Luận văn Thạc sĩ Văn học: Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Khái Hưng, Nhất Linh) bao gồm những nội dung về khái luận về bản sắc dân tộc và bản sắc dân tộc trong Văn học; sự biểu hiện của bản sắc dân tộc từ chủ thể sáng tạo; sự biểu hiện của bản sắc dân tộc trong một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của các tác giả này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Phan Thị Ngọc Giàu
BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945
(Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,
Nam Cao, Khái Hưng, Nhất Linh)
Chuyên ngành: Lý Luận Văn Học
Mã số: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÂM VINH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN VÀ CAM ĐOAN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan và chịu hoàn toàn trách nhiệm về những ý tưởng và tư liệu trong luận văn này là do tôi nghiên cứu, sưu tầm để xây dựng
Người cảm ơn và cam đoan
Phan Thị Ngọc Giàu
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ở nước ta, trước nhu cầu giao lưu quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trở thành một trong những vấn đề
được sự quan tâm hàng đầu của Đảng Mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” mà Đảng ta đưa ra đã chứng minh một cách sâu sắc
sự quan tâm đó Hưởng ứng cho lời kêu gọi này của Đảng, ngày càng có thêm nhiều những công trình, những cuộc Hội thảo mang chủ đề văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc đã được tổ chức, mang lại những thành công đáng kể với sự tham gia, ủng hộ của các nhà văn hoá, nhà khoa học, nhà văn cũng như nhà nghiên cứu trên khắp mọi miền đất nước Vốn là một bộ phận rất quan trọng của văn hoá, trong văn học, bản sắc dân tộc cũng cần được sự quan tâm đúng mức hơn
Trước nay, trong nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu thường đi sâu tìm hiểu những yếu tố thuộc về tiểu sử, con người tác giả hay những vấn đề nội dung, hình thức của tác phẩm để thấy được ý nghĩa tư tưởng tác giả gửi gắm trong đó, đồng thời khẳng định tài năng sáng tạo của nghệ sĩ trong việc phản ánh, thể hiện con người và cuộc sống Nói chung, chưa thật đi sâu để nhằm khẳng định bản sắc dân tộc Trong mỗi con người nghệ sĩ, mỗi tác phẩm văn học hay mỗi nền văn học đều chứa đựng những giá trị của bản sắc dân tộc tuy có sự đậm nhạt khác nhau, sâu sắc hay không sâu sắc Chính nhờ có sự biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn học đã giúp người đọc có thể phân biệt được nền văn học của dân tộc này với nền văn học của dân tộc khác Do vậy, nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn học là một trong những vấn đề cần được quan tâm hơn
Trải qua lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc cùng với âm mưu đồng hoá của kẻ thù, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn không bị mất đi mà luôn đứng vững chính nhờ vào ý thức giữ gìn chủ quyền dân tộc và bản sắc dân tộc của mình Ý thức giữ gìn bản sắc của dân tộc qua bao thời đại đã được in dấu ấn rất rõ trong những giá trị văn hoá vật chất cũng như tinh thần của dân tộc, đặc biệt là trong nền văn học dân tộc Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học công khai luôn bị sự kiểm duyệt gay gắt của kẻ thù xâm lược, khó có thể giữ được bản sắc dân tộc nhưng không phải vì thế mà nó không chứa đựng trong mình bản sắc độc đáo của dân tộc, trong đó có những tác phẩm văn học thời kỳ 1930-1945 Cùng
Trang 4với giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, đây là giai đoạn “thăng hoa” của văn học bởi nó đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể với những gương mặt: Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam… Với một giai đoạn có nhiều thành tựu như vậy, bên cạnh các vấn đề khác, vấn đề bản sắc dân tộc cũng cần
được đặt ra nghiên cứu một cách toàn diện hơn Vì vậy, “Bản sắc dân tộc trong văn xuôi
Việt Nam giai đoạn 1930-1945” là đề tài được chúng tôi lựa chọn với mong muốn góp một
phần dù rất nhỏ trong việc tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn học nói riêng, văn hoá nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề bản sắc dân tộc (tính dân tộc) trong văn hoá nói chung, văn học Việt Nam nói riêng từ trước đến nay đã được nhiều công trình, nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với những nội dung, những ý kiến bàn luận giống và khác nhau Có thể chia quá trình nghiên cứu đó thành hai giai đoạn chính sau:
2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, nước ta còn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới quyền thống trị của thực dân Pháp Dân tộc mất tự do, nền văn hoá không được tự do phát triển nên vấn đề dân tộc trong văn hoá nói chung, văn học nói riêng chưa có đủ điều kiện để các nhà nghiên cứu đi sâu khai thác Đề cập đến bản sắc dân tộc, các tác giả trong giai đoạn này chủ yếu chỉ nêu lên quan niệm của mình hoặc chỉ nêu lên tinh thần chung nhằm hướng những nhà văn hoá yêu nước tiến bộ dùng ngòi bút của mình đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho nền văn hoá dân tộc, chống lại những quan điểm phản động, duy tâm, lạc hậu và các thứ văn hoá lai căng, nô dịch, bảo thủ
Đề cập đến tính dân tộc trong giai đoạn này, Lan Khai trên Tao Đàn tạp chí số 4 năm
1939 có trình bày quan niệm của mình thông qua bài viết “Tính cách Việt Nam trong văn
chương” (được in lại trong “Tinh tuyển văn học Việt Nam” do Nguyễn Đăng Mạnh chủ
biên) Nói đến tính dân tộc, Lan Khai cho đó “là sự gom góp tất cả các nết hay mà dân tộc
ấy sẵn có”[43, tr.893] như tính thật thà chất phác, vui vẻ, dễ làm quen, hiếu khách, sự can
đảm, tinh thần yêu nước, lòng trung thành, tận tâm, coi khinh sự chết,… của người Việt
Trang 5Nam Với những tinh thần “đặc biệt” đó của dân tộc, ông kêu gọi các văn nghệ sĩ “phải cố
làm cho rõ rệt và mạnh mẽ thêm ở trong những công trình sáng tác văn chương”[43, tr.893]
Dù ý thức được tinh thần dân tộc, việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong văn chương nhưng quan niệm của Lan Khai về vấn đề này có phần nào còn giản đơn Khác với
Lan Khai, Xuân Diệu trong hai bài viết “Tính cách An Nam trong văn chương” và “Mở
rộng văn chương” đăng trên Ngày Nay số 145, ngày 28/1/1939 và số148, ngày 4/2/1939 đã
mạnh dạn đưa ra quan niệm của mình về tính dân tộc trong văn chương một cách cởi mở và năng động
Bàn về tính dân tộc, trước tiên Xuân Diệu khẳng định, “văn chương An Nam phải có
tính cách An Nam” là một điều chí lí và dĩ nhiên, nhưng “tính cách An Nam” là một thuyết
dễ nhầm bởi “chỉ một chút cố chấp, một chút hủ lậu cũng đủ biến cái thuyết đẹp đẽ kia thành
ra một thuyết chật hẹp, nông nổi”[13, tr.9] Và ông quan niệm rằng văn chương cũng như
con người Việt Nam cần phải đổi mới, phải Âu hoá, nhưng không phải vì thế mà mất đi tính
cách dân tộc bởi “những cái ngô nghê phải chết, cái lố lăng phải mất, sự nô lệ trong văn
chương không thể nào tạo nên được những tác phẩm lâu bền”[13, tr.9] Theo ông, “trong văn chương cũng có một luật đào thải tự nhiên; những cái phản với tinh thần quốc văn tất phải tiêu diệt”[13, tr.9] Ông kêu gọi các nhà thơ hãy gieo trồng những thể cách mới, cảm
xúc mới trên cánh đồng văn chương của ta để có những hoa trái mới, đừng nên lo lắng rằng
văn chương Việt Nam ta mắc cái bệnh “làm Tây” vì “những cỏ dại không hợp thuỷ thổ sẽ
chết ngay từ khi gieo giống”[13, tr.9]
Cũng giống như Lan Khai, Xuân Diệu cho rằng cần phải giữ gìn bản sắc dân tộc trong
văn chương Nhưng theo ông, giữ gìn không phải là khép kín, là “đóng hết của biển, tuyệt
hết giao thông, bế tắc cả nước”, là “đành tâm mến yêu một cảnh nghèo đói”[13, tr.9] Văn
chương Việt Nam được viết bằng tiếng Việt Nam, với những hình thức, mẹo luật riêng, cú pháp riêng và theo cái tinh thần riêng mà ta cảm nghe rất rõ tức là ta đã giữ gìn bản sắc của văn chương ta rồi, còn tiếng Việt khi cần cũng phải làm mới, làm giàu cho nó để có thể diễn
tả được những cái tinh tế, phức tạp của tình cảm, cảm xúc của con người thời nay Những lối nói mới của Phương tây đôi khi cũng cần phải đưa vào cho tiếng ta uyển chuyển hơn Nhấn
mạnh điều này, ông viết: “Tôi xin bạn viết văn chú ý rằng khi dùng đúng tiếng Việt Nam
theo mẹo luật, theo cú pháp, theo tinh thần Việt Nam thì văn ta là văn Việt Nam; còn chữ ta tha hồ dùng theo những cách mới lạ miễn là đúng nghĩa; còn ý tưởng ta có toàn quyền nói
Trang 6đến gốc, đến ngọn Ta được rộng phép mở mang trí não ta, tình cảm ta, làm cho con người của ta giàu thêm…”[14, tr.6] Đã hơn nữa thế kỷ qua kể từ khi Xuân Diệu phát biểu trên báo Ngày Nay, những ý kiến của ông vẫn như còn mới như ta vẫn nói hôm nay: dân tộc và hiện
đại, truyền thống và hiện đại, kế thừa và cách tân, tiếp thu và sáng tạo,…
Từ khi ra đời, Đảng ta luôn khẳng định và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, đề cao tính dân tộc trong văn học, nghệ thuật, đấu tranh chống văn hoá nô dịch và lạc hậu do bọn thực dân Pháp nuôi dưỡng, xem đó là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Năm 1943, trước sự đàn áp phong trào cách mạng của bọn phát xít Nhật – Pháp, chúng dùng mọi thủ đoạn, mọi biện pháp nhằm đàn áp tư tưởng và văn hoá tiến bộ, ra sức tuyên truyền tư tưởng phản động, tư tưởng phong kiến, lạc hậu và nô dịch làm cho văn hoá nước ta bấy giờ bị chia rẽ, lộn xộn, văn học tiến bộ và cách mạng không phát triển được, nếu
có thì chỉ phát triển trong nhà tù hoặc bí mật trong nhân dân; và trước yêu cầu đổi mới của
cách mạng, Đảng ta đã cho ra đời bản Đề cương về văn hoá Việt Nam Bản đề cương được
soạn thảo một cách rất vắn tắt, khái quát và tuy không tránh khỏi những hạn chế lịch sử,
nhưng “đó chính là cương lĩnh hành động đầu tiên về văn hoá, văn nghệ của Đảng, một
đường lối văn hoá, văn nghệ hoàn chỉnh được đúc kết kinh nghiệm hơn mười năm lãnh đạo mật trận văn hoá, văn nghệ với ba nguyên tắc lớn: dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá Đó cũng là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn đời sống văn hóa, văn nghệ Việt Nam”[27, tr.316] Nói về nội dung dân tộc hoá, bản đề cương đã nêu rõ
“Chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hoá Việt Nam phát triển độc lập”[9, tr.366] Nói về tính chất của nền văn hoá mới Việt Nam, bản đề cương cho rằng
“Văn hoá mới Việt Nam là một thứ văn hoá có tính dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung”[9, tr.367]
Để phát triển và làm rõ những nguyên tắc lớn mà bản Đề cương đã nêu lên, tháng 4/
1944, đồng chí Trường Chinh viết bài “Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá
Việt Nam lúc này” Qua việc phân tích mối quan hệ giữa ba nguyên tắc dân tộc, khoa học,
đại chúng, ông đã khẳng định “Văn hoá mới Việt Nam phải có ba tính chất dân tộc, khoa
học và đại chúng Riêng văn nghệ mới Việt Nam thì phải có đủ tính dân tộc, tính hiện thực
và tính nhân dân”[7, tr.28]
Như vậy, với các bài viết và hai văn kiện được nêu trên, vấn đề tính dân tộc đã được Đảng ta cũng như các nhà nghiên cứu rất quan tâm, trở thành cơ sở lý luận vững chắc, khoa
Trang 7học soi đường dẫn lối cho các nhà văn hoá yêu nước tiến bộ, bằng ngòi bút của mình đấu tranh cho độc lập dân tộc và cho văn hoá dân tộc, chống lại những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc, tìm cách bôi nhọ, mạt sát nền văn hoá dân tộc
2.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta giành được độc lập, văn học nghệ thuật dưới
sự lãnh đạo của Đảng đã có điều kiện để phát triển tự do hơn Dưới ánh sáng của bản “Đề
cương về văn hoá Việt Nam” và “Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá Việt Nam mới lúc này”, mục tiêu của công tác nghiên cứu lý luận trong những năm sau Cách
mạng tháng Tám là phát triển ba nguyên tắc lớn mà Đề cương đã nêu lên, đặc biệt là nguyên tắc dân tộc Tuy nhiên, chỉ đến những năm 60, vấn đề tính dân tộc mới trở thành mục tiêu quan trọng được nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đưa ra bàn bạc, thảo luận một cách khá liền mạch và liên tục
