Vấn đề môi trường nổi cộm ở nhiều vùng nông thôn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội cũng như sức khỏe người dân, vì thế Bộ Tài nguyên và Môi trường chọn chủ đề môi trường nông t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Vũ Thu Hạnh
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TÂN THÀNH,
HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Vũ Thu Hạnh
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TÂN THÀNH,
HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường
Mã số: 60850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ TỐ OANH
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Thu Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Địa lý - Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã quan tâm hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Phạm Thị Tố Oanh, người đã trực
tiếp hướng dẫn và chỉ bảo trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin cảm ơn tới Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ, động viên trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Thu Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Cơ sở khoa học - 9
1.1.1 Các khái niệm liên quan 9
1.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 13
1.2 Cơ sở thực tiễn - 15
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nông thôn Việt Nam 15
1.2.2 Tổng quan vấn đề nông thôn mới ở Việt Nam 22
1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Lạng Sơn 28
1.2.4 Tình hình triển khai và xây dựng nông thôn mới xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 32
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG XÃ TÂN THÀNH, HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 35
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu - 35
2.2 Điều kiện tự nhiên - 36
2.2.1 Vị trí địa lý và phạm vi ranh giới 36
2.2.2 Địa hình, địa mạo 37
2.2.3 Đặc điểm khí hậu 38
2.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng và hiện trạng sử dụng đất 38
2.2.5 Các nguồn tài nguyên 39
2.3 Điều kiện kinh tế xã hội - 41
2.3.1 Dân cư 41
2.3.2 Nguồn nhân lực 41
2.3.3 Thực trạng kinh tế - xã hội 43
2.3.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng 43
2.4 Hiện trạng môi trường - 46
2.4.1 Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt 46
2.4.2 Vấn đề nước thải 47
2.4.3 Vấn đề rác thải 50
2.4.4 Vệ sinh môi trường 54
2.4.5 Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường 57
2.4.6 Sức khỏe và môi trường 59
2.4.7 Trình độ nhận thức 60
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP MÔI TRƯỜNG TẠI XÃ TÂN THÀNH, HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 64
Trang 63.1 Kết quả xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2014 - 64
3.1.1 Quy hoạch và thực trạng quy hoạch tại xã 64
3.1.2 Hạ tầng kinh tế - xã hội 65
3.1.3 Kinh tế và tổ chức sản xuất 71
3.1.4 Văn hóa - xã hội - môi trường 75
3.1.5 Hệ thống chính trị 84
3.2 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới - 90
3.2.1 Tiêu chí nước sạch 90
3.2.2 Tiêu chí quản lý và xử lý rác thải 91
3.2.3 Tiêu chí công trình vệ sinh 92
3.2.4 Tiêu chí nghĩa trang, nghĩa địa 94
3.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt công tác môi trường phục vụ xây dựng nông thôn mới - 94
3.3.1 Các giải pháp về cơ chế và chính sách môi trường 94
3.3.2 Các giải pháp về quản lý môi trường 95
3.3.3 Giải pháp nâng cao nhận thức, tuyên truyền 95
3.3.4 Giải pháp bố trí không gian lãnh thổ 96
3.3.5 Các giải pháp về công nghệ xử lý chất thải 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
1 Kết luận - 101
2 Kiến nghị - 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng lương thực có hạt của Việt Nam 18
Bảng 1.2 Thu nhập bình quân đầu người phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng 21
Bảng 1.3 Tỷ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước năm 2011-2012 21
Bảng 1.4 Kết quả thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới của cả nước tính đến 31/12/2014 24
Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích các loại đất tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc 38
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc 39
Bảng 2.3 Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã 46
Bảng 2.4 Tỷ lệ các loại cống thải được các hộ gia đình sử dụng trong xã Tân Thành 48
Bảng 2.5 Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 50
