Di cảo Nguyễn Minh Châu đã cho chúng ta thấy không chỉ sự thật của một giai đoạn lịch sử: Cuộc chiến tranh, số phận con người, số phận dântộc cùng những trăn trở, suy tư của nhà văn với
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-*** -LỤC THỊ THUÝ HÀ
DI CẢO NGUYỄN MINH CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ niềm biết ơn sâu sắc tới PGS - TS Nguyễn Thị Bích Thu, cô giáo đã tận tâm hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt thành giảng dạy của các thầy cô trong khoa Ngữ văn nói chung, các thầy cô trong tổ Văn học Việt nam trường Đại học sư phạm Thái Nguyên nói riêng để em có thể hoàn thành luận văn theo đúng kế hoạch đào tạo!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Tác giả luận văn
Lục Thị Thuý Hà
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ
ĐẦU Trang 1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Mục đích khoa học 8
6 Bố cục luận văn 8
NỘI DUNG CH¦¥NG I: dI C¶O nGUYÔN mINH CH¢U TRONG 9 Sù NGHIÖP S¸NG T¸C CñA NHµ V¡N 1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu 9
1.2 Vị trí của Di cảo trong văn nghiệp Nguyễn Minh Châu 24
1.3 Giá trị của Di cảo Nguyễn Minh Châu 26
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN THỰC XÃ HỘI 29 VÀ VĂN HỌC TRONG DI CẢO NGUYỄN MINH CHÂU 2.1 Một số vấn đề về hiện thực xã hội và cái nhìn đa diện về con 30 người………
2.1.1 Cái nhìn sâu sắc về hiện thực chiến tranh và sau chiến tranh… 30
2.1.2 Cái nhìn đa diện về con người 37
2.2 Quan niệm về nghề văn, trăn trở của người cầm bút………… 46
Trang 42.2.1 Những cảm nhận về văn học trong nước và thế giới 53
Trang 52.2.2 Những chuyển biến tư tưởng, nhận thức về nghề văn có ý nghĩa
56 trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu………
2.2.2.1 Thiên chức của người cầm bút… 58
2.2.2.2 Cách phản ánh hiện thực xã hội 60
CHƯƠNG III: CHÂN DUNG NGUYỄN MINH CHÂU 62 QUA DI CẢO 3.1 Nguyễn Minh Châu - gương mặt đời thường 63
3.1.1 Một con người thành thực với công việc, với vợ con, bạn bè 63 đồng nghiệp và với chính mình………
3.1.1.1 Thành thực với chính mình 63
3.1.1.2 Thành thực với vợ con 67
3.1.1.3 Tình cảm với bạn bè đồng nghiệp 69
3.1.2 Đối mặt với bạo bệnh 71
3.1.2.1 Chống chọi với bệnh tật với tất cả ý chí và niềm tin 71
3.1.2.2 Những sáng tác trên giường bệnh 72
3.2 Nguyễn Minh Châu - gương mặt nghệ sĩ lớn 74
3.2.1 Gắn bó với quê hương và vùng đất “nóng” Quảng Trị 74
3.2.2 Những đột phá trong sáng tác 80
3.2.2.1 Nguyễn Minh Châu với Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra, Miền 83 cháy, Dấu chân người lính, Cỏ lau………
3.2.2.2 Nguyễn Minh Châu với các trang phê bình tiểu luận 87
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Minh Châu là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn họchiện đại Việt Nam Quá trình sáng tác của ông gắn liền với sự trưởng thànhmột nhà văn chiến sĩ Ông đã cùng đồng đội trải qua những năm tháng ác liệtcủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và giai đoạn thăng trầm của thời
kỳ hậu chiến Sự nghiệp văn chương của ông là tấm gương phản chiếu quátrình vận động và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại Các tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu từ Cửa Sông (1967); Dấu chân người lính (1972); Những
vùng trời khác nhau (1970); Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà (1977);
Những người đi từ trong rừng ra (1982) đến Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983); Bến quê (1985); Mảnh đất tình yêu (1987); Chiếc thuyền ngoài xa (1987); Cỏ lau (1989); đã cho thấy sự đổi mới của nhà văn trong tư
duy nghệ thuật, khởi đầu từ cuộc“chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc” chuyển sang “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người”.
Là nhà văn tâm huyết, suốt đời trăn trở, băn khoăn về lẽ sống và sáng
tạo, Nguyễn Minh Châu đã âm thầm “tự đổi mới trước khi làn sóng đổi mới
dâng lên mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của dân tộc” Trên “hành trình tư tưởng” của mình, nhà văn đau đáu tìm cội nguồn đích thực của một nền văn
học mang tính nhân bản và nhân loại, khám phá những vấn đề thuộc về sốphận con người
Những năm gần đây, Di cảo của một số nhà văn, nhà thơ như: Nhật kí
Nguyễn Huy Tưởng (2006), Dương Thị Xuân Quý - Nhật kí - Tác phẩm
(2007); Di cảo Lưu Quang Vũ (2008); Di cảo thơ Chế Lan Viên (1992); Di cảo thơ Phùng Khắc Bắc (1994)… đã trở thành một hiện tượng khá đặc biệt
trong đời sống văn học Với Di cảo Nguyễn Minh Châu (2009) cũng không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 7phải là trường hợp ngoại lệ Những cuốn Di cảo - một dạng của nhật kí đã cho
người đọc hiểu hơn một thời kì lịch sử đã qua về cuộc đời và những sáng tácgắn với thời đại, dân tộc và với chính họ Hơn hai mươi năm Nguyễn Minh
Châu vĩnh biệt cõi đời, song ông đã trở thành “người trong cõi nhớ” của người thân và độc giả Những trang Di cảo, những ghi chép của ông được
người bạn đời là bà Nguyễn Thị Doanh nâng niu, cất giữ bấy lâu nay đã được
công bố Di cảo Nguyễn Minh Châu đã cho chúng ta thấy không chỉ sự thật
của một giai đoạn lịch sử: Cuộc chiến tranh, số phận con người, số phận dântộc cùng những trăn trở, suy tư của nhà văn với ý thức công dân - nghệ sĩ củamình mà còn giúp người đọc hình dung một cách đầy đủ hơn về NguyễnMinh Châu, một trong số hiếm hoi các cây bút đi tiên phong trong công cuộcđổi mới văn học, bằng những trang viết của mình đã làm rạn nứt những quanniệm khô cứng một thời về văn học và lao động nghệ thuật
Lâu nay sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu gồm những tácphẩm được xuất bản, công bố đã thu hút sự quan tâm của giới sáng tác và
nghiên cứu phê bình Nhưng Di cảo của nhà văn - những ghi chép còn lại
trong di sản văn chương của ông đến hôm nay mới chính thức ra mắt công
chúng Với gần 500 trang, cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu đã phơi tỏ, bổ
sung thêm những điều còn chìm ẩn trong cảm nghĩ, nhận thức, với những trăn
trở, khát khao sống và sáng tạo của nhà văn Như vậy, tìm hiểu Di cảo
Nguyễn Minh Châu không chỉ để hiểu hơn chân dung đích thực và hoàn chỉnh
về nhà văn mà còn là cơ hội để nhìn nhận thấu đáo hơn về sự nghiệp văn họccùng những đổi mới có ý nghĩa quan trọng trong tư duy sáng tạo của ôngtrong cả một quá trình sống và viết Đó là những gợi dẫn cho chúng tôi lựa
chọn đề tài Di cảo Nguyễn Minh Châu.
Trang 82 Lịch sử vấn đề
2.1 Ý kiến đánh giá sự nghiệp sáng tác Nguyễn Minh Châu
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu có một mảng gắn với thời kì đổi
mới.Với những sáng tác này, nhà văn được tôn vinh là người “Mở đường tinh
anh” cho cuộc đổi mới văn học, vì thế sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã
được các nhà nghiên cứu phê bình văn học chú ý ngay từ khi những tác phẩmđầu tiên ra đời và càng về sau thì cách đánh giá càng thoả đáng và toàn diệnhơn Mỗi người tiếp cận tác phẩm ở một góc độ và có những cách đánh giá,nhận xét, nhìn nhận sự thành công ở từng mức độ khác nhau nhưng tất cả đều
có chung sự tin tưởng: Nguyễn Minh Châu là tài năng văn xuôi nhiều triểnvọng Đến nay đã có rất nhiều công trình, bài viết về Nguyễn Minh Châu và
sự nghiệp của ông, trong đó phải kể đến các cuốn sách tuyển chọn bài viết của
nhiều tác giả như: Nguyễn Minh Châu - Con Người và Tác Phẩm (Nhiều tác
giả; do Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân biên soạn - Nxb Hội nhà văn
1991), Nguyễn Minh Châu - Tài năng và sáng tạo nghệ thuật (Mai Hương
biên soạn - NxbVhoá - TT 2001)
Gần đây nhất là cuốn Nguyễn Minh Châu về tác giả - tác phẩm
(NxbGD- 2002) do Nguyễn Trọng Hoàn tuyển chọn
2.1.1 Thời kì trước 1975
Trước cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã có hơn 10
truyện ngắn và bút kí in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội Nhưng phải đến tiểu thuyết Cửa sông (1967) thì con đường văn học của Nguyễn Minh Châu mới thực sự định hình Tiếp đó tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970)
và nhất là tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972) đã đưa Nguyễn Minh Châu
vào trong số những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học chống Mỹ
Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trước 1975 như Cửa sông; Dấu
chân người lính, ngay từ khi xuất hiện đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt.