Thật vậy, ngay từ năm 1960 để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công tác văn chương, nghệ thuật trong thời kỳ mới và quán triệt nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng
về văn nghệ, Vụ văn nghệ thuộc Ban tuyên giáo trung ương Đảng đã mở ra một cuộc thảo luận xoay quanh nhiều vấn đề lý luận cơ bản của văn học, nghệ thuật, trong đó có vấn đề tính dân tộc Hội thảo diễn ra thu hút sự tham gia phát biểu của nhiều nhà nghiên cứu và nghệ sĩ
như Hoàng Châu Ký: “Về tính chất dân tộc”, Tạ Mỹ Duật: “Khai thác di sản dân tộc trong
kiến trúc”, Hoàng Xuân Nhị: “Về tính chất dân tộc của văn học và nghệ thuật”, Như Phong:
“Thử tìm hiểu tính cách dân tộc của con người Việt Nam”, Huy Cận “Tính chất dân tộc của văn nghệ”,…
Bên cạnh những bài phát biểu nêu trên, bàn về tính dân tộc trong thời kỳ này còn thấy
xuất hiện trên các báo bài viết của các tác giả khác như Xuân Trường (“Vài ý nghĩ về nội
dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc của nền văn nghệ mới”,Văn học, số 731, ngày 27/ 01/
1961), Như Thiết (Về tính chất dân tộc”,Văn hoá, số 4 năm 1962) cùng những bài khác của
các tác giả Hồng Chương, Lê Xuân Vũ, Hoàng Xuân Nhị, Mai Thúc Luân,… Tuy nhiên,
đáng chú ý nhất là công trình “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của tác giả Nguyễn Hồng Phong Đây được đánh giá là “công trình nghiên cứu đầu tiên về tính dân tộc, kể từ sau hoà bình lập
lại”[25, tr.32] Để mở đầu cho công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Hồng Phong đặt ra và
giải quyết vấn đề “Cần nghiên cứu tính cách dân tộc như thế nào?” để rồi trên cơ sở lý luận
Trang 8chung đó, tác giả đi vào tìm hiểu tính cách dân tộc cổ truyền Việt Nam thông qua đời sống
và văn chương nghệ thuật
Đầu năm 1968, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ IV được tổ chức Mối quan hệ giữa văn nghệ và dân tộc, vấn đề giữ gìn và phát huy tính dân tộc trong văn học nghệ thuật vốn đã được đặt ra trước đó một lần nữa đã được đưa ra bàn bạc, mở rộng hơn, nhấn mạnh hơn trong Đại hội
Quán triệt tinh thần đó, từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, Bộ Văn hoá đã
mở ra cuộc trao đổi, bàn bạc về tính dân tộc trong âm nhạc Đến tháng 11 năm 1969, một lần nữa Bộ Văn hoá lại phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam mở ra một Hội nghị lý luận bàn về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam Cụ thể như vấn đề nội dung và hình thức dân tộc, làm thế nào để tạo nên tác phẩm mang tính dân tộc đậm đà? Vấn đề kế thừa và phát huy truyền thống âm nhạc dân tộc, vấn đề tiếp thu và vận dụng âm nhạc tiến bộ của thế giới, công tác nghiên cứu và xây dựng lý luận âm nhạc Việt Nam, công tác đào tạo cán bộ âm nhạc cũng như công tác giáo dục thẫm mỹ âm nhạc cho quần chúng Ông Trường Chinh, Tổng bí thư trung ương Đảng, nhà lý luận đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị này Ngoài ra, còn có đông đảo các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn, các chuyên viên về huấn luyện, sản xuất nhạc cụ ở trung ương và một số địa phương đã gửi tham luận và tham gia phát biểu
ý kiến, tranh luận như: Hà Huy Giáp với “Nắm vững vốn dân tộc, học tập tinh hoa thế giới
để xây dựng một nền âm nhạc hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, Nguyễn Xuân Khoát
với “Cảm xúc tâm hồn chân thành sâu sắc là điều kiện trước tiên của một tác phẩm có tính
dân tộc đậm đà”, Hà Xuân Trường với “Bàn thêm về tính dân tộc trong nghệ thuật nhân cuộc thảo luận về tính dân tộc trong âm nhạc”, Cù Huy Cận “Về tính dân tộc trong âm nhạc”, Nguyễn Phúc “Tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam”, Tô Vũ “Một số điểm về tính dân tộc trong âm nhạc”, Nguyễn Đình Tấn “Mấy ý nghĩ về tính dân tộc và tính hiện đại”,…
Tiếp theo Hội nghị lý luận bàn về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam, tháng 10 năm
1970, Bộ Văn hoá và Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã mở ra một Hội nghị khoa học với sự tham gia của nhiều Đại biểu: Tố Hữu, Hoàng Tùng, Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường, Nông
Quốc Chấn, Lưu Trọng Lư, Đình Quang,… xoay quanh chủ đề “Tính hiện thực và truyền
thống của nghệ thuật sân khấu dân tộc”
Cùng với các Hội nghị bàn về tính dân tộc nêu trên, giới nghệ thuật tạo hình trong những năm này cũng thấy cần phải tổ chức những cuộc hội thảo trao đổi về vấn đề tính dân
Trang 9tộc trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam Hội thảo đã được diễn ra và đạt được thành công đáng kể với sự tham gia phát biểu của đông đảo các Hoạ sĩ, nhà Điêu khắc, Kiến trúc sư, cán
bộ lý luận, và các nhà nghiên cứu phê bình trong cả nước như: Trần Đình Thọ: “Để có
những tác phẩm tạo hình đậm đà tính dân tộc”, Trần Văn Cẩn: “Tính chất dân tộc trong nghệ thuật tạo hình”, Trần Hữu Tiềm: “Tìm hiểu về tính dân tộc trong Kiến trúc”, Phạm Gia
Giang “Về tính dân tộc trong nghệ thuật tạo hình”, Nguyễn Văn Y: “Tính dân tộc trong
nghệ thuật thực dụng”,… Nhìn chung, các bài phát biểu trong Hội thảo đều tập trung xoay
quanh những vấn đề: Quan niệm về tính dân tộc trong nghệ thuật nói chung, trong nghệ thuật tạo hình nói riêng, thế nào là một tác phẩm mang tính dân tộc đậm đà? Để có một tác phẩm mang tính dân tộc cần phải có những yêu cầu nào? Nội dung và hình thức của một tác phẩm mang tính dân tộc? Mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính hiện đại cũng như việc kế thừa và phát huy tính dân tộc, tiếp thu tinh hoa thế giới như thế nào?…
Tuy chủ đề mà các Hội nghị đưa ra là những vấn đề về tính dân tộc trong âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhưng thông qua những bài tham luận, những vấn đề lý luận về tính dân tộc trong nghệ thuật nói chung cũng đã được đưa ra ở đây như: Quan niệm
về tính dân tộc trong nghệ thuật, nội dung và hình thức dân tộc, mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức dân tộc trong nghệ thuật, tiêu chí để một tác phẩm nghệ thuật đậm đà tính dân tộc,… sẽ là những ý kiến rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài Mặc dù chưa có cuộc hội thảo nào chuyên bàn về tính dân tộc trong Văn học, nhưng với
tư cách là một nghệ thuật đặc thù, trên các sách báo, tạp chí bấy giờ đã xuất hiện nhiều những bài viết, bài nghiên cứu hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp về những vấn đề liên quan đến
tính dân tộc trong văn học, trong đó nổi bật nhất là “Về tiêu chuẩn tính dân tộc trong tác
phẩm văn nghệ” của Như Thiết, tạp chí Văn học, số 4 năm 1970 (được in lại trong sách
“Quán triệt tính Đảng trong Mỹ học và Nghệ thuật”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1973)
và “Vấn đề tính chất dân tộc trong văn học” của Thành Duy được in trong “Mấy vấn đề lý
luận văn học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1976
Với bài viết “Về tiêu chuẩn tính dân tộc trong tác phẩm văn nghệ”, thông qua việc nêu
lên khái quát những quan niệm khác nhau về sự biểu hiện của tính chất dân tộc trong tác phẩm văn nghệ, tác giả bài viết đã khẳng định tính chất dân tộc của tác phẩm văn học được bộc lộ qua toàn bộ các yếu tố của tác phẩm, trong đó nổi bật nhất là hình tượng nghệ thuật
Trang 10Nếu Như Thiết đề cập đến tính dân tộc của văn học thông qua tính dân tộc của văn nghệ
nói chung thì đến Thành Duy, với bài viết “Vấn đề tính chất dân tộc trong văn học”, tác giả
đã đề cập một cách trực tiếp đến tính dân tộc trong văn học
Sau khi khái quát về đường lối dân tộc của Đảng ta từ những năm trước Cách mạng tháng Tám đến khi hoà bình lập lại và lịch sử nghiên cứu về tính dân tộc, tác giả đã rút ra năm vấn đề cơ bản về tính dân tộc cần được nghiên cứu Thứ nhất, về định nghĩa tính chất dân tộc; Thứ hai, mối quan hệ giữa tính chất dân tộc và tính giai cấp; Thứ ba, mối quan hệ giữa tính chất dân tộc và tính quốc tế; Thứ tư, quan hệ giữa tính chất dân tộc và tính hiện đại
và cuối cùng là quan hệ giữa tính chất dân tộc và vấn đề truyền thống Tuy nhiên, ở bài viết này, ý định của tác giả là nhằm đi vào làm rõ mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong văn học Bằng những lập luận về mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính chất dân tộc trong nền văn học quá khứ, về mối quan hệ giữa nền văn hoá quá khứ với nền văn hoá vô
sản, tác giả đã đi đến kết luận “tính chất dân tộc và tính giai cấp không chỉ có quan hệ khắng
khít với nhau, mà đối với chúng ta, nội dung tính chất dân tộc là do hệ tư tưởng của giai cấp
vô sản quyết định”[25, tr.467-468]
Bên cạnh hai bài nghiên cứu trên, nói đến tính dân tộc trong văn học chúng ta không thể
không nhắc đến nội dung chương “Vấn đề tính chất dân tộc trong lý luận văn học từ Cách
mạng tháng Tám đến năm 1954” của tác giả Vũ Đức Phúc được in trong “Mấy vấn đề lý luận văn học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976 và nội dung chương II “Tính dân tộc của văn học” trong quyển sách “Văn học, cuộc sống, nhà văn” của Viện văn học, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội 1978 do Hoàng Trinh chủ biên bởi vì “lần đầu tiên một số sách lý
luận văn chương đã dành cho tính dân tộc một chương hoàn chỉnh”[52, tr.11] Tuy với dung
lượng không dài, nhưng đây là hai nội dung có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu vấn
đề tính dân tộc trong văn hoá nói chung, trong văn học nói riêng Nếu ở bài viết “Vấn đề tính
dân tộc trong lý luận văn chương từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1954”, tác giả Vũ Đức
Phúc đi vào tìm hiểu những yêu cầu lịch sử về tính dân tộc và cuộc đấu tranh bước đầu chống những khuynh hướng phản dân tộc giai đoạn 1945 – 1946 và vấn đề tính dân tộc trong
thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp 1946 – 1954 thì nội dung chương II “Tính dân tộc
trong văn học” của quyển sách “Văn học, cuộc sống nhà văn” những vấn đề cơ bản của
tính dân tộc được đặt ra và giải quyết một cách khái quát: Tính dân tộc là một phạm trù thẩm
mỹ, tính chất dân tộc của văn học, tính chất dân tộc của nội dung văn học, tính chất dân tộc
Trang 11của hình thức văn học và tính chất dân tộc của văn học luôn luôn phát triển Đến đầu những
năm 80, đặc biệt là năm 1982, công trình nghiên cứu “Về tính chất dân tộc trong văn học”
của Thành Duy được xuất bản Đây là quyển sách được viết nên trên cơ sở phát triển bài viết
“Vấn đề tính chất dân tộc trong văn học” (1976) đã nêu ở trên một cách đầy đủ và hoàn
chỉnh Thật vậy, nếu ở bài viết “Vấn đề tính chất dân tộc trong văn học”, tác giả nêu ra năm
vấn đề cơ bản về tính dân tộc cần được nghiên cứu nhưng chỉ giải quyết được một vấn đề về mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong văn học thì với công trình nghiên cứu này, các vấn đề còn lại đã được tác giả đi vào làm rõ Quyển sách được tác giả chia làm hai phần lớn, phần I là những vấn đề lý luận chung về tính dân tộc và phần II, vận dụng một số vấn đề lý luận của tính dân tộc được nêu ở phần I, tác giả đi vào tìm hiểu giá trị tinh thần dân tộc Việt Nam và những đặc điểm truyền thống dân tộc trong văn học qua các thời kỳ lịch sử
từ văn học dân gian đến văn học hiện đại Tuy nhiên, ở công trình này tác giả Thành Duy chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về tính dân tộc: Quan niệm về tính dân tộc, quan điểm giai cấp trong việc xem xét tính dân tộc, tính dân tộc và tính quốc tế, bản chất giá trị tinh thần dân tộc, đặc điểm dân tộc trong văn học dân gian, thời kỳ phong kiến và tính dân tộc hiện đại trong văn học Việt Nam chứ chưa đi sâu phân tích những biểu hiện cụ thể, sinh động của tính dân tộc qua từng yếu tố của tác phẩm văn học trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Hạn chế này của Thành Duy sẽ được bổ sung bởi tác giả Phương Lựu với công
