga, trong công trình “Hình thái học truyện
cổ tích”, xuất bản năm 1928 tại Leningrad, V.Propp đã nghiên cứu và phân loạitruyện cổ tích theo chức năng của nhân vật mà ông gọi là chức năng tự sự Tiêuchuẩn để ông phân loại không phải là bản thân nhân vật mà là hành động của nhânvật Qua khảo sát các truyện cổ tích Nga, Propp đã khái quát hoá được 31 loại hìnhchức năng tự sự của nhân vật, mỗi chức năng lại có một tên gọi Ví dụ: 1 nhân vậtchính vắng mặt (tên gọi: vắng mặt); 2 một điều cấm được đặt ra cho nhân vậtchính (ngăn cấm); 3 điều cấm bị vi phạm (vi phạm); 4 nhân vật phản diện tìmcách dò la (dò la); 5 nhân vật phản diện nhận được thông tin về nạn nhân của mình(tiết lộ); 6 nhân vật phản diện tìm cách đánh lừa nạn nhân của mình để chiếm đoạt
Trang 27anh ta/ cô ta hoặc tài sản của anh ta/cô ta (đánh lừa);… Với việc này, Propp cũng
có thể được coi là một trong những người khơi nguồn cho chủ nghĩa cấu trúc Nhưvậy, theo tác giả, phương pháp cấu trúc là phương pháp phát hiện ra mô hình mangtính chức năng trong tác phẩm Nhà nhân chủng người Pháp Claude Gustave Lévi-Strauss (1908) cũng đã cho thấy phương pháp cấu trúc chính là việc nghiên cứucấu trúc, các đơn vị hợp thành của tác phẩm Trong bài viết cho đăng trên tờ tạpchí Journal of American Folklore, nhan đề "Nghiên cứu cấu trúc thần thoại"; ôngkhẳng định: "Giống như các thành phần khác của ngôn ngữ, một câu chuyện thầnthoại được tạo thành bởi các đơn vị hợp thành" mà chúng cần phải được xác định,được tách ra và được liên hệ với một mạng lưới ý nghĩa rộng lớn [7,31] Năm
1958, tại đại hội lần thứ hai của Hiệp hội Văn học So sánh Quốc tế họp ở ChapelHill (Hoa Kỳ), René Wellek, một đại biểu của chủ nghĩa cấu trúc Hoa Kỳ cũng làm
rõ tư tưởng đó qua lời tuyên bố: "Tác phẩm nghệ thuật có thể được coi là cấu trúc
đa tầng của ký hiệu và nghĩa, hoàn toàn tách biệt khỏi quá trình trí lực của tác giảtrong thời gian hình thành tác phẩm và do đó nó cũng tách biệt với những điều đãảnh hưởng đến tư tưởng của tác giả" [7,33]
Từ những điều trên, ta có thể định nghĩa: phương pháp cấu trúc là phươngpháp nghiên cứu tác phẩm văn học trên cơ sở phân tích các thành phần cấu tạo nêntác phẩm cũng như mối tương quan của chúng với nhau Thay vì đi ngay vào nộidung và nhấn mạnh đến những ý nghĩa đạo đức của tác phẩm hoặc sự diễn dịchvăn bản như các lý thuyết phê bình truyền thống, nhà phê bình cấu trúc luận sẽ
“tìm kiếm những hệ thống tương đương, sự bùng vỡ một cấu trúc thông thường, sựphản ánh, sự lập lại, những tính chất đối kháng và những khuôn mẫu rõ rệt,… đểcắt nhỏ và tái phối trí văn bản thành một biểu đồ ý nghĩa” [7,10] Các thành phầncủa tác phẩm được “soi dưới lăng kính cấu trúc” là: các tình tiết, những đặc tính vàcủa các động cơ nhân vật, hoàn cảnh, ngôn ngữ và hình tượng Ở đó, ta sẽ xem cácthành phần có điểm gì giống và khác biệt so với cấu trúc thông thường của các tác
Trang 28phẩm văn học Điều quan trọng là lí giải được ý nghĩa của cấu trúc, cả ở phươngdiện giống và khác so với cấu trúc thông thường Từ sự hiểu biết về cấu trúc đó,các nhà khoa học mới đi đến ý nghĩa sau cùng của văn bản Như vậy, mọi hiệntượng văn hoá cần phải được nhìn nhận như là các sản phẩm của một hệ thống các