Trang 9Nhận định về sự thành công của tác phẩm Cửa sông, giáo sư Phong Lê viết:
“Tác giả tỏ ra có khả năng khái quát hoá cuộc sống, biết lựa chọn những tình
huống, những tính cách điển hình” [33] Với Dấu chân người lính, nhà
nghiên cứu Tôn Phương Lan nhận xét: “Tác phẩm đã đi thẳng vào cuộc chiến
đấu ác liệt và ngoan cường nơi tiền tuyến… xây dựng nhân vật đẹp đẽ , giàu chất lãng mạn” [35] Các nhà nghiên cứu phê bình: Lại Nguyên Ân, Thiếu
Mai, Nguyễn Kiên, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn… cũng đều cónhiều những bài viết công phu về giai đoạn sáng tác này của Nguyễn MinhChâu và hầu hết các tác giả nói trên đều thống nhất khẳng định ông là một tàinăng văn xuôi nhiều hứa hẹn
2.1.2 Thời kì sau 1975
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng Nguyễn Minh Châu nhanhchóng hoà nhập với cuộc sống mới của dân tộc Là nhà văn nhạy cảm vớinhững biến đổi của đời sống xã hội sau chiến tranh, ông lần lượt cho ra đời
những tiểu thuyết: Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những
người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất tình yêu (1987) cùng các tập
truyện ngắn Bến quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau mang
những sắc điệu mới trong bút pháp cũng như giọng điệu của nhà văn.
Những tác phẩm này được các nhà nghiên cứu phê bình văn học:Nguyễn Văn Long, Nhị Ca, …đánh giá khá cao Các nhà nghiên cứu thấy ở
Nguyễn Minh Châu “Sự không chịu dừng lại” mà đã có dấu hiệu tìm tòi đổi
mới Điều này chứng tỏ Nguyễn Minh Châu luôn luôn trăn trở tìm kiếm mộtlối đi riêng biệt để thể hiện một cách chính xác hơn, chân thực hơn những vấn
đề nóng bỏng của đời sống Nếu như chia sáng tác của Nguyễn Minh Châuthành hai giai đoạn cụ thể thì những sáng tác cuối thập kỉ bảy mươi, đầu thập
kỉ tám mươi là một giai đoạn có tính chất quá độ Để rồi sau đó ít lâu Nguyễn
Trang 10Minh Châu trở thành một trong những nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học.
Với ba tập truyện ngắn Người đàn bà trên tuyến tàu tốc hành, Bến quê,
Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu đã trở thành một “hiện tượng” văn học Điều đó
đã tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau trong giới phê bình văn học, thậm chí
có lúc các ý kiến trái ngược nhau, nhưng được đưa ra bàn luận sôi nổi, đượcphân tích kĩ lưỡng ở nhiều góc độ khác nhau, đã xuất hiện một loạt bài viếtcủa các nhà phê bình
Nhìn chung các ý kiến đánh giá, nhận xét trong cuộc thảo luận đã kết
luận: Sáng tác của Nguyễn Minh Châu: “Là một khuynh hướng tìm tòi trong
nghệ thuật” Tuy vậy, vẫn có ý kiến cho rằng:“Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mới thành công một nửa” [50].
Bên cạnh một số ý kiến đánh giá có phần dè dặt là đa số các ý kiến ghinhận thành tựu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu cùng những đóng gópmới mẻ của nhà văn với thể loại này Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sau khiphân tích, đánh giá truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra cái mới của nhà
văn “Sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã có chiều sâu mới mẻ nảy sinh trong
sự đổi mới của các bình diện nhận thức đời sống, mạnh dạn đi tìm cách thể hiện khác nhau làm phong phú các khả năng nghệ thuật của mình và của nền văn xuôi đang bước vào thời kỳ phát triển mới” [1].
Trần Đình Sử lại ghi nhận sự thành công của Nguyễn Minh Châu dưới
con mắt của một nhà thi pháp học Ông cho rằng:“Truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu xuất hiện như là một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới” và đặc sắc của tập Bến quê chủ yếu là thể hiện một hướng trần thuật có chiều sâu” [53].
Với Phiên chợ Giát, một truyện ngắn được hoàn thành ngay trên
giường bệnh vào chính những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Minh
Trang 11Châu đã gửi thông điệp nghệ thụât cuối cùng của nhà văn như,“một di chúc
khắc khoải đẫm máu”, với người đọc Đỗ Đức Hiểu đã viết: “Phiên chợ Giát
có một tầm cỡ lớn Nó là một chấn thương nhức nhối, một bức tranh với bao cảnh hoang vu, với nhiều mảng tối và những chấm đỏ màu máu…”[32].
Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, song Phiên chợ Giát là một trong những thiên truyện hay nhất của Nguyễn Minh Châu, “Một kiệt tác của
văn học hiện đại chúng ta” nó “bộc lộ sự tinh tế, tài hoa của một cây bút mà tài năng đang ở độ chín” (Nguyên Ngọc).
Cái chết của nhà văn đã gây nhiều xúc động, luyến tiếc nhất là vào thờiđiểm văn học nước ta đang có những chuyển động phong phú, sâu sắc vàphức tạp Sau khi ông mất, nhiều nhà phê bình đã viết bài tưởng niệm.Tất cảđều có chung một nhận xét: Nguyễn Minh Châu là nhà văn có nhân cách lớn,một tài năng văn học thật sự Những sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau khiông qua đời (1989) vẫn tiếp tục thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu
và nghiên cứu trên những góc nhìn mới
2.2 Ý kiến đánh giá Di cảo Nguyễn Minh Châu
Trong lời giới thiệu cuốn sách Di cảo Nguyễn Minh Châu, tác giả Hoàng Châu Minh đã viết: “Cùng với toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông,
cuốn Di cảo này giúp cho những ai quan tâm đến nền văn học hiện đại Việt Nam và tác giả Nguyễn Minh Châu có một bức chân dung hoàn chỉnh về ông
- một nhà văn chiến sĩ - suốt đời không ngừng trăn trở lo âu về số phận con người và săn đuổi một cách riết ráo ngay chính bản thân mình” [41-10].
Nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan trong bài viết “Cái nhìn ngược sáng
từ Di cảo Nguyễn Minh Châu” đã nhận thấy:
“Di cảo Nguyễn Minh Châu không chỉ cho chúng ta thấy được phần nào sự thật của một giai đoạn lịch sử cuộc chiến tranh, số phận mỗi con người, số phận dân tộc cũng như những trăn trở, suy tư của nhà văn về
Trang 12trách nhiệm nghệ sĩ của mình mà qua đó chúng ta cũng có một hình dung
rõ hơn về một Nguyễn Minh Châu - một trong số các nhà văn sớm đi đầu trong công cuộc đổi mới và cũng hiểu được vì sao ông đã chọn cách đi ấy,
do đâu mà ông lại thành công như vậy” [41- 12].
Điểm lại lịch sử vấn đề có thể khái quát rằng: Về sự nghiệp sáng táccủa Nguyễn Minh Châu đã được nhiều cây bút nghiên cứu, các đề tài luận văn
quan tâm đến như Quan niệm nghệ thuật về con người, Những đổi mới tư duy
nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Cảm hứng nhân văn trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu…Và “ như là để nói đến sự sống sau cái chết” Năm
2009, cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu ra đời đã giúp người đọc có cái nhìn
đầy đủ hơn về Nguyễn Minh Châu trong đời sống, cũng như đời viết củamình Và đây chính là khoảng trống để chúng tôi tiếp cận và triển khai đề tài:
Di cảo Nguyễn Minh Châu.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu Di cảo Nguyễn Minh Châu nhằm ghi nhận vị trí và giá trị của Di cảo trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu, trên
cơ sở đó nhận diện một cách đầy đủ và toàn diện hơn chân dung nhà văn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Di cảo Nguyễn Minh Châu, NXB Hà Nội, 2009 và các sáng tác của nhà văn.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu:
5 Mục đích khoa học
- Nhận diện Di cảo Nguyễn Minh Châu và vị trí của nó trong sự nghiệp
văn chương của nhà văn
Trang 13- Tìm hiểu Di cảo Nguyễn Minh Châu để thấy rõ hơn sự chuyển đổi tư duy
nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu về văn học, về hiện thực, về con người, vềnghề văn Một cây bút có ý thức tiên phong trong công cuộc đổi mới vănhọc
- Nghiên cứu Di cảo Nguyễn Minh Châu góp phần nhận diện đầy đủ hơn chân
dung và nhân cách nhà văn trong quá trình sống và viết của ông
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương
Chương I: Di cảo Nguyễn Minh Châu trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Chương II: Một số vấn đề của hiện thực xã hội và văn học trong Di Cảo
Nguyễn Minh Châu.
Chương III: Chân dung Nguyễn Minh Châu qua Di cảo.