Bảng 2.6 Các hình thức đổ rác của các hộ gia đình trong xã 53
Bảng 2.7 Thực trạng nhà vệ sinh của các hộ gia đình tại xã Tân Thành 55
Bảng 2.8 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 56
Bảng 2.9 Tỷ lệ các loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 57
Bảng 2.10 Các bệnh người dân mắc phải do ô nhiễm môi trường tại xã Tân Thành 59
Bảng 2.11 Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường 60
Bảng 2.12 Nhận thức của người dân về vấn đề môi trường 61
Bảng 3.1 Hệ thống giao thông của xã Tân Thành 65
Bảng 3.2 Chi tiết hiện trạng hệ thống điện trên địa bàn xã 67
Bảng 3.3 Tình hình nghèo đói của các xóm trong xã năm 2011 72
Bảng 3.4 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn khu vực nông thôn xã Tân Thành 80
Bảng 3.5 Đánh giá tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 83
Bảng 3.6 So sánh tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Thành với bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 85
Bảng 3.7 Tình hình thực hiện tiêu chí nước sạch của xã Tân Thành 90
Bảng 3.8 Nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình được điều tra 91
Bảng 3.9 Hiện trạng thực hiện tiêu chí công trình vệ sinh xã Tân Thành 93
Bảng 3.10 Các loại công trình vệ sinh của các hộ điều tra 93
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam 16
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại các ngành kinh tế 20
Biểu đồ 1.3 Bình quân tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Hồng 25
Biểu đồ 1.4 Bình quân tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới các tỉnh miền núi phía Bắc 26
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ nguồn cấp nước có trang bị thiết bị lọc nước cho các hộ gia đình 47
Biểu đồ 2.2 Các hình thức xử lý rác thải của các hộ gia đình 49
Biểu đồ 2.3 Các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 51
Biểu đồ 2.4 Các hình thức đổ rác của hộ gia đình 53
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ các kiểu nhà vệ sinh của các hộ gia đình tại xã Tân Thành 55
Biểu đồ 2.6 Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 57
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ các hộ gia đình điều tra sử dụng các loại phân bón trên địa bàn xã 58
Biểu đồ 2.8 Ý kiến về việc cải thiện điều kiện môi trường 61
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hộ nghèo của 3 xã thuộc huyện Cao Lộc qua các năm 73
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ cơ cấu lao động xã Tân Thành năm 2014 74
Biểu đồ 3.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn trên địa bàn xã Tân Thành 81
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 36
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay và trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống quốc gia và trong kinh tế nông thôn Bất kỳ một quốc gia nào xuất phát điểm của nền kinh tế ban đầu cũng là nông nghiệp, sau quá trình công nghiệp hóa mới trở thành các nước công nghiệp phát triển [10] Vì vậy, phát triển nông thôn có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của đất nước [4]
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa
và hiện đại hóa Ngày 05/08/2008, tại hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành (BCH) trung ương (TW) Đảng khóa X đã ra nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn [13] Sau 20 năm đổi mới đất nước, đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết 26-NQ/TW (05/08/2008) của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 về ban hành bộ tiêu chí quốc gia (BTCQG) về nông thôn mới [20] Ngày 21/08/2009,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNN&PTNT) đã ra thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn thực hiện BTCQG về NTM, quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 phê duyệt chương trình “Mục tiêu quốc gia (MTQG)
về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020” Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình NTM nhằm thực hiện các MTQG về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội (KT-XH) của đất nước
Trong những năm vừa qua, các chương trình MTQG đã giúp đất nước ta thực hiện được nhiều mục tiêu xã hội và mục tiêu thiên niên kỷ, tạo điều kiện để nước ta từng bước xóa đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân ở
Trang 122
