Để đánh giá một cách khoa học, toàn diện tác hại và khắc phục hậu quả của chất da cam/dioxin OA/dioxin do quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đối với môi trường, các hệ sin
Trang 1bộ y tế chương trình 33 trường đại học y hà nội
báo cáo tổng kết đề tài nhánh
đề tài cấp nhà nước
đề tài nhánh: Nghiên cứu tình trạng sức khỏe của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Đề xuất giải pháp phục hồi sức khỏe cho những người bị tác động
của các hợp chất chứa dioxin
CHủ NHIệM Đề TàI NHáNH: ts, ĐạI Tá NGUYễN QUốC ÂN
cơ quan chủ trì đề tài nhánh:
Trung tâm nhiệt đới việt-nga, bộ quốc phòng
thuộc đề tài
nghiên cứu các biến đổi về mặt di truyền, miễn Dịch,
sinh hoá, huyết học và tồn lưu dioxin
trên các đối tượng phơi nhiễm có nguy cơ cao
chủ nhiệm đề tài: pgs.ts Nguyễn văn Tường
CƠ QUAN CHủ QUảN: bộ Y Tế
cơ quan CHủ TRì : TRƯờNG ĐạI HọC Y Hà NộI
hà nội – 2003
5462-2
Trang 2bộ y tế chương trình 33 trường đại học y hà nội
báo cáo tổng kết đề tài nhánh
đề tài cấp nhà nước
đề tài nhánh: Nghiên cứu tình trạng sức khỏe của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Đề xuất giải pháp phục hồi sức khỏe cho những người bị tác động
của các hợp chất chứa dioxin
CHủ NHIệM Đề TàI NHáNH: ts, ĐạI Tá NGUYễN QUốC ÂN
cơ quan chủ trì :
Trung tâm nhiệt đới việt-nga, bộ quốc phòng
Thời gian thực hiện: 2001 - 2003
Kinh phí được cấp: 225 000 000 VND
hà nội – 2003
Trang 3bộ y tế chương trình 33 trường đại học y hà nội
báo cáo tổng kết đề tài nhánh
đề tài cấp nhà nước
đề tài nhánh:
Nghiên cứu tình trạng sức khỏe của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Đề xuất giải pháp phục hồi sức khỏe cho những người bị tác động của
chất da cam / dioxin
CHủ NHIệM Đề TàI NHáNH: ts NGUYễN QUốC ÂN
cơ quan chủ trì :
Trung tâm nhiệt đới việt-nga, bộ quốc phòng
Thời gian thực hiện: 2001 - 2003
Kinh phí được cấp: 225 000 000 VND
hà nội - 2003
Trang 4báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài nhánh
TS Nguyễn Quốc Ân
Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga
Nghiên cứu tình trạng sức khỏe của các cựu chiến binh
ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Đề xuất giải pháp phục hồi sức
khỏe cho những người bị tác động của
chất da cam/dioxin
i.đặt vấn đề
Chiến dịch “Ranch Hand” – thực chất là cuộc chiến tranh hoá học
do quân đội Mỹ tiến hành ở Việt Nam có quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, đã kết thúc cách đây hơn 30 năm Theo taực giaỷ Myừ Westing A.H, quân đội Mỹ đã rải hơn 90 nghìn tấn chất độc diệt thực vật xuống 1,7 triệu hecta các vùng khác nhau ở miền Nam Việt Nam Trong đó
có 55 nghìn tấn, chiếm 61,3% là chất da cam (OA), có chứa ít nhất là 170
kg 2,3,7,8- tetrachlordibenzo-para-dioxin (thường được gọi là dioxin), vụựi lieàu lửụùng trung bỡnh 33kg chaỏt da cam treõn moọt hecta (tại thời điểm ủoự lieàu cho pheựp duứng trong noõng nghieọp laứ 0,5 kg/ ha, nhửng tửứ ủaàu nhửừng naờm 70 ủaừ caỏm duứng) Trong nhửừng vuứng daõn cử
bị rải chất độc hoá học có khoaỷng 2 trieọu daõn thửụứng sinh soỏng (chửa keồ ủeỏn haứng trieọu lượt boọ ủoọi, thanh nieõn xung phong tham gia chieỏn ủaỏu, phuùc vuù chieỏn ủaỏu treõn chieỏn trửụứng mieàn Nam trong thụứi kyứ ủoự) Haọu quỷa cuỷa vieọc sửỷ duùng caực chaỏt ủoọc dieọt thửùc vaọt chửựa dioxin vaứo muùc ủớch quaõn sửù cuỷa quaõn ủoọi Myừ ụỷ Vieọt nam khoõng chổ huỷy dieọt các heọ sinh thaựi, maứ noự coứn gaõy aỷnh hửụỷng heỏt sửực naởng neà, dai daỳng ủoỏi vụựi sửực khoỷe cuỷa nhieàu theỏ heọ daõn cử nửụực ta vaứ binh lớnh caực nửụực gửỷi quaõn tham gia chieỏn tranh Vieọt Nam, keồ caỷ binh lớnh Mỹ Nhieàu nhaứ khoa hoùc
Trang 5nửụực ngoaứi ủaừ goùi ủaõy laứ cuoọc chieỏn tranh sinh thaựi vaứ thuaọt ngửừ " ecocide" (huỷy diệt sinh thaựi) laàn ủaàu tieõn ủửụùc sửỷ duùng vaứo đầu những năm 70 ủeồ noựi ủeỏn haọu quỷa cuỷa vieọc Myừ duứng caực loaùi hoựa chaỏt ủoọc nhaốm huỷy hoại caực heọ sinh thaựi ụỷ Vieọt Nam
Ngoaứi ra, trong hơn 30 năm qua lửụùng chất da cam/dioxin ủaừ raỷi xuoỏng laừnh thoồ nửụực ta coứn coự theồ lan truyeàn theo nửụực chaỷy hoaởc do bom đạn gây cháy, nạn ủoỏt, chaựy rửứng tạo ra dioxin thứ cấp Vì vậy cho đến nay chửa theồ bieỏt chớnh xaực qui moõ oõ nhieóm môi trường bởi dioxin vaứ mửực ủoọ gây tác hại của nó đối với sức khoẻ của nhân dân ta
Để đánh giá một cách khoa học, toàn diện tác hại và khắc phục hậu quả của chất da cam/dioxin (OA/dioxin) do quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đối với môi trường, các hệ sinh thái và sức khoẻ của nhân dân ta, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình 33, Bộ Y tế đã giao nhiệm vụ cho trường Đại học Y Hà Nội
thực hiện đề tài cấp Nhà nước : ” Nghiên cứu các biến đổi về mặt di truyền, miễn dịch, sinh hoá, huyết học và tồn lưu dioxin trên các đối tượng phơi nhiễm có nguy cơ cao “,
do PGS, TS nguyễn Văn Tường làm chủ nhiệm Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga được
giao nhiệm vụ thực hiện đề tài nhánh thuộc đề tài nêu trên với tiêu đề: “Nghiên cứu tình trạng sức khỏe của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Đề xuất giải pháp phục hồi sức khỏe cho những người bị tác động của các hợp chất chứa dioxin “
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá hiện trạng sức khỏe của các cựu chiến binh (CCB) có mức
độ tiếp xúc khác nhau với OA/dioxin trong chiến tranh, hiện đang sinh sống tại quận Cầu Giấy-Hà Nội
- So sánh mô hình bệnh tật của những CCB có mức độ tiếp xúc khác nhau với các OA/dioxin và các yếu tố nguy cơ khác
- Sử dụng các chế phẩm peptit điều hoà sinh học vào điều trị, phục
hồi sức khỏe cho các CCB có bệnh lý liên quan tiếp xúc với OA/dioxin
Nội dung nghiên cứu:
1.Điều tra mô tả thực trạng sức khoẻ của các CCB hiện đang sống trên địa bàn các phường Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, quận Cầu Giấy,
Trang 6Hà Nội Phân tích các thông tin thu thập được nhằm tái hiện tiền sử bị phơi nhiễm OA/dioxin và chịu tác động của các yếu tố nguy cơ chính khác
2 Phân tích đánh giá những biểu hiện bệnh lý khác nhau ở các CCB trên cơ sở kết quả điều tra thực trạng sức khoẻ và khám nghiệm lâm sàng của các CCB
3 Đánh giá hiệu quả việc sử dụng chế phẩm peptit điều hoà sinh học trong điều trị, phục hồi sức khỏe cho các CCB có một số bệnh lý liên quan tiếp xúc với OA/dioxin Đề xuất phương pháp điều trị phục hồi sức khoẻ cho các CCB có nguy cơ chịu tác động của OA/dioxin
ii.tổng quan tài liệu
Các kết qủa nghieõn cửựu trong nhửừng naờm gaàn ủaõy trên thế giới cho thaỏy dioxin taực ủoọng sinh hoùc tửụng tửù hormon và coự hoaùt tớnh sinh hoùc ụỷ noàng ủoọ cửùc thaỏp (ủửụùc tớnh baống ủụn vũ ppt = 10 -
12 g/g) Ngửụứi ta ủaừ goùi dioxin laứ chaỏt sieõu ủoọc sinh thaựi khoõng
chổ vỡ noự coự taực duùng sinh hoùc ụỷ noàng ủoọ cửùc thaỏp maứ coứn do
ụỷ mửực sieõu vi lửụùng dioxin cuừng coự theồ gaõy ra nhửừng taực hại cửùc kyứ nguy hieồm ủoỏi vụựi sửực khoỷe con ngửụứi khoõng chổ ụỷ moọt theỏ heọ.Tổng quát lại dioxin là những hợp chất siêu độc sinh thái, là tác nhân gây rối loạn điều hòa, rối loạn khả năng thích nghi của cơ thể, gây ung thư, tác động lên chức năng sinh sản ở cả hai giới, ảnh hưởng lên sự hình thành và phát triển bào thai, gây ra các bệnh ngoài da, các rối loạn chuyển hóa vitamin, rối loạn nội tiết và trao đổi chất, gây tổn thương hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, làm tổn thương gan, tác động lên hệ miễn dịch, hệ tạo máu, gây ra các biến đổi cân bằng nội môi, có biểu hiện lâm sàng hoặc tiềm ẩn, chứ không chỉ giới hạn trong một số bệnh hiếm gặp như đã được công bố và bổ sung hàng năm
Cùng với sự tiến bộ nhảy vọt của các thiết bị kỹ thuật và trình độ kiến thức, cơ chế gây tác hại của dioxin đối với sức khỏe con người ngày càng được làm sáng tỏ Tuy nhiên các kết qủa nghiên cứu đôi khi đưa ra các kết luận không thống nhất với nhau Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là chưa xây dựng được phương pháp luận có luận cứ khoa
Trang 7học vững chắc trong nghiên cứu những hậu qủa y sinh học lâu dài của dioxin Đây là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà khoa học
quan tâm giải quyết để tìm ra lời giải cho những câu hỏi như thực sự dioxin gây ra những hậu quả gì ? Những hiệu ứng nào có thể do dioxin gây ra và
hiệu ứng nào do dioxin giữ vai trò chính ?