trình nghiên cứu “Tìm hiểu một nguyên lý văn chương”, được nhà xuất bản Khoa học xã
hội phát hành một năm sau đó (1983)
Với công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phương Lựu đi vào nghiên cứu vấn đề tính dân tộc trong lịch sử Mỹ học qua quan niệm của các tác gia kinh điển Các Mác, Ănghen, Lênin cùng đường lối văn nghệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam và tính dân tộc trong lý luận văn chương Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất và phân tích hai phương diện “thuộc tính” và
“phẩm chất” của tính dân tộc trong văn chương, mối tương quan hai chiều lịch sử và nhân loại của tính dân tộc trong văn chương Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh và phân tích sự biểu hiện của tính dân tộc trong tác phẩm văn chương Nói đến sự biểu hiện này, tác giả khẳng định
“…có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm văn chương là có bấy nhiêu chỗ để tính dân tộc thể hiện”[52, tr.146] Từ nhận định đó, tác giả đi vào con đường khám phá tính dân tộc qua từng
yếu tố của tác phẩm văn học: Đề tài, chủ đề, tư tưởng, tâm hồn, tính cách, ngôn ngữ, thể loại
Trang 12Tuy nhiên, sự phân tích ở đây chỉ trong phạm vi lý luận, chưa đi vào phân tích các giai đoạn văn học, đặc biệt giai đoạn văn học 1930 – 1945 chưa thật sự được chú ý
Từ năm 1986 đến những năm 90, trước nhu cầu đổi mới của đất nước, nhu cầu giao lưu văn hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vấn đề phát huy và giữ gìn bản sắc dân tộc ngày càng được sự chú ý nhiều hơn của Đảng cũng như các nhà nghiên cứu Hàng loạt các văn kiện,
nghị quyết chỉ đạo về văn hoá văn nghệ được đưa ra, đặc biệt với lời kêu gọi “phấn đấu xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong Nghị
quyết V của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, cho thấy vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã được Đảng, Nhà Nước ta đưa lên hàng đầu Bên cạnh đó, hàng loạt những bài viết cũng như công trình nghiên cứu bàn về tính dân tộc trong văn hoá nói chung,
văn học nói riêng liên tiếp xuất hiện: Mai Thúc Luân: “Thử bàn về tính chất dân tộc trong
văn nghệ”, in trong “Nghệ thuật dân tộc và quốc tế” (cùng tác giả), Nxb Văn hoá, 1987;
Phùng Quý Nhâm: “Bản sắc dân tộc của văn học như là một phạm trù thẩm mỹ và đặc điểm
quốc tế của văn học” in trong “ Thẩm định văn học” (cùng tác giả), Nxb Văn nghệ Thành
phố Hồ Chí Minh, 1991; Đình Quang: “Văn học nghệ thuật và bản sắc dân tộc” in trong
“Văn học nghệ thuật với xã hội và con người trong sự phát triển” (cùng tác giả), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Lê Đình Kỵ: “Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc”, in trong
“Phê bình nghiên cứu văn học” (cùng tác giả), Nxb Giáo dục; Hoàng Ngọc Hiến: “Về bản sắc dân tộc và cộng sinh văn hoá, về tính dân tộc và tính hiện đại” in trong “Văn học và học văn” (cùng tác giả), Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, Trần Đình Sử: “Về bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam” in trong “Lý luận và phê bình văn học”, Nxb Giáo dục, giải thưởng Hội
nhà văn Việt Nam 1997, “Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ ca Chủ tịch Hồ Chí Minh”
do Hoàng Như Mai chủ biên, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, “Bản sắc dân tộc trong thơ ca
Việt Nam hiện đại 1945 – 1975”, Nguyễn Duy Bắc, Nxb Văn hoá dân tộc, 1998,…
Nếu ở các bài viết, các công trình nghiên cứu đã nêu, đề cập đến bản sắc dân tộc, các tác giả chủ yếu đi vào những vấn đề lý luận chung, chưa hoặc rất ít đi sâu khai thác những biểu hiện cụ thể của bản sắc dân tộc trong văn học thì trái lại, hai công trình sau cùng đã đi vào những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn học, cụ thể là trong thơ ca Việt Nam hiện đại (qua tác gia Hồ Chí Minh và thơ ca cách mạng 1945 – 1975)
Với công trình “Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ ca Chủ Tịch Hồ Chí Minh”,
trước tiên tác giả tìm hiểu một cách khái quát tính dân tộc trong văn học nói riêng, trong văn
Trang 13hoá văn nghệ nói chung để làm cơ sở cho quá trình tìm hiểu tư tưởng tình cảm của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh bắt nguồn từ dòng văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm dân tộc của Người trong văn hoá văn nghệ Sau những nội dung đó, hàng loạt những vấn đề: Tư tưởng
nhân văn đậm đà bản sắc Việt Nam trong “Nhật ký trong tù”, tinh thần độc lập tự do và chủ
nghĩa xã hội và những truyền thống dân tộc trong thơ ca của Bác (chủ nghĩa nhân đạo; đại đoàn kết; sự giản dị và thanh cao; đức tính cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; tinh thần lạc quan và chủ nghĩa anh hùng cách mạng), sự vận dụng lối nói, tiếng nói của nhân dân trong thơ ca Hồ Chủ Tịch và bản sắc Việt Nam thể hiện trong những vần thơ chúc Tết của Người Sau khi tìm hiểu tất cả các vấn đề trên, tác giả đi đến kết luận, khẳng định những
điểm cơ bản của bản sắc dân tộc được biểu hiện trong thơ ca Hồ Chủ Tịch như sau: “ …Qua
thơ ca của Người ta càng hiểu biết hơn về dân tộc ta Đó là một dân tộc nồng nàn yêu nước, đại đoàn kết, trọng đạo đức, rất cần kiệm- giản dị- thanh cao, luôn luôn mỉm cười, rất đỗi anh hùng bất khuất, có nếp nghĩ thiết thực, giàu có văn hoá- nhiều thể loại văn học, thích nói thẳng- ít lời, rất thật thà, hóm hỉnh và rất đỗi thông minh,…”[55, tr.221]
Khác với Hoàng Như Mai, Nguyễn Duy Bắc trong công trình nghiên cứu “Bản sắc dân
tộc trong thơ ca cách mạng Việt nam hiện đại 1945 – 1975” đi vào khám phá, miêu tả và
phân tích các biểu trưng mang nội dung văn hoá xuất hiện phổ biến, được lặp đi lặp lại tạo thành diện mạo độc đáo của các hình tượng nghệ thuật cơ bản trong thơ ca cách mạng: Những biểu trưng về Tổ Quốc (Biểu trưng về Tổ Quốc trong cái nhìn sinh thái nhân văn, trong chiều sâu văn hoá lịch sử và trong hình ảnh của nhân dân); Những biểu trưng về người anh hùng ( biểu trưng về cội nguồn, lẽ sống và cái chết của người anh hùng) và những biểu trưng về kẻ thù ( biểu trưng kẻ thù như loài thú vật phi nhân, bức biếm hoạ nghịch cười về kẻ
thù và cài nhìn nhân ái của ta đối với kể thù) Tất cả nhằm giúp người đọc “thấy được cụ thể
thế giới tinh thần, với những giới hạn trong cảm nhận thế giới, không gian, thời gian và con người trong các hình tượng nghệ thuật cơ bản đó”[4, tr.21]
Bước sang thế kỷ XXI, bên cạnh những vận hội lớn được mở ra, những thách thức, nguy cơ gay gắt, những nỗi băn khoăn lo lắng nhiều khi đến thắt ruột cũng đang đến với đất nước ta, đặc biệt là nỗi lo về thực trạng văn hoá, về nền văn minh tinh thần của con người trong thời mở cửa Trước thực trạng đó, những bài viết, những công trình nghiên cứu, những Hội thảo khoa học bàn về văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc và giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc trong văn hoá- văn nghệ trong những năm đầu thế kỷ này xuất hiện ngày càng nhiều hơn:
Trang 14Hoàng Trinh với công trình “Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá trong văn hoá”, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Nguyễn Văn Thức với công trình “Mấy vấn đề bản sắc văn hoá
dân tộc”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Nguyễn Phúc với “Văn hoá phát triển và con người Việt Nam”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Trần Thái Học với “Văn học – văn hoá - bản sắc dân tộc trong xu thế “toàn cầu hoá”, tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 11
năm 2001; Nguyễn Duy Bắc “Toàn cầu hoá và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”, tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 11 năm 2001; Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) “ Xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2002; Huyền Viêm “Bản sắc dân tộc trong văn học”, tạp chí Văn, số 11 bộ mới tháng 5 -6 năm 2003; Hà Minh Đức “Bản sắc dân tộc trong tác phẩm Ngô Tất Tố”, tạp chí Văn học số 6 năm 2003; Nguyễn Duy Quý “Phấn đấu vì một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc”, tạp chí Văn học số 7 năm 2003; Hồ Bá Thâm “Bản sắc văn hoá dân tộc”, Nxb Văn hoá thông tin, 2003,… Nổi bật nhất trong những năm này là hai cuộc Hội
thảo liên tiếp được mở ra với chủ đề “Đi tìm đặc trưng văn hoá Việt Nam” do Trung tâm
nghiên cứu và Giao lưu văn hoá – Giáo dục quốc tế (ĐHSP Tp HCM) tổ chức trong hai
ngày 22 – 23 tháng 6 năm 2000 (các tham luận được in trong quyển “Văn hoá Việt Nam:
Đặc trưng và cách tiếp cận” do Lê Ngọc Trà tập hợp và giới thiệu, Nxb Giáo dục và “Bản sắc dân tộc trong văn hoá- văn nghệ” do Trung tâm nghiên cứu Quốc học phối hợp với
Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Tp HCM tổ chức ngày 03 tháng 01 năm 2001 tại
Tp HCM (các tham luận được in trong quyển sách cùng tên “Bản sắc dân tộc trong văn
hoá- văn nghệ” Hai cuộc hội thảo diễn ra đạt được thành công tốt đẹp với sự tham dự của
nhiều chuyên gia hàng đầu về văn hoá Việt Nam, nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhà văn, học giả có tên tuổi trong cả nước thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu cũng như của dư luận rộng rãi
Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu đã nêu, bàn đến tính dân tộc, không thể không kể đến những giáo trình Lý luận văn học được giảng dạy trong các trường
Cao đẳng Đại học từ sau khi hoà bình lặp lại:“Cở sở lý luận văn học” (tập1) do tổ bộ môn
Lý luận văn học các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Vinh và Đại học tổng hợp cùng thực
hiện, nhà xuất bản Giáo dục 1976, “Mấy vấn đề lý luận văn học” của trường Cao Đẳng sư phạm Hồ Chí Minh được xuất bản 1984, “Lý luận văn học” do Hà Minh Đức chủ biên, “Lý
luận văn học vấn đề và suy nghĩ” xuất bản năm 1999 do Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như
Trang 15Phương đồng tác giả,…Đặc biệt, quyển sách được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất ở các
trường Cao đẳng, Đại học hiện nay là “Lý luận văn học”, Nxb Giáo dục được tái bản nhiều
lần do Phương Lựu chủ biên Bàn đến tính dân tộc, các giáo trình chỉ nêu khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản chung về tính dân tộc nhằm gợi mở, làm cơ sở cho các sinh viên yêu thích đi sâu tìm hiểu vấn đề
Tóm lại, trong tất cả các bài viết, các giáo trình lý luận văn học và các công trình nghiên
cứu trước và sau Cách mạng tháng Tám đã nêu trên khi đề cập đến vấn đề tính dân tộc, ý kiến các tác giả đưa ra chủ yếu xoay quanh một số nội dung cơ bản sau:
- Xác định thế nào là tính dân tộc (bản sắc dân tộc) trong văn hoá và bản sắc dân tộc trong văn học
- Tính dân tộc như một phạm trù lịch sử thường xuyên vận động và biến đổi
- Mối quan hệ giữa tính dân tộc với tính đảng, tính giai cấp và tính nhân dân
- Mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính truyền thống, việc kế thừa, cách tân đổi mới truyền thống dân tộc
- Tính dân tộc và tính quốc tế, vấn đề tiếp thu và sáng tạo
- Tính dân tộc và tính hiện đại
- Tính dân tộc như là một thuộc tính hay một phẩm chất tất yếu cần đạt tới của văn học
- Nội dung và biểu hiện của tính dân tộc trong tác phẩm văn nghệ nói chung, tác phẩm văn học nói riêng,
Tuy nhiên, tất cả các vấn đề trên chỉ mang tính chất lý luận chung, các nhà nghiên cứu rất ít khai thác, phân tích làm rõ vấn đề trên cơ sở những giai đoạn văn học, những tác phẩm văn học cụ thể (nếu có đa số chỉ tập trung nghiên cứu ở mảng thơ ca cách mạng, thơ ca Hồ Chủ Tịch hoặc giai đoạn văn học từ sau 1945), việc tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam 1930 -1945 nói chung, trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn này nói riêng vẫn đang
còn bỏ ngỏ Chính vì vậy, đề tài “Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1930-1945” (Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn: Ngô Tất Tố, Nam Cao,
Nguyên Hồng, Nhất Linh và Khái Hưng) được đưa ra là cần thiết