những vùng kinh tế khó khăn như: y tế, giáo dục, an ninh, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Trong quá trình thực hiện, các chương trình MTQG đã đạt nhiều thành công Bên cạnh đó, cũng có nhiều vấn đề chưa được giải quyết trong thực hiện các chương trình MTQG Cụ thể là: dàn trải, phân tán, trùng lắp, số lượng chương trình không tương thích với nguồn lực Vì vậy, để tạo điều kiện cho bộ, cơ quan, địa phương chủ động lồng ghép, quản lý và sử dụng vốn hiệu quả hơn, hạn chế dàn trải, trùng lắp Tại buổi kết luận của cuộc họp về lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm 2016 - 2020, nhà nước tập trung triển khai thực hiện 02 chương trình MTQG là: giảm nghèo bền vững và xây dựng NTM
Hiện 70% dân số nước ta sống ở vùng nông thôn Ở nhiều khu vực nông thôn, ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm Đó là vấn đề ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, ô nhiễm chất thải rắn do nguồn thải từ hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất quy mô nhỏ, các làng nghề và từ hoạt động dân sinh Vấn đề môi trường nổi cộm ở nhiều vùng nông thôn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội cũng như sức khỏe người dân, vì thế Bộ Tài nguyên và Môi trường chọn chủ đề môi trường nông thôn là chủ đề cho Báo cáo vấn đề môi trường quốc gia năm 2014.Mục tiêu của việc xây dựng NTM ngoài việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan trọng BTCQG về NTM được ban hành bao gồm 19 tiêu chí, được chia thành 05 nhóm tiêu chí, trong đó tiêu chí
17 là tiêu chí về đánh giá môi trường Tuy nhiên, tiêu chí về môi trường không được xem là quan trọng như một số tiêu chí khác, vì thế trong quá trình xây dựng NTM, nhiều địa phương đã gặp “khó khăn” về tiêu chí này Cùng với thực trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn như hiện nay, đây là tiêu chí khó thực hiện và được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, chú trọng Bởi lẽ, đây là vấn đề lớn của cả nước, nhất là đối với một nước nông nghiệp, đòi hỏi ý thức cao của người dân, sự quan tâm vào cuộc quyết liệt của chính quyền, kinh phí đầu tư lớn, chế tài xử lý đủ sức răn đe
Trang 133
Tỉnh Lạng Sơn đã và đang tiến hành xây dựng NTM thí điểm tại một số xã trong các huyện Trong đó, xã Tân Thành thuộc huyện Cao Lộc - một huyện nằm phía Đông Bắc của tỉnh Lạng Sơn - là một trong số các xã được tỉnh quan tâm chú trọng phát triển đời sống của người dân trong vùng, xã trọng tâm nằm trong dự án quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh và được chọn làm xã thí điểm cho chương trình MTQG về xây dựng NTM Việc xây dựng các mô hình thí điểm về NTM được các ban ngành trong huyện, xã chú trọng thúc đẩy để nâng cao đời sống của người dân, cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc từ bao đời nay Theo kế hoạch, tỉnh Lạng Sơn phấn đấu cơ bản trở thành tỉnh NTM vào năm 2020, trước năm 2015 có
68 xã đạt NTM trong đó bao gồm xã Tân Thành, huyện Cao Lộc Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện một số tiêu chí còn “khó” đối với tỉnh Lạng Sơn nói chung, đối với xã Tân Thành, huyện Cao Lộc nói riêng, trong đó đặc biệt là tiêu chí
17 về môi trường
Cũng như các địa phương khác trên cả nước, tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, do hệ lụy của quá trình đô thị hóa tăng nhanh đã tác động lớn đến môi trường và biến đổi khí hậu, trong đó không thể tránh khỏi việc môi trường nông thôn suy thoái nghiêm trọng bởi ô nhiễm từ các chất thải, nước thải, hay bị ảnh hưởng từ việc người dân xả thải các vỏ chai lọ, bao bì, túi nilon đựng thuốc bảo
vệ thực vật bừa bãi trên đồng ruộng, ao hồ vào mỗi vụ sản xuất khiến cho các chất độc hại còn tồn dư thẩm thấu vào trong đất, trong nguồn nước và phát tán ra môi trường xung quanh Vì vậy, việc xây dựng NTM đặt ra mục tiêu, tiêu chí về môi trường nông thôn cũng vừa là thách thức, vừa là động lực, là cơ hội để thay đổi bộ mặt nông thôn tại đây Tỉnh Lạng Sơn nói chung, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc nói riêng đã có những giải pháp tích cực như: đưa ra nghị quyết chuyên đề, giao cho các đoàn thể phụ trách, hỗ trợ một phần kinh phí cho người dân, xây lò đốt rác thải tại gia đình để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, song mới chỉ là giải pháp tạm thời, chưa có tính bền vững lâu dài
Trang 144
Để có những đánh giá rõ hơn về thực trạng môi trường nông thôn tại xã cùng