Tửứ naờm 1980 ụỷ Vieọt Nam ủaừ thaứnh laọp UÛy ban quoỏc gia ủieàu tra haọu quỷa chaỏt hoựa hoùc duứng trong chieỏn tranh Vieọt nam (UÛy ban 10-80) Tham gia vaứo chửụng trỡnh nghieõn cửựu cuỷa UÛy ban 10-80 bên cạnh các nhà khoa học có tên tuổi của Việt Nam như các GS Tôn Thất Tùng, Hoàng Đình Cầu,Trịnh Kim ảnh, Bạch Quốc Tuyên, Đào Xuân Trà, Nguyễn Xuân Huyên, Nguyễn Hưng Phúc, Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Thị Ngọc Phượng còn coự caực chuyeõn gia tửứ Myừ, Phaựp,Canada, Nhaọt Caực nghieõn cửựu naứy taọp trung vaứo hai hửụựng chớnh Hửụựng thửự nhaỏt laứ xaực ủũnh phaùm vi, mửực ủoọ oõ nhieóm moõi trửụứng bụỷi caực chaỏt dieọt coỷ chửựa dioxin, xaực ủũnh haứm lửụùng dioxin lửu toàn trong caực maóu moõi trửụứng, thửùc phaồm, trong cụ theồ con ngửụứi ( maựu, mụừ, sửừa meù) Hửụựng thửự hai laứ tỡm hieồu veà sửù lieõn quan giửừa haứm lửụùng dioxin lửu toàn trong cụ theồ vụựi caực loaùi beọnh lyự khaực nhau, chuự yự ủeỏn caực loaùi beọnh hieỏm gaởp
Những nghiên cứu ban đầu của Việt Nam cho thấy các chất độc hóa học chứa dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam có thể gây ra rất nhiều hậu qủa y học như làm tăng nguy cơ mắc một số dạng ung thư và dị tật bẩm sinh, các rối loạn tiêu hóa, thần kinh, thận, miễn dịch, bệnh lý và bất thường chức năng sinh sản Song các công trình nghiên cứu trong thời kỳ này chưa có đủ luận cứ khoa học và cơ sở phương pháp luận
để rút ra những nhận định thống nhất và có luận cứ Các nghiên cứu tiếp theo do UB 10-80, Học viện quân y Việt Nam tiến hành đã đề cập đến các vấn đề như: xác định hàm lượng "dioxin" lưu tồn trong máu, mô mỡ, sữa
mẹ ở người và trong các mẫu môi trường, xây dựng chỉ số mức độ phơi nhiễm có thể có và nghiên cứu mức độ lưu hành ung thư gan và chửa trứng,
Trang 8saccom mô mềm và lympho non Hodgkin, quái thai và một số bất thường
chức năng sinh sản ở những người có khả năng bị phơi nhiễm
Các nghiên cứu về hàm lượng dioxin lưu tồn cho thấy có hàm lượng
dioxin lưu tồn (từng loại đồng phân) ở những người có khả năng bị phơi
nhiễm, sinh sống tại miền Trung và Nam Việt Nam Có lượng dioxin lưu
tồn rõ trong các mẫu môi trường ở những vùng lãnh thổ trước kia bị rải
chất độc Còn trong cơ thể con người và các mẫu môi trường ở những vùng
không bị rải chất độc lượng dioxin lưu tồn ở mức độ không đáng kể Trong
các nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng của các tác giả Việt Nam cũng đã
khẳng định khả năng có sự liên quan giữa sự phơi nhiễm với các bệnh
hiếm gặp, các rối loạn hệ miễn dịch Trong giai đoạn nghiên cứu này các
nhận định về phơi nhiễm các chất diệt cỏ thường dựa trên cơ sở có tiền sử
sinh sống ở vùng bị rải chất độc và những lời tự khai được chứng kiến việc
rải chất độc.Trong một số công trình nghiên cứu, các tác giả coi những
người có mặt trong phạm vi bán kính 10 km tính từ trung tâm xã bị rải chất
độc (căn cứ vào bản đồ rải chất độc của quân đội Mỹ) là những người bị
phơi nhiễm Các tiêu chuẩn phân loại phơi nhiễm khác có tính đến thời hạn
sống ở vùng bị rải và số lần rải.Trong các nghiên cứu dịch tễ hỗn hợp
Việt-Pháp, các tác gỉa đã xây dựng " Chỉ số phơi nhiễm OA tích lũy" dựa trên
thủ pháp Stellman
Nhỡn chung caực nghieõn cửựu neõu treõn đã có những đóng góp quan trọng
trong buổi đầu nghiên cứu một vấn đề khoa học phức tạp, có nhiều liên quan tới
chính trị và xã hội Mặt khác cũng cần nhận thấy do có những khó khăn bất khả
kháng nên các nghiên cứu trong nước chửa bao quaựt ủuỷ caực ủaởc tớnh về taực
ủoọng sinh hoùc cuỷa dioxin, do ủoự chửa xaực ủũnh ủửụùc nhiều haọu quỷa y sinh
hoùc do dioxin gaõy ra Gaàn ủaõy nhửừng nghieõn cửựu ụỷ mửực ủoọ phaõn tửỷ
cho thaỏy dioxin laứ nhửừng hụùp chaỏt ủoọc haùi ủaởc bieọt nguy hieồm
Theo hiệp định ký kết giữa hai Nhà nước Việt Nam và Liên Xô cũ từ
năm 1988 đến nay Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga đã và đang tiến hành
nghiên cứu cơ bản về hậu qủa y sinh học của các chất độc sinh thái chứa
dioxin dùng trong quân sự và đã xây dựng được phương pháp luận nghiên
cứu vấn đề này Những kết qủa nghiên cứu của TTNĐ Việt-Nga cho thấy:
Trang 9Những hậu quỷa y sinh hoùc do dioxin gaõy ra ủửụùc theồ hieọn trong phaùm
vi raỏt roọng cuỷa caực roỏi loaùn chửực naờng cuỷa caực heọ, caực cụ quan khaực nhau trong cụ theồ Caực roỏi loaùn naứy dieón ra dai daỳng, laõu daứi, thửụứng laứ tieàm aồn, laứm suy giaỷm tỡnh traùng sửực khoỷe chung, laứm giaỷm khaỷ naờng lao ủoọng theồ lửùc , trớ tueọ, taùo nhửừng tieàn ủeà thuaọn lụùi cho caực loaùi beọnh thoõng thửụứng dieón ra naởng hụn, lửu haứnh roọng raừi hụn.Do đó một trong những vấn đề cấp bách hiện nay trong chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam là giải quyết hậu quả lâu dài của OA/dioxin đối với sức khỏe những người bị phơi nhiễm chất độc
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng phửụng phaựp luaọn do Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga xây dựng để phaựt hieọn, ủaựnh giaự nhửừng biến đổi về sức khoẻ ở những CCB có mức độ tiếp xúc khác nhau với caực
chaỏt ủoọc do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam Trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp có hiệu qủa trong điều trị và phục hồi sức khỏe
cho những nạn nhân của OA-dioxin ở nước ta
Qua tham khảo kinh nghiệm trên thế giới về công tác dự phòng, điều trị và phục hồi sức khỏe cho những người bị tổn thương bởi dioxin cho thấy hiện nay chưa có biện pháp giải quyết vấn đề nêu trên một cách có luận cứ khoa học và hiệu quả Nguyên nhân của tình trạng này là cho đến nay vẫn chưa có những quan điểm thống nhất đối với sinh bệnh học của dioxin Do vậy các phương pháp và phác đồ điều trị nạn nhân dioxin đang sử dụng ở nhiều nước mới chỉ hướng vào điều trị triệu chứng và chưa đảm bảo được hiệu quả điều trị ổn định
Trong thời gian gần đây đã xuất hiện một hướng khoa học mới trong