Trang 14NỘI DUNG
CH¦¥NG I
dI C¶O nGUYÔN mINH CH¢U TRONG Sù NGHIÖP S¸NG T¸C
CñA NHµ V¡N
1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu
Nhà văn Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20.10.1930; mất ngày 23.1.1989.Quê gốc: Làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Làng Văn Thái tục gọi là làng Thơi chuyên nghề đánh cá khơi và làmmuối, là một vùng quê nghèo, đời sống văn hoá rất thấp
Nguyễn Minh châu sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, nhưng
sa sút sau cách mạng tháng Tám Cha cũng có chút học hành Mẹ quanh nămlàm việc đồng áng, không biết chữ, rất giàu tình thương và lòng hy sinh vì concái, đặc biệt thương chiều Nguyễn Minh Châu là con út Tuy khá giả nhưngNguyễn Minh Châu rất khắc khổ Con cái trong nhà chỉ con trai là được họchành đến nơi đến chốn, còn con gái không được đi học Những người chị củaNguyễn Minh Châu (chị ruột, chị dâu, chị họ) với những số phận không maymắn, cả cuộc đời tủi cực lận đận ở quê nhà đã để lại ấn tượng sâu sắc trongtình cảm của nhà văn
Mặc dù sinh ra trong một gia đình đông anh em như vậy, riêng ôngđược học hành chu đáo Quê hương Nguyễn Minh Châu là mảnh đất cửa ngõ
Xứ Nghệ, nằm ven biển miền Trung Cũng như bao làng quê ở đây, làng Thơi
là một vùng đất sơn thuỷ hữu tình nhưng cũng rất khắc nghiệt và dữ dội Nằmkẹp giữa Lạch Thơi và Lạch Quèn, phía Tây là đồi núi ăn lan ra tận biển nhưHòn Rồng, Hòn Kiến, làng Thơi là một vùng đất dữ dội mà hiền hoà, vớithiên nhiên nước biếc non xanh Nhưng Kẻ Thơi cũng là vùng đất của nhữngcơn gió Lào bỏng rát về mùa hè và những trận cuồng phong chao đảo cả đấttrời về mùa mưa lũ
Trang 15Có lẽ sự hùng vĩ và khắc nghiệt của thiên nhiên, đất đai đã in dấu ấn lêncon người của làng quê ông Nguyễn Minh Châu đã kể về con người làng
Thơi của nhà văn như sau: “Quê tôi là Quỳnh Hải thôn Kẻ Thơi, Lạch Quèn.
Dữ dội lắm Dân Lạch Thơi nhiều nơi sợ chỉ có uống rượu và đánh nhau Rượu say, ngủ ngay ở bãi biển Mỗi đêm, những người đàn bà phải đi “ nhặt” chồng về Cả làng làm nghề chài lưới, chẳng học hành gì cả Tôi còn nhớ ông Điềm mỗi khi say rượu, cởi truồng nồng nỗng, quần vắt lên vai, đi vào trong xóm, lấy quần đánh chó Gặp ai cũng chửi tuốt Nhưng vớ phải một
mụ bán bánh đa ở chợ làng còn dữ dội hơn Mụ tuột váy ra, lấy váy đánh vào mặt Lão Điềm phải thua Có người uống rượu say, lấy mảnh thuỷ tinh (dùng
để cạo tinh những thanh giang chẻ lạt) rạch ngang bụng, ruột xổ ra Trẻ con chúng tôi lấy rổ đựng ruột cho ông ta, buộc lại rồi đưa đi viện Ông ta chết.
Có một chuyện cũng lạ: Một anh đi biển gặp bão, chết ngoài khơi xa, xác trôi
về, cứ trôi quanh co theo con lạch Thơi mà vào tận cửa nhà mình mới dừng lại Mùa bão, sau mỗi trận bão, người làng khóc như ri vì có người nhà chết ngoài biển…”[32].
Tháng 1 năm 1950, Nguyễn Minh Châu nhập ngũ Cùng năm, ông gianhập Đảng Cộng sản Việt Nam Năm 1951, ông được cử đi học trường sĩ quanlục quân Trần Quốc Tuấn Trước khi trở thành nhà văn, ông đã trải qua các chứcvụ: Sĩ quan tác chiến, chính trị viên đại đội, trợ lí văn hoá thanh niên
Từ năm 1950 đến năm 1954, Nguyễn Minh Châu tiếp tục phục vụ trongquân đội, ông đã cùng đơn vị chiến đấu và hoạt động ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ Năm 1952 đến 1956, ông công tác tại ban tham mưu tiểu đoàn 772,706thụôc sư đoàn 320.Tham gia chiến đấu ở vùng tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng.Hoàn cảnh công tác của một cán bộ tham mưu tác chiến của tiểu đoàn, rồitrung đoàn giúp Nguyễn Minh Châu thông thuộc nhiều vùng xóm làng miềnBắc, nhất là vùng Hà Nam Ninh và Thái Bình Nguyễn Minh Châu viết thành
Trang 16công tiểu thuyết đầu tay Cửa sông, chính một phần nhờ vốn sống trong thời gian
này
Trang 17Năm 1959, Nguyễn Minh Châu là trung uý thuộc sư đoàn 320 đi dự hộinghị bạn viết toàn quân Năm 1960 được điều động về cục Văn hoá quân đội,
rồi về Tạp chí Văn nghệ quân đội, vừa làm biên tập vừa làm phóng viên Tại
đây Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết văn và cho in những truyện ngắn đầu taynhưng chưa gây được sự chú ý Từ năm 1962 đến năm 1964, Nguyễn Minh
Châu cho in 12 truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ quân đội Đây là những
truyện ngắn viết trong khoảng thời gian hoà bình ngắn ngủi ở Miền Bắc.Người bộ đội, nhân vật chính trong truyện của Nguyễn Minh Châu thời gian
này “Vẫn sôi sục một tinh thần tiền tuyến Họ dốc hết sức mình vào việc luyện
tập trên thao trường để chuẩn bị thật tốt cho những cuộc chiến đấu đang chờ
họ Luôn luôn nghiêm khắc với mình, luôn chống lại thái độ hoà bình chủ nghĩa”, đó là đặc điểm chung của những Bản, Vẻ, Bình, Sinh, Trần Việt, An,
Thoa…trong Buổi tập cuối năm, Gốc sắn, Trên vùng đất sỏi, Ghi chép ở đại
đội… Ngày 5 tháng 8 năm 1964, giặc Mỹ đánh phá sông Gianh, Bến Thủy,
Hồng Gai, Nguyễn Minh Châu đi vào khu IV, Quảng Bình Khoảng tháng
mười năm ấy, Nguyễn Minh Châu có Tuổi trẻ cầm súng, tháng mười một có
Kỉ niệm hạm tàu Đến năm 1967, nhà văn đã đóng góp vào công cuộc chống
Mỹ một truyện vừa tương đối có chất lượng: “Cửa sông” Cuốn truyện vừa ra đời đã được bạn đọc khen ngợi và được xem như sự báo hiệu “tác giả là một
nhà tiểu thuyết tài năng”(Nguyễn Đình Thi) Truyện viết về làng Kiều rất
bình thường, một làng quê có bờ sông bến nước, với những đống muối trắng
loá dưới nắng hè, với những đàn le le vụt bay lên từ bãi sú, những con “còng
gió” hốt hoảng chạy trên cồn cát…, và những con người cũng gan góc, trần
trụi và khoẻ mạnh như quê hương của họ Truyện toát lên tấm lòng yêu mến
đất nước, con người của nhà văn: “Mỗi tấc đất, mỗi con người quen thuộc mà
mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái họ đều có một cuộc đời gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách Mỗi con người đều mang trong lòng bao
Trang 18điều tốt mà có thể học hỏi khám phá suốt đời không hết, để tìm hiểu nhân dân mình” “Lòng thương yêu đằm thắm đối với tất cả những cái đó là sức mạnh của những con người chiến đấu trong Cửa sông mà cũng là chỗ mạnh của tác giả Cửa sông” Theo sát cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc, Nguyễn
Minh Châu có mặt hầu hết ở các binh chủng: Câu chuyện trên trận địa,
Những vùng trời khác nhau viết về người lính phòng không; Trong ánh đèn gầm, Mảnh trăng cuối rừng viết về người chiến sĩ giao thông ở Trường Sơn;
Kỉ niệm hạm tàu, Cửa sông viết về lực lượng hải quân…
Từ những bút kí, truyện ngắn đến Cửa sông, Nguyễn Minh Châu tiến dần từng bước với ý thức rõ ràng về con đường mình đi “Anh nói thầm với người đọc
qua các trang viết của mình; hãy lấy con mắt của tình yêu và niềm tin mà tìm hiểu và đánh giá xã hội ta và những con người của chúng ta, cho dù đó là những con người bình thường nhất mà ta vẫn tiếp xúc trong đời sống hàng ngày”.
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu thật sự được khẳng định
trong thời kì kháng chiến chống Mỹ với hai cuốn tiểu thuyết Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972) và tập truyện ngắn Những vùng trời khác
nhau (1970) Dấu chân người lính có nhiều nhân vật Tính cách những nhân
vật chính được tác giả chạm trổ khá sắc sảo Chẳng hạn, Lữ được xây dựngtheo hướng lý tưởng hoá, có sử dụng ít nhiều yếu tố lãng mạn và được thểhiện bằng một lối văn dồi dào cảm xúc, có nhiều chất thơ Qua tập thể những
người chiến sĩ trẻ trong Dấu chân người lính, nhà văn đã đưa lại cho bạn đọc
hình ảnh phổ biến về người binh nhì của quân đội hiện đại chúng ta
Cùng với việc thử sức mình ở lĩnh vực tiểu thuyết, Nguyễn Minh Châucòn quan tâm đến hoạt động phê bình, dựng chân dung văn học Năm 1969,
trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, nhà văn in bài trao đổi kinh nghiệm sáng tác đầu tiên mảng tác đầu tiên: Người trong truyện Năm 1970, cho in trên tạp chí
Tác phẩm mới bài viết về nhà văn Nguyễn Thi: Một người viết văn, Một sự chuẩn bị.
Trang 19Ngày 13 tháng 4 năm 1972, ông được kết nạp vào hội nhà văn ViệtNam Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1973, đi theo đoàn quân 559 vào đườngmòn Hồ Chí Minh Ông dự lễ trao trả tù binh ở sông Thạch Hãn, viết bài tiểu
luận Người viết trẻ và cánh rừng già, giới thiệu nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật.
Tên tuổi nhà văn Nguyễn Minh Châu được biết đến không chỉ ở trong nước
mà cả ở nước ngoài Năm 1973, nhà nghiên cứu văn học Nga N.I.Niculin giới
thiệu Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng trên tạp chí
Các dân tộc Á - Phi (Liên xô).