với việc thực hiện xây dựng NTM tại địa phương, đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường gắn với việc thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM trên địa bàn xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi không gian
Trang 154 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm giúp ta nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là
cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu Các tài liệu cần thu thập gồm có:
a Thu thập số liệu thứ cấp
b Thu thập số liệu sơ cấp
4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn nhanh
- Phạm vi phỏng vấn: Phỏng vấn 100 hộ gia đình (HGĐ) và 4 cơ quan công
sở trên địa bàn xã bằng phiếu điều tra Cùng với số phiếu điều tra có sẵn trên 340 HGĐ và 4 cơ quan công sở của UBND xã Tân Thành, tổng hợp và đánh giá cho luận văn
- Nội dung phỏng vấn: Lập bộ câu hỏi phỏng vấn liên quan đến đề tài nghiên cứu, sau đó chọn đối tượng và tiến hành phát phiếu điều tra
+ Đối với HGĐ: Lập 01 mẫu phiếu điều tra cho 440 HGĐ, tiến hành phỏng vấn 10/10 thôn trong xã, với trung bình 49 hộ/1 thôn
Trang 166
+ Phỏng vấn các thông tin viên chủ chốt là các lãnh đạo quản lý các ban ngành cấp xã: Lấy phiếu điều tra về điều kiện KT-XH, môi trường của địa phương thông qua cán bộ UBND xã
- Mẫu phiếu điều tra thực tế tại địa phương (xem phần phụ lục 02 và 03):
+ Phiếu điều tra môi trường và KT-XH của Ủy ban nhân dân (UBND) địa phương: phiếu thu thập số liệu về dân số, tỷ lệ dân số, hiện trạng sử dụng đất đai, tình trạng kinh tế, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, vấn đề về đa dạng sinh học, các vấn
đề môi trường, các chương trình, chính sách của địa phương Các thông tin được thu thập tại UBND xã
+ Phiếu điều tra môi trường và KT-XH của các HGĐ: phiếu thu thập thông tin của các HGĐ về số thành viên, kinh tế gia đình, trình độ học vấn, các vấn đề về nguồn tài nguyên nước, đất, các vấn đề vệ sinh môi trường, các dự án phúc lợi xã hội mà gia đình được hưởng lợi, nhận thức về chương trình MTQG xây dựng NTM
4.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Tiến hành nhập số liệu và mã hóa số liệu bằng phần mềm Excel để xử lý số liệu Sau đó tiến hành vẽ biểu đồ, bảng biểu đối với số liệu đã được xử lý
Tiến hành nhập dữ liệu bản đồ, mã hóa, xây dựng sơ đồ không gian, sơ đồ định hướng không gian cho địa bàn nghiên cứu bằng các phần mềm xử lý, xây dựng bản đồ như Micro Staion, Map Info,
4.4 Phương pháp tổng hợp, đánh giá, so sánh
Tổng hợp tài liệu, thu thập và kế thừa có chọn lọc các thông tin, dữ liệu có liên quan đến đề tài từ các nguồn dữ liệu (từ các đề tài nghiên cứu, tài liệu hội thảo,
từ Internet, sách báo…) sau đó phân tích, tổng hợp, so sánh, theo từng vấn đề phục
vụ cho nội dung đề tài Ngoài ra, các tài liệu, số liệu thu thập được sau khi thống
kê, xử lý được tổng hợp thành báo cáo luận văn, phục vụ cho nội dung đề tài
Trang 177
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Hiện nay, chưa có công trình hay đề tài nghiên cứu nào về tiêu chí môi
trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Đây là một xã thí điểm cho chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Ngoài ra, xã Tân Thành cũng là một xã nằm trong dự án quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh
- Đề tài là cơ sở khoa học cho ban chỉ đạo, các nhà quy hoạch và các nhà quản lý môi trường tại địa phương xây dựng các kế hoạch, định hướng quy hoạch phù hợp với địa phương và môi trường nơi đây để phục vụ xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường nông thôn
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp quản
lý môi trường trong xây dựng NTM tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Đưa ra một số giải pháp và định hướng bảo vệ môi trường khu vực nông thôn tỉnh Lạng Sơn nói chung
- Căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức của người dân về môi trường
- Kết quả của đề tài sẽ đưa ra được một số đề xuất trong hoàn thiện quy định
về các tiêu chí NTM nhằm hướng tới việc thực hiện xây dựng NTM khả thi hơn, nâng cao được nhận thức của người dân về việc bảo vệ môi trường
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trang 188
Chương 2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng môi trường xã Tân
Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Chương 3 Tình hình xây dựng nông thôn mới và đề xuất một số giải pháp môi
trường tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Trang 199