điều chỉnh các rối loạn cân bằng nội môi của cơ thể người bằng cách sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học (Peptid bioregulator ) Đây là một trong những giải pháp hiện đại, có hiệu qủa cao nhằm phục hồi các chức năng trong cơ thể bị rối loạn do tác động của các chất sinh cảnh lạ chứa dioxin và nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể đối với các tác nhân bất lợi, đồng thời làm chậm các qúa trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ
Trang 10Năm 1971 lần đầu tiên những chế phẩm peptit điều hòa sinh học đã
được chiết tách từ vùng dưới đồi thị, epyphis, thymus và thành mạch của bê Sau này được gọi là cytomedin Ngay lúc đó người ta đã phát hiện được rằng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học có tác dụng điều hoà miễn dịch, chống đông máu và chống ung thư Cho đến nay thực tế người ta có thể chiết tách các peptit từ tất cả các cơ quan, tế bào và các tổ chức của cơ thể Đó là các phức hợp polypeptit Trong đó mỗi phức hợp có tác động
điều hòa nhất định ở một loại tế bào chuyên biệt
Các chế phẩm peptit điều hòa sinh học có khả năng kiểm soát biểu hiện gen và tổng hợp protein, điều hòa các quá trình tăng sinh, biệt hóa đặc hiệu và sự chuyển hóa của các nhóm tế bào chuyên biệt Do đó chúng có thể điều hòa hoạt động chức năng của các tế bào trong phạm vi bình thường
và trong các qúa trình bệnh lý Điều này cho phép có thể coi các loại chế phẩm này là những loại thuốc có khả năng chống lại các chất sinh cảnh lạ, không có các tác dụng phụ Các loại thuốc này không gây ảnh hưởng đến cân bằng nội môi trong cơ thể con người
Các chế phẩm peptit điều hòa sinh học làm tăng đáng kể hiệu qủa của các phương pháp hiện có trong phục hồi sức khỏe sau khi bị tác động của các tác nhân khác (bị chấn thương, tác động tia phóng xạ, nhiễm độc, căng thẳng thần kinh -tâm lí) và được sử dụng để dự phòng và điều trị những trạng thái liên quan tới các rối loạn khả năng chống đỡ của cơ thể và nhiều rối loạn chức năng sinh lý, kể cả bệnh lý do tuổi tác Cytomedin là loại thuốc đã được ghi trong dược điển quốc gia của LB Nga
Hiện nay tại Viện điều hòa sinh học và lão khoa Sant-Peterbua thuộc Viện Hàn lâm y học Liên bang Nga đã xây dựng được công nghệ điều chế các chế phẩm có hoạt tính sinh học để bổ sung vào thức ăn Các loại thuốc này được gọi là Cytamin Đây là phức hợp nucleo-protein có hoạt tính sinh học tự nhiên chiết tách từ các cơ quan và các mô khác nhau của động vật,
có định hướng tác động (định hướng vào các cơ quan đặc hiệu) Các loại thuốc này cũng chứa các loại khoáng chất ( magie, sắt, photpho, kali, canxi, natri ), các yếu tố vi lượng (đồng, mangan, coban, molibden ) và các vitamin (B1, B2, A, E ) với nồng độ sinh lý và ở dạng dễ hấp thu Điều
Trang 11này làm tăng tác dụng sinh lý cao của chế phẩm đối với tất cả các lứa tuổi Không chỉ đơn thuần là thuốc chữa bệnh, các hợp chất peptit điều hòa sinh học còn là chế phẩm bồi bổ sức khỏe Khi bổ sung vào thức ăn, với tác dụng
điều hòa sinh lý, Cytamin sẽ tác động đến các hệ chức năng khác nhau, do
đó có thể sử dụng làm các thuốc thích nghi tự nhiên (adaptogen)
Những điều nêu trên cho thấy: việc sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học - Cytomedin và Cytamin đáp ứng được yêu cầu của công tác điều trị và
dự phòng cho các CCB và những người dân Việt Nam bị tác động của các chất diệt cỏ chứa dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh
Được phép của Bộ Y tế Việt Nam (Công văn số 7455/QLD-VP ngày 18/12/2001 của Cục quản lý dược Việt Nam, Bộ Y tế cho phép tiếp nhận và
sử dụng thuốc Thymalin ở Việt Nam, Công văn số 1049/QLTP-ĐK ngày 18/12/2001 của Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho phép nhập và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng nhằm mục đích nghiên cứu khoa học về phục hồi sức khoẻ cho các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất da cam ) ( phụ lục 1 ) Trung tâm nhiệt đới Việt Nga đã tiến hành
nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các chế phẩm peptit điều hoà sinh học trong phục hồi sức khoẻ cho các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất da cam, hiện đang sinh sống tại quận Cầu Giấy, Hà Nội
iii đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
Tổng số CCB – nam giới được nghiên cứu là 519 người, đẫ từng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại các chiến trường miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào Sau khi ra quân cho đến nay đang sinh sống tại các phường Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội Các CCB được mời đến khám bệnh và xét nghiệm trên cơ sở tự nguyện Trong quá trình khám nghiệm vì những lý do khác nhau, có một số CCB bỏ dở, không tham gia đầy đủ nên số lượng CCB ở các đề mục khám có khác nhau
2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Các nội dung nghiên cứu được tiến hành theo các phương pháp và các bước chính sau đây:
Sơ đồ 1 Nội dung khám nghiệm tối thiểu các CCB
Xét nghiệm sinh hoá máu
XN nước tiểu thường qui
Định lượng dioxin trong máu
* Lập phiếu điều tra tình trạng sức khoẻ CCB
Trang 13Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp từng đối tượng theo mẫu phiếu
thống nhất ( phụ lục2 ) để thu thập thông tin về tiền sử, điều kiện và mức
độ có thể bị tác động của các yếu tố nguy cơ khác nhau trong các thời kỳ trước, trong và sau phục vụ trong quân đội, về tiền sử thay đổi tình trạng sức khoẻ của các CCB
*Khám lâm sàng
Phương pháp khám bệnh trong từng chuyên khoa theo quy định chung và
theo mẫu phiếu quy định ( phụ lục 3 ).Nội dung khám gồm :1 Các bệnh
về tai, mũi, họng, răng và thị giác 2 Hệ tim mạch 3.Hệ hô hấp 4 Hệ tiêu hoá 5 Hệ tiết niệu 6 Hệ xương-cơ 7.Các rối loạn thần kinh 8 Các bệnh ngoài da và tham khảo toàn bộ nội dung sổ sức khoẻ để thu thập các thông tin về tiền sử bệnh (trong các trường hợp còn giữ được) Đánh giá hiện trạng sức khoẻ của đối tượng
*Xét nghiệm cận lâm sàng
Tiến hành ghi điện tim và các xét nghiêm huyết học, sinh hoá máu, nước tiểu
Định lượng dioxin trong máu trộn của các nhóm CCB có mức độ tiếp xúc khác nhau với OA/dioxin
Trang 14Sơ đồ 2 Liệu trình điều trị phục hồi sức khoẻ cho cựu chiến binh
Pancramin, coramin, hepatamin, ventramin, thymalin, epithalaminDùng placebo