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng Trongniềm vui lớn, mỗi gia đình, mỗi con người Việt Nam đều đứng trước nhữngvấn đề, những hoàn cảnh gay cấn, hậu quả nhức nhối của hai mươi năm đấtnước bị chia cắt Ông đến với miền Nam, một nửa đất nước vừa được giảiphóng: Tháng 5 - 6 (1975) ông đi Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long, tháng
10 cùng năm ông đi cửa Việt (Quảng trị) “Mảnh đất vừa giải phóng này như
một lời thách đố, như một thứ chiến trường mới, lập tức mở ra trên chính vùng chiến trường cũ… bước ra khỏi một cuộc chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực để bước vào một cuộc chiến tranh” Nhận
thức rất đúng này về hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau chiến tranh đã được
Nguyễn Minh Châu thể hiện trong tiểu thuyết Miền Cháy (Nhà xuất bản quân đội nhân dân ấn hành năm 1977) Trong Miền cháy, để giải quyết những vấn
đề éo le trong số phận, trong từng gia đình do hậu quả của cuộc chiến tranhlâu dài đã gây ra không có con đường nào khác ngoài chính sách hoà hợp dântộc Nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết là một đứa bé bốn tuổi, con mộtviên trung tá ác ôn đã bắn lén Nghĩa, người con trai còn lại cuối cùng của bà
mẹ Êm, ở nơi quân ta vừa chiếm được trên của biển Thuận An Khi nhận nuôithằng bé, bà mẹ chưa biết rõ điều đó Đến khi biết rõ sự thật, thái độ của mỗingười lính, người dân đối với thằng bé là sự giằng xé, đấu tranh nội tâm giữa
Trang 20yêu thương và căm giận sao cho đúng, cho hợp với hoàn cảnh mới của đấtnước Bằng tất cả nghị lực có được của một cuộc đời quá nhiều đau khổ, bà
Êm lại một lần nữa nén nỗi đau riêng để hành động đúng với bản chất nhânđạo của bà
Tiếp tục chủ đề mà Nguyễn Minh Châu đã đặt ra sau 1975, năm 1982,
Nguyễn Minh Châu đã cho ra mắt Những người đi từ trong rừng ra, giải quyết một loạt vấn đề do hậu quả chiến tranh gây ra mà Miền cháy chưa kịp
giải quyết Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết là từ chiến tranh chuyển sang hoàbình, một bộ phận quân đội chuyển sang làm kinh tế Vấn đề đấu tranh tưtưởng từng bước tuy ngấm ngầm nhưng thật quyết liệt trong một đơn vị bộđội, là cuộc đấu tranh giữa lề lối làm ăn khoa học hiện đại với lề lối làm ănlạc hậu cũng tức là đấu tranh giữa tư tưởng tiến bộ và tư tưởng bảo thủ
Với hai cuốn tiểu thuyết Miền cháy (1977) và Những người đi từ trong
rừng ra (1982), Nguyễn Minh Châu đã không gây được hiệu quả trong dư
luận như khi cuốn tiểu thuyết Dấu chân người lính vừa xuất hiện Đây cũng là
chuyện bình thường, bởi vì trong sáng tạo nghệ thuật của một nhà văn, khôngphải lúc nào các tác phẩm xuất hiện sau cũng thành công hơn các tác phẩmtrước Mặt khác, con đường sáng tạo của nhà văn cũng là con đường tìm tòi
thể hiện chỗ mạnh của ngòi bút.“Cái mà ta gọi là phẩm chất tiểu thuyết của
Nguyễn Minh Châu dường như chưa ổn định Anh hãy còn trên con đường không ngừng tìm tòi, thể nghiệm một cách viết riêng để tải được đạt nhất những suy nghĩ sâu sắc cùng với vốn sống dày dặn của mình”(Thiếu Mai).
Từ thực tế cuộc sống, từ trang viết đã được thể nghiệm, Nguyễn MinhChâu đã nhận ra sở trường ngòi bút của mình, và các truyện ngắn của ông lầnlượt xuất hiện, đề cập tới những vấn đề của đời sống và con người thời hậu
chiến Nguyễn Minh Châu đã quyết định lao vào “mặt trận đạo đức” của con
người sau cuộc chiến Như ông đã nói:
Trang 21“Tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi con người, một cuộc giao tranh không có gì ồn
ào nhưng xảy ra từng ngày, từng giờ và khắp mọi lĩnh vực của đời sống”.
Nhận thức trên đây đã được nhà văn thể hiện trong các truyện ngắn Về
một cách sống (Văn nghệ số 12-1980, sau này đổi tên là Hạng), truyện vừa Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Văn nghệ số 35, tháng 8-1982), Bức tranh (bắt đầu viết từ năm 1976, đăng trên Văn nghệ số 50, tháng 12-1982).
Trong những truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu đã đem những con ngườianh hùng một thời ông quen biết và đã thể hiện họ qua các nhân vật như Kinh,
Khuê (Dấu chân người lính), Hiển (Những người đi từ trong rừng ra) để trả lời những vấn đề đạo đức, cách sống bây giờ: “Trong truyện ngắn Hạng, tôi
đã đưa nhân vật chính uỷ Kinh trong Dấu chân người lính xuất hiện trở lại với tất cả phong độ chính uỷ cũ, để làm chỗ dựa tinh thần cho Hạng giờ đây
đã trở nên một con người thực dụng”.
Năm 1983 là năm có nhiều niềm vui trong cuộc đời cầm bút củaNguyễn Minh Châu Những cố gắng tìm tòi của ông về cuộc sống, con ngườitrong hoàn cảnh mới của đất nước đã được trân trọng Ông là đại biểu chínhthức dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 3 tại Hà Nội; đọc tham luận về
tiểu thuyết; trúng cử vào Ban chấp hành hội khoá 3 Cho in truyện ngắn Giao
thừa và một số bài về kinh nghiệm viết truyện ngắn, tiểu thuyết trên Văn nghệ quân đội Cho in thành sách riêng tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới Tiểu thuyết Miền cháy được
dịch ra tiếng Nga, in tại Nhà xuất bản Cầu Vồng (Liên Xô) Truyện ngắn Bức
tranh cũng được dịch và in trên báo Văn học (Liên Xô).
Năm 1984, Nguyễn Minh Châu lần lượt cho đăng trên báo Văn nghệ các truyện ngắn Dấu vết nghề nghiệp, Hai con nhóc (sau này có tên Hương và
Phai), Khách ở quê ra Các truyện ngắn mới đăng này vừa thu hút sự chú ý
Trang 22đáng kể, vừa gây những luồng dư luận khác nhau trong giới viết văn và phê
bình Đáng chú ý nhất là truyện ngắn Khách ở quê ra Truyện viết về lão Khúng “tính nết chật chưởng đầy trái khoáy, nhưng không phải là con người
lèo lá, nhớp bụng” Lúc trai trẻ, Khúng là một thanh niên lêu têu, có đầu óc
“thích nổi tiếng” Khúng lấy vợ bất chấp mọi sự thua thiệt của một anh trai
tân, phải hứng chịu bao nhiêu lời chửi rủa của cả làng vì dám cả gan đem về
nơi thờ thần hoàng “một con đĩ chửa hoang” Vì đói kém Khúng phải dìu
cõng vợ con rời làng đi khai hoang ở một vùng đất hoang vu chỉ có đá, tiếng
chim “bắt tép kho cà” và lau sậy Để cưu mang cả gia đình, Khúng phải lao
động Hắn tranh chấp với rừng từng bước chân không phải chỉ trả giá bằng
mồ hôi mà bằng cả máu Ngày mới lên, hắn đã bị thương trong một lần máy
bay ném bom đêm, giữa lúc hắn đang vãi lúa lốc” Nếu như trong Mảnh đất
tình yêu, cuộc sống phải đối chọi, phải đương đầu để sống đã biến những
người dân xóm Bến Đá của vùng biển mền Trung phải kiên trì như con dãtràng, thì nơi rừng hoang của miền tây Nghệ Tĩnh, sự vật lộn giữa con người
với thiên nhiên, với giặc giã đã biến Khúng thành kẻ “Y như một con bọ hung
từ dưới lỗ chui lên: vừa đen, vừa gầy, vừa già, vừa xấu” Một đời vật lộn với
cái đói, cái nghèo, trọng cái thực nên giữa phố phường Hà Nội, đến thăm các
di tích, Khúng rất ngỡ ngàng nếu không nói là thờ ơ trước các di tích, thắngcảnh (Khúng cho rằng, Tháp Rùa thật không giống cái Tháp Rùa trong bứctranh treo ở nhà) Lão xa lạ với bao sinh hoạt, cảnh sắc đô thị Nhưng khi tiếpxúc với cái đời thường, với những nhu cầu tồn tại tự nhiên của con người nhưcảnh chợ búa (ở chợ Đồng Xuân, những cái ăn hàng ngày như hũ nước mắm
dúm muối, mớ rau, con cá…Khúng rất dễ dàng nắm bắt nó: “Làm con người
sống ở trên đời, anh nào cũng phải ăn cho nên xét cho đến cùng, ruột da đều giống nhau cả” Sự chiêm nghiệm, triết lí về cuộc sống, về con người ở
Khúng chỉ có được khi nhân vật suy ngẫm sống với chính thân phận, cuộc đời
Trang 23của mình trong thực tại Cái được, cái mất, hạnh phúc và đau khổ trong đời,
cũng đã nghiệm thấy ở bên ly rượu nhà Định: “Phàm con người ta ở đời, có
cái gì hơn người sướng vì nó và chuốc lấy chua cay cũng vì nó?!” Đoạn cuối
truyện, tác giả mô tả Khúng như một con người thất bại hoàn toàn khi lão giậtmình trở nên bơ vơ cô độc khi biết đứa con lão đã bỏ lão để trở thành người
bố đích thực của nó là con người của công nghiệp - người tổng công trình sư(đồng thời là tình địch trong suốt hai mươi năm của lão) Truyện hoàn thành
vào tháng 3 năm 1984 và ra mắt độc giả trên báo Văn nghệ sau đúng một
năm, tháng 3 năm 1985, đã làm dư luận xôn xao Nhà nghiên cứu Nguyễn
Đặng Mạnh kể rằng: “Nhớ lại hồi truyện lão Khúng (tức khách ở quê ra) mới
đăng báo, không phải ai cũng hiểu và đồng tình (…) Một nhà thơ kiêm nhà phê bình văn học nói với tôi như thế này: tôi không sao nuốt nổi cái truyện ngắn này và cả tập Bến quê nữa” [40].