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Các khái niệm liên quan
a Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường
- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người
và sinh vật” [17]
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp vối tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [14]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [14]
b Khái niệm về nông thôn
Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm chuẩn và chung nhất về nông thôn trên thế giới Vì vậy, với mỗi một quốc gia, một khu vực lãnh thổ hay với mỗi vùng miền khác nhau hoặc các tiêu chí khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về nông thôn
Nếu dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Nếu dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn, nông thôn
có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị
Đối với người Việt, nông thôn đồng nghĩa với làng, xóm, thôn,… đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền Vùng nông thôn là
Trang 20Còn theo BNN&PTNT (2010): “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi các cấp hành chính là UBND xã” [2]
Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, khái niệm về nông thôn được hiểu chung nhất đó là:
“Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng - đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam, là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị” [5]
Mới đây, theo thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/08/2009 của
BNN&PTNT, quy định: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”
c Phát triển nông thôn
Khác với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn Có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển KT-XH trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn:
Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi có chủ ý về kinh tế, văn hóa,
xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống người dân địa phương
Trang 2111
Ngân hàng Thế giới (1975) đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Phát triển nông thôn giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” [5]
Ngoài ra, còn có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về phát triển nông thôn Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược:
“Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế,
xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [5]
d Nông thôn mới
NTM trước tiên là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố
và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo 05 nội dung
cơ bản sau: (i) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (ii) sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (iii) đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; (iv) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (v) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [11]
Với mục tiêu “Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ;
hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”, NTM phải đảm bảo các chức năng chính sau:
- Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp có năng suất chất lượng cao, phát huy được bản sắc dân tộc của địa phương (đặc sản) đồng thời phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, tăng thu nhập cho người dân nông thôn
Trang 2212
- Chức năng giữ gìn văn hóa bản sắc dân tộc: bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia
- Chức năng sinh thái: nếu như nền văn minh công nghiệp phá vỡ mối quan
hệ hài hòa vốn có giữa con người và thiên nhiên, thì thuộc tính sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Khi đó, để tăng năng suất và đảm bảo an ninh lương thực lại rất khó khăn
- Với việc xây dựng mô hình NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí [11]
Nói tóm lại, có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng
so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”
e Sự cần thiết phải tiến hành xây dựng nông thôn mới
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước…còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Hội nghị lần thứ 7, BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khóa X đã ban hành Nghị quyết (NQ) về nông nghiệp, nông thôn và nông dân với mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
Trang 2313
sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường
Đến nay, quá trình xây dựng NTM của Việt Nam đang bước đầu được triển khai thực hiện Chính phủ đã có chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết của BCH TW Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn BNN&PTNT được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng chương trình MTQG xây dựng NTM Quá trình xây dựng NTM là quá trình triển khai, quán triệt, thực hiện chương trình xây dựng NTM, được làm đồng bộ, quyết liệt nhưng không nóng vội Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2020, sẽ có 50% xã đạt chuẩn và trong 5 năm chỉ là 20% xã đạt chuẩn… Vì vậy, đây là một quá trình dài và triển khai từng bước và đồng bộ Đến khi xây dựng thành công NTM, bộ tiêu chí này sẽ vẫn được hoàn thiện vì chúng ta sẽ không ngừng xây dựng NTM”
f Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 04/06/2010, chỉ rõ mục tiêu: “Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh, trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”
1.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
a Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM không chỉ nhằm vào mục đích xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hội trường , mà qua cách làm này sẽ tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một NTM năng động hơn Đây không phải là đề án đầu
Trang 2414
tư của Nhà nước mà là việc người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, nhà nước chỉ
hỗ trợ một phần Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân…, hướng dẫn để người dân bàn bạc đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổng thể, chương trình MTQG về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể và phát triển KT-XH, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung chính:
- Quy hoạch xây dựng NTM;
- Phát triển hạ tầng KT-XH;
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập;
- Giảm nghèo và an sinh xã hội;
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả;
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn;
- Phát triển y tế - chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn;
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin - truyền thông nông thôn;
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng - chính quyền - đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn;
- Giữ vững an ninh - trật tự xã hội nông thôn
Trên tinh thần xây dựng NTM với 11 nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã
ký quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành BTCQG về NTM bao gồm 19 tiêu chí Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình MTQG về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu xây dựng đạt được 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí đã đề ra Đồng thời, là căn cứ để chỉ đạo đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM tại các địa phương trong từng thời kỳ, đánh giá công nhận, xã, huyện, tỉnh đạt NTM, đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM
BTCQG về xây dựng NTM được ban hành theo quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/04/2009, gồm 5 nhóm tiêu chí:
- Nhóm quy hoạch (gồm 01 tiêu chí: quy hoạch);
Trang 25Nội dung của từng tiêu chí trong BTCQG , và các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật
về xây dựng NTM của BNN&PTNT được thể hiện ở phụ lục 01
b Tiêu chí 17: Tiêu chí môi trường
Tiêu chí 17 về môi trường có 05 chỉ tiêu:
- Về nước sạch: “Có 90% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn quốc gia”;
- Về cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đạt tiêu chuẩn môi trường: “Có 90% cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt tiêu chuẩn về môi trường, 10% còn lại tuy có vi phạm nhưng đang khắc phục”;
- Về cảnh quan môi trường: “Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh
- sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường”;
- Về quy hoạch và xây dựng nghĩa trang: “Nghĩa trang có quy hoạch và quản
lý theo quy hoạch”;
- Về chất thải: “Rác thải và nước thải thu gom và xử lý theo đúng quy định”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nông thôn Việt Nam
Đổi mới ở Việt Nam đã diễn ra gần 30 năm Cùng với sự chuyển mình của đất nước, nông thôn Việt Nam ngày nay đang trên đà phát triển Sự phát triển mang đến nhiều lợi ích to lớn nhưng cũng mang lại không ít những hệ lụy đến môi trường
Nông, lâm, ngư nghiệp là những ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chiếm gần 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Khoảng 70% dân số sinh