Khám lâm sàng giữa kỳ: triệu chứng chủ quan, trạng thái tâm sinh lý, chức năng các cơ quan (sau uống thuốc 4 ngày)
Khám và xét nghiệm đánh giá kết quả điều trị: triệu chứng khách quan, trạng thái tâm sinh lý, tình trạng chức năng các cơ quan, xét nghiệm cận lâm sàng (sau uống thuốc 4 ngày)
Điều trị: (trong 20 ngày)
Nhóm nghiên cứu 2: 15 người Thymalin,epythalamin
Khám và xét nghiệm đánh giá kết quả điều trị: triệu chứng chủ quan, trạng thái tâm sinh lý, tình trạng chức năng các cơ quan, xét nghiệm cận lâm sàng (20 ngày sau điều trị)
Trang 15V kết quả nghiên cứu
1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Phân nhóm CCB theo mức độ tiếp xúc với OA/dioxin
Căn cứ vào thông tin thu được qua phiếu khảo sát dịch tễ, chúng tôi phân chia ra ba nhóm CCB có mức độ có thể có tiếp xúc khác nhau với OA/dioxin như sau:
-Nhóm 1 (đối chứng) : gồm 233 CCB (chiếm 44,89%) không bị tiếp xúc trực tiếp và không đến vùng đã bị rải OA/dioxin
-Nhóm 2 (nhóm nghiên cứu): gồm 230 CCB (chiếm 44,32%) không bị tiếp xúc trực tiếp với OA/dioxin, nhưng đã sống và/hoặc đi qua vùng đã bị rải OA/dioxin
-Nhóm 3 (nhóm nghiên cứu): gồm 56 CCB (chiếm 10,78%)đã bị tiếp xúc trực tiếp với OA/dioxin (bị rải OA/dioxin vào quần áo, vùng
da, hít phải ) và đã sống trên lãnh thổ đã bị rải OA/dioxin
Chúng tôi đã tiến hành định lượng dioxin trong máu trộn của một số CCB tình nguyện trong mỗi nhóm Nhóm 1: 14 CCB, Nhóm 2:
34 CCB , Nhóm 3: 20 CCB tổng khối lượng máu lấy của mỗi nhóm là khoảng 50ml Phân tích bằng phương pháp sắc kí khí phân giải cao (HRGC) ,“HP 6890 Plus”và khối phổ phân giải cao ( HRMS )”
Finnigan MAT 95 XL”;ngày10 12 2001, tại Labor Độc học sinh thái Viện các vấn đề sinh thái và tiến hoá, VHLKH L.B Nga.Kết quả định
lượng PCDD và PCDF trong máu CCB ( Bảng 1 )
Kết quả định lượng dioxin lưu tồn trong máu CCB, sau trên dưới
30 năm tiếp xúc với chất độc, phù hợp với kết quả phân loại mức độ phơi nhiễm qua phiếu điều tra sức khoẻ CCB
Trang 16Bảng 1 Kết quả định lượng PCDD và PCDF trong máu CCB Việt Nam
Tiếp xúc Nhóm NCPN
Tên hợp chất
Không tiếp xúc n=14 Gián tiếp
n=34
Trực tiếp n=20
Bảng 2 Đặc điểm tuổi đời và thời gian sống ở vùng bị rải OA/dioxin
của các cựu chiến binh
Tiếp xúc Nhóm
nguy cơ
Chỉ tiêu
Không tiếp xúc (n=233) ( ξ ± SD)
Gián tiếp (n=230) ( ξ ± SD)
Trực tiếp (n=56) ( ξ ± SD) Tuổi đời,năm 62.98±8.15 61.74±8.38 63.46±6.64
Thời gian ở vùng bị rải
OA/dioxin (năm) 0 3.24 ± 2.46 4.12 ± 2.43
Trên bảng thấy rõ độ tuổi trung bình của các CCB ở cả ba nhóm khi
đến khám sức khoẻ là tương đương nhau Thời gian trung bình sống ở vùng
bị rải OA/dioxin của nhóm tiếp xúc gián tiếp là 3.07±2.46 năm, còn ở CCB
tiếp xúc trực tiếp là 4.12 ± 2.43 năm Nhìn chung ở nhóm tiếp xúc trực tiếp
có thời gian lưu trú tại vùng bị rải OA/dioxin dài hơn nhóm tiếp xúc gián
tiếp
Trang 17Có nhiều các yếu tố có liên quan đến tình trạng sức khoẻ của CCB ở
đây chúng tôi lưu ý đến 3 yếu tố chính sau đây (Bảng 3):
Bảng 3 Các yếu tố chính liên quan đến tình trạng sức khoẻ CCB
ở các nhóm đối tượng tiếp xúc chất độc có tỷ lệ bị sốt rét, bị thương
và sức ép cao hơn hẳn nhóm không tiếp xúc Tuy nhiên ở nhóm tiếp xúc
với các hoá chất khác (trước, trong và sau chiến tranh) thì hai nhóm là
tương đương nhau
Ngoài ra chúng tôi cũng quan tâm đến một số thói quen sinh hoạt có
thể ảnh hưởng tới sức khoẻ cựu chiến binh (bảng 4)
Bảng 4 Một số thói quen có hại có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cựu chiến binh
Trang 18Hút < 10 điếu/ngày 54 23.18 66 28.70 15 28.70
Các yếu tố uống rượu và hút thuốc lá được chúng tôi khai thác trong tiền sử và hiện tại Kết quả tỷ lệ các nhóm đối tượng với hai yếu tố này là tương đương nhau
2 Kết quả khám lâm sàng
2.1 Kết quả đo các chỉ tiêu thể lực ( xem chi tiết tại trang 23-31.)
Tất cả các CCB trong các nhóm có mức độ tiếp xúc khác nhau với OA/dioxin và theo theo các nhóm tuổi được xác định các chỉ tiêu thể lực sau đây:
- Chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI [(Body mass index): là tỷ số giữa cân nặng (kg) và bình phương chiều cao (cm)], vòng ngực tối đa, vòng ngực tối thiểu, vòng ngực trung bình, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, dung tích sống, hệ số denemy [là tỷ số giữa dung tích sống (ml) và trọng lượng cơ thể (kg): đánh giá khả năng cung cấp ô xy cho các mô của cơ thể (đơn vị tính ml/kg)]
Kết quả cho thấy: 1 Chiều cao, cân nặng và vòng ngực tối đa của các cựu chiến binh tiền sử tiếp xúc gián tiếp với chất da cam cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tiếp xúc (các số liệu tương ứng là 161.31cm; 58.08kg và 89.17cm so với 160.22cm; 56.13kg và 87.97cm) Sự chênh lệch về thể lực giữa nhóm tiếp xúc trực tiếp với các nhóm khác không rõ ràng
2 Khả năng cung cấp ô xy tối đa của phổi (hệ số denemy ) đối với các
tổ chức của cơ thể ở nhóm tiếp xúc gián tiếp thấp hơn nhóm không tiếp xúc (46.78ml/kg so với 49.03ml/kg, p < 0.01) Các chỉ tiêu tần số mạch ngoại vi
và huyết áp động mạch không có sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm
2.2 Kết quả nghiên cứu các triệu chứng chức năng hệ thần kinh trung
ương ( xem chi tiết tại trang30-42)
Qua kết quả nghiên cứu ở các cựu chiến binh quận Cầu Giấy, Hà Nội chúng tôi thấy rằng:
Trang 191- Có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về các triệu chứng liên quan đến hội chứng suy nhược thần kinh ở các cựu chiến binh tiền sử tiếp xúc với
OA/dioxin do quân đội Mỹ dùng trong chiến tranh
2- Có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê một số biểu hiện rối loạn tâm thần khác điển hình là hoang tưởng, ảo giác, liệt dương ở nhóm các cựu chiến
binh tiền sử tiếp xúc với OA/dioxin
3- Bị thương trong chiến đấu, sức ép do bom pháo (điều kiện chiến đấu
ác liệt) có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mắc các triệu chứng bệnh lý thần kinh
ở các cựu chiến binh chống Mỹ
2.3 Kết quả nghiên cứu các triệu lâm sàng hệ tim mạch, hô hấp, tiêu hoá
ở các nhóm CCB có mức độ tiếp xúc khác nhau với OA/dioxin trong chiến tranh ( xem chi tiết tại trang 43-60.)