Trang 163 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Khi đi vào nghiên cứu đề tài “Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1930-1945”, chúng tôi nhằm đạt được kết quả sau:
Thứ nhất: Tổng hợp và lược thuật lại những quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu về bản sắc dân tộc trong văn hoá và bản sắc dân tộc trong văn học nghệ thuật, về biểu hiện của bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn nghệ nói chung, trong văn học nói riêng, những yêu cầu, tiêu chuẩn để tác phẩm đậm đà tính dân tộc Từ đó, rút ra quan niệm cá nhân về vấn
Thứ ba: Tìm hiểu sự biểu hiện của bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học Trong đó, chúng tôi đặc biệt đi sâu nội dung phản ánh bằng hiện thực đời sống dân tộc, phê phán vì cộng đồng dân tộc; tính cách nhân vật – con người dân tộc và làm trong sáng và giàu có ngôn ngữ dân tộc
Với mong muốn đó nhưng do thời gian và khả năng bị hạn chế nên chúng tôi xin giới hạn phạm vi đề tài trong các tác giả: Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Khái Hưng, Nhất Linh và một số các tác phẩm tiêu biểu của họ giai đoạn 1930-1945
4 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết
Để đạt được mục đích đề ra, ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu nội dung của đề tài được chúng tôi trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
TRONG VĂN HỌC
1.1 Điểm qua những quan niệm về bản sắc dân tộc
1.2 Bước đầu xác định một quan niệm về bản sắc dân tộc
Trang 171.3 Phương pháp tiếp cận bản sắc dân tộc
Chương 2: SỰ BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC TỪ CHỦ THỂ SÁNG TẠO
(Các nhà văn: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Khái Hưng và
Nhất Linh) 2.1 Hoàn cảnh sống
2.2 Gắn bó với vận mệnh dân tộc, có tâm hồn dân tộc sâu sắc
Chương 3: SỰ BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG MỘT SỐ TÁC
PHẨM VĂN XUÔI TIÊU BIỂU 3.1 Tinh thần phê phán vì cộng đồng dân tộc và nội dung phản ánh bằng hiện thực đời sống dân tộc
3.2 Tính cách nhân vật - con người dân tộc
3.3 Làm giàu có và trong sáng ngôn ngữ dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Để mong đạt kết quả chúng tôi kết hợp đan xen một số phương pháp:
Phương pháp lý luận - lịch sử: Xuất phát từ những quan điểm lý luận kết hợp với những minh hoạ dữ kiện lịch sử
Phương pháp quy nạp: Miêu tả, phân tích và tổng hợp lại thành quy luật
Trang 18Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC
DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC
1.1 Điểm qua những quan niệm về bản sắc dân tộc
Bản sắc dân tộc không phải là vấn đề mới ở nước ta Tuy vậy, cho đến nay bản thân câu hỏi “Bản sắc dân tộc là gì?” vẫn chưa có câu trả lời thống nhất Nghĩa là có nhiều cách lý giải khác nhau, quan niệm không giống nhau xung quanh vấn đề này
Bàn về khái niệm bản sắc dân tộc, mỗi người viết, mỗi nhà nghiên cứu với quan điểm
và cách nhìn nhận của mình sẽ có một quan niệm riêng Do đó, thật khó mà liệt kê một cách đầy đủ những quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm này Tuy vậy, chúng tôi sẽ cố gắng tập hợp, chọn ra những quan niệm chung nhất, tiêu biểu nhất cho những cách hiểu khác nhau về bản sắc dân tộc của các nhà nghiên cứu Nhìn chung, qua khảo sát những quan niệm
về bản sắc dân tộc, có thể chia thành bốn quan điểm chung sau:
1.1.1 Bản sắc dân tộc là những phương tiện và hình thức đặc thù của dân tộc trong
quá trình sáng tạo nghệ thuật
Theo các nhà nghiên cứu thuộc quan điểm này, bản sắc dân tộc là một thuật ngữ xác định những điểm độc đáo có tính đặc thù của một dân tộc mà những dân tộc khác không có
“nói bản sắc dân tộc là nói cái cốt cách, cái gốc rễ chỉ dân tộc đó có” [91, tr.461] Với quan
niệm tuyệt đối hoá tính đặc thù dân tộc, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý nhấn mạnh đến những hình thức biểu hiện, các phương tiện miêu tả, diễn đạt và cho rằng bản sắc dân tộc chính là những nét độc đáo, đặc thù của các hình thức biểu hiện cũng như các phương tiện
miêu tả và diễn đạt của dân tộc Nhấn mạnh điều này nên trong các cuộc thảo luận, “có đồng
chí cho rằng tính chất dân tộc có nhiều trong chèo và tuồng,… có đồng chí lại nhấn mạnh rằng các tiết tấu trong âm nhạc như nhịp ngoại (syncope), nhịp chỏi (contre-temps) là mang tính chất của dân tộc Việt Nam” [83, tr.242], là “có trong dòng máu của người Việt Nam”
[102, tr.87] Bên cạnh đó, trong Hội thảo đi tìm bản sắc dân tộc của nền âm nhạc Việt Nam
do Bộ văn hoá thông tin và Hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức tháng 11-1969, nhiều người tham
dự cũng cho rằng: “chỉ có những phương tiện nhạc cụ dân tộc như sáo, bầu, nhị, nguyệt,…
những bài dân ca, nhạc cổ Việt Nam mới diễn tả được tâm hồn người Việt Nam, và cũng chỉ
có những hình thức nghệ thuật sân khấu, dân ca, nhạc cổ kể trên mới phản ánh trọn vẹn tâm
Trang 19lý và tính cách của những con người Việt Nam” [97, tr.68] Cùng với những phương tiện
diễn đạt và hình thức biểu hiện trên thì thể thơ lục bát, âm sắc của một cái phách tre, tiếng đàn bầu,… là những chất liệu và phương tiện diễn đạt mang đậm bản sắc của dân tộc bởi nó được dân ta ưa dùng, nó quen thuộc và phản ánh những khía cạnh đặc sắc nhất định của tâm hồn dân tộc Và đặc biệt hơn, nơi biểu hiện bản sắc dân tộc sâu sắc nhất đó là ngôn ngữ tiếng
Việt “tính dân tộc (bản sắc dân tộc) thể hiện trước tiên là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ vốn là đặc
trưng chủ yếu của một dân tộc” [46, tr.21],…
Chính vì quan niệm như vậy nên các tác giả theo quan điểm này cho rằng, chỉ với các loại hình âm nhạc như dân ca, chèo, nhạc tuồng, cải lương,… đã đủ cho chúng ta sử dụng để phát triển nền nghệ thuật âm nhạc dân tộc chứ chưa nhất thiết phải cải cách hay sáng tác thêm Cũng trên cơ sở đồng nhất với quan niệm này, một số bài viết khẳng định “dân tộc là dân tộc”, “phương Tây là phương Tây”, việc đòi hỏi phải có bản sắc dân tộc Việt Nam trong
nhạc giao hưởng là một điều không thể làm được, bởi “nhạc cổ điển phương Tây là bất khả
xâm phạm, là vĩnh cửu (…) Đừng đụng chạm tới dàn nhạc giao hưởng, vì nó cũng là dàn nhạc dân tộc (phương Tây)” [97, tr.68]
1.1.2 Bản sắc dân tộc là những nét đặc thù về tâm hồn, tính cách của dân tộc
Những tác giả theo quan điểm này cho rằng bản sắc dân tộc chính là cái đặc thù của nội dung bên trong được thể hiện ra ngoài chỉ dân tộc mình mới có Nội dung chủ yếu của bản
sắc dân tộc được nói đến ở đây là “những cái độc đáo về mặt tâm hồn, tình cảm, bản lĩnh
của dân tộc,…” [97, tr.9] Theo các nhà nghiên cứu thuộc khuynh hướng này thì “tính dân tộc (bản sắc dân tộc) là những nét sâu sắc nhất đã thành nếp in trong tâm hồn, tình cảm,…”
[97, tr.35], hay bản sắc dân tộc Việt Nam, “trước hết đó là tâm hồn và tính cách của người
Việt Nam” [91, tr.63] Do đó, bàn về bản sắc dân tộc nói chung, bản sắc dân tộc trong văn
học nói riêng “tức là chúng ta góp phần tìm hiểu tâm hồn, cốt cách, bản lĩnh của con người
Việt Nam” [97, tr.38]
Cũng xuất phát từ quan điểm trên, nhưng một số nhà nghiên cứu khác không đi tìm bản sắc dân tộc ở những biểu hiện bề ngoài của tâm lý, tính cách con người dân tộc chung chung
mà ở ngay bản thân tâm hồn của người sáng tác biết hoà cảm cùng dân tộc Các tác giả cho
rằng “cảm xúc, tâm hồn chân thành, sâu sắc là điều kiện trước tiên của một tác phẩm có
Trang 20tính dân tộc (Bản sắc dân tộc) đậm đà” [97, tr.21] Chính tình cảm, cảm xúc của tác giả đã
“chi phối tất cả dáng điệu, khí sắc… làm cho nhân vật của một tác phẩm có cái gì riêng biệt, người nhìn vào thì biết ngay là dân tộc ấy” [83, tr.244] Bởi thế, muốn một tác phẩm
đậm đà bản sắc dân tộc thì điều trước tiên đòi hỏi người sáng tác “phải có tâm hồn dân tộc”
[97, tr.124] Chính tâm hồn, cảm xúc dân tộc là yếu tố quyết định nên bản sắc dân tộc trong
tác phẩm của một nghệ sĩ thật sự tài năng,“một nghệ sĩ khi sáng tác thường không nghĩ mấy
đến lý luận và ít câu nệ vào khuôn phép nào Anh ta có thể lấy chất liệu ở bất cứ đâu, tâm hồn anh ta chạm đến cái gì thì cái đó biến hoá thành của anh, với cái cảm xúc, suy nghĩ, diễn đạt của riêng anh” [91, tr.34]
1.1.3 Bản sắc dân tộc là tổng thể những giá trị tinh thần đặc sắc cơ bản của dân tộc
Bên cạnh hai quan điểm trên, quan điểm cho rằng bản sắc dân tộc chính là tổng thể những giá trị tinh thần đặc sắc cơ bản của dân tộc cũng được nhiều bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Những người theo quan niệm này đều thống kê hàng loạt những phẩm chất tinh thần tiêu biểu của người Việt Nam và xem đó chính là bản sắc của dân tộc Tuy vậy, số lượng giá trị mà các nhà nghiên cứu nêu ra là không giống nhau Năm
1951 trong công trình nghiên cứu “Việt Nam văn hoá sử cương”, tác giả Đào Duy Anh nêu
ra bảy giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam như: Trí nhớ tốt, thiên về nghệ thuật và trực giác; Ham học, thích văn chương; Thiết thực; Cần cù; Giỏi chịu khổ và hay nhẫn nhục; Chuộng hoà bình, song cũng biết hi sinh vì đại nghĩa; Khả năng bắt chước, thích
ứng và dung hoá rất tài Kế đến, vào năm 1980, Gs Trần Văn Giàu trong công trình “Giá trị
tinh thần của dân tộc Việt Nam” cũng nêu lên bảy giá trị: Yêu nước; Cần cù; Anh hùng;
Sáng tạo; Lạc quan; Thương người và vì nghĩa Trong các giá trị này thì yêu nước là giá trị được tác giả nêu lên hàng đầu, xem đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc Năm
1983, trong một Hội thảo khoa học, Gs Trương Chính nêu lên năm giá trị: Tinh thần yêu nước; Tinh thần dân tộc; Cần cù và thông minh; Trọng đạo lý, tình người; Lạc quan yêu đời Cũng trong Hội thảo này, tác giả Lê Anh Trà nêu lên bốn giá trị: Yêu nước bất khuất chống ngoại xâm; Lao động cần cù xây dựng đất nước; Lòng nhân ái và ý thức về lẽ phải; Lối sống giản dị không ưa thái quá
Bên cạnh các tác giả trên, trong những năm này còn có nhiều các tác giả khác cũng liệt
kê ra hàng loạt những giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam Những giá trị mà các tác giả đưa ra tuy có điểm khác nhau, song lại có nhiều điểm thống nhất Chính vì vậy,
Trang 21trong Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII “Về xây dựng một nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta đã nêu ra một “danh sách mở”
những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc như sau: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng (gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-tổ quốc); Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; Sự tinh tế trong ứng xử, sáng tạo trong lối sống,…
Trong những năm gần đây, có lẽ dựa vào “danh sách mở” mà Đảng đã đưa ra, các nhà nghiên cứu lại đưa ra hàng loạt những danh sách giá trị tinh thần, cho đó chính là những nét
nổi bật của bản sắc, của truyền thống dân tộc Việt Nam Trong Hội thảo“Đi tìm đặc trưng
văn hoá Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu và Giao lưu văn hoá – Giáo dục quốc tế
(ĐHSP Tp HCM) tổ chức trong hai ngày 22-23 tháng 6 năm 2000, tác giả Ngô Đức Thịnh đưa ra bốn giá trị: Chủ nghĩa yêu nước; Tính cộng đồng của xã hội Việt Nam; Tính cởi mở, năng tiếp nhận, dễ hoà nhập để từ đó bản địa hoá các nhân tố ngoại lai và lối ứng xử trọng tình thương và đạo lý, Trương Chính đưa ra 5 giá trị: Tinh thần yêu nước; Tinh thần dân tộc; Cần cù và thông minh; Lấy tình thương yêu làm cơ sở cho cách xử thế; Tinh thần lạc quan, yêu đời, tin tưởng ở tương lai,…
Đến năm 2001, trong Hội thảo đi tìm “Bản sắc dân tộc trong văn hoá – văn nghệ” do
Trung tâm nghiên cứu Quốc học phối hợp với Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Tp HCM tổ chức ngày 03 tháng 01 năm 2001 tại Tp HCM một lần nữa, các nhà nghiên cứu lại đưa ra quan niệm của mình về những giá trị tinh thần của dân tộc, cho đó là những nét cơ
bản tạo nên bản sắc dân tộc Trong bài viết “Suy nghĩ về bản sắc dân tộc”, nhà thơ Tố Hữu