ý nghĩa mà chúng chỉ được xác định trong mối quan hệ giữa chúng với nhau ởtrong hệ thống, như thể chính bản thân hệ thống đang đặt ra các ý nghĩa Mọi mã ýnghĩa đều mang tính tuỳ tiện, nhưng không thể hiểu được hiện thực mà không dựavào một mã nào đó Theo Ferdinand de Saussure: "ngôn ngữ là hình thức chứkhông phải chất liệu"; nó là một hệ thống ký hiệu, mà ký hiệu lại là một thực thểkết hợp giữa "cái biểu đạt" với "cái được biểu đạt" [7,29] Và chủ nghĩa cấu trúctìm cách xác định các quy tắc và những điều bó buộc mà trong đó và nhờ đó ýnghĩa được tạo thành và được thông báo Tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc tựthân, chặt chẽ và chính xác, không cần đến bất cứ một yếu tố nào khác ngoài chính
nó Nó đặc biệt tỏ ra có hiệu quả trong lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc tự sự
Tác phẩm như là một bộ khung, chỉ bao gồm những mối quan hệ chủ yếu chứkhông bao gồm tất cả mọi mối quan hệ tương tác nội tại của tác phẩm Và việcphân tích cấu trúc chính là để làm sáng rõ cái bộ khung chi phối giá trị của một tácphẩm Nhưng chính vì thế mà cấu trúc không chỉ bao hàm ý nghĩa cá thể, mà nócòn mang ý nghĩa tổng thể ở cấp vĩ mô, đó là khi ta nói đến cấu trúc của một loạihình, một thể loại Do đó chúng ta có thể nói tới một tính cao cấp của cấu trúc sovới hình thức, nói tới sự tồn tại của một cấu trúc tổng thể và thống nhất bao hàmnhững yếu tố của nhiều nhiều thức khác nhau Cho nên ta dễ dàng nhận thấy rằngchủ nghĩa hình thức của một số nhà nghiên cứu phương Tây đã không thể đề cậpđược đến các yếu tố cấu trúc Mặt khác, cấu trúc không quyết định toàn bộ giá trịnghệ thuật của tác phẩm, thậm chí, những cấu trúc giống nhau có thể có những giátrị khác nhau Bởi vì không phải chỉ có cấu trúc là cái quyết định giá trị của tác
Trang 29phẩm, mà ngoài nó ra còn có các yếu tố khác nữa, những yếu tố có khả năng làmcho tác phẩm có hồn sống
Chủ nghĩa cấu trúc coi trọng cái cấu trúc đồng đại hơn diễn biến lịch đại củacác sự vật, tức là nó không coi trọng tính lịch sử của sự vật, và nó coi trọng tổngthể hơn cá thể Nó cho rằng sự vật chỉ có ý nghĩa khi được xem xét trong một cấutrúc của tổng thể Theo nó, cấu trúc của một sự vật là một chỉnh thể thống nhất vàtoàn vẹn, bao gồm cả nội dung lẫn hình thức, và nó có một ý nghĩa chính xác của
nó, độc lập với bất cứ yếu tố bên ngoài nào
1.1.2.2 Vai trò của phương pháp cấu trúc
Từ trước đến nay đã có nhiều phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học theonhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, phương pháp cấu trúc khi ra đời đã đảmbảo cho việc tiếp cận tác phẩm văn học không bị phiến diện mà chính xác và sâusắc hơn Sự ra đời của nó được xem như một cuộc cách mạng triệt để về lý thuyếtphê bình văn học, vì sự xuất hiện của nó đồng nghĩa với sự lật đổ các quan niệmtruyền thống có tính cách nguyên lý tồn tại trước đó
Phương pháp cấu trúc coi tác giả hay người viết chỉ làm công việc viết lạinhững gì đã có từ trước chứ không thể dùng văn bản để diễn tả chính nội tâm haybản ngã của mình, những gì được viết ra bởi tác giả là sự sắp xếp phối trí lại những