-Các biểu hiện lâm sàng của hệ tim mạch ở nhóm CCB có tiếp xúc với
OA/dioxin chiếm tỷ lệ cao khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm CCB không tiếp xúc với CĐHH Trên điện tâm đồ thời gian dẫn truyền nhĩ thất (khoảng PQ ) ở nhóm CCB tiếp xúc OA/dioxin dài hơn, có ý nghĩa thống kê, so với nhóm CCB không tiếp xúc (tương ứng với 0.1665 giây và 0.1625 giây với (p< 0.05 ).Tỷ lệ những người có nhịp chậm xoang và bloc phân nhánh trái trước trên ở nhóm CCB có tiếp xúc OA/doixin (tương ứng là 19.39% và 14.78%) cao hơn rõ rệt, có ý nghĩa thống kê so với nhóm CCB không tiếp xúc OA/doixin (tương ứng là 12.56% và 3.46% với p tương ứng < 0.05 và p<0.001)
Biểu hiện điện tim bệnh lý: tăng gánh thất trái ở nhóm CCB tiếp xúc chiếm 38.78%, khác biệt so với nhóm CCB không tiếp xúc: 29,87%, với p<0.05 Nhồi máu cơ tim ở nhóm tiếp xúc cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tiếp xúc ( tương ứng với 6,82% và 1,30%,p < 0,001)
-Đối với hệ hô hấp: ở nhóm tiếp xúc với OA/doixin gặp tỷ lệ các triệu chứng viêm phế quản mạn cao khác biệt, có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tiếp xúc
-Các bệnh đường tiêu hoá: nổi trội lên là sự khác biệt về các triệu chứng viêm đại tràng Tỷ lệ gặp ở nhóm tiếp xúc cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm không tiếp xúc
-Ngoài ra tỷ lệ gặp những triệu chứng khác như phù mặt,phù chân, khớp tay
đau ở nhóm tiếp xúc cao hơn, có ý nghĩa so với nhóm không tiếp xúc
Trang 202.4 Kết quả khám lâm sàng các triệu chứng bệnh lý về Họng, Mắt, Răng-Miệng ( xem chi tiết tại trang 61-66)
Tai-Mũi Các triệu chứng bệnh lý TaiTai-Mũi MũiTai-Mũi Họng: Tỷ lệ giảm thính lực ở nhóm tiếp xúc là 33,33% cao hơn rõ rệt so với nhóm không tiếp xúc (21,93%) với p<0.01
- Nhóm triệu chứng bệnh lý Tai-Mũi-Họng ở nhóm tiếp xúc cao hơn so với nhóm không tiếp xúc (tương ứng với 74.71% và 48.76%, với p<0.01)
- Nhóm triệu chứng bệnh lý về Mắt: ở nhóm tiếp xúc có 52.20% suy giảm thị lực, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không tiếp xúc (35.53%), với p< 0.001
- Nhóm triệu chứng bệnh lý Răng-Miệng: Sự khác biệt nổi trội lên giữa hai nhóm tiếp xúc và không tiếp xúc là rụng răng (tương ứng 59.01%
và 48.25%, với p<0.05); màu niêm mạc miệng bất thường (38.31% và 28.51%, p<0.05 ); teo niêm mạc miệng (18.39 % và 6.58%, p<0.001) Tổng hợp chung các bệnh lý răng miệng ở nhóm tiếp xúc với OA/doixin cao hơn
rõ rệt so với nhóm không tiếp xúc ( 80.46% và 56.14%, với p< 0.01)
2.5 Kết quả khám lâm sàng bệnh ngoài da (xem chi tiết tại trang 67-78 ).:
- ở nhóm CCB tiếp xúc OA/doixin thấy gia tăng tỷ lệ triệu chứng ngứa
da (41.60% ) so với nhóm không tiếp xúc ( 27.7%), với p< 0.01), phát ban trên da ( tương ứng với mỗi nhóm là 23.48% và 10.82%, với p<0.001)
-Về cơ cấu mặt bệnh hay gặp nhất là nhóm bệnh sẩn ngứa viêm da dị ứng, mày đay, tỷ lệ mắc bệnh trong nhóm CCB tiếp xúc là 22.8%, cao hơn nhóm không tiếp xúc 15.1%, với p<0.05
2.6 Kết quả xét nghiệm huyết học và sinh hoá máu, nước tiểu của các CCB có mức độ tiếp xúc khác nhau với OA/doixin (xem chi tiết ở
trang 79-89)
Trang 21Sau khi khám lâm sàng, các CCB được làm xét nghiệm máu trên cơ
sở tự nguyện Nhóm chứng (không tiếp xúc với OA/doixin) có 72 người, nhóm tiếp xúc gián tiếp có 77 người và nhóm tiếp xúc trực tiếp có 42 người Hầu hết các kết quả xét nghiệm huyết học và sinh hoá máu đều nằm trong gới hạn bình thường Song ở một số chỉ tiêu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê như chỉ số nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC) của nhóm chứng là 338.44±10.79g/l, của nhóm tiếp xúc gián tiếp là 345.46±12.21g/l, với p<0.05 Giải phân bố kích thước hồng cầu (RDW) của nhóm chứng là 11.56 ± 0.63%, của nhóm tiếp xúc gián tiếp là 12.54±1.44%
và của nhóm tiếp xúc trực tiếp là 12.39 ± 1.41% với p<0.05 Sự khác biệt này có thể là do chất độc đã ảnh hưởng đến quá trình tạo máu, như đã được chứng minh TCDD gây rối loạn quá trình sinh tổng hợp Hem trong thực nghiệm trên động vật và gây rối loạn chuyển hoá porphyrin ở những người
bị phơi nhiễm dioxin Cũng có thể sự biến đổi chất lượng hồng cầu nêu trên
là phản ứng bù đắp của cơ thể do khả năng cung cấp ô xy cho các mô của cơ thể bị giảm (hệ số denemy ở nhóm tiếp xúc gián tiếp cũng bị giảm )
Ngoài ra chúng tôi cũng đã ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hàm lượng HDL-cholesterol, LDL-cholesterol, protein toàn phần, estradiol giữa các nhóm có mức độ tiếp xúc khác nhau với OA/dio xin Điều này cho thấy các hợp chất diệt cỏ chứa dioxin đã có ảnh hưởng tới các quá trình chuyển hoá trong cơ thể
2.7 Đánh giá hiệu quả sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học trong phục hồi sức khoẻ cho cựu chiến binh bị tiếp xúc với CĐHH ( xem chi tiết tại trang 90-104)
Qua nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học trong phục hồi sức khoẻ cho cựu chiến binh bị tiếp xúc với chất
da cam/dioxin chúng tôi rút ra những nhận định sau:
1 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học (hepatamin, pancramin, vencramin) có hoạt tính đặc hiệu tổ chức nên có khả năng làm bình thường hoá chức năng các cơ quan đường tiêu hoá Cũng đã ghi nhận được ảnh hưởng của Epitalamin, Thylamin và Coramin làm bình thường hoá tình trạng chức năng hệ hô hấp, tim và đại não
Trang 222 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học gây ảnh hưởng kích thích lên các chỉ tiêu miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể, làm bình thường hoá các chỉ tiêu chuyển hoá và chống oxy hoa trong cơ thể
3 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học có khả năng cải thiện tình trạng tâm lý tình cảm của bệnh nhân
4 Không thấy các tác dụng phụ của các loại thuốc nêu trên
5 Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các chế phẩm peptit điều hoà sinh học trong điều trị phục hồi sức khoẻ cho các CCB bị phơi nhiễm chất da cam /dioxin có nhiều triển vọng khả quan Cần tiến hành những nghiên cứu tiếp để sớm góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh hoá học ở Việt Nam
VI.kết luận
Qua khám nghiệm tổng hợp cho hơn 519 cựu chiến binh có các mức
độ tiếp xúc khác nhau với chất độc hoá học trong kháng chiến chống Mỹ, hiện đang sống tại quận Cấu Giấy, Hà Nội, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
1 Sau hơn 30 năm bị tiếp xúc trực tiếp với chất độc hoá học do quân
đội Mỹ sử dụng trên chiến trường Việt Nam, cho đến nay ( năm 2001 )trong máu của những người cựu chiến binh này vẫn còn lưu tồn một lượng
đáng kể 2,3,7,8-TCDD : 2,73pg/g máu, trong lúc đó ở các cựu chiến binh không tiếp xúc với chất độc hoá học không có TCDD trong máu
2 Qua điều tra tình hình sức khoẻ và khám nghiệm tổng hợp có thể phân lập ra được các nhóm cựu chiến binh có mức độ khác nhau bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin
3 Đã phát hiện thấy tăng có ý nghĩa tỷ lệ những cựu chiến binh có các dấu hiệu, triệu chứng bệnh lý hệ thần kinh, tiêu hoá, hô hấp, da liễu ở nhóm người bị tiếp xúc trực tiếp với chất độc hoá học trong kháng chiến chống Mỹ
4 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học bước đầu có tác dụng trong điều trị phục hồi sức khoẻ cho các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất
da cam/dioxin
Trang 23VII những hiệu quả của nghiên cứu
- Góp phần xây dựng quy trình khám nghiệm để phát hiện, đánh giá
và nhận biết những hậu quả y sinh học lâu dài của chất da cam/dioxin ở Việt Nam
- Xây dựng phác đồ điều trị phục hồi sức khoẻ cho những người bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin
tài liệu tham khảo
1 Vũ Triệu An, Phan Thu Anh, Nguyễn Ngọc Lanh, Phan Thị Phi Phi, Vũ Dương Quý
Góp phần nghiên cứu thay đổi chỉ tiêu miễn dịch ở những người có thể bị nhiễm độc dioxin tại chiến trường miền Nam Việt Nam Báo cáo khoa học Hội thảo quốc tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr 366-376,