đã nêu lên bản sắc chung của các dân tộc ở nước ta bao gồm các đặc trưng: Lòng yêu nước mãnh liệt; Chủ nghĩa anh hùng; Lòng thương yêu con người vô hạn; Lòng tự trọng, giữ gìn nhân phẩm trong mọi cảnh ngộ nghèo khổ, không kiêu ngạo cả khi thắng lợi, luôn khiêm nhường; Coi trọng thực tiễn, thiết thực nhưng vẫn tôn trọng thầy dạy; Trong giao tiếp xử thế, rất lịch sự, khôn ngoan nhưng vẫn thật thà trung thực; Lối sống giản dị, thanh đạm, gần gũi với thiên nhiên, xa lạ với những thói xa hoa, kệch cỡm,…
1.1.4 Bản sắc dân tộc chính là chất lượng phản ánh hiện thực
Đây là một quan niệm cũng rất phổ biến trong giới nghiên cứu, nhiều tác giả khác nhau tuy có cách diễn đạt không giống nhau, song đều khẳng định bản sắc dân tộc là một trong
Trang 22những vấn đề quan trọng, cần thiết và luôn phải có trong các tác phẩm nghệ thuật, nó cũng giống như tính hiện thực vậy Tuy nhiên, với quan niệm của các nhà nghiên cứu theo quan điểm này, tính hiện thực và bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn nghệ như là một Do đó, tác phẩm có tính hiện thực tức có bản sắc dân tộc Trong một Hội thảo bàn về tính dân tộc trong
âm nhạc Việt Nam, nhà thơ Cù Huy Cận kêu gọi giới nhạc sĩ nói riêng, các văn nghệ sĩ nói
chung “Cần phải bám sát hiện thực, bảo đảm tính hiện thực mới thực chất bảo đảm tính dân
tộc được” [97, tr.63] Cũng trong Hội thảo này, Phạm Đình Sáu cho rằng“Vấn đề cơ bản của tính dân tộc là tính hiện thực” [97, tr.172]
Cùng chung những quan niệm này, trong một cuộc Hội thảo đi tìm “Bản sắc dân tộc
trong văn hoá - văn nghệ” được tổ chức gần đây, nhiều tác giả đã mạnh dạn khẳng định, tác
phẩm khi đã phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, sinh động bao nhiêu tất sẽ chứa đựng bản sắc dân tộc đậm đà bấy nhiêu, hay bản sắc dân tộc trong nghệ thuật chính là hiện thực đời sống, xã hội, con người,… được tác giả miêu tả và thể hiện trong tác phẩm Khẳng định điều
này, tác giả Nguyễn Gia Nùng phát biểu “Nói đến bản sắc văn hoá dân tộc trong văn học
nghệ thuật suy cho cùng, cũng chính là nói đến giá trị phản ánh chân thực, sâu sắc con người Việt Nam, văn hoá Việt Nam tới mức độ nào trong sáng tạo văn học, nghệ thuật” [91,
tr.68] Tương tự như vậy, Trúc Chi có viết “Bản sắc dân tộc trong văn học nghệ thuật không
chỉ là trung thực của bức tranh mà còn là đời sống được thu nhỏ đầy sinh động, có lịch sử,
có quá trình”[91, tr.461],…
Chính những ý kiến của các tác giả nêu trên đã làm nảy sinh một vấn đề đòi hỏi giới
những nhà nghiên cứu cần quan tâm: “Có phải bản sắc dân tộc là một thuộc tính tất yếu của
văn học?” Hầu hết các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đều tán thành Tác giả Nguyễn
Văn Hạnh trong công trình “Cơ sở lý luận văn học” có viết “ Có thể nói, đặc điểm dân tộc
không phải là chất lượng mà là thuộc tính tất yếu của văn học” [32, tr.2], trong công trình
“Các nhà văn bàn về lao động văn học”, Biêlinxki cũng phát biểu: “Mỗi nhân vật phải gắn với một dân tộc nhất định, một thời đại nhất định, vì con người không có tính dân tộc không phải là con người thật sự, mà là một khái niệm trừu tượng Vì vậy mà rõ ràng là tính dân tộc trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thành tích mà chỉ là một thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo”, theo tác giả “Cuộc sống của bất cứ một dân tộc nào cũng thể hiện ra dưới những hình thức của bản thân nó và chỉ riêng thuộc về nó mà thôi, vì thế mà nếu việc miêu
tả cuộc sống là chân thực thì nó cũng có tính dân tộc” Có lẽ dựa vào ý kiến này của
Trang 23Biêlinxki, trong Hội thảo đi tìm tính dân tộc trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, Trần Văn
Cẩn đã phát biểu “Thực ra, tính dân tộc chẳng phải là sự sáng tạo gì ghê gớm lắm của nghệ
sĩ Vì nó là thuộc tính của nghệ thuật, và trước hết là thuộc tính của hiện thực” [98, tr.11]
Bên cạnh các quan niệm trên còn có rất nhiều những quan niệm khác về bản sắc dân tộc
cho nên nó có đủ hình dung, sắc thái “Có người cho nó mông lung, mơ hồ như sương thu,
phiêu diêu như tinh thần; Có người cho nó “thiển cận, thực tế như vật chất” [91, tr.62] Lại
cũng có người cho nó “phải có ít nhiều tính chất hư hư thực thực mà khoa học không kiểm
chứng chính xác được, còn dân gian thì không cần kiểm chứng” [91, tr.282] Do vậy, có
người quan niệm không thể mô tả trọn vẹn bản sắc văn hoá dân tộc trong một số câu chữ vì
nó muôn mặt, muôn hình Việc cô đọng ý nghĩa bản sắc dân tộc thành lời lẽ cũng giống như
“tay không bắt không khí, ta thấy không khí ở khắp mọi nơi và riêng trong tay ta chẳng nắm được gì cả” [91, tr.62],…
Tóm lại: Có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh khái niệm bản sắc dân tộc Mỗi nhà
khoa học, nhà nghiên cứu là một khái niệm không giống nhau tuỳ theo quan điểm và cách tiếp cận của mình Các khái niệm khác nhau đó xét từng góc độ là đúng nhưng nếu xét ở các góc độ khác thì không tránh khỏi những hạn chế nhất định Do vậy, việc đưa ra một cái nhìn
cơ bản, tổng hợp về bản sắc dân tộc và bản sắc dân tộc trong văn học nghệ thuật là rất cần thiết
1.2 Bước đầu xác định một quan niệm về bản sắc dân tộc
1.2.1 Quan niệm về bản sắc dân tộc
Bản sắc dân tộc là một phạm trù dùng để chỉ tổng thể những giá trị vật chất cũng như tinh thần mang những nét đặc trưng riêng do tính đặc thù của những điều kiện địa lý, kinh tế, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ,… của dân tộc tạo nên nhằm phân biệt với các dân tộc khác Trong cuộc sống hằng ngày, bản sắc dân tộc được hình thành và biểu hiện ở khắp các lĩnh vực trong hoạt động xã hội của mỗi dân tộc từ những hoạt động mưu sinh, ngôn ngữ, lối sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán đến nghệ thuật,…Dễ nhìn nhận nhất là nó được phản ánh trong nền văn hoá nghệ thuật của mỗi dân tộc, trong đó có văn học
Khi nghiên cứu bản sắc dân tộc, cần chú ý hai điều sau:
Trang 24Thứ nhất, không nên hiểu bản sắc dân tộc là những gì chỉ dân tộc mình có mà các dân tộc khác không có Sự khác nhau về bản sắc của các dân tộc là ở chỗ mỗi dân tộc nhấn mạnh những yếu tố khác nhau, ưu tiên những mặt khác nhau, và ở từng dân tộc, mỗi mặt, mỗi yếu
tố cũng bộc lộ theo nhiều kiểu khác nhau tuỳ theo quan niệm về cái đẹp của mỗi dân tộc do những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể tạo nên
Thứ hai, không nên quan niệm rằng bản sắc dân tộc là những yếu tố nhất thành bất biến, luôn đứng yên không bao giờ vận động, thay đổi mà ngược lại, bản sắc dân tộc qua thời gian
sẽ được bồi đắp, bổ sung những nét mới, xoá bỏ những giá trị cũ, lỗi thời tuỳ theo sự thay đổi các điều kiện sống cũng như tâm lý, tính cách,… của dân tộc qua quá trình giao lưu với các nền văn hoá thế giới
1.2.2 Điều kiện, yêu cầu để một tác phẩm nghệ thuật nói chung, tác phẩm văn học
nói riêng đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.2.1 Đối với nhà nghệ sĩ, nhà văn hay nói chung là chủ thể sáng tạo:
Để cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật có giá trị đích thực, mang đậm bản sắc dân tộc thì điều kiện trước tiên đòi hỏi người nghệ sĩ phải có một tâm hồn dân tộc, biết hoà cảm với những nỗi băn khoăn, khát vọng, mừng, giận, yêu thương,… của dân tộc, luôn đứng về phía dân tộc, bênh vực cho những quyền lợi chính đáng của dân tộc, ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người, chống lại những thế lực xấu xa chà đạp lên quyền sống, quyền được tự
do, hạnh phúc của con người Được như thế thì bất kỳ nói về một cái gì dù đó là một hiện thực khác, một cuộc sống khác, một nhân vật khác không phải của mình và dân tộc mình, người nghệ sĩ cũng luôn xâm nhập vào đối tượng với một con tim nóng hổi, chuyển hoá cái đối tượng khách quan thành ra cái chủ quan của bản thân, của dân tộc và luôn mang một tấm lòng rộng mở, biết ngạc nhiên dù với một vẻ đẹp rất bình dị của cuộc sống, rất nhạy cảm với những thay đổi xung quanh, dễ phát hiện ra trong cuộc sống những nét đặc sắc để đưa vào tác phẩm Tuy nhiên, tâm hồn dân tộc chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tạo nên một tác phẩm đậm bản sắc dân tộc bởi nếu không có được một tài năng nghệ thuật bẩm sinh, một năng khiếu trời cho cùng với một vốn sống phong phú, và một vốn văn hoá nghề nghiệp thì người nghệ sĩ không thể nào tạo nên một tác phẩm nghệ thuật có giá trị Tài năng bẩm sinh
có thể “giúp người nghệ sĩ cảm nhận cuộc sống một cách mới mẽ, sâu sắc, tinh tế, không
giống thói thường bằng tất cả sự tồn tại của mình, bằng cả sự hiểu biết và trực giác, ý thức
Trang 25và vô thức, đồng thời có khả năng định hình, vật chất hoá những cảm nghĩ, những ấn tượng nhiều khi rất mâu thuẫn, mơ hồ bằng chất liệu ngôn ngữ, cố định chúng lại trong những hình ảnh, nhịp điệu,… để cho mình và người khác lại nghe thấy được, cảm nhận được, rung động được” [33, tr.111] Những hiểu biết thực tế, sự trải nghiệm cuộc đời có thể tạo cho nhà văn
cảm hứng, chất liệu sáng tạo trực tiếp, sự sinh động, sức hấp dẫn của tác phẩm còn vốn văn hoá nghề nghiệp cung cấp cho nhà văn những kiến thức về cách xây dựng nhân vật, việc sử dụng ngôn ngữ,… đặc biệt là những tư liệu liên quan đến đề tài, nhất là đề tài lịch sử
Khi đã hội đủ những điều kiện trên, nghệ sĩ muốn đạt được thành công, muốn vững bước lâu dài trên con đường văn nghiệp thì cần phải tự bồi dưỡng, trao dồi bằng cách phải học, phải đọc không ngừng nhưng không phải chỉ học và đọc những gì của nền văn hoá dân tộc như ý kiến của nhà thơ Huy Cận đã nêu trên mà phải biết tiếp thu có chọn lọc những cái mới, cái hay, cái tiến bộ của nền văn hoá nhân loại, đồng thời phải sống thật sâu sắc cuộc sống hằng ngày của mình, quan sát và suy ngẫm về mọi điều đang diễn ra xung quanh và trong chính tâm hồn mình, từ những biến cố trọng đại đến những điều tưởng như vô nghĩa để tìm ra ý nghĩa sâu xa của nó
1.2.2.2 Đối với tác phẩm
Về nội dung: Dù đề cập đến vấn đề nào, viết về đề tài gì đi chăng nữa thì nội dung tư
tưởng của tác phẩm cũng phải gắn liền với dân tộc, lột tả được hiện thực dân tộc, đặt ra được một hay nhiều vấn đề quan trọng có liên quan đến vận mệnh toàn thể dân tộc và giải quyết vấn đề đó phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của dân tộc
Về hình thức: Yếu tố cơ bản của hình thức là ngôn ngữ Trong tác phẩm, ngôn ngữ
đóng một vai trò quan trọng bởi mọi hình tượng nghệ thuật phản ánh hiện thực đời sống dân tộc, tâm hồn dân tộc đều thông qua ngôn ngữ Do vậy, để một tác phẩm được đậm đà bản sắc dân tộc thì cần phải sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác Tuy nhiên, nói như thế không phải mọi tác phẩm được sáng tác bằng chữ Hán và chữ Pháp trong nền văn học nước ta (nền văn học cổ của ta và các tác phẩm của Hồ Chí Minh) là không đậm đà bản sắc dân tộc Chúng ta cần hiểu rằng, việc ông cha xưa kia dùng chữ Hán làm ngôn ngữ sáng tác tuy là một hạn chế lịch sử, nhưng cũng là một tất yếu lịch sử khi dân tộc ta chưa có một thứ chữ viết thuận tiện và phổ cập để ghi lại và truyền bá một số công trình sáng tác tinh tế của mình, còn trường hợp của Hồ Chí Minh, do sáng tác trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt, trong
Trang 26những điều kiện đấu tranh chính trị và tư tưởng ở nước ngoài, nhằm một đối tượng và một mục đích nhất định nào đó nên tuy không thể dùng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác nhưng các tác phẩm vẫn chứa đựng nội dung dân tộc và cách mạng sâu sắc Do vậy, không nên tuyệt
đối hoá rằng: “tính dân tộc trước tiên là thể hiện ở ngôn ngữ, ngôn ngữ vốn là đặc trưng chủ
yếu của một dân tộc” như nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã từng phát biểu Tác phẩm nghệ