Sở dĩ có những ý kiến trái ngược nhau trong việc tiếp nhận về nhân vậtKhúng là ở người nông dân này, một mặt anh ta là một con người sản xuất
nhỏ, “cắm rất sâu vào các tầng đất quá khứ” Cuộc sống của những người
nông dân như Khúng dựa vào kinh nghiệm và thói quen truyền lại từ nhiềuđời nên không tránh khỏi cái nhìn thiển cận, luẩn quẩn với cái mặt đất ở dướichân với mấy mảnh ruộng …thuộc sở hữu gia đình lão Mặt khác, cũng đừngnên nghĩ, tất cả những tính cách và tâm lí ấy đều là xấu Qua nhân vật Khúng
(trong truyện Khách ở quê ra, Phiên Chợ Giát ), Nguyễn Minh Châu đã làm nổi lên: “Mối quan hệ gia trưởng giàu chất thơ ấm áp và cơ sở đạo đức
truyền thống của nó” Nguyễn Minh Châu đã tìm thấy chất thơ ấm áp từ cuộc
sống của người nông dân trong quan hệ cộng đồng: gia đình, họ hàng, làng
xã Từ họ toả sáng những nét phẩm chất cao đẹp góp phần làm nên giá trị vănhoá tinh thần của người Việt Nam hôm qua và hôm nay
Trang 24Nguyễn Minh Châu trở thành nhà văn được chú ý nhất của dư luận.
Tháng 6 năm 1985, đã có một cuộc thảo luận với nhan đề: “Trao đổi về
truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” do tuần báo Văn
nghệ tổ chức Cuộc thảo luận đã thu hút rất nhiều ý kiến của các nhà văn nhà
nghiên cứu, phê bình văn học (báo Văn nghệ tường thuật, đăng hai kì, số 27
và 28) Tập truyện Bến quê được in thành sách riêng Hiện tượng “Nguyễn
Minh Châu” đã trở thành trung tâm của sự chú ý của giới nghiên cứu phê
bình Hai đoạn trích dẫn sau đây tiêu biểu cho những ý kiến trong số đó Nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử đánh giá: “Trong những nhà văn trăn trở tìm tòi
đổi mới tư duy nghệ thuật và tiếng nói nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu là một ngòi bút gây nhiều hứng thú Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh rồi tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như là một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thật mới” Nhà phê bình Lại Nguyên Ân cho rằng: “Sáng tác của Nguyễn Minh Châu - đặc biệt là truyện ngắn - ra mắt dăm bảy năm gần đây,
đã trở thành gần như một loại sự kiện, ít ra là đối với giới văn học” [53].
Ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Minh Châu trên lĩnh vực tiểu luận, phê
bình tiếp tục đựợc độc giả đón nhận qua các bài: Nhà văn Nguyễn Công Hoan
(Văn nghệ số 40 - 1985); một số bài báo bàn về nghề văn đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội Năm 1987, dự hội thảo kỉ niệm 70 năm ngày nhà văn
Nam Cao hy sinh, Nguyễn Minh Châu đã có bài phát biểu về chân dung nhà
văn Nam Cao (bài đã đăng trên Văn nghệ số 29 và được giải thưởng về phê
bình của báo trong năm)
Năm 1987, trong không khí cởi mở của công cuộc đổi mới của đấtnước, Nguyễn Minh Châu dự cuộc gặp mặt của Tổng bí thư Trung ương ĐảngNguyễn Văn Linh với các văn nghệ sĩ Bài viết dự định phát biểu tại đây, sau
cho đăng trên Văn nghệ số 49 và 50 với nhan đề Hãy đọc lời ai điếu cho
một
Trang 25giai đoạn văn nghệ minh hoạ Cũng trong năm này, ông cho in tiểu thuyết Mảnh đất tình yêu tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới Đây là tác phẩm thứ 6
trong số 7 tác phẩm (năm 1988 cho in Cỏ lau là tác phẩm thứ 7) của Nguyễn
Minh Châu viết về vùng đất Quảng Trị Dải đất cát ven biển khúc ruột miềnTrung mà lịch sử hình thành về con người, làng mạc của vùng đất ấy, khôngmấy xa lạ với chúng ta hôm nay Làng Hiền An, một quần cư điển hình củalàng xã ven biển miền Trung, chịu đựng thử thách của thiên tai đầy khắc
nghiệt: “cứ chừng khoảng vài ba giáp trời đất lại vẽ bản đồ một lần…”.
Thiên tai, giặc giã, đời sống lao động, đấu tranh và sinh hoạt để duy trì sựsống của mỗi người, mỗi gia đình và cả làng xã tạo nên ở mỗi con người, mỗicảnh ngộ Mỗi con người ở đây được tác giả thể hiện rất cụ thể, với hoàn cảnhriêng, thân phận riêng Có người suốt một đời vật lộn với sóng gió,với biển cả
và kiếm ăn với sự cô độc“như một cây cột buồm” Đó là ông lão Bờ Ông
ngoại của bé Quy, từng trải hết một đời người, cho đến những năm cuối đời,
gia đình ông là tập hợp của những con người và những số phận “đầu Ngô
mình Sở” Ông đã trải qua hai đời vợ nhưng cuộc đời chỉ còn lại với ông đứa
con gái nuôi và đứa cháu ngoại Nhà văn thấu cảm với những hoàn cảnh,những tâm trạng của những con người không gặp may trên đường đời Đấy là
sự cô độc của mụ Điểm, của thím Hiệp, những người phụ nữ “suốt đời đeo
đẳng một số phận đàn bà đầy chua chát”.
Từ những cuộc đời, những con người sống thác cùng đất đai và biểnkhơi, lặng lẽ cống hiến cho đời, Nguyễn Minh Châu đã ví những cuộc đờinhọc nhằn, sự hy sinh thầm lặng đó như những con dã tràng với đức tính kiênnhẫn Qua hình ảnh con dã tràng, Nguyễn Minh Châu muốn khái quát sự hysinh thầm lặng, đức tính kiên trì, chịu đựng gian khổ thử thách để xây dựngcuộc sống, bảo vệ sự sống, giữ gìn những nét truyền thống tốt đẹp của con
Trang 26người trên dải đất này “Con dã tràng thật là vĩ đại, nếu nó chữa được cái
tính cả sợ”.
Năm 1988, ông cho in truyện vừa Cỏ lau, nhà văn mô tả số phận nhân
vật Lực và những biến cố của gia đình nhân vật diễn ra trên vùng đất QuảngTrị trong suốt hai cuộc kháng chiến Khung cảnh đậm vẻ Quảng Trị đượcNguyễn Minh Châu khắc hoạ rất tài tình đã chứng minh cho nhận xét của ông
rằng, vùng đất này là cái rốn của chiến tranh “Thực ra, Nguyễn Minh Châu
muốn mượn mảnh đất nhọc nhằn của miền Trung ấy… để thể hiện những vấn
đề da diết của số phận dân tộc mình”[30].
Qua thực tế sáng tác, Nguyễn Minh Châu mới nhận ra “ sở trường của
mình là gì, nhân vật đích thực của mình là ai” Ý tưởng viết về người nông
dân nước ta đã được Nguyễn Minh Châu nghiền ngẫm từ lâu Nhưng phải đến
Khách ở quê ra, Nguyễn Minh Châu mới thực “giác ngộ” về chỗ mạnh này
của vốn sống và tư tưởng của mình Trò chuyện với nhà nghiên cứu Nguyễn
Đăng Mạnh, ông nói: “Nếu trời Phật cho tôi sống, tôi sẽ viết về cái làng của
tôi Tôi có viết trong Mảnh đất tình yêu, nhưng viết còn lành quá” Đó là
truyện ngắn cuối đời của ông: Phiên chợ Giát Truyện đã mô tả lão Khúng
trên đoạn đường từ nhà tới chợ Cầu Giát trong khoảng thời gian 5 - 6 tiếngđồng hồ, nhưng đã khám phá thế giới bên trong hết sức phong phú của ngườinông dân Bằng cách mô tả ký ức của Khúng, nhà văn đã làm sống dậy khungcảnh lịch sử của một thời với phong trào khai hoang xây dựng vùng kinh tếmới, xu hướng đô thị hoá tới vùng sâu, vùng xa, cuộc chiến ở biên giới TâyNam…Trong dòng ký ức của nhân vật về những sự kiện lịch sử lớn lao ấy,nổi lên lịch sử một gia đình, số phận con người đầy những xung đột tâm lýcăng thẳng, dữ dội, đầy u uất, đau đớn
Đánh giá những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong Phiên Chợ
Giát, Trần Thị Mai Nhi cho rằng: “Cái mới, giá trị lớn nhất của Nguyễn Minh
Trang 27Châu trong truyện ngắn này là làm xuất hiện trước người đọc một thế giới tâm linh hết sức phong phú của một nông dân phải đối đầu với những thế lực làm phi nhân cách con người…”
Truyện chấm hết bằng mấy chữ “sầu não và phiền muộn” Nhưng
chẳng mấy ai tin rằng, câu chuyện đã kết thúc Nếu Nguyễn Minh Châu còn
sống hoặc sau này sẽ xuất hiện một Hậu phiên chợ Giát, người ta hẳn đã thấy lão Khúng xuất hiện với một “con đường đi đến một thế giới tự do” khác và
đi mãi không cùng, bởi vì lão Khúng chính là “nó chỉ tin nó”.
Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạnchế của nền văn học thời chiến tranh và thầm lặng nhưng dũng cảm và kiênđịnh tìm kiếm con đường đổi mới sáng tác của chính mình Hai cuốn tiểu
thuyết đều xuất bản năm 1977: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà đã đem lại
một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn Những truyện ngắn của NguyễnMinh Châu ra mắt bạn đọc nửa đầu những năm 1980 thực sự là những tìm tòimới, với cái nhìn mới về hiện thực và con người, đựơc giới phê bình và sángtác tôn vinh là một trong những người đi đầu trong công cuộc đổi mới vănhọc Khi công cuộc đổi mới đất nước được chính thức phát động, NguyễnMinh Châu nhiệt thành và đầy tâm huyết với công cuộc đổi mới nền văn họcnước nhà, vừa bằng những phát biểu trực tiếp, mạnh mẽ, vừa bằng nhữngsáng tác đã đạt đến độ sâu sắc của tư tưởng và sự kết tinh nghệ thuật cao.Nhưng số mệnh nghiệt ngã với căn bệnh hiểm nghèo ung thư máu đã khiếnhành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu phải đột ngột dừng lại khi vừa đạttới độ chín của tài năng Ngày 23 tháng 1 năm 1989 Nguyễn Minh Châu trúthơi thở cuối cùng tại viện quân y 108 Hà Nội, sau gần một năm chống chọivới bạo bệnh, để lại nhiều dự định sáng tác còn đang ấp ủ Tác phẩm cuối
cùng - truyện vừa Phiên chợ Giát được hoàn thành ngay trên giường bệnh.
Trang 28Con đường đến với nghề văn của Nguyễn Minh Châu cũng giống vớicon đường của nhiều cây bút cùng thế hệ ông như: Nguyễn Khải, NguyênNgọc, Nguyễn Thi, Hồ Phương, Xuân Thiều, Lê Khâm…Đó là một thế hệ đãcầm súng trước khi cầm bút và chính sự trải nghiệm cuộc đời người lính trong
sự gắn bó với nhân dân qua những năm tháng chiến tranh đã dẫn họ đến vớicon đường nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đến với văn học nghệ thuật khámuộn, truyện ngắn đầu tay được in lúc đã 30 tuổi và đã có mười năm trongquân ngũ Nhưng chính chặng đường 10 năm trước đó là sự cần thiết cho việcbắt đầu con đường sáng tác của nhà văn
Về đặc điểm con người Nguyễn Minh Châu, những người bạn quenbiết ông đều thấy dưới cái bề ngoài không có gì nổi bật, thậm chí hơi dè dặt,ngần ngại nói trước đám đông nhưng ở bên trong là con niềm ưu tư, trăn trở,
có niềm tin vững chắc vào sự lựa chọn của mình và một ý chí kiên định conđường đã lựa chọn, dám chấp nhận mọi sự khó khăn, thách thức, mà có người
gọi đó là “sự dũng cảm rất điềm đạm”.
Là một người viết không chỉ dựa vào bản năng thiên bẩm mà còn luônquan sát và suy nghĩ về chính công việc của mình và đồng nghiệp, ở NguyễnMinh Châu đã hình thành ý thức nghệ thuật khá nhất quán và ngày càng toàndiện, sâu sắc trong hành trình sáng tạo của nhà văn
Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn trước hết ở NguyễnMinh Châu là quan hệ giữa văn học và đời sống, với thời đại Ngay từ thời kì
đầu cầm bút, nhà văn đã quan niệm: “Văn học bao giờ cũng phải trả lời câu
hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối mặt với những người đương thời
về những câu hỏi cấp bách của đời sống” (Nhà văn, đất nước và dân tộc mình).
Ngay từ năm 1971, trong bài Trang sổ tay viết văn, khi nhìn lại các
sáng tác văn học trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn
Minh Châu đã nhận ra một hạn chế của nhiều tác phẩm “Hình như cuộc chiến
Trang 29đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày cho nên ngắm nó thấy mỏng manh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực” Sau năm 1975 nhận thức của
nhà văn về hiện thực càng được mở rộng và đạt tới những chiều sâu mới.Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu không còn bị khuôn vào trong những đườnghướng, những khuôn khổ sẵn có mà mở ra để khám phá toàn bộ đời sống xã
hội và con người trong tính “đa sự, đa đoan” của nó.
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đặc biệt là những sáng tác từ năm
1975 đã thể hiện “mối quan hoài sâu sắc” và thường trực của nhà văn với số
phận và nỗi đau khổ của con người
Điều đáng chú ý là ở Nguyễn Minh Châu giữa những quan niệm, nhậnthức được phát biểu trực tiếp với tác phẩm luôn có sự thống nhất, quá trìnhsáng tác cũng là quá trình nhà văn tự tìm kiếm và xác định ngày càng toàndiện và sâu sắc quan niệm nghệ thuật của mình
Tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Minh Châu gồm nhiều thể loại:
- Cửa sông ( tiểu thuyết, Nxb Văn học, H,1967).
- Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, Nxb Văn học,H,1970).
- Dấu chân người lính (tiểu thuyết, Nxb Thanh niên, H,1972).
- Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết, viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng,H,1974).
- Lửa từ những ngôi nhà ( tiểu thuyết, Nxb Văn học, H,1877)
- Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, Nxb Kim
- Đảo đá kì lạ (viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng H.,1985).
- Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, NxbTác phẩm mới, H.,1987).
Trang 30- Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, H.,1987).
- Cỏ lau (tập truyện vừa, Nxb Văn học,H.,1989).
- Trang giấy trước đèn (tiểu luận phê bình, Nxb Khoa học xã hội,
H.,1994); và nhiều bút kí, truyện ngắn khác đăng trên các báo
Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được nhận:
Giải thưởng Bộ quốc Phòng năm (1984 - 1989) cho toàn bộ tác phẩmcủa ông viết về chiến tranh và người lính
Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1988 - 1989) cho tập truyện vừa Cỏ
lau.
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm Dấu
chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành.
Đánh giá về sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu, nhà văn
Nguyễn Khải trân trọng khẳng định: “Mãi mãi nền văn học kháng chiến cách
mạng ghi nhớ những cống hiến to lớn của anh Châu Anh là người kế tục xuất sắc các bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường cho những cây bút trẻ đầy tài năng sau này Anh Châu là bất tử”.
1.2 Vị trí của Di cảo trong văn nghiệp Nguyễn Minh Châu
Bên cạnh các sáng tác được công bố của Nguyễn Minh Châu đã kể trên,
sự nghiệp văn học của ông còn được tính thêm với 500 trang Di cảo mới công
bố gần đây Sau khi Nguyễn Minh Châu qua đời, người bạn đời của ông là bàNguyễn Thị Doanh đã cất giữ gần như đầy đủ những sổ tay ghi chép, nhữngphác hoạ, những dự định sáng tạo, những trang nhật kí mà ông chưa kịp hoànthiện bản thảo để trình diện bạn đọc
Từ 23 cuốn sổ ghi chép của Nguyễn Minh Châu để lại, những người
làm sách đã xếp lại thành 3 phần: Phần một - Tiếng vọng
Phần hai - Nghề văn Phần ba - Riêng tư
Trang 31Với người đọc hôm nay, đến với Di cảo Nguyễn Minh Châu là đến với
những câu chuyện, những cảnh đời mà ông gặp trong những lần đi vào QuảngTrị, trong mỗi phần đều thể hiện rất rõ những suy nghĩ, những quan sát của
ông Di cảo Nguyễn Minh Châu cho ta hiểu hơn về chân dung xác thực nhất
của nhà văn và rộng ra là cả một thế hệ như ông với những trăn trở, ưu tưtrong quá trình đến với văn chương và cách mạng, sống và viết xứng đáng với
tư cách của một công dân - nghệ sĩ suốt đời không ngừng trăn trở, lo âu về sốphận con người, về dân tộc, cho sự tồn tại của ngòi bút mình trước sự sàng lọcnghiệt ngã của thời gian và bạn đọc
Phần một của Di cảo gồm những ghi chép của ông trong chiến trường
Quảng trị từ năm 1967 trở đi
23 cuốn sổ ghi chép của Nguyễn Minh Châu trước tiên về số lượng đã
cho ta thấy ông là người có ý thức với nghề Phần hai cuốn Di cảo thể hiện rất
rõ về ý thức và trách nhiệm của Nguyễn Minh Châu với ngòi bút của mình
Phần ba được viết từ năm 1957 và kết thức vào một ngày trung tuầntháng 11/1988 khi ông đang nằm ở bệnh viện 108 những lời nhắn nhủ cuốivới bạn bè và người thân để rồi ông mãi mãi ra đi vào 2 tháng sau đó
“Cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu cho ta hiểu thêm về một thế hệ văn nghệ sĩ dấn thân, một thế hệ trong một hoàn cảnh đã làm tròn vai trò công dân nhưng cũng thấy rất rõ những hạn hẹp của một nền văn chương thời chiến và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính” (Tạp chí văn học 11 - 2009).