gì đã hiện diện trong thế giới ngôn ngữ và văn hoá xuất hiện trước đó Bằngphương pháp nghiên cứu văn học này, các nhà khoa học đã khảo sát và đưa ra cácbình diện nghiên cứu văn bản tác phẩm văn học một cách toàn diện, khoa học,khách quan nhất Phương pháp cấu trúc đưa cấu trúc văn bản vào vị trí trung tâmtạo nghĩa, bằng cách này, như đã bàn luận ở phần trên, lý thuyết cấu trúc luận đãloại trừ những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình phê bình văn học như: tácgiả, hiện thực, lịch sử cùng những yếu tố mang màu sắc kinh nghiệm và đạo đức xã
Trang 30hội của khuynh hướng nhân bản - nơi cái tôi chủ thể luôn đóng vai trò then chốtcủa mọi động hướng phê bình
Nghiên cứu tác phẩm văn học trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật giúpngười nghiên cứu, một mặt nắm được đặc trưng thẩm mĩ, bản chất của ngôn ngữvăn học; mặt khác, xác lập được các nguyên tắc, các hệ thống thao tác văn bản hoátác phẩm một cách chuẩn xác, cũng như hiểu sâu hơn ý nghĩa của việc văn bản hoátác phẩm một cách khoa học Vì vậy, văn bản xuất hiện hôm nay thuần tuý là mộtdạng khác của văn bản đã tồn tại từ trước trong một mạng lưới chằng chịt nối kếtvới các văn bản khác, và sau cùng giải trình ngôn ngữ văn học tồn tại trong vănbản không bao giờ là sự phản ánh của hiện thực Cấu trúc luận phủ nhận toàn thểcác hình thức lý thuyết phê bình văn học, trong đó chủ thể con người được xemnhư xuất xứ hay nguồn gốc gợi cảm cho ý nghĩa của một văn bản: văn học thực sựđoạn tuyệt hẳn với nhân loại để bước vào văn bản Sự ứng dụng lý thuyết cấu trúcluận còn cho phép nhà phê bình nghiên cứu và phân tích cấu trúc ý nghĩa trongnhững văn bản để tìm sự tương đồng và dị biệt thông qua sự so sánh và đối chứng,phép chuyển nghĩa, sự lập lại của những điểm khác biệt
Tính chất cách mạng của cấu trúc luận còn nằm ở khía cạnh ảnh hưởng rộnglớn có tính chất dây chuyền của nó đối với nhiều ngành nghiên cứu như nhânchủng học, xã hội học, cùng nhiều ngành nghệ thuật khác Nhưng đặc điểm mangtính cách mạng nhất của lý thuyết cấu trúc luận là sự xác định tầm quan trọng vàvai trò trung tâm của ngôn ngữ trong quá trình nghiên cứu và phê bình văn học;ngôn ngữ không những là tiền đề xuất xứ của việc hình thành lý thuyết cấu trúcluận mà bản thân ngôn ngữ được sử dụng như một khuôn mẫu cho tất cả mọi thểloại hành ngôn phi văn học Dưới quan điểm lý thuyết của cấu trúc luận, ngôn ngữcủa phê bình cũng tạo ra nhiều hệ quả có tầm ảnh hưởng rộng lớn không thua kém
gì ngôn ngữ văn học; nói khác đi, dưới mắt một nhà cấu trúc luận, văn bản phêbình cũng là một văn bản văn học, và lý thuyết phê bình là một thể loại văn học
Trang 31Khi đặt ngôn ngữ trở thành đối tượng chính để xác định cấu trúc của một văn bản,cấu trúc luận đã tạo ra một cuộc cách mạng lớn nhất, triệt để nhất và toàn diện nhất
về lý thuyết cả trên phương diện chặt chẽ trong khái niệm lẫn tính chất khách quankhoa học của đối tượng nghiên cứu
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Thực trạng dạy học kiểu bài tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán ở THPT Thực tế việc dạy học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông hiện nay mặc dù
đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng do vẫn còn ảnh hưởng nặng nề từ nhữngphương pháp dạy học truyền thống, nên môn học này đang dần dần trở nên khônggây hứng thú học tập với HS Cùng với đó là chất lượng HS học văn ngày cànggiảm sút Điều đó thể hiện qua các bài kiểm tra trên lớp, bài thi giữa kì, cuối kì,việc lựa chọn ban học khoa học xã hội cũng như việc lựa chọn khối thi của cácem
Tổng kết tình hình dạy học Văn, tác giả Phan Trọng Luận có nói: “ Dạy Văn suốtthế kỉ qua vẫn là lối dạy khuôn sáo Dạy tác phẩm văn chương là thông báo, áp đặt
từ phía giáo viên Học sinh không trực tiếp rung cảm với tác phẩm, thiếu sự giaotiếp cần có giữa nhà văn với bạn đọc, học sinh Giờ văn thiên về xã hội học nhằmcung cấp cho học sinh bức tranh hai màu về xã hội và con người Phương pháp sáomòn, công thức áp dụng cho mọi giờ văn, mọi đối tượng Trình tự giờ văn cứngnhắc, khuôn sáo Không khí giờ Văn nặng nề, đơn điệu, thiếu rung động thẩm mĩ.”[14, tr 28] Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng đó là tình trạng học “ nhồi nhét”,nhàm chán, không đem lại hứng thú và hiệu quả học tập cao
Thêm nữa, đa số GV phổ thông khi dạy văn bản hiện thực phê phán đều đi theo cốttruyện, hoặc theo kiểu kể về cuộc đời nhân vật nên đôi khi HS chưa thực sự hiểu rõ
về các giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm…
Trang 321.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy- học bài tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán
a Chương trình
- Chương trình học quá nặng mà số tiết ít Thời lượng ở nhiều bài học cònquá ít để đáp ứng yêu cầu về dung lượng kiến thức, kĩ năng HS cần đạt được.Chính sự quá tải như thế mà rất nhiều giờ văn kiểu cưỡi ngựa xem hoa phần nàotước mất sự hứng thú và say mê của học sinh Giáo viên khó mà tạo được sự lắngđọng, những ấn tượng văn chương ở các em qua những giờ văn như thế Cả thầy vàtrò đều phải chạy đua với thời gian để hoàn thành kế hoạch dạy học, để đối phó vớithi cử
- Bài học văn xuôi tự sự phê phán trong chương trình lớp 11 khá rộng và phứctạp nên việc quy về cấu trúc kiểu bài không đơn giản Ở đó, ta phải chú ý tớiphong cách từng nhà văn để xác định kiểu cấu trúc cho phù hợp, chứ không phải
ai cũng giống ai
b, Đối với giáo viên:
- Việc đổi mới phương pháp làm GV phải tốn nhiều thời gian, công sức, phảiđánh đổi bằng lòng yêu nghề với nhiều thử thách Trong thực tế, giáo viên vẫn còn
đi vào “ lối mòn” trong giảng dạy, không cập nhật và áp dụng những phương phápgiảng dạy mới Nhiều giáo viên giữ cách dạy cũ theo phương pháp truyền thống,chỉ sử dụng phương pháp phát vấn, diễn giảng…, giờ học Văn trở thành giờ thuyếttrình, diễn giải của thầy, học sinh chỉ nghe và ghi chép Thầy trở thành “ máy đọc”còn trò trở thành “ máy photocopy” Điều đó khiến bài học không có sức hút vớihọc sinh, học sinh giảm hào hứng học tập
- Bên cạnh đó, hiện giờ, số GV hiểu rõ về hoạt động dạy học theo hướng tiếpcận cấu trúc còn ít, đa số không biết tới Tài liệu về cách dạy theo hướng này còn
Trang 33rất ít Đại đa số chỉ tập trung vào cấu trúc thể loại.