thuật nói chung, văn học nói riêng có bản sắc dân tộc đậm đà hay không dĩ nhiên yếu tố ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng nhưng không phải vì thế mà vội vàng kết luận những tác phẩm không được viết bằng ngôn ngữ dân tộc là không mang bản sắc dân tộc Muốn có một kết luận chính xác hơn, cần phải tìm hiểu rõ bối cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời, nội dung tác phẩm đề cập đến vấn đề gì và đối tượng, mục đích mà tác giả cần gửi tới là ai,…
Một đòi hỏi nữa đối với hình thức tác phẩm là ngôn ngữ sử dụng phải thật trong sáng,
dễ hiểu và đặc biệt cần sử dụng một cách nhuần nhuyễn phong cách của lời ăn tiếng nói có hình ảnh, cách ví von sinh động của nhân dân lao động mà tiêu biểu là những thành ngữ, tục ngữ, ca dao,… trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc được truyền miệng từ đời này qua đời khác Có được như thế, tác phẩm sẽ càng đậm đà bản sắc dân tộc hơn
Ngoài những điều kiện về chủ thể sáng tạo và tác phẩm, một điều kiện không kém phần quan trọng nữa góp phần tạo nên bản sắc dân tộc cho tác phẩm là người đọc (đối tượng người tiếp nhận) Người tiếp nhận chính là những người phán xét cuối cùng cho tác phẩm là
có mang bản sắc dân tộc hay không Tuy nhiên, đây lại là một vấn đề phức tạp liên quan đến
lý thuyết tiếp nhận mà trong một lượng thời gian và kiến thức có hạn chúng tôi xin tạm không đi sâu
1.3 Phương pháp tiếp cận bản sắc dân tộc trong giai đoạn văn học 1930 - 1945
Để nghiên cứu bản sắc dân tộc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, người viết dùng phương pháp tiếp cận trên cơ sở những quan điểm đã nêu trên:
Thứ nhất: Con người của chủ thể sáng tạo qua các nhà văn tiêu biểu như: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Khái Hưng và Nhất Linh Đó là hoàn cảnh sống (hoàn cảnh xã hội, dân tộc và hoàn cảnh bản thân, gia đình) và tinh thần gắn bó với vận mệnh dân tộc, có tâm hồn dân tộc sâu sắc
Thứ hai: Nội dung và hình thức biểu hiện của một số tác phẩm văn học tiêu biểu của giai đoạn này Cụ thể như: Nội dung phản ánh bằng hiện thực đời sống dân tộc, phê phán vì
Trang 27cộng đồng dân tộc; tính cách nhân vật – con người dân tộc và làm giàu có và trong sáng tiếng Việt, đẩy ngôn ngữ văn xuôi hiện đại Việt Nam lên một bước tiến mới gần gũi với đời sống thường ngày của người bình dân
Trang 28Chương 2: SỰ BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC TỪ CHỦ
THỂ SÁNG TẠO (Các nhà văn: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao và
Khái Hưng, Nhất Linh)
Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao và Khái Hưng, Nhất Linh là hai nhóm nhà văn tiêu biểu cho hai trường phái văn học khác nhau: trường phái hiện thực phê phán và trường phái lãng mạn với những đặc điểm riêng không giống nhau, đôi khi đối lập nhau Tuy nhiên,
dù thuộc trường phái nào đi nữa, một trong những điểm chung của các nhà văn trên là được sinh ra và trưởng thành trong một hoàn cảnh đất nước và dân tộc, chịu sự tác động của hoàn cảnh đó đến sự hình thành, phát triển tâm hồn tính cách và gắn bó với vận mệnh dân tộc, có tâm hồn dân tộc sâu sắc Đây cũng chính là những nét biểu hiện của bản sắc dân tộc trong chủ thể con người của các nhà văn
2.1 Yếu tố hoàn cảnh sống
2.1.1 Hoàn cảnh đất nước và dân tộc
Nói đến hoàn cảnh đất nước và dân tộc ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển tâm hồn, tính cách con người nói chung, các nhà văn giai đoạn 1930-1945 nói riêng, đúng ra phải đề cập đến toàn bộ bối cảnh xã hội từ khi họ được sinh ra đến lúc từ trần Thế nhưng, với đối tượng là các nhà văn được nghiên cứu, hoàn cảnh xã hội giai đoạn 1930-
1945, giai đoạn lịch sử khá phức tạp, có nhiều sự kiện và biến động lịch sử quan trọng đã ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình phát triển tâm hồn, tính cách cũng như việc xác định khuynh hướng sáng tác, lập trường tư tưởng của họ Đây cũng là giai đoạn lịch sử các nhà văn đã đủ trưởng thành để nhìn nhận mọi vấn đề đang diễn ra với xung quanh và với bản thân, bày tỏ thái độ đối với nó Là giai đoạn làm nên những tác phẩm chúng tôi đang cần đào sâu nghiên cứu để tìm ra những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong đó Do vậy, chúng tôi chỉ
đi vào tìm hiểu hoàn cảnh xã hội giai đoạn 1930-1945 để làm hoàn cảnh xã hội tiêu biểu cho
sự phát triển tâm hồn, tính cách các nhà văn
Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ dưới ách thực dân phong kiến và trưởng thành trong thời kỳ 1930-1945, là thời kỳ diễn ra nhiều cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai
Trang 29cấp hết sức gay gắt với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tháng 6 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào, dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” Bọn Tưởng Giới Thạch bên ngoài đang ráo riết chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” Đất nước ngày càng rơi vào một tình cảnh điêu đứng
Về quân sự và chính trị: tiêu điểm chú ý của chúng là Đảng Cộng sản và phong trào
cách mạng Đảng Cộng sản của ta bấy giờ bị chúng đặt ra ngoài vòng pháp luật, chúng hi vọng đàn áp và dập tắt tổ chức Đảng và những phong trào cách mạng của ta bằng vũ lực và chính sách chuyên chế về chính trị Năm 1930-1931, chúng mở ra cuộc khủng bố trắng có quy mô toàn quốc nhằm đàn áp phong trào cách mạng của ta Những cuộc bắt bớ, đàn áp, những vụ thảm sát đẫm máu liên tục xảy ra đã gây không khí hoang mang, lo sợ cho tầng lớp thanh niên trí thức bấy giờ Tuy nhiên, cuộc khủng bố trắng 1930-1931 chúng gây ra không thể dập tắt được phong trào cách mạng đang ngày càng dâng cao Để tiếp tục thực hiện chính sách đàn áp của mình, chúng mở thêm cuộc khủng bố trắng thứ hai vào năm 1940, đốt cháy nhiều làng mạc và giết hàng vạn người
Dưới những cuộc khủng bố liên tiếp của giặc, những cuộc khởi nghĩa của ta bị dìm trong bể máu Tuy vậy, tinh thần đấu tranh vô cùng dũng cảm của quần chúng vẫn luôn được dâng cao không hề bị dập tắt Hai cuộc khởi nghĩa Nam kỳ và Bắc Sơn là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc Tổng khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu cho những cuộc đấu tranh bằng
võ lực của các dân tộc ở Đông Dương
Về kinh tế: Để thực hiện chính sách bóc lột của mình, thực dân Pháp đã kết hợp phương
thức bóc lột tư bản với phương thức bóc lột phong kiến lạc hậu Chúng trắng trợn chiếm đoạt đất đai của nông dân để lập đồn điền và Hội thánh truyền giáo, cướp hầm mỏ để khai thác, độc quyền xuất khẩu, độc quyền bán rượu, thuốc phiện, tăng thuế khoá và đề ra hàng trăm thứ hạch sách, phu phen tạp dịch khác,… nhằm đem lại món lợi khổng lồ cho chúng Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, nước ta lại càng rơi vào cảnh khốn cùng Phát xít Nhật nhảy vào hùa nhau với Pháp vơ vét đến tận cùng tài nguyên của nước ta để phục vụ cho chiến tranh Với chính sách kinh tế độc quyền vơ vét của thực dân Pháp và phát xít Nhật, chúng đã làm cho Việt Nam trở thành một thuộc địa cung cấp nguồn nhân công rẽ mạt và nguyên liệu béo bở cho chính quốc, nơi cho vai nặng lãi và thu thuế vô tội vạ, nơi mua rẽ hàng nông phẩm và bán đắt hàng công nghiệp,… Hậu quả của chính sách bóc lột đó là hơn hai triệu đồng bào ta phải chết đói vào mùa xuân năm 1945
Trang 30Về văn hoá: Chúng coi Đảng Cộng sản và sách báo của Đảng là kẻ thù số một Chúng
ra lệnh cấm tàn trữ và lưu truyền sách báo Cộng sản Chúng thực hiện chính sách kiểm duyệt
và đàn áp sách báo tiến bộ Với sự kiểm duyệt của chúng, hàng loạt các báo, nhà xuất bản bấy giờ bị đóng cửa và nhiều nhà báo, nhà văn bị bắt bỏ tù và bị phạt vì tội lưu hành sách báo bị cấm Ngoài ra, chúng còn thực hành chính sách ngu dân và mị dân, dùng khuynh hướng cải lương để đánh lạc hướng và làm “xì hơi” phong trào cách mạng Thực hiện chính sách ngu dân, chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học Để con em nhà nghèo không được đến trường, chúng bắt học sinh các trường tư thục phải đóng thuế thân Kết quả là hơn 90% nông dân bị mù chữ Thực hiện chính sách mị dân, chúng nắm mấy phong trào văn hoá có xu hướng cải lương tư sản: Phong trào Âu hoá “vui vẻ, trẻ trung”, Hội Ánh sáng, Hội hướng đạo,… và những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ thanh niên, làm cho thanh niên quên bẵng phong trào cách mạng
Tháng 9-1940, Pháp đầu hàng Hítle, Nhật vào Đông Dương và tiếp tục thực hiện chính sách văn hoá đối với Việt Nam Chúng dùng nhiều thủ đoạn tuyên truyền xảo trá hòng che giấu bộ mặt xâm lược của mình, tỏ ra quan tâm đến đời sống và văn hoá của nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, tất cả những điều đó vẫn không thể nào che giấu được những hành động phát xít dã man, tàn bạo của chúng đối với nhân dân ta
Nhìn chung, với sự xâm lược và chính sách cai trị thâm độc, tàn bạo của giặc ngoại xâm
đã đẩy đất nước ta, nhân dân ta bấy giờ rơi vào cảnh bần cùng, khốn khổ Tuy nhiên, tất cả những nỗi khổ đó không thể nào dập tắt được nỗi căm hờn và lòng yêu nước của dân tộc ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã đứng lên và giành thắng lợi Ngày 2 -9 -1945, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Chủ Tịch
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước hàng triệu đồng bào cả nước, tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, mở
ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc
Hiện tình đất nước như thế đã ít nhiều có tác động mạnh mẽ đến nhân cách, tâm hồn của các nhà văn chúng ta
2.1.2 Hoàn cảnh gia đình và bản thân
2.1.2.1 Các nhà văn hiện thực phê phán: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng và Nam Cao
Trang 31Trước năm 1945 ở nước ta xuất hiện dòng văn học được gọi là văn học hiện thực phê phán với sự tham gia góp mặt của các nhà văn: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng
Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài,…
Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng và Nam Cao là các nhà văn cùng sống trong một bối cảnh
xã hội và gặp nhau ở việc xác định cho mình con đường của văn học hiện thực phê phán Thế nhưng, mỗi một nhà văn đều có hoàn cảnh xuất thân khác nhau không ai giống ai Cùng với hoàn cảnh đất nước và dân tộc, đây cũng một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành
và phát triển tâm hồn, tính cách của các nhà văn
* Ngô Tất Tố: Được sinh ra vào năm 1894 trong một gia đình nhà Nho nghèo tại làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà
Nội Trước Cách mạng tháng tám, “quê hương của nhà văn cũng là quê hương của những
điệu dân ca quan họ, của nhiều truyện thần thoại, cổ tích rất thi vị, đồng thời cũng là xứ sở của nhiều hủ tục nặng nề được duy trì từ ngàn xưa cùng với chế độ phong kiến”[70, tr 199]
Ông nội nhà văn thi hương bảy lần chỉ đỗ tú tài Thân sinh nhà văn cũng sáu lần “lều chõng”, rốt cuộc cũng chỉ là một ông đồ dạy học Còn bản thân nhà văn dẫu có tài học và đỗ đầu xứ nhưng vẫn không vào được tam trường trong khoa thi cuối cùng của chế độ khoa cử bằng chữ Hán để nhường chỗ cho nền giáo dục bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Bấy giờ tuy còn trẻ, nhưng vì nhà nghèo, gia đình phải lãnh thêm ruộng làng để cày cấy và thường phải vay
nợ lãi, Ngô Tất Tố không tiếp tục theo con đường học vấn, ông quyết định bỏ bút lông, cầm bút sắt, hăng hái bước vào làng văn, làng báo cũng như một số nhà nho cùng thời, sinh sống bằng chính ngòi bút của mình Trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố làm việc rất cần cù trong sự nghiệp cầm bút Ông tham gia dịch, viết, gởi bài cho nhiều tờ báo và sáng tác với nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, phê bình, sưu tầm nghiên cứu Chính sự cần cù đó đã tạo cho ông một vị trí xứng đáng trong làng báo, làng văn Việt Nam bấy giờ
Viết sách và làm báo không đủ ăn Năm 1935, Ngô Tất Tố mở hiệu thuốc bắc Thọ dân y
quán và nhận dịch sách y học cho nhà xuất bản Nhật Nam thư quán Cũng chính năm này,
ông bị chính phủ thực dân cấm không cho viết tờ Hải phòng tuần báo, bắt dời hiệu thuốc về
quê, trục xuất khỏi các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định Đến năm 1939, tiểu