2.T.V Bảo, P.T.Hoan, D.N.Phong, N.T.Vinh
Nghiên cứu nhiễm sắc thể ở thế hệ F2 của những người tiếp xúc chất
độc hoá học trong chiến tranh Việt Nam Báo cáo khoa học Hội thảo quốc
tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr 393-398
3 Bùi Đại, Quốc Gia,Lê Cao Đài, Bích Thuỷ
Tình hình bệnh tật của những quân nhân hoạt động ở vùng rải chất
độc hoá học và tai biến sinh sản của gia đình họ so với những quân nhân
không tiếp xúc với chất độc hoá học Báo cáo khoa học Hội thảo quốc tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr 188-199
Trang 244 Lê Cao Đài, Đinh Quang Minh, Hoàng Trọng Quỳnh, Lê Hồng Thơm, Lê Bích Thuỷ
Nhận xét về tình hình phân bố dioxin ở các địa phương Việt Nam
Báo cáo khoa học Hội thảo quốc tế lần thứ II “ CDC trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr 5
5 Nguyễn Văn Nguyên, Lê Bách Quang
Báo cáo kết quả nghiên cứu những tác động hậu quả lâu dài của chất
độc màu da cam đối với con người ở khu vực sân bay Biên Hoà và biện pháp khắc phục 1996-1997, Hà Nội,1998, tr.9-10,18
6 Phan Thị Phi Phi, Đỗ Hoà Bình, Trần Thị Chính, Nguyễn Thanh Thuý, Phan Thị Thu Anh, Chu Thị Tuyết,Trương Mộng Trang,
Vũ Triệu An, Đinh Quang Minh, Lê Cao Đài, Hoàng Đình Cầu
Nghiên cứu các hậu quả muộn trên một số chỉ tiêu miễn dịch ở cựu chiến binh đã sống ở vùng có rải chất dioxin Báo cáo khoa học Hội thảo
quốc tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr 377-386
7 Đào Ngọc Phong, Nguyễn Thị Thu, Đặng Huy Hoàng, Chu Văn Thăng Nghiên cứu theo phương pháp cohorte nguy cơ do dioxin lên sức
khoẻ của chiến binhvà quá trình thai sản ở những người vợ tại huyện Thanh
Trì, Hà Nội Báo cáo khoa học Hội thảo quốc tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà
Nội, 1993, tr 346-361
8 Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Trương Minh Thắng và CS
Điều tra cơ bản về ảnh hưởng của các chất hoá học làm trụi lá và diệt
cỏ trên sự sinh sản sủa phụ nữ tại huyện U Minh, tỉnh Minh Hải Báo cáo
khoa học Hội thảo quốc tế lần thứ II “ Chất diệt cỏ trong chiến tranh: Tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên “, Hà Nội, 1993, tr233
Trang 25цитамины (биорегуляторы клеточного метаболизма ).СПб.:ИКФ:
”Фолиянт ” , 1999.-С.-120
12.Морозов В.Г., Xавинсон В X., Малинин В.В
Пептидные биорегуляторы (25-летний опыт экспериментального и клинического изучения ) –СПб : Наука, 1996.-С.-74
15.Румак В.С., Позняков С.П., Нгуен Куок Ан, Софронов Г.А
Отдаленные медиЦинские последствия воздействия диосинов В сб.ТропЦентр-98 Москва-Xаной, кг.2,ч.3,с.11-39
16.Софронов Г.А.,Румак В.С., Позняков С.П., Умнова Н.В., Антонюк В.В
Медико-биологические последствия xимической войны США во Вьетнам ( выявление, xарактеристика и идентификаЦия эффектов ) М.Наука.2001.с.186
Trang 26Các chuyên đề
Trang 27đánh giá hiệu quả sử dụng các chế phẩm peptit
điều hoà sinh học trong phục hồi sức khoẻ
cho các cựu chiến binh có tiếp xúc với
chất da cam/dioxin trong chiến tranh
Rumiansev I R., Ngô Thanh Nam, Nguyễn Quốc Ân, , Vũ Hồng Diệp, Phạm Khắc Linh, Hoàng Trâm Anh, Lê Thị Vinh, Rumak V S., Sofronov H.A., Khavinson V K
I mở đầu
Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay trong chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam là giải quyết hậu quả lâu dài của OA/dioxin đối sức khỏe những người bị phơi nhiễm chất độc
Qua phân tích, đánh giá kinh nghiệm trên thế giới về công tác dự phòng, điều trị và phục hồi sức khỏe cho những người bị tổn thương bởi dioxin cho thấy hiện nay chưa có biện pháp giải quyết vấn đề nêu trên một cách có luận cứ khoa học và hiệu quả Nguyên nhân của tình trạng này là cho đến nay vẫn chưa có những quan điểm thống nhất đối với sinh bệnh học của dioxin Do vậy các phương pháp và phác đồ điều trị nạn nhân dioxin
đang sử dụng ở nhiều nước mới chỉ hướng vào điều trị triệu chứng (chứ chưa căn cứ vào sinh bệnh học của dioxin) và chưa đảm bảo được hiệu quả
điều trị ổn định
Qua phân tích, đánh giá các tài liệu nghiên cứu về diễn biến lâm sàng của bệnh dioxin, các di chứng lâu dài của nó và các kết quả khám nghiệm tổng hợp về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng trên cựu chiến binh (CCB) tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga có thể phân lập ra những đặc điểm chung,
đặc trưng cho tình trạng bệnh lý dioxin như sau:
1 Có phổ rất rộng các dạng bệnh, thực tế cho thấy có ở tất cả các cơ quan, các hệ cơ quan trong cơ thể người
2 Các rối loạn chức năng của các cơ quan, rối loạn chuyển hóa bền vững và đa dạng
3 Hiện tượng "Lão hóa sớm so với tuổi"
4 ảnh hưởng gây biến đổi đối với sự tiến triển của nhiễm độc (đặc
điểm về thời gian, tính chất của tình huống phơi nhiễm cụ thể, tác động liên
23
Trang 28hợp, cộng hợp với các tác nhân hóa học, phi hóa học có trong môi trường ngoại cảnh)
Khi tiến hành các biện pháp điều trị dự phòng đối với các CCB và các nạn nhân khác của OA/dioxin cần tính đến các đặc điểm nêu trên của bệnh dioxin
Để các phương pháp điều trị và dự phòng đạt được hiệu qủa tối ưu cần lưu ý các điểm sau đây:
- Dioxin tác động đa hướng và có khả năng gây rối loạn các cơ quan, các hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể
- Cần bảo đảm khả năng sử dụng tổng hợp các biện pháp, nói cách khác cần có khả năng sử dụng phối hợp các loại thuốc có tính đặc hiệu cơ quan khác nhau
- Sử dụng các loại thuốc có tác dụng cộng hợp, tức là tác động của các thành phần khác nhau của các loại thuốc tổng hợp phải cùng một hướng
- Các phương pháp điều trị dự phòng phải vô hại, không nguy hiểm, không gây tác dụng phụ
- Cần phải kết hợp với các phương pháp và thiết bị truyền thống trong
điều trị bệnh
- Cần phải tính đến động lực độc học của dioxin, tính chất bền vững của các rối loạn rất đa dạng của các cơ quan, các chức năng và chuyển hóa Cũng phải tính đến khả năng có thể phải sử dụng thuốc dài hạn
- Các loại thuốc phải có khả năng tác động chống các chất ôxy hóa
- Cần làm chậm các quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ của con người
- Các loại thuốc có thể sản xuất được, hình thức tiện lợi cho việc bệnh nhân tự sử dụng lâu dài
Trong thời gian gần đây đã xuất hiện một hướng khoa học mới trong
điều chỉnh các rối loạn cân bằng nội môi của cơ thể người bằng cách sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học (Peptid bioregulator ) Đây là một trong những giải pháp hiện đại, có hiệu qủa cao nhằm phục hồi các chức năng trong cơ thể bị rối loạn do tác động của các chất sinh cảnh lạ chứa dioxin và nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể đối với các tác nhân bất lợi, đồng thời làm chậm các qúa trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ
Năm 1971 lần đầu tiên những chế phẩm peptit điều hòa sinh học đã
được chiết tách từ vùng dưới đồi thị, epyphis, thymus và thành mạch của bê Sau này được gọi là Cytomedin Ngay lúc đó người ta đã phát hiện được rằng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học có tác dụng điều hoà miễn
24
Trang 29dịch, chống đông máu và chống ung thư Cho đến nay thực tế người ta có thể chiết tách các peptit từ tất cả các cơ quan, tế bào và các tổ chức của cơ thể Đó là các phức hợp polypeptit Trong đó mỗi phức hợp có tác động
điều hòa nhất định ở một loại tế bào chuyên biệt
Các chế phẩm peptit điều hòa sinh học có khả năng kiểm soát biểu hiện gen và tổng hợp protein, điều hòa các quá trình tăng sinh, biệt hóa đặc hiệu và sự chuyển hóa của các nhóm tế bào chuyên biệt Do đó chúng có thể điều hòa hoạt động chức năng của các tế bào trong phạm vi bình thường
và trong các qúa trình bệnh lý Điều này cho phép có thể coi các loại chế phẩm này là những loại thuốc có khả năng chống lại các chất sinh cảnh lạ, không có các tác dụng phụ Các loại thuốc này không gây ảnh hưởng đến cân bằng nội môi trong cơ thể con người