Bảng thống kê các hoạt động của GV sử dụng trong giờ học tác phẩm văn xuôihiện thực phê phán:
c Đối với học sinh
- Ý thức học và chuẩn bị bài trước khi lên lớp của nhiều học sinh chưa tốt,thậm chí nhiều em không đọc tác phẩm, hoặc qua loa đại khái
- HS còn chịu áp lực thi cử HS cũng học đối phó để thi Một khi học sinh đãquá nhàm chán với kiểu học văn thầy giảng, trò nghe, ghi chép thụ động, thỉnhthoảng rụt rè trình bày vài ý kiến theo gợi ý của thầy… nảy sinh thực trạng học đốiphó, thụ động, thậm chí chán học bộ môn Ngoài ra vẫn còn một số em ỷ lại vàothầy cô nên không có ý thức tìm tòi bài học Học sinh trong giờ học như ngườingoài cuộc, thờ ơ với bài học và số phận của các nhân vật trong tác phẩm
Từ đó, ta thấy đổi mới dạy học Văn là yêu cầu cấp thiết Trước hết GV phảibiết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt động học tập ngữ văn nhằm phát triển
tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe - nói - đọc - viết, năng lực cảm thụ tácphẩm văn chương Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của HS, độngviên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trongquá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản Song song đó, GV phải biết sửdụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khaithác và vận dụng kiến thức ngữ văn có hiệu quả Bằng mọi cách GV phải tạo điều
Trang 34kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quenvận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong giảng dạycần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghe - nói - đọc - viết mà
HS đã có Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có, từthực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụcuộc sống Trong đó, đổi mới dạy học văn theo hướng tiếp cận cấu trúc là mộthướng đi hứa hẹn sẽ đạt hiệu quả tốt
Về phía nhà trường, nhà trường cần có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên văn vềhướng dạy tiếp cận cấu trúc, bổ sung tài liệu phục vụ hướng dạy này và có kếhoạch thực hiện thực nghiệm, thống nhất hướng dạy giữa các lớp trong cùng khối
11 của nhà trường Nếu làm được như vậy, chất lượng học văn nói chung và bàihọc văn xuôi hiện thực phê phán chắc chắn được nâng cao
Sử dụng phiếu điều tra mẫu 01, 02
CHƯƠNG 2NG 2
Đ I M I D Y H C BÀI TÁC PH M VĂN XUÔI HI N TH C PHÊ PHÁN THEOỔI MỚI DẠY HỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ỚI DẠY HỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ẠY HỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ỆN THỰC PHÊ PHÁN THEO ỰC PHÊ PHÁN THEO
HƯỚI DẠY HỌC BÀI TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN THỰC PHÊ PHÁN THEONG TI P C N C U TRÚCẾP CẬN CẤU TRÚC ẬN CẤU TRÚC ẤU TRÚC
Trang 352.1 Yêu c u v n d ng d y h c theo phầu vận dụng dạy học theo phương pháp cấu trúc ận dụng dạy học theo phương pháp cấu trúc ụng dạy học theo phương pháp cấu trúc ạy học theo phương pháp cấu trúc ọc theo phương pháp cấu trúc ương pháp cấu trúcng pháp c u trúcấu trúc
2.1.1 Cấu trúc nội dung theo tính chất phản ánh hiện thực
2.1.1.1 Khái quát chung về nội dung trong tác phẩm văn học
Nội dung tác phẩm văn học vừa là cuộc sống được ý thức, vừa là sự đánh giá cảm xúc đối với cuộc sống đó Thứ nhất là cuộc sống được ý thức Khái niệm nàynhằm chỉ dung lượng trực cảm của tác phẩm Ðó là sự thể hiện một cách sinh động
-và khách quan một phạm vi hiện thực cụ thể của đời sống với sự diễn biến của các
sự kiện, sự thể hiện các hình ảnh, hình tượng, sự hoạt động và quan hệ giữa cácnhân vật, suy nghĩ và cảm xúc của các nhân vật Xuyên qua nội dung cụ thể củatác phẩm, ở một cấp độ cao hơn, sâu hơn là nội dung tư tưởng (nội dung kháiquát) Ðó chính là sự khái quát những gì đã trình bày trong nội dung cụ thể thànhnhững vấn đề của đời sống và giải quyết những vấn đề ấy theo một khuynh hướng
tư tưởng nhất định Như vậy, có thể nói nội dung của tác phẩm là toàn bộ nhữnghiện tượng thẩm mĩ độc đáo được phản ánh bằng hình tượng thông qua sự lựachọn, đánh giá chủ quan của người nghệ sĩ, tức là tiếng nói riêng của nhà văn baogồm những cảm xúc, tâm trạng, lí tưởng, khát vọng của tác giả về hiện thực dó
2.1.1.2 Tính chất phản ánh hiện thực quyết định giá trị của tác phẩm trong tác phẩm văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam (chương trình Ngữ Văn 11- cơ bản)
a Giá trị hiện thực
Văn học hiện thực phê phán có giá trị đầu tiên là phản ảnh hiện thực Nếu vănhọc là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội thì văn học hiện thực phê phán là tấmgương sáng nhất Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực
có nghĩa là tìm kiếm các giá trị nhận thức, đạo đức, thẩm mĩ của đời sống, lột trầncác dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiến trìnhtiến bộ của xã hội Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mối quan hệgiữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân
Trang 36vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh củađời sống xã hội.
Giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945 có nhứng ảnh hưởng qua lại trên lĩnhvực ý thức hệ, những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa trong các thời kỳ trước và thời
kỳ cận đại, đó là tiền đề giúp cho văn học hiện thực hình thành và phát triển Vănhọc hiện thực thời kì này chính là nơi thể hiện những dòng suy nghĩ, tâm trạng củacon người trước thời cuộc, ở thời kỳ đó nông thôn cũng như thành thị ngày càngbộc lộ những ung nhọt đang tấy lên trầm trọng, không thể nào che giấu được Songsong với chính sách bóc lột kinh tế nhằm bần cùng hóa nhân dân là chính sáchkhủng bố trắng nhằm đán áp các cuộc khởi nghĩa, áp dụng chính sách độc quyềnbóc lột kinh tế và chính sách đàn áp khủng bố nhằm làm cho mâu thuẫn giai cấpngày càng trở lên gay gắt Tất cả từ những yếu tố trên tạo tiển đề cho dòng vănhọc công khai, một dòng văn học hiện thực phê phán phát triển, nhằm đáp ứngnhững yêu cầu cơ bản của xã hội, đấu tranh cho giai cấp và đấu tranh cho dân tộclúc bấy giờ, điển hình như các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nam Cao với các tácphẩm nổi tiếng: “Chí Phèo”, “Số đỏ”,…
Truyện “Chí Phèo” của Nam Cao tập trung quá trình bần cùng hóa và lưumanh hóa của nông dân nghèo trong thời kỳ xã hội phong kiến, đồng thời lên án tốcáo giai cấp thống trị Ngòi bút của Nam Cao đã hướng tới đối tượng nông dân vàmiêu tả cuộc sống hàng ngày, những cuộc đời quen thuộc ở quanh chúng ta NamCao đã phản ánh sâu sắc những mâu thuẫn xung đột, sự bất mãn sâu sắc của nhữngcon người của thời đại ông với hoàn cảnh xã hội và chế độ chính trị đương thời,những nhân vật của Nam Cao là những “con người nhỏ bé” những con người bìnhthường trong cuộc sống hàng ngày Truyện của Nam Cao hầu hết là những tấn bikịch, bi kịch của cuộc đời nhân dân bị các tai nạn hạn hán, lụt lội làm cho cuộcsống gặp bao khó khăn, vất vả; nạn cường hào địa chủ hà hiếp, bóc lột khiến cho
Trang 37cuộc đời bao kẻ lương thiện bỗng hóa thành những gã lưu manh, quẫn bách Nhàvăn với một sự cảm thông lớn đã chăm chú quan sát cuộc sống hàng ngày của nhândân Trong những hoàn cảnh như vậy, với một sức mạnh nghệ thuật đặc biệt, NamCao đã làm sống dậy những cuộc đời và số phận đặc biệt ấy, chính bởi những điều
đó đã chi phối trong toàn bộ sáng tác của nhà văn hiện thực, từ cốt truyện, kết cấu,xung đột đến không gian và thời gian nghệ thuật, đề tài, ngôn ngữ giọng điệu Tácgiả còn sử dụng ngòi bút của mình như một vũ khí đắc lực trên văn đàn văn họccông khai, một vũ khí nhanh gọn và lợi hại, đáp ứng những yêu cầu nóng hổi của
xã hội, để tố cáo những thủ đoạn áp bức, bóc lột, những chính sách mị dân lừa dối,bịp bợm của bọn quan lại phong kiến, cường hào, địa chủ của thôn quê
Tác phẩm “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng nói chung và đoạn trích “Hạnh phúccủa một tang gia” nói riêng thì đi sâu vào phê phán đả kích cái xã hội mà theo cáchgọi của tác giả là “chó đểu” nhằm lột tả bản chất xấu xa và đồi bại của xã hội lúc