thuyết Tắt đèn bị cấm lưu hành tàn trữ, ông bị Sở mật thám khám nhà và bắt giam bốn tháng
Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố bắt đầu tham gia hoạt động chính trị bằng việc gia nhập Hội văn hoá cứu quốc Ông là nhà văn cao tuổi nhất lên chiến khu Việt Bắc Kháng
Trang 32chiến toàn quốc bùng nổ, quê hương ông trở thành khu du kích, ông đã hi sinh một người con trai cho Tổ Quốc và bản thân tích cực sáng tác trên nhiều thể loại: ca dao, diễn ca, truyện, ký sự, chèo để phục vụ kịp thời cho kháng chiến Năm 1948, ông được vinh dự gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương
Tháng 4 năm 1954, Ngô Tất Tố từ trần, nhưng tên tuổi của ông vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc bao thế hệ với 30 làm báo, viết văn, khảo cứu dịch thuật miệt mài say mê
Do được sinh ra và lớn lên tại một làng quê nghèo nên Ngô Tất Tố đã có dịp tìm hiểu rất nhiều ở những làng quê nơi mình sinh sống Ngay từ còn bé, ông đã theo cha đi dạy học ở các trường hàng tổng Lớn lên, ông từng đi dạy chữ Nho, chữ Quốc ngữ ở Đông Trù, Gia Thượng Sau này, tuy rằng bôn ba với nghề báo, nghề văn ở Hà Nội, Sài Gòn nhưng Ngô Tất
Tố vẫn thường xuyên về làng Cuộc sống gắn bó với làng quê đã giúp nhà văn có điều kiện
để chứng kiến tất cả những cuộc đời và số phận của nông dân lao động khốn khổ luôn bị cột chặt vào trong vòng vây của đói khát, tù túng, luôn chịu sự đè nén, bóc lột của bọn cường hào, địa chủ cùng với những hủ tục quái dị, nặng nề được duy trì từ ngàn xưa cùng với chế
độ phong kiến Hằng ngày, họ phải mãi miết cầm cày theo trâu, hay cúi gập mình xuống bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để đổi lấy củ khoai, bát gạo nuôi gia đình, để lo chạy đủ suất sưu, suất thuế cho chồng, cho con, cho anh, cho em,… Hơn nữa, do xuất thân là một nhà Nho nghèo, Ngô Tất Tố đã từng phải chung chia cái nghèo, cái đói của một gia đình triền miên lĩnh thêm ruộng làng để cày cấy Bản thân nhà văn nhiều lần đã phải chịu cái cảnh bóp chẹt của chủ nợ Rồi suốt cả thời gian gắn bó với nghề báo, nghề văn ông vẫn bị cái nghèo đeo đuổi Chính sự gắng bó với làng quê cùng cuộc sống nghèo khổ đã giúp nhà văn dễ dàng hiểu và cảm thông với các tầng lớp dưới, các tầng lớp quần chúng bị áp bức, bóc lột cũng như giúp nhà văn có nhiều điều kiện để nhìn thấy tất cả những mặt trái của xã hội mà những người sống trong cảnh no đủ, thừa thải không thấy được Từ đó đã góp phần tạo nên trong ông một tấm lòng yêu nước thương dân, luôn thiết tha gắn bó trái tim mình với những con người nghèo khổ, đồng thời căm ghét và lên án đến cùng bọn thực dân và quan lại phong kiến tay sai, những bọn đã gieo vào cuộc đời nông dân những đau khổ, bất hạnh
Yêu nước, thương dân, muốn chống lại xã hội, nhưng với tài học của mình, Ngô Tất Tố thấy không làm được việc gì để đối phó với bọn thực dân, quan lại, trừ một việc là bợ đỡ chúng, theo chúng bóp cổ nhân dân để bóc lột Sự tự ý thức này càng làm cho nỗi đau xót
Trang 33của một người dân mất nước và cái nhục của một trí thức bị chèn ép, bị khinh miệt trong ông càng trở nên sâu sắc và thấm thía hơn
Là một trong những người thuộc thế hệ nhà nho cuối mùa, sống và chứng kiến cảnh dần suy tàn của nền Hán học, từ thực tế sự học của mình, của những người thân trong gia đình, Ngô Tất Tố đã nhìn thấy rất rõ sự ruỗng nát của chế độ thi cử phong kiến và sự lụi tàn nền Hán học Do đó, khác với các môn đệ của cửa Khổng sân Trình, là một nhà nho tuy rằng không thể thoát khỏi sự ảnh hưởng của Nho giáo nhưng Ngô Tất Tố không có tư tưởng nệ
cổ, bảo thủ mà trái lại, ông là một người có tinh thần tiến bộ, có đầu óc khoa học
Chính nỗi đau khổ, sự dằn vặt vì không làm được việc gì có lợi cho nước, cho dân cộng với tinh thần tiến bộ, đầu óc khoa học của một nhà nho đã dẫn Ngô Tất Tố mạnh dạn đi đến quyết định “thay bút lông bằng bút sắt”, dùng ngòi bút của mình để sống và chiến đấu chống lại những ngang trái bất công của xã hội lúc bấy giờ Thế là ông bắt đầu bước vào nghề cầm bút Ban đầu, ông tham gia dịch những tác phẩm tiến bộ của Trung Quốc và viết bài cho các
tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông phương, Công
dân, Hải Phòng tuần báo, Tương lai, Thời vụ, Hà Nội tân văn, Đông Pháp,… với nhiều bút
danh khác nhau và dần dần ông trở thành một cây bút tài năng, thành công trên nhiều lĩnh vực khác nhau mà khó ai có thể sánh kịp Cuộc sống bán văn, viết mướn này một mặt đã giúp nhà văn giải quyết được một phần những khổ đau dằn vặt trong tư tưởng trước cái thực
tế đen tối của xã hội lúc bấy giờ, đồng thời cũng giúp ông hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn sự đè nén đến nghẹt thở của chế độ nhà tù thực dân mà trong đó ông cũng như các cây bút tiến bộ đương thời phải giãy giụa, chống chọi mới có thể đưa những tư tưởng của mình đến được với nhân dân
Như vậy, hoàn cảnh gia đình của bản thân là một trong những yếu tố góp phần quan trọng bồi đắp cho nhà văn Ngô Tất Tố một tâm hồn, tính cách dân tộc thật đậm đà và sâu sắc Biểu hiện của tâm hồn, tính cách dân tộc đó là tấm lòng yêu nước thương dân và đấu tranh, bênh vực cho lợi ích, cho tự do của dân tộc
* Nguyên Hồng: Khác với Ngô Tất Tố, tuổi thơ nhà văn Nguyên Hồng (1918 – 1982)
là cả một chuỗi ngày bất hạnh Được sinh ra trong một gia đình nghèo theo đạo Thiên Chúa nhiều đời ở Nam Định, cha ông có một thời gian là cai ngục, sau thất nghiệp, cảnh nhà sa sút, phải sống nghèo túng trong tâm trạng u uất của một kẻ bất đắc chí Mẹ là con một nhà buôn bán, là người phụ nữ cần cù, hiền hậu, giàu đức hi sinh và rất thương con Ông là kết
Trang 34quả của một cuộc hôn nhân không có tình yêu Mười hai tuổi mồ côi cha, chủ yếu sống với
bà nội và người mẹ buôn bán tảo tần hôm sớm Vì hoàn cảnh ngày một sa sút khó khăn nên
đã có lúc mẹ nhà văn phải đi ở vú và mấy năm sau bước đi bước nữa Lúc này, cậu bé Nguyên Hồng phải sống xa mẹ, ở với người bà sùng đạo và người cô trong sự ghẻ lạnh thiếu tình thương yêu, luôn phải nghe những lời sỉ vả về mẹ mình từ phía người cô hiểm ác Do vậy, ngay từ tuổi còn thơ ấu, Nguyên Hồng đã phải tự lập Hằng ngày lang thang khắp thành phố, chung đụng với đủ mọi hạng trẻ hư hỏng của các lớp “cặn bã”, với một “đồng xu cái” đánh đáo trong tay Năm 1935, mới học hết bậc tiểu học, Nguyên Hồng phải thôi học, cùng
mẹ và bố dượng ra Hải phòng kiếm sống, gần gũi với những người cùng khổ nhất thành thị: thợ thuyền, phu phen, những người buôn thúng bán bưng, những me tây, gái điếm, du côn,
ăn cắp,… Sau nhiều ngày lang thang không xin được việc làm, ông phải dạy tư một cách bất hợp pháp cho con em thợ thuyền, phu phen, dân nghèo xóm Cấm, Hải Phòng và gặp Thế Lữ, bắt đầu sự nghiệp viết văn tại đây
Lớn lên trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, chịu ảnh hưởng quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh của các nhà văn Cộng sản, được chứng kiến nhiều phong trào đấu tranh sôi nổi của quần chúng nên Nguyên Hồng đã sớm có ý thức giác ngộ cách mạng, ông đã tìm đọc khá nhiều sách báo cách mạng, tìm hiểu chủ nghĩa Mác và văn hoá vô sản Năm 1938, ông tham gia mít tinh tại khu Đấu Xảo (Hà Nội) và tham gia Mật trận dân chủ ở Hải Phòng
Năm 1939, Nguyên Hồng bị bắt giam Thời gian trong tù, ông được tiếp xúc với các chiến sĩ cách mạng Hình ảnh sáng ngời của đồng chí Tô Hiệu phấn đấu đến hơi thở cuối cùng cho lý tưởng đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhà văn về tư tưởng cũng như nghệ thuật Năm
1942, ông được tha Năm 1943, Đảng cho ra đời bản Đề cương văn hoá, Nguyên Hồng cùng
với các đồng chí Như Phong, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi,… tham gia nhóm Văn hoá cứu quốc bí mật, làm công tác phổ biến bản đề cương
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Nguyên Hồng tham gia khởi nghĩa cướp
chính quyền ở Hà Nội, ông là người đầu tiên tham gia biên tập và viết bài cho tạp chí Tiên
phong “cơ quan vận động văn hoá mới” của Đảng Năm 1946, ông tiếp tục tham gia đoàn
văn nghệ sĩ Nam tiến, vào mật trận Nha Trang và đến năm 1947, cùng một số gia đình văn nghệ sĩ như Ngô Tất Tố, Tạ Thúc Bình, Kim Lân… về sống ấp Cầu Đen - Nhã Nam (Bắc Giang)
Trang 35Đến năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc, ông được vinh dự gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương
Năm 1952, ông tham gia phụ trách trường Văn nghệ nhân dân Trung ương khoá đầu tiên tại Việt Bắc Sau khi Hải Phòng Giải phóng (năm 1955), ông cùng Như Phong về làm
báo tại thành phố Cảng Năm 1956, ông về Hà Nội công tác tại báo Văn nghệ Năm 1957,
ông được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá đầu tiên và thư ký
toà soạn tuần báo Văn của Hội nhà văn do Nguyễn Công Hoan - Chủ tịch Hội làm chủ
nhiệm
Từ năm 1962, Nguyên Hồng cùng với gia đình trở lại Nhã Nam - Yên Thế, nay là xã Quảng Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang sống cho đến lúc mất (2-5-1982) Có thể nói,
ấp Cầu Đen, đồi Nhã Nam, Yên Thế đã thành quê hương thứ hai của Nguyên Hồng, là nơi
ông sống lâu nhất và cũng là nơi ông xây dựng bộ tiểu thuyết dài hơi còn dở dang “Núi rừng
Yên Thế”
Một tuổi thơ đầy bất hạnh, mồ côi cha từ nhỏ, lại không được ấp ủ trong tình thương yêu và sự chăm sóc của mẹ, cậu bé Nguyên Hồng phải sống tự lập từ nhỏ, kiếm tiền ăn học
bằng những nghề nhỏ mọn - đánh đáo, nơi “vườn hoa, cổng chợ, bến tàu, bến ô tô, bãi đá
bóng”… chung đụng với mọi hạng trẻ hư hỏng, bọn trẻ “bán báo, bán xôi chè, bánh kẹo, hoa quả, bán các đồ chơi lặt vặt, đi ở bế con hay nhặt bóng quần, hoặc ăn mày, ăn cắp từ con cá, lá rau” (Những ngày thơ ấu) Thế nhưng, hoàn cảnh ấy đã không làm cho một cậu
bé hay tủi thân sa ngã, hư hỏng Trái lại, chính hoàn cảnh ấy đã giúp cho Nguyên Hồng có điều kiện để hiểu hơn, cảm thông hơn với những em bé nghèo khổ lang thang kiếm ăn ở các thành phố lớn, những em bé sơ sinh con những bà mẹ bị bệnh tật hiểm nghèo hay tội lỗi dơ dáy, những đối tượng rất cần sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của gia đình và xã hội Từ đó, vun đắp nên trong tâm hồn nhà văn một tấm lòng nhân đạo yêu thương con người sâu sắc Chuỗi ngày bất hạnh cứ đeo đuổi không chịu buông tha nhà văn Mới học xong tiểu học, Nguyên Hồng phải nghỉ học để theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống Hằng ngày, người
thanh niên thất nghiệp với “dáng người nhỏ bé lom khom, áo chùng thâm dán lấy ngực, mũ
trắng vành to, gương mặt xanh xao mất máu”[66, tr.451- 452] phải lang thang ở các bến tàu,
nhà máy,…hoặc lân la ở các xóm ngõ đầu đường nơi đi về của phu phen thuyền thợ để nghe ngóng thăm dò công việc Tại đây, nhà văn đã có dịp chung sống với những lớp người dưới đáy của xã hội thành thị thời thuộc Pháp Đó là những phu phen, thợ thuyền, những người
Trang 36buôn thúng bán bưng, những me tây, gái điếm, du côn, ăn cắp,… những lớp người thường bị
xã hội thực dân phong kiến, tư sản khinh miệt Chính cuộc sống chung đụng này đã giúp Nguyên Hồng hiểu rõ hơn về những con người này, họ là những người tuy bề ngoài có vẻ tục tằn táo tợn nhưng bên trong họ đang chứa đựng những tình cảm tốt đẹp Càng sống gần, nhà văn càng thấy thông cảm, thương yêu họ nhiều hơn, tấm lòng nhân đạo của nhà văn càng được mở rộng để đón nhận thêm một lớp người mới, lớp dân nghèo thành thị
Bên cạnh đó, cuộc đời của mẹ nhà văn và của những người đàn bà nghèo khổ ở các ngõ hẻm ngoại ô thành phố cũng chính là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tình cảm yêu thương con người của Nguyên Hồng Đó là cuộc đời đau khổ của một bà mẹ trẻ sống nhẫn
nhục, thầm lặng như “cái bóng ngắn của bức tường dày mãi mãi thần phục ở dưới chân để
rồi sẽ tan xuống đất nếu ánh sáng soi tắt” (Những ngày thơ ấu) bên một người chồng mà