Trong những trang Di cảo, Nguyễn Minh Châu ghi chép một cách trung
thực những câu chuyện những cảnh đời mà ông gặp trong những lần đi vàoQuảng Trị từ năm 1967 trở đi, là quãng thời gian xảy ra chiến dịch đường 9 -Nam Lào, những trang ghi chép tỉ mỉ về chiến trường Quảng Trị, những conngười cụ thể từ vị chính uỷ đến các anh lái xe, từ quang cảnh hành quân củanhững người lính trên đường vào chiến dịch đến cảnh vượt sông Bến Hải, vềphong
Trang 32cảnh những con sông Lam, Sebangchiêng, đến Trường Sơn mà ông gọi là “con
trăn xanh”…người đọc thấy như hiện ra mồn một trước mắt mình tất cả cái ngổn
ngang, bộn bề của những năm chiến tranh ác liệt Khó khăn, gian khổ hi sinh làđiều có thật Vào thời điểm bây giờ những người sinh ra và lớn lên sau chiến tranhthật khó hình dung ra một cách cụ thể những khó khăn gian khổ mà thế hệ chaông đã trải qua trong chiến tranh giữ nước với những cuộc đi bộ luồn rừng vượtTrường Sơn hàng tháng trời trải bao gian nan và hiểm họa
Từ những trang ghi chép trong Di cảo của Nguyễn Minh Châu đã giúp
người đọc hôm nay và mai sau hình dung một cách thật cụ thể, sống độngnhững hi sinh vô bờ bến của nhân dân và bộ đội cũng như tình quân dân,nghĩa tình đồng đội trong bối cảnh ác liệt và đẫm máu của cuộc chiến Nhữngmẫu người chiến sĩ trong ghi chép của ông đều hiện lên một vẻ quả cảm trongchiến đấu, giản dị trong suy nghĩ và rất giàu tình thương đối với đồng đội Từviệc nắm bắt cái hồn cốt trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi chiến sĩ, mỗi
người dân, Nguyễn Minh Châu đã chưng cất lên thành một Dấu chân người
lính mượt mà trong cảm hứng sử thi.
1.3 Giá trị của Di cảo Nguyễn Minh Châu
Di cảo Nguyễn Minh Châu đựơc viết từ đầu những năm sáu mươi của
thế kỉ XX Sau hơn 20 năm, kể từ khi ông mất, Di cảo của ông mới được công
bố Những vấn đề liên quan đến việc tiếp nhận, đánh giá về giá trị cuốn sáchdường như mới chỉ thực sự bắt đầu Qua khảo sát văn bản chúng tôi nhận
thấy, đây là một tác phẩm giàu giá trị Di cảo hấp dẫn người đọc ở nhiều
phương diện
Trước hết cuốn Di cảo có giá trị thông tin lịch sử phong phú, như một
chứng nhân của lịch sử, đây là một tư liệu đáng quý về một chặng đường cáchmạng và những vận động thăng trầm của nền văn học mới Những ghi chépcủa ông nhiều cuốn đã được gửi ra từ chiến trường từ năm 1968 đến 1973 ghi
Trang 33chép khá đầy đủ và kĩ lưỡng tất cả những gì đã gặp, đã thấy, đã được nghe kể
và nghiền ngẫm trong suốt cuộc hành trình.Từ tình thế chiến cuộc đến biênchế, hoả lực của cả ta và địch.Và đặc biệt các nguyên mẫu nhân vật ở mặt trận(cả người Kinh, người dân tộc ít người, người Lào, cả quân ta lẫn quânNgụy), những con người ông gặp hoặc được nghe các chiến sĩ kể dọc đườnghay những đêm nằm trên chốt đều được ông quan sát rất kĩ lưỡng, không bỏ
sót trường hợp nào Qua Di cảo Nguyễn Minh Châu người đọc biết được
nhiều hơn, chính xác hơn những vấn đề của xã hội, đời sống con người mộtthời Bởi ở một đất nước chiến tranh khốc liệt và kéo dài như đất nước ta,không biết bao nhiêu tài liệu bị mất mát, thất lạc, biết bao tài liệu quý giá còn
nằm trong im lặng Trang văn của Nguyễn Minh Châu cùng những Di cảo, di
bút của ông sẽ cung cấp cho người đọc nhiều thông tin, chất liệu bổ ích, quýbáu được sàng lọc qua suy nghĩ và cảm xúc của ông về nhiều phương diệncủa thời cuộc, của văn học nghệ thuật, của tình cảm riêng tư với đồng nghiệp,đồng đội và người thân
Cũng như Di cảo của Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Thị Xuân Quý và nhiều nhà văn, nhà thơ khác, Di cảo
Nguyễn Minh Châu có giá trị về mặt văn học Đọc Di cảo, vượt ra ngoài
những soi xét riêng tư, cá nhân, người đọc tìm thấy ở đó chân dung một conngười, một nhân cách với tư cách là người chồng, người cha, người công dân,nhà văn - chiến sĩ
Về phương diện văn học cũng cần có một sự tìm hiểu nhiều hơn về tập
Di cảo Khảo sát các tư liệu trong Di cảo, thể thấy rằng Nguyễn Minh Châu
đặc biệt quan tâm tới con người bởi “Văn học là nhân học”, là nghệ thuật, là
miêu tả, biểu hiện con người, con người là đối tượng chủ yếu của văn học, con
người là “vũ trụ nhỏ” với bao phức tạp, bí mật cần được văn học khám phá.
Trang 34Thời kỳ chiến tranh, văn học quan tâm tới vận mệnh của cả dân tộc,nước mất thì nhà tan Cả nước là một gia đình lớn Nhiệm vụ khẩn thiết cứunước, cứu nhà đã gắn kết con người Việt Nam thành một khối vững mạnh đểđương đầu với thử thách ghê gớm có lúc tưởng như không thể vượt qua được.Nhà văn lúc này trước hết cũng là người công dân, cần có nghĩa vụ tham giavào cuộc chiến tranh lớn lao đó của cả dân tộc.
Nay đất nước chuyển sang hoà bình, mà hoà bình bao giờ cũng là lâudài so với bất kỳ cuộc chiến tranh nào Bởi vậy nhà văn phải có tiếng nói phục
vụ cho cuộc sống hoà bình và xây dựng Văn học trước đây đã phản ánh rấthay, rất thiết thực cho cuộc sống của cả cộng đồng và phải tạm quên đi cái gìrất riêng của từng con người thì ngày nay những vấn đề ít được quan tâm đólại trở nên cần thiết với cuộc sống hôm nay Nói như vậy không có nghĩa làchúng ta quên đi mảng hiện thực của ngày hôm qua Cái quá khứ vinh quangcủa cả dân tộc vẫn còn ích, vẫn cần phải được văn học phản ánh dưới con mắtnghệ thuật của ngày hôm nay để làm phong phú thêm, góp phần tích cực thêmcho việc xây dựng cuộc sống hiện tại
Cho đến nay, việc xác định Di cảo Nguyễn Minh Châu có giá trị văn
học hay không? Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không có tham vọng
đi sâu vào tất cả các vấn đề trên mà chỉ góp phần xác định một số phương
diện giá trị văn học của văn bản Theo chúng tôi: Di cảo Nguyễn Minh Châu
đã ghi lại một cách chân thực và vô cùng phong phú về gương mặt tinh thần Cái tôi tác giả Nguyễn Minh Châu
Trang 35-CHƯƠNG II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN THỰC XÃ HỘI VÀ VĂN HỌC TRONG
DI CẢO NGUYỄN MINH CHÂU
Hiện thực là chất liệu để xây dựng nên tác phẩm, đó là một nguyên lýsáng tạo nghệ thuật đã được thừa nhận từ lâu nay Nhưng khi đi vào tác phẩmthì sự phản ánh của nhà văn về hiện thực phải đạt đến độ chân thực và caohơn nữa phải trở thành một chuẩn mực, kết tinh không chỉ cái đẹp của tựnhiên, của con người mà còn phản ánh cái đẹp của tâm hồn tình cảm, thái độứng xử của người viết trước hiện thực đó
Là những ghi chép làm tiền đề cho việc sáng tác, Di cảo Nguyễn Minh
Châu gắn liền với hoạt động và tâm tình của tác giả trước hiện thực chiến
tranh, với con người, với văn học…tất cả những sự kiện, những nhận thứccũng như những suy nghĩ của ông đều là những ghi chép có thực, tác giảkhông hề bịa đặt, tưởng tượng hay hư cấu bịa đặt thêm thắt mà có Đươngthời Nguyễn Minh Châu là một người trọng nhân cách trung thực, lại không
có ý định công bố Di cảo của mình Chính vì lẽ trên ta càng khẳng định thêm
sự chân thực của ngòi bút nơi ông Với khả năng quan sát tinh nhạy cùngnhững nhận biết của mình, đặc biệt là một tấm lòng ưu tư trước cuộc đời, một
lối sống có trách nhiệm với văn chương, với thời cuộc, tác giả cuốn Di cảo đã
cho người đọc những bức tranh mới phác thảo về những gì ông đang dự định
hoặc còn dang dở Tiếp nhận Di cảo của ông ta càng hiểu hơn về hiện thực
chiến tranh, một hiện thực không hề pha cất hay chưng lọc, một sự thựcnguyên khối từ những ghi chép này Cũng từ trong ghi chép đã phần nào bộc
lộ năng khiếu và phẩm chất cần có của một nhà văn chuyên nghiệp, nó sẽ chíndần và đông đặc hơn theo năm tháng và những trải nghiệm của ông
Trang 362.1 Một số vấn đề về hiện thực xã hội và cái nhìn đa diện về con người
2.1.1 Cái nhìn sâu sắc về hiện thực chiến tranh và sau chiến tranh
Chiến tranh luôn đi liền với những khốc liệt, những hi sinh, mất mátcùng những chấn thương tinh thần còn để lại Tất cả được Nguyễn Minh Châunhìn nhận, chiêm nghiêm một cách nghiêm túc, sâu sắc ở chiều sâu nhân
bản.Vì thế qua những di bút của ông: “Có lẽ không ai có thể nói về những di
chứng của chiến tranh, những mất mát, éo le, những bi kịch khủng khiếp của chiến tranh hằn sâu trong từng số phận con người một cách da diết, đau đớn
và sâu sắc như Nguyễn Minh Châu” [26- 455].