đó Quan niệm văn chương của Vũ Trọng Phụng trước hết là quan niệm của mộtngười lao động hành nghề văn chương, sản xuất ra văn chương Với ông, sản phẩmvăn chương được làm ra là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bản thân và thựchành chức năng xã hội đặc biệt của nó Thực chất của hoạt động sáng tạo, cũngnhư bản chất và ý nghĩa của các hiện tượng văn chương, theo Vũ Trọng Phụngchung quy là ở chỗ tìm kiếm, lý giải sự thật và nghĩa lý cuộc đời Đối với VũTrọng Phụng, khi viết văn, dù là tác phẩm lớn hay nhỏ, dù theo thể loại nào thì ôngvẫn luôn giữ vững quan điểm nghệ thuật đó “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểuthuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ởđời” [22,3] Từ quan điểm đó, nhất quán trong các tác phẩm của ông, hiện thựcđương thời được hiện lên bằng sự tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xahoa, dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của dânnghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa,đừng có những chuyện ô uế, dâm đãng , một hiện thực vừa có chiều rộng, vừa có
Trang 38chiều sâu, vừa có chất liệu sự kiện ngồn ngộn, vừa thể hiện một cách nhìn nhấtquán và đầy bản lĩnh Điểm nhìn đầy sắc sảo cùng thái độ quyết liệt đã khiến chocác tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đúng như Tố Hữu đãnhận xét: “Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực tại xấu xa, thối nát của xã hội lúcấy” Ông đã đi vào từng ngóc ngách của cái xã hội nhố nhăng, đồi bại đương thờivới lối âu hóa, tư sản hóa một cách kệch cỡm, bệnh hoạn bên cạnh cuộc sống của
vô số những người nghèo khổ Với ông, văn học không thể tách rời cuộc sống, tuy
“không yêu cầu văn học phải sao chép y nguyên cuộc sống, như thư kí trung thànhcủa thời đại Nhưng nhà văn phải miêu tả cuộc sống với những bản chất cơ bản của
nó Không bao giờ văn học được quyền xa rời sự thật ở đời” [22,3] Bằng ngòi búttrào phúng sắc sảo bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã lên án gay gắt cái xã hội tư sảnthành thị đang đua đòi theo lối sống văn minh rởm, hết sức lố lăng, đồi bại đươngthời Ông đả kích cay độc, đích đáng phong trào “âu hóa”, “thể thao”, “giải phóng
nữ quyền” đang rầm rộ lúc bấy giờ Những phong trào này nhân danh văn minh,tiến bộ, nhưng thực chất là giả dối, bịp bợm và nằm trong âm mưu của bọn thựcdân, dẫn mọi người đến lối sống hư hỏng, phi nhân bản và chà đạp lên đạo đứctruyền thống
b Giá trị nhân đạo
Bên cạnh giá trị hiện thực, văn học hiện thực phê phán cũng thể hiện tinh thầnnhân đạo Giá trị hiện thực là cơ sở cho giá trị nhân đạo của tác phẩm Từ đó, giátrị nhân đạo góp phần thể hiện ý nghĩa phản ánh hiện thực của tác phẩm
Tinh thần này càng bổ sung làm rõ hơn cho giá trị hiện thực trong các tácphẩm, nhất là trong truyện của Nam Cao Truyện hiện thực đặc biệt là của NamCao luôn mang đậm giá trị nhân đạo, như trong tác phẩm “Chí Phèo”, tác giả táihiện với sự thương cảm sâu sắc Chí là một người cô độc, một kẻ mà mọi người coikhinh, không cho Chí làm người, ngay cả tiếng chửi của Chí thốt lên cũng không
Trang 39có ai thèm đáp lại Chí Phèo và Thị Nở cả hai nhân vật này đều rất cô đơn sốngtrong xã hội bị mọi người hắt hủi Bên cạnh sự thương cảm, Nam Cao còn có niềmtin mãnh liệt vào bản chất lương thiện và tình yêu thương của con người Chí Phèo
và Thị Nở đã gặp gỡ và có tình yêu nhờ có bát cháo hành, nhờ có đó mà họ nối kếtvới nhau và là động lực khao khát tình yêu và hạnh phúc, từ trong sâu thẳm tiềmthức của Chí Thị như cái cầu đưa Chí Phèo trở về từ cuộc sống thê thảm, tăm tốiđến cuộc đời lương thiện Nam Cao tạo ra sự gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở rất
thơ mộng và có duyên “Trăng đêm nay sáng hơn mọi đêm…khiến Thị Nở không sao ngủ nổi, cứ lăn ra lăn vào trằn trọc” còn Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở thì vơ vẩn