nàng không yêu, khi người chồng chết, phải tha phương cầu thực tìm cách nuôi con, chịu mọi sự khinh bỉ, ruồng bỏ của gia đình nhà chồng chỉ vì những phong tục và lễ nghi cổ hủ ngàn năm xưa của lễ giáo phong kiến Chính cuộc đời đau khổ nhẫn nhịn của mẹ mình, Nguyên Hồng đã yêu thương bao nhiêu bà mẹ Việt Nam khác bị lễ giáo phong kiến và những lề thói khắc nghiệt của xã hội cũ vùi dập, đày đoạ
Nguồn suối yêu thương đó của nhà văn ngày càng được mài sắc tinh thần chiến đấu và biến thành tinh thần yêu nước mãnh liệt khi ông chứng kiến nhiều phong trào đấu tranh sôi nổi của quần chúng, được tiếp thụ trực tiếp ánh sáng của cách mạng và sớm có ý thức giác ngộ cách mạng, tìm đến tham gia cách mạng và trở thành một Đảng viên của Đảng Cộng sản
* Nam Cao: Tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam Đây là một làng xa
phủ, huyện nên bọn chức dịch trong làng càng được dịp hoành hành, là nơi “hàng năm
thường xảy ra những vụ kiện tụng lẫn nhau giữa những bọn giàu có nhiều thế lực, và không
ít cảnh những người nông dân phải rời bỏ làng quê đi tha phương cầu thực”[66, tr.471]
Sinh ra trong một gia đình thuộc loại nghèo trong làng, đông anh em, đời sống khá chật vật Cha là Trần Hữu Huệ, làm nghề chạm trỗ và bốc thuốc bắc Mẹ là Trần Thị Minh, làm vườn, ruộng và dệt vải Trong các anh em, Nam Cao là người may mắn được ăn học tử tế Năm 1922, ông học tại trường tư ở làng, sau đó theo học bậc Tiểu học và Thành chung ở thành phố Nam Định nhưng khi sắp tốt nghiệp thì ông bị bệnh nên phải trở về quê để chữa
Trang 37bệnh (đầu năm 1935) Đến tháng 10 năm 1935, ông lập gia đình, vợ ông là bà Trần Thị Sen, làm ruộng và dệt vải Sau khi lập gia đình được đúng hai tháng thì ông theo một người cậu làm thợ may vào Sài Gòn kiếm sống Rời bỏ làng quê nghèo đói và tù túng, Nam Cao mang theo mình nhiều ước mơ và dự định lớn lao.Tưởng rằng những miền xa quê hương sẽ mở ra
cho anh một chân trời mới lạ Vào Sài Gòn, để kiếm sống, Nam Cao đã làm đủ mọi nghề “kể
cả những nghề mà những người tự xưng là trí thức không làm” (Sống mòn) Chuyến đi tuy
đã giúp anh có dịp tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội: công nhân, lính thuỷ, học sinh… được hít thở không khí đấu tranh sôi nổi của thành phố Sài Gòn trong những năm cao trào của Mật trận dân chủ làm cho tầm mắt anh được mở rộng Thế nhưng chỉ được ba năm, bệnh tim và
tê thấp lại trả Nam Cao trở về với nơi chôn nhau cắt rốn của mình
Sau khi ở Sài Gòn về, Nam Cao ôn lại vốn học cũ và thi đậu Thành chung Vì không đủ
sức khoẻ và không thích cuộc sống “sáng vác ô đi tối vác về” nên Nam Cao không xin làm
công chức mà quyết định ra Hà Nội để tìm việc Bấy giờ, một người trong họ có mở một trường tư thục Công Thanh ở Hà Nội, cần một giáo viên có bằng trung học nên mời Nam Cao về dạy Chính cuộc sống của một “giáo khổ trường tư” đã giúp nhà văn hiểu một cách sâu sắc thân phận của người tiểu tư sản trí thức nghèo trong một xã hội ngột ngạt, bế tắc Năm 1940, Nhật vào Đông Dương, trường Công Thanh bị đóng cửa, Nam Cao thôi dạy học và sống long đong vất vả bằng nghề viết văn, làm gia sư, có khi thất nghiệp phải về quê
ăn bám vợ Năm 1943, Nam Cao cùng với Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…gia nhập Hội văn hoá cứu quốc do Đảng thành lập và lãnh đạo Khi cơ
sở Văn hoá cứu quốc và phong trào cách mạng ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương
Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, được bầu làm chủ tịch xã Đến năm 1946, ông được điều động lên Hà Nội nhận công tác ở
Hội văn hoá cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiên phong, cơ quan của Hội Kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân Nam tiến với tư cách là một phóng viên vào vùng Nam Trung bộ sau đó trở về và tiếp tục làm công tác thông tin tuyên truyền tại địa phương đến năm 1947 thì lên Việt Bắc Thời gian này, Nam Cao vừa làm biên tập cho các báo cứu quốc Việt Bắc, cứu quốc trung ương, vừa làm mọi công tác của một cán bộ thông tin tuyên truyền: viết tin, viết tài liệu giải thích chính sách, làm ca dao tuyên truyền, viết truyền đơn địch vận, soạn cả sách địa lý phổ thông… Năm 1948, ông được vinh dự gia nhập vào Đảng
Trang 38cộng sản Đông Dương và tham gia vào Tiểu ban văn nghệ của Đảng Năm 1950, đi theo bộ đội trong chiến dịch Biên giới
Tháng 11 năm 1951, Nam Cao tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu liên khu Ba Nhân chuyến đi này, ông có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết lớn về quê hương nghèo khổ đang vùng dậy của mình mà ông đang thai nghén Thế nhưng, trên đường đi nhà văn và đoàn công tác bị địch phục kích và đã anh dũng hi sinh ở Mưỡu Giáp, Hoàng Đan, tỉnh Ninh Bình
Giống như Ngô Tất Tố, Nam Cao được sinh ra tại một làng quê nghèo giữa đồng bằng Bắc Bộ Đó là một làng lam lũ ở ven sông, quanh năm gần như không có tiếng hát, nhà nọ cách xa nhà kia, rải rác trong những “khu vườn tựa bãi tha ma” Trước Cách mạng tháng
Tám, đó là nơi thường xảy ra những cảnh “ông bá Kiến sai trói một lúc mười bảy người và
đánh một người lòi một mắt, những cảnh thuế má bóp hầu bóp cổ mỗi năm lại diễn ra, và những người dân cùng khổ ngày càng khổ mãi”[84, tr.44] Tuy bôn ba khắp đó đây để kiếm
sống, thời gian nhà văn sống ở quê không nhiều như Ngô Tất Tố nhưng không phải nhà văn không thấy được những cảnh tượng ấy Hơn nữa, qua lời kể của người thân, đặc biệt là vợ nhà văn mỗi khi ông về quê chính là điều kiện để ông có thể hiểu sâu sắc về quê hương nghèo khổ của mình, đồng thời góp phần bồi đắp thêm tấm lòng thương cảm đối với số phận những người nông dân lao động nghèo khổ trong xã hội và lòng căm thù đối với bọn thực dân phong kiến tay sai
Là một trí tiểu tư sản thức xuất thân trong một gia đình nghèo đông anh em, bản thân lại luôn bị những căn bệnh hoành hành thể xác, cuộc đời túng thiếu cứ luôn luôn quấn chặt lấy anh không lúc nào buông tha cả khi ở quê lẫn khi rời quê để tìm kế sinh nhai Có lẽ vì vậy
mà cuộc đời Nam Cao phải gắng với bao nỗi lo toan được biểu hiện lên trên gương mặt nhà văn Đó là một gương mặt hiền lành, trầm lặng và có vẻ như khó gần, là “cái mặt không chơi được” Trước cách mạng, Nam Cao sống trong một tâm trạng u uất bất đắc chí Bệnh tật ốm yếu lại thêm phải thất nghiệp nên ông phải sinh sống bằng hai nghề bạc bẽo bấy giờ: viết văn
và dạy học Trong khi đó, cuộc sống những người thân của ông ở quê ngày càng túng quẩn, nạn đói đe doạ, vợ con ông phải ăn cháo thay cơm,…Giữa cuộc đời ít may mắn ấy, Nam Cao
đã phải chứng kiến và chịu đựng biết bao bất công vô lý do xã hội bóp nghẹt cuộc sống con người gây ra Chính những điều đó đã giúp nhà văn hiểu sâu sắc và cảm thông hơn cuộc sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấy giờ
Trang 39Sống trong một hoàn cảnh gia đình và xã hội như thế, không phải không có lúc nhà văn cảm thấy bi quan, bất mãn Thế nhưng, mỗi lần bi quan, bất mãn thì những hình ảnh của bà
ngoại già, ở goá từ năm hai mươi hai tuổi, suốt đời vất vả cực nhọc nuôi con cháu “trủng
trẳng ăn cơm nguội nhạt những buổi chiều”, của người mẹ hiền lành lam lũ, người vợ chịu
thương chịu khó, người dì đã bế ẵm nhà văn khi còn tấm bé, hình ảnh những của làng quê và
bà con nông dân nghèo khổ ở làng quê lại hiện lên trong tâm trí ông cùng với “lý tưởng, sự
say mê nghệ thuật, tâm hồn trong sạch và mơ những cảnh sống, những con người thật đẹp”
(Nhật ký ngày 31-8-1950) là động lực an ủi, nâng đỡ nhà văn mỗi khi ông bi quan, bế tắt, đã
giữ nhà văn không bị rơi vào vực thẳm sa ngã, tuyệt vọng
Trong cái xã hội ngột ngạt tối tăm dường như không có lối ra ấy, Nam Cao đã được đọc
“Đề cương văn hoá” của Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia hoạt động trong Hội văn
hoá cứu quốc, học chương trình huấn luyện Việt Minh Từ đây, ánh sáng cách mạng đã soi đường dẫn lối cho anh, vun xới trong tâm hồn anh một lòng yêu nước thiết tha Lần đầu tiên, Nam Cao thấy đời sống có ý nghĩa và tinh thần yêu nước đã cho anh biết anh phải làm gì Nhật – Pháp bắn nhau, anh rời Hà Nội về quê, mãi mê tổ chức Việt Minh, cướp chính quyền
ở huyện và được bầu làm chủ tịch xã Cách mạng tháng Tám thành công, niềm vui lớn của dân tộc được giải phóng đã chiếu sáng tâm hồn Nam Cao, anh hăm hở tham gia hoạt động cách mạng, dùng ngòi bút của mình để phục vụ cho cách mạng và đã hi sinh cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước khi tuổi đời còn rất trẻ
Qua những nét khái quát về hoàn cảnh gia đình cũng như cuộc sống của các nhà văn hiện thực phê phán: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao ta thấy rằng các nhà văn hiện thực của chúng ta đều được sinh ra, lớn lên và sống trong những cảnh đời nghèo khổ, người thì dạy học, người thì kiếm sống bằng ngòi bút Cuộc sống của họ nhìn chung không khác nhiều với những người lao động nghèo khổ, phải bôn ba, vật vả với cuộc sống để kiếm miếng cơm manh áo Nhờ đó, họ có thể hiểu sâu sắc về cuộc đời, số phận của những con người bé nhỏ trong xã hội cùng sự đàn áp, bóc lột dã man của bọn thực dân phong kiến tay sai Từ đó hung đúc nên trong tâm hồn họ một sự cảm thông, thương yêu đối với những người cùng cảnh ngộ Chính tình thương yêu đó cùng với sự bùng dậy của những phong trào cách mạng bấy giờ đã soi sáng tâm hồn các nhà văn, họ cảm thấy yêu nước, thương dân hơn và quyết tâm tham gia cách mạng, dùng ngòi bút và sức lực của mình để phục vụ cho chiến tranh, cho sự
Trang 40nghiệp giải phóng dân tộc Có như thế, dân tộc mới được tự do, ấm no hạnh phúc, xã hội mới hết tồn tại những ngang trái bất công và áp bức bóc lột
2.1.2.2 Các nhà văn lãng mạn trong Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng
Trong những năm 1930 của thế kỷ XX, với chính sách mị dân, ru ngủ, đầu độc nam nữ thanh niên bằng con đường ăn chơi truỵ lạc của kẻ thù, một số thanh niên tư sản và tiểu tư sản tỏ ra khiếp nhược trước bạo lực quân thù, cam phận nô lệ Trong không khí u uất buồn nản đó, họ muốn tìm đến một chốn nào đó để thoát ly Sự đấu tranh giữa mới và cũ trong phạm vi lễ giáo phong kiến ngày càng diễn ra mạnh mẽ, nam nữ thanh niên muốn giải phóng khỏi sự ràng buộc khắc khe của lễ giáo phong kiến, được quyền tự do yêu đương và có hạnh phúc riêng Trước tình hình đó, cùng với phong trào Thơ mới, nhóm văn xuôi lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn ra đời
Cũng giống như phong trào Thơ mới, nhóm Tự Lực Văn Đoàn khi ra đời đã khéo lợi dụng khuynh hướng lãng mạn của thời đại, tâm lý nam nữ thanh niên thành thị và yêu cầu đổi mới của văn học để góp phần đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho hạnh phúc lứa đôi, phê phán kịch liệt đại gia đình phong kiến,… Do đó, văn chương Tự Lực Văn Đoàn nhanh chóng trở thành món ăn tinh thần hợp khẩu vị của các nam
nữ thanh niên tư sản và tiểu tư sản thành thị bấy giờ Nói đến Tự Lực Văn Đoàn là nói đến Nhất Linh người sáng lập, là “cây bút trụ cột” và Khái Hưng “nhà tiểu thuyết xuất sắc” của nhóm Cũng giống như các nhà văn hiện thực phê phán, hoàn cảnh lịch sử xã hội giai đoạn
1930 -1945 cùng hoàn cảnh gia đình, cuộc sống bản thân đã có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển tâm hồn, tính cách của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn nói chung, Khái Hưng và Nhất Linh nói riêng
* Khái Hưng: Là bút danh của Trần Khánh Giư sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng) trong một gia đình đông anh em, cha là Tuần phủ Trần Mỹ, cử nhân Hán học Thuở nhỏ, Khái Hưng theo nếp nhà học Nho học Năm 12 tuổi, chuyển sang học Tây học tại trường Collège Paul Bert (sau đổi thành trường Lycée Albert Sarraut) Sau khi thi đậu Tú tài Pháp phần thứ nhất (ban Triết học), ông không tiếp tục học để ra làm quan như những người cùng thời mà rời bỏ trường, nơi ông đã từng nổi tiếng là tinh nghịch và giỏi Pháp văn để cưới vợ và lên Phú Thọ buôn sơn Vì tính tình phóng khoáng nên công việc kinh doanh của ông bị thất bại Ông rời Phú Thọ lên Hà