Viết về chiến tranh, con người trong Di cảo được Nguyễn Minh Châu nhìn nhận hết hết sức rạch ròi Trong Di cảo ông đã nói đến tiền đề viết: Dấu chân người lính Chiến dịch Khe Sanh được phục dựng với không khí và con người thấm đẫm chất anh hùng ca chiến trận “Không ai
có tài nào phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây là đường rừng hay là quảng trường, là rừng cây hay rừng súng đạn, rừng người Người ta chỉ biết đông đúc và chật chội, là tiếng ồn của cuộc sống, là đàn ong cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc Không thể nào lột tả hết khuôn mặt chiến sĩ, những khuôn mặt chỉ huy, những khuôn mặt tầng tầng, lớp lớp người đang nối tiếp nhau đi ra từ trên dốc, từ dưới suối, từ khắp các ngõ ngách của rừng, mặt người nào cũng đẫm mồ hôi và bừng bừng như say” [41].
Vẻ đẹp của những người lính được nhà văn thể hiện khá hoàn chỉnh vàđẹp đẽ, họ hiện lên trong tư thế hiên ngang, lẫm liệt Họ chính là hiện thân
của anh Bộ đội Cụ Hồ “Biết Khôi đã phá được xe, T rẽ bên trái ném một quả
thủ pháo vào bọn Mỹ đang lục sục trong nhà bạt Thủ pháo nổ, mảnh vải bạt
bị xé mướp, bật tung lên như người ta cầm gậy rẩy một cái giẻ rách Khôi
Trang 37chạy mấy bước, thấy ba tên Mỹ mặc quần đùi áo lót chạy xuống hố bom, K.
Trang 38quạt vào đó một băng tiểu liên Một bóng nhảy chồm lên rồi rơi tõm vào cái phễu như vũ.
Các mũi tiến sâu vào giữa khu vực địch Anh em chạy qua 1 chiếc tank đang cháy, lửa táp vào mặt nóng ran Vừa qua chỗ khói đen đặc, thấy một chiếc M.113 cách 10m đang tuôn ra từng dây lửa đạn; Một tia lửa xanh từ tay Lỗ bay lên theo hình cầu vồng rơi vào thùng xe Tiếng bộc phá nổ giật rất mạnh Tên Mỹ bắn súng máy bị hất tung ra ngoài” [41 - 221].
Những mẫu người chiến sĩ trong ghi chép của ông đã đối diện vớinhững gian khổ đến mức: Ăn khổ, sốt rét, những người lính thiếu muối, phải
ăn riềng, xả thay cơm, thậm chí có những lúc họ phải ăn gạo lẫn bộc phá đắng
ngắt: “Ăn đọi chuối, ăn quả chát Đọt chuối anh ăn gốc, anh ăn ngọn, cuối
cùng những chiếc bẹ bên ngoài xắt quân cờ chấm muối ăn Ăn quả chát răng vàng khè Uống nước suối Múc đầy mỗi người một bi đông Thương binh Anh sốt Gặp một chiến sĩ lạc có một bát gạo không có nước Nấu cháo mỗi người húp một vài thìa, còn để cho thương binh và đồng chí sốt” [41- 76].
Song ở họ vẫn hiện lên với một vẻ quả cảm trong chiến đấu, giản dịtrong suy nghĩ và rất giàu tình thương với đồng đội:
“ Nữ đồng chí Uy, người bạn thân nhất hy sinh “Tôi rất đau xót nhưng không thể cứu sống được nữa Tôi không dừng lại vẫn tiếp tục đi cứu cho người khác Tối về nghĩ đến bạn tôi mới khóc” (Sau buổi chiều cõng bạn
về một cái lán kín đáo thay quần áo và tắm rửa cho bạn) [41 - 79].
Qua Di cảo ta có thể nhận thấy khá rõ Nguyễn Minh Châu không chỉ
nắm bắt được hiện thực của chiến tranh mà ông còn muốn đi vào cắt nghĩa, lýgiải chiều sâu, vẻ đẹp tinh thần độc đáo của dân tộc, thể hiện một vẻ đẹp của
mỗi người đang sẵn sàng xả thân cho cuộc chiến đấu hào hùng: “Mỗi người
đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó” (Nguyễn Minh Châu).
Trang 39Một điều dễ nhận thấy trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là những
trang anh hùng ca về cuộc đấu tranh của dân tộc ta trong những ngày“Vì ta, vì
lẽ phải trên đời”, nó hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc sử thi nhằm ngợi ca
chủ nghĩa anh hùng cách mạng Dường như mỗi trang viết của ông đều mangtới âm hưởng hào hùng của một thời kỳ lịch sử nóng bỏng Nhà văn đã từngnói đến thiên chức của người nghệ sĩ là tìm kiếm trong cuộc sống những tấmgương đẹp đẽ, những tính cách điển hình cách mạng Ông coi việc làm của
mình là kết quả “Cố gắng tìm kiếm những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm
hồn của mỗi con người” Nhà văn luôn cảm thấy mắc nợ với cuộc đời Những
sáng tác nghệ thuật của ông là “đài kỉ niệm” về chiến tranh và Tổ quốc Tất cả
những cố gắng của nghệ sĩ đều hướng về mục tiêu chung nhất là nhận thứcđược vẻ đẹp kì diệu trong tâm hồn dân tộc Đó chính là điểm khởi phát củangọn lửa sáng tạo giúp nhà văn vượt lên cái hàng ngày để nói về cộng đồnglịch sử và dân tộc Theo ông, mỗi nhà văn tài năng có thể mang đến, góp vàovăn học dân tộc một phương diện nào đó sở trường nhất của mình, những cái
cốt lõi “Cái phần chủ yếu của một người viết vẫn là tiếng nói của anh ta
trước những vấn đề mà đông đảo mọi người quan tâm đến” (TGTĐ-T25).
“Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống” (TGTĐ - T67).
Nguyễn Minh Châu đến với văn học vào thời điểm lịch sử đặc biệt, cảdân tộc dồn sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ Phát triển trong điềukiện chiến tranh, văn học giai đoạn này chịu sự tác động và chi phối của
những quy lụât không bình thường của đời sống chiến tranh Khi mà “Cả dân
tộc đang dồn vào một con đường Ấy là con đường ra mặt trận, con đường cứu nước” (Nam Cao) Khi mà mỗi người cầm bút và người đọc đều “có một mối quan tâm và thường trực về vận mệnh dân tộc, về số phận và khát vọng
Trang 40của nhân dân trong những năm đầy sóng gió”, lẽ nào nhà văn có thể làm ngơ,
lẽ nào“ có thể viết những câu văn trái với điều nhiều người chung quanh hiện
đang phải lo nghĩ để chiến thắng giặc” (TGTĐ - T25).
Là một nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu càng nhận thức sâu sắchơn lương tri, trách nhiệm và sứ mệnh thiêng liêng của ngòi bút mình Ông
luôn nghiêm túc đòi hỏi người nghệ sĩ “Phải là người nghệ sĩ trên mặt trận
của Đảng” Người nghệ sĩ mỗi khi sáng tác, không thể chơi vơi mà phải hình
dung ra tác phẩm của mình, đem “ướm” nó vào trong cuộc sống, “ thử nhìn
xem nó có nằm trong cái mạch chính của cuộc sống hay không, thử nhìn xem
nó có lạc hậu hoặc đứng trước quá xa bước tiến triển của xã hội không? Thử nhìn xem tác phẩm…có đem đến cho xã hội một tiếng nói bổ ích không?”
[29].
Có thể nói, câu hỏi về mục đích và ý nghĩa của văn chương về mốiquan hệ văn học và đời sống, luôn là mối quan tâm, day dứt hàng đầu, thườngtrực và da diết với Nguyễn Minh Châu Ý thức nghệ thuật đó, lý tưởng xã hội và
lý tưởng thẩm mỹ đó đã quán xuyến, định hướng toàn bộ sáng tác của nhà văn
Trong Di Cảo Nguyễn Minh Châu ông nhìn về chiến tranh không hề bịa
đặt, thêm thắt, tưởng tượng hoặc hư cấu, viết về chiến tranh Nguyễn Minh Châucoi đó là điểm nóng của dân tộc Điều đó thể hiện tính mục đích cao của ngườicầm bút Ông muốn dùng trí tuệ của mình với tư cách là nhà văn - chiến sĩ, gópphần vào cuộc đấu tranh của dân tộc và sự chiến thắng của nhân dân
Với đề tài chiến tranh và người lính những năm 80 của thế kỉ XX tathấy nhà văn có một sự nhận thức về cuộc chiến đấu và con người chống Mỹ
qua hàng loạt tác phẩm: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh,
Cơn giông, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở Miền Nam Ở những tác phẩm này ông
luôn thể hiện cái hào hùng, tự hào của dân tộc Sự khốc liệt, nghiệt ngã củachiến tranh đã được trình bày một cách nghiêm túc và đầy đủ Ngọn lửa chiếntranh tàn khốc đã giúp người đọc phân biệt đâu là những phẩm chất tốt đẹp, làngười anh hùng, những kẻ phản bội, hèn nhát