nghĩ mãi, từ đó Chí bắt đầu có ý thức, ý thức trở về chính mình Tình yêu thương nhưphép màu làm cho hai con người này xích lại gần nhau, tìm đến nhau, làm cho hộ đổikhác, biết rung động, biết lườm nguýt theo cái riêng của mình, trong con mắt của Chíxấu như e lệ thì rất có duyên “nghe hai tiếng vợ chồng thấy ngường ngượng nhưnglại thích thích” Nam Cao đã nhình thấy khát vọng âm thầm của người đàn bà tộinghiệp bị cả xã hội xa lánh như một con vật rất tởm Khát vọng có hạnh phúc giađình, tình yêu lứa đôi Phải có một tâm hồn nhân đạo cao cả thì nhà văn mới nhìn thấyđược những điểm như vậy, con người dù xấu đến như thế nào đi chăng nữa thì họ vẫnkhao khát có được một mái ấm gia đình hạnh phúc Nam Cao là nhà văn đã nhìn rađược những con người dưới đáy xã hội mà các nhà văn lãng mạn không nhìn ra được
Dù viết về đề tài nào, Nam Cao đều dựng lên bức tranh chân thực về xã hội ViệtNam trước cách mạng, đồng cảm, thương xót với những đau khổ, bất hạnh của conngười Đồng thời khẳng định phẩm chất của con người dù bị hoàn cảnh chà đạp,vùi dập Đó chính là chủ nghĩa nhân đạo cao cả bao trùm sáng tác của ông Như
Nguyễn Văn Hạnh khẳng định trong bài Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng (in trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm): “Chủ nghĩa nhân đạo của Nam cao không chỉ thể hiện ở lòng cảm thông, xót thương cho những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội mà còn ở những trăn trở, dằn vặt
Trang 40không nguôi trước cuộc sống vô nghĩa, bế tắc, một chủ nghĩa nhân đạo bao giờ cũng đặt con người ở trung tâm cuộc sống, buồn cho con người mà vẫn tin ở con người, tin ở bản tính lành mạnh tốt đẹp của con người, nó đòi hỏi con người không được thụ động, buông xuôi, mà phải tích cực, chủ động, có ý thức trách nhiệm về cuộc sống của mình”[23, Tr.130] Chính vì vậy mà Nam Cao đại diện cho chủ
nghĩa hiện thực giai đoạn 1930-1945
2.1.2 Cấu trúc cốt truyện theo diễn trình vận động
2.1.2.1 Khái quát chung về cốt truyện trong tác phẩm văn học
Trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch nói chung, trong truyện ngắn nói riêng;cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tácphẩm Cơ sở sâu xa của cốt truyện là một xung đột đang vận động Vì vậy, quátrình phát triển của một cốt truyện cũng giống như quá trình vận động của xungđột, bao gồm các bước hình thành, phát triển và kết thúc Nó thể hiện mối quan hệqua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ
đề tư tưởng của tác phẩm
Cốt truyện là một cái gì độc đáo, không lặp lại, gắn bó trực tiếp với những yếu
tố khác làm cho tác phẩm văn học trở thành một chỉnh thể nghệ thuật Đồng thời,cốt truyện là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ Những xung đột xã hội phảiđược đồng hóa một cách có nghệ thuật nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên, thứyếu để xây dựng cốt truyện theo hướng điển hình hóa Vì vậy, cùng xuất phát từmột xung đột xã hội giống nhau, những nhà văn khác nhau lại xây dựng những cốttruyện khác nhau nhằm thể hiện quan điểm, thái độ, ý đồ tư tưởng, phong cáchnghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống Thông qua cốt truyện,nhà văn vừa khái quát những xung đột xã hội, vừa thể hiện tâm hồn, tình cảm và sựđánh giá chủ quan của họ đối với cuộc sống Vì vậy, không thể bê nguyên xi nhữngchuyện có thật ngoài cuộc đời vào tác phẩm