Qua nhiều năm kinh nghiệm sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học trong công tác bảo vệ sức khỏe ở nước Nga (từ năm 1971 đến nay) cho thấy chúng có hiệu qủa cao trong điều trị các bệnh khác nhau Trong đó
có những bệnh điều trị bằng các loại dược phẩm khác không có hiệu quả Các loại thuốc này làm tăng đáng kể hiệu qủa của các phương pháp hiện có trong phục hồi sức khỏe sau khi bị tác động của các tác nhân khác (bị chấn thương, tác động tia phóng xạ, nhiễm độc, căng thẳng thần kinh -tâm lí),
được sử dụng để dự phòng, điều trị những trạng thái liên quan với các rối loạn khả năng chống đỡ của cơ thể và nhiều rối loạn chức năng sinh lý, kể cả bệnh lý do tuổi tác Cytomedin là loại thuốc đã được ghi trong dược điển quốc gia của LB Nga
Cytomedin được sản xuất ở dạng bột hòa tan vô trùng và đóng lọ 10mg Trước khi tiêm, hòa tan bột này trong 1-2 ml dung dịch novocain 0,5%, trong nước cất hoặc trong dung dịch NaCl đẳng trương Mỗi ngày tiêm bắp một lần 10mg, trong vòng từ 10-20 ngày
Hiện nay tại Viện điều hòa sinh học và lão khoa thuộc Viện Hàn lâm
Y học Liên bang Nga đã xây dựng được công nghệ điều chế được các chất phụ gia có hoạt tính sinh học để bổ sung vào thức ăn Các loại thuốc này
được gọi là Cytamin Đây là phức hợp nucleo-protein có hoạt tính sinh học
tự nhiên chiết tách từ các cơ quan và các mô khác nhau của động vật có
định hướng tác động (định hướng vào các cơ quan đặc hiệu) Các loại thuốc này cũng chứa các loại khoáng chất (magie, sắt, photpho, kali, canxi, natri ), các yếu tố vi lượng (đồng, mangan, coban, molibden ) và các
25
Trang 30vitamin (B1, B2, A, E ) với nồng độ sinh lý và ở dạng dễ hấp thu( phụ lục ) Điều này làm tăng tác dụng sinh lý của chế phẩm đối với tất cả các lứa tuổi Không chỉ đơn thuần là thuốc chữa bệnh, các chất điều hòa sinh học peptid còn là chế phẩm bồi bổ sức khỏe Tác dụng điều hòa sinh lý của cytamin có hoạt tính sinh học khi bổ sung vào thức ăn sẽ tác động đến các
hệ chức năng khác nhau, do đó có thể sử dụng làm các thuốc thích nghi tự nhiên (adaptogen)
Các loại cytamin được dùng trong các trường hợp sau:
* Tăng cường sức đề kháng của cơ thể trong những điều kiện bất lợi
về sinh thái, khí hậu, nghề nghiệp, bị tác động của các yếu tố bất lợi (kể cả stress tâm lý)
* Ngăn ngừa các tình trạng bệnh lý, các tai biến khác nhau, tăng cường hồi phục sức khỏe sau mắc bệnh, chấn thương và phẫu thuật
* Trong trường hợp ăn uống không đầy đủ hoặc thiếu chất (trong đó
có chế độ ăn kiêng để giảm béo)
* Khi phải cường các hoạt động thể lực (các hoạt động quân sự, thể thao )
* Để duy trì chức năng bình thường của các hệ cơ quan chính trong cơ thể ở lứa tuổi trung niên và già nhằm mục đích làm giảm nguy cơ mắc bệnh
Hiện nay tại L.B Nga đang sản xuất 17 loại cytamin có các hoạt tính
đặc hiệu tổ chức, đặc hiệu cơ quan khác nhau, trong đó có cả hoạt tính chống oxy hóa
Các loại chế phẩm này có tính chất đặc biệt ở chỗ chúng là sản phẩm
tự nhiên, không chứa đựng những thành phần lạ đối với cơ thể, tác động có hiệu qủa cao đối với các tế bào của các tổ chức và các cơ quan, không gây
ra các hiệu ứng phụ, độc hại khác
Tại L.B Nga đã xây dựng các hướng dẫn về phương pháp sử dụng cytamin Đây là kết qủa của nhiều năm thử nghiệm rộng rãi tại Học viện y khoa Matxcơva, Viện não người - Viện hàn lâm y học, bệnh viện của Viện
điều hòa sinh học và lão khoa, các bệnh viện khác nhau của Học viện quân
y, các bệnh viện của Viện nghiên cứu khoa học ung thư mang tên Petrov N.N., trường Đại học y Xanh-Peterbua, Viện nghiên cứu khoa học Bộ Quốc phòng, Viện quân y số 1 Hải quân, Học viện sau đại học Xanh-Peterbua, bệnh viện đa khoa Hải quân và nhiều cơ quan y tế khác
Viện hàn lâm các khoa học tự nhiên L.B Nga đã tiến hành giám
định các cytamin có hoạt tính sinh học để bổ sung vào thức ăn và đã rút ra
26
Trang 31kết luận:" Việc sử dụng các cytamin vào mục đích điều trị và dự phòng không gây ra nguy cơ xuất hiện các bệnh truyền nhiễm ở người (điều này
có tính đến tình hình dịch bệnh động vật và dịch tễ ở nước Nga khá bình yên) và nguy cơ liên quan với bệnh prion (bệnh do một dạng protein cấu trúc bất thường gây ra)”
Viện nghiên cứu ung thư mang tên Petrov N.N đã tiến hành đánh gía giám định phương pháp điều chế và gây nhiễm các bán thành phẩm cytamin bởi các axít nucleic, qua đó rút ra nhận định :" Qua phân tích công nghệ
điều chế các bán sản phẩm của các chất bổ sung cho thức ăn có hoạt tính sinh học, được chiết tách từ các mô khác nhau của gia súc, qua đánh gía mức độ suy biến của các axit nucleic trong các bán thành phẩm nêu trên
được xác định bằng thực nghiệm, đã loại trừ sự có mặt của các loại virus có khả năng sống sót hoặc các chất có hoạt tính gây ung thư"
Cytamin được sản xuất ở dạng viên tròn, đường kính 7 và 10 mm hoặc ở dạng viên con nhộng số 0-3, màng bọc hòa tan được trong đường ruột Mỗi viên của hai loại trên đều chứa 10 mg chất hoạt tính
Sử dụng hỗn hợp cytamin (từ 5 loại hoặc hơn) là có hiệu qủa cao nhất Dùng 2-3 lần một năm, mỗi lần cách nhau 3-6 tháng
Tóm lại những vấn đề chúng tôi trình bày ở phần trên cho thấy: việc
sử dụng các chế phẩm peptit điều hòa sinh học - Cytomedin và Cytamin đáp ứng được mọi yêu cầu của các biện pháp điều trị và dự phòng cho các CCB
và những người dân Việt Nam bị tác động của các chất diệt cỏ chứa dioxin
do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh
Được phép của Bộ Y tế Việt Nam (Công văn số 7455/QLD-VP ngày 18/12/2001 của Cục quản lý dược Việt Nam, Bộ Y tế cho phép tiếp nhận và
sử dụng thuốc Thymalin ở Việt Nam, Công văn số 1049/QLTP-ĐK ngày 18/12/2001 của Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho phép nhập và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng nhằm mục đích nghiên cứu khoa học về phục hồi sức khoẻ cho các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất da cam)( phụ lục1), Trung tâm nhiệt đới Việt Nga đã tiến hành nghiên
cứu đánh giá hiệu quả của các chế phẩm peptit điều hoà sinh học trong phục hồi sức khoẻ cho các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất da cam, hiện
đang sinh sống tại quận Cầu Giấy, Hà Nội
27
Trang 32Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá hiệu qủa của các chế phẩm peptit điều hòa sinh học
cytomedin (epytalamin, thymalin) và cytamin (ventramin, hepatamin,
pancramin, coramin ) trong phục hồi sức khỏe cho các cựu chiến binh Việt
Nam bị tiếp xúc với chất da cam/dioxin trong chiến tranh chống Mỹ
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.Đối tượng nghiên cứu
Từ kết quả khám nghiệm tổng hợp trên 495 CCB hiện đang sinh sống
tại Quận Cầu Giấy Hà Nội, chúng tôi đã chọn ra được 50 CCB tình nguyện,
có cùng hội chứng tổn thương chủ yếu là hệ tiêu hoá và các hệ khác trong
cơ thể Các CCB được chia làm hai nhóm:
- Nhóm chứng gồm 22 người
- Nhóm nghiên cứu gồm 28 người
Đặc điểm của các CCB được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Đặc điểm chung của CCB
Tuổi 48-59 60-70 >70 48-59 60-70 >70
Đường tiêu hoá
6 4 3 13 4 4 Bệnh
Trang 33Sơ đồ phương pháp điều trị phục hồi sức khoẻ cho cựu chiến binh
Tiến hành điều trị (24/12/2001-04/1/2002
Pancramin, coramin, hepatamin, ventramin, thymalin, epithalaminDùng placebo
Khám lâm sàng giữa kỳ: triệu chứng chủ quan, trạng thái
tâm sinh lý, tình trạng chức năng các cơ quan (08-16/01/2002)
Khám và xét nghiệm đánh giá kết quả điều trị: triệu chứng chủ
quan, trạng thái tâm sinh lý, tình trạng chức năng các cơ quan, xét
nghiệm cận lâm sàng (08-16/01/2002)
Điều trị: 28/1-06/2/2003
Nhóm nghiên cứu 2: 15 người Thymalin, epithalamin
Khám và xét nghiệm đánh giá kết quả điều trị: triệu chứng chủ
quan, trạng thái tâm sinh lý, tình trạng chức năng các cơ quan, xét
nghiệm cận lâm sàng (27/02/2002)
29
Trang 34Dùng phối hợp các thuốc cytomedin 10mg(epitalamin, thymalin) x 1ống/cách nhật, tiêm bắp sâu buổi sáng x 5 lần
* Nhóm đối chứng
Cũng được tiến hành theo phác đồ nêu trên nhưng được dùng thuốc placebo (thuốc giả, không có hoạt tính sinh học do Viện lão khoa và điều hòa sinh học Saintperterbua sản xuất)
2.2 Phương pháp đánh giá kết quả
Tình trạng sức khoẻ của các CCB trong cả 2 nhóm được đánh giá trước và sau điều trị bao gồm:
- Phỏng vấn theo bảng câu hỏi mẫu về cảm giác chủ quan của các CCB
- Đánh giá khách quan trạng thái tâm sinh lý bằng biểu đồ nhịp tim theo hệ máy CMS ( phương pháp Phrolop B.S., 1982)
- Đánh giá tình trạng chức năng của các cơ quan nội tạng theo phương pháp chẩn đoán điện trở huyệt bằng hệ máy “Antel” (Ltd DINAS, Russia)
- Các xét nghiệm cận lâm sàng bao gồm:
+ Các chỉ tiêu sinh hoá: ALT, AST, GGT, Billirubin (trực tiếp, gián tiếp), triglycerit, cholesterol toàn phần, HLD-cholesterol, LDL-cholesterol, amylaza, protein toàn phần, axit uric
+ Xét nghiệm miễn dịch gồm các chỉ tiêu CD3+, CD4+, CD8+, CD19+, IgA, IgG, IgM
+ Định lượng các hoocmon testosterol, estradiol và cortisol theo phương pháp Cubic-sprine để đánh giá tình trạng chức năng của các tuyến sinh dục
và vỏ thượng thận
+ Các chỉ tiêu hệ oxy hoá của máu: hoạt tính của superoxydismutase, glutationperoxydase và manlonyl dialdehyt
30
Trang 35Máu xét nghiệm được lấy ở tĩnh mạch khuỷu buổi sáng trước khi ăn trước, sau liệu trình điều trị và sau khi điều trị 1 tháng
2.3 Xử lý thống kê : Các số liệu nghiên cứu được xử lý thống kê theo chương trình Statistisca 5.0
III Kết quả nghiên cứu
Căn cứ vào các triệu chứng chủ quan của CCB trước, sau điều trị và
được thẩm định bằng khám nghiệm khách quan trạng thái tâm sinh lý để
đánh giá hiệu quả của thuốc (Bảng 2)
Bảng 2: Tỷ lệ (%) CCB được cải thiện trạng thái chủ quan
sau điều trị bằng Cytomedin và Cytamin
Tỷ lệ CCB có các triệu chứng
được cải thiện sau điều trị Các triệu chứng
Nhóm chứng (%)
Kết quả nghiên cứu tình trạng tâm sinh lý cúa CCB được trình bày trong bảng 3
31
Trang 36Qua khám nghiệm tình trạng chức năng của các cơ quan nội tạng và các
hệ trong cơ thể của các CCB chúng tôi thấy nổi bật lên là các biến đổi sau:
32
Trang 37Đường tiêu hoá
Khi phân tích so sánh các chỉ tiêu về trạng thái chức năng của dạ dày, tiểu tràng và đại tràng trong khám nghiệm giữa kỳ, chúng tôi thấy trong nhóm nghiên cứu có xu hướng tăng hoạt động chức năng của dạ dày
và tiểu tràng Khám nghiệm cuối cùng sau điều trị đã khẳng định động thái bình thường hoá hoạt động chức năng của dạ dày và tăng cường chức năng của tiểu tràng Điều này chứng tỏ tác động điều hoà của cytamin (ventramin) đối với chức năng của các tế bào niêm mạc dạ dày và tiểu tràng Điều này được khẳng định thêm bằng sự cải thiện khẩu vị và giảm chứng khó tiêu ở những CCB được điều trị thuộc nhóm nghiên cứu Không phát hiện thấy những động thái tương tự ở nhóm đối chứng
Trạng thái chức năng của tuyến tụy ở các CCB thuộc nhóm nghiên cứu cũng có xu hướng tốt lên và được thể hiện bằng việc sau điều trị thấy giảm số người có thiểu năng hoặc tăng năng tuyến tụy Qua đây chúng ta thấy chế phẩm peptit hoà sinh học (pancramin) đã có tác động làm bình thường hoá hoạt động chức năng của tuyến tuỵ
Kết quả nghiên cứu cho thấy cytamin và cytomedin cũng có ảnh hưởng tích cực đến trạng thái chức năng của hệ gan mật
đã thấy tình trạng bệnh được cải thiện, giảm các đợt tái phát bệnh theo mùa Kinh nghiệm trong nhiều năm sử dụng thymalin trong điều trị cho thấy loại chế phẩm này không chỉ ảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu miễn dịch tế bào mà nó còn làm tăng cường độ hô hấp của tổ chức do cải thiện sự vận chuyến oxy tới các tổ chức, kết quả là làm cải thiện trao đổi năng lượng, làm giảm tình trạng thiếu oxy tổ chức Các quá trình này cũng có thể ảnh hướng đến trạng thái chức năng của đại não Qua khám nghiệm sau điều trị chúng tôi ghi nhận được sự giảm các mức độ biểu hiện thiếu oxy của não Ngoài ra, căn cứ vào kết quả điện não đồ, chúng tôi thấy có cải thiện tuần
33
Trang 38hoàn não ở 4 CCB và ở nhóm nghiên cứu không có trường hợp nào bị xấu đi
so với trước điều trị Trong khi đó, ở nhóm đối chứng chỉ ghi nhận được 2
trường hợp tuần hoàn não được cải thiện và có 1 trường hợp bị xấu đi
Đánh giá hiệu quả điều trị trên hệ tim mạch cho thấy xu hướng bình
thường hoá trạng thái chức năng của tim và màng ngoài tim Hiệu quả này
chúng tôi chỉ ghi nhận được trong đợt khám giữa kỳ (1 tuần sau điều trị)
Điều này có thể do coramin có khả năng gây ảnh hưởng đến khả năng phục
hồi chức năng của cơ tim, làm tăng cường sự chịu đựng của cơ tim đốivới
tình trạng thiếu máu cơ tim khi gắng sức Các kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy epitalamin và thymalin cũng có tác động lên sự điều hoà thực vật, được
thể hiện bằng sự giảm các ảnh hưởng giao cảm và tăng ảnh hưởng phó giao
cảm trên hệ tim mạch
Khi đánh giá trạng thái chức năng của hệ tiết niệu chúng tôi không
thấy sự biến đổi khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu
Căn cứ vào các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng chúng tôi thấy khi
sử dụng kết hợp cytomedin và cytamin sẽ tạo ra ảnh hưởng kích thích đến
các chỉ tiêu miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể như : tăng lượng lympho
Trang 39Cytomedin lµm t¨ng l−îng estradiol trong m¸u, c¸c hooc mon nµy
tham gia vµo c¸c viÖc h×nh thµnh c¸c ph¶n øng thÝch nghi lµm b×nh th−êng
*: p<0.05 so víi c¸c chØ tiªu tr−íc ®iÒu trÞ placebo
Qua c¸c chØ tiªu sinh ho¸ cña m¸u ngo¹i vi chóng t«i thÊy cytomedin vµ
cytamin lµm b×nh th−êng ho¸ c¸c qu¸ tr×nh chuyÓn ho¸ trong gan (b¶ng 6)
B¶ng 6 ¶nh h−ëng cña cytomedin vµ cytamin lªn c¸c chØ tiªu
sinh ho¸ m¸u cña c¸c CCB trong nhãm nghiªn cøu
Tªn chØ tiªu Tr−íc ®iÒu trÞ Sau ®iÒu trÞ
Trang 40Qua xét nghiệm các chỉ tiêu oxy hoá và chống oxy hoá cho thấy các chế phẩm điều hoà sinh học làm bình thường hoá quá trình oxy hoá các gốc
tự do và hoạt tính của các enzym chống oxy hoá (bảng 7)
Bảng 7 ảnh hưởng của cytomedin và cytamin lên các chỉ tiêu chống oxy hoá máu của các CCB trong nhóm nghiên cưú
Chỉ tiêu Trước điều trị Sau điều trị Hoạt tính chống oxy hoá Tp (1.30-1.77mmol/l) 1.39±0.01 1.33±0.01* Malonyl dialdehyt (11,4-12,6 nmol/dl) 10.07±0.21 7.53±0.54* Glutation peroxidase (27.5-73.6 U/gHb) 90.41±2.01 109.17±4.46*Suproxyde dismutase (164-240U/ml) 192.2±12.2 178.9±7.33
*: p<0.05 so với trước điều trị
Tóm lại các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng các chế phẩm peptit điều hoà sinh học phục hồi sức khoẻ cho các CCB có tác dụng làm bình thường hoá tình trạng chức năng của các cơ quan và các hệ khác nhau trong cơ thể trên cơ sở phục hồi các cơ chế điều hoà thần kinh, dịch thể miễn dịch và chống oxy hoá Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học với hiệu quả đặc hiệu tổ chức tác động cộng hợp lên các cơ chế điều hoà chung của các chức năng sinh lý cơ thể, làm cho các chế phẩm nêu trên có tác
động dược học tối đa
IV Kết luận
1 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học có khả năng làm bình thường hoá chức năng các cơ quan đường tiêu hoá do các chế phẩm này (hepatamin, pancramin, vencramin) có hoạt tính đặc hiệu tổ chức Cũng đã ghi nhận được ảnh hưởng của epitalamin, thylamin và coramin làm bình thường hoá tình trạng chức năng hệ hô hấp, tim và đại não
2 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học gây ảnh hưởng kích thích lên các chỉ tiêu miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể, làm bình thường hoá các chỉ tiêu chuyển hoá và chống oxy hóa trong cơ thể
3 Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học có khả năng cải thiện tình trạng tâm lý tình cảm của bệnh nhân
4 Không thấy các tác dụng phụ của các loại thuốc nêu trên
36