Trang 26Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam
Nguồn Tổng cục thống kê, 2014
a Nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn với điều kiện tự nhiên đa dạng
Trải dài từ Bắc xuống Nam, trên khắp 63 tỉnh thành cả nước, từ đồng bằng, miền núi hay miền biển đều có sự xuất hiện của các vùng nông thôn Việt Nam, với các tên gọi khác nhau: xóm, làng - đồng bằng Bắc Bộ; bản, mường - Tây Bắc; buôn, plây - Tây Nguyên và sóc - Nam Bộ Cộng đồng nông thôn Việt Nam sinh sống chủ yếu nhờ các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, vốn hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu)
Đối với nông thôn đồng bằng, người dân sống chủ yếu với nghề trồng lúa nước Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là những vựa lúa chính của cả nước nhờ phù sa của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc và sông Mê Kông ở miền Nam bồi đắp hàng năm Ở đây, cây ngắn ngày như hoa màu lương thực ngô, khoai, đỗ, lạc, đậu, đậu tương được trồng xen vào những vụ lúa chính
Trung du và miền núi Bắc Bộ mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của địa hình vùng núi, có thế mạnh đặc biệt
để phát triển cây công nghiệp như các loại chè nổi tiếng ở Phú Thọ, Thái Nguyên,
Trang 2717
Yên Bái, Hà Giang, Sơn La Vùng này cũng có thổ nhưỡng thuận lợi cho việc trồng
và chế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận, nhiệt, ôn đới
Nhìn chung, đồng bào trung du miền núi phía Bắc đã từng bước tiếp cận những thành tựu của khoa học, kỹ thuật tạo nên những vùng chuyên canh lớn, đưa nông sản, lâm sản xuất khẩu, mở mang công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp góp phần tạo công việc tại chỗ cho nông dân trong vùng Nhiều địa phương đã phát triển các lợi thế từ việc trồng rừng và khai thác các sản phẩm từ rừng, làm giàu từ rừng
và đầu tư ngược trở lại cho rừng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước nói chung và khu vực trung du miền núi nói riêng Tuy nhiên, tình trạng du canh du cư vẫn còn tồn tại, đời sống của đại bộ phận dân cư miền núi còn nhiều khó khăn do điều kiện canh tác của nông dân miền núi rất khắc nghiệt, chưa có đầu tư để sử dụng đất đạt hiệu quả cao, đầu tư cho giáo dục hoặc cơ sở hạ tầng chưa xứng đáng với tiềm năng vùng Đây cũng là những áp lực không nhỏ đối với môi trường khu vực vùng núi và Trung du phía Bắc, Tây Nguyên
b Nông nghiệp - nông thôn có vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia
và cung cấp nguyên liệu, hàng hóa cho công nghiệp, xuất khẩu
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Lúa là cây lương thực hàng đầu, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất, sản lượng lúa
cả năm 2013 ước tính đạt 44,1 triệu tấn, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt
7,9 triệu ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha (bảng 1.1) Cây lương thực quan trọng thứ hai
là ngô (năm 2013: 5,2 triệu tấn ngô), số lượng ngô đang có xu hướng tăng ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung Tiếp theo là sắn và những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong riềng, hoàng tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều, trồng tập trung ở các vùng trung du và cao nguyên do lợi thế về thổ nhưỡng
Trang 28Vùng nông thôn cũng là thị trường rộng lớn đầy tiềm năng để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ Theo Tổng cục Thống kê, năm 2013, dân số trung bình cả nước năm 2013 ước tính 89,71 triệu người, trong đó dân số khu vực nông thôn chiếm 67,64% dân số cả nước Cùng với sự phát triển toàn diện về kinh
tế, nhu cầu thiết yếu của người dân cũng dần tăng lên, nông thôn sẽ là thị trường đầy tiềm năng trong việc tiêu thụ các hàng hóa trên thị trường Theo kết quả tổng điều tra năm 2011, cả nước có hơn 5,2 nghìn xã có chợ, chiếm 57,6% số xã Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, ở các miền quê, chợ cũng là nơi tập trung rác thải sinh
Trang 2919
hoạt của toàn xã Sự đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ được tiêu thụ ở nông thôn cũng
là sự phức tạp của các loại chất thải rắn
c Nông thôn giữ vai trò là vành đai xanh đối với đô thị, góp phần cân bằng sinh thái giữa vùng nông thôn và thành thị
Đất đai nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp chiếm đến hơn 80% diện tích toàn đất nước Vùng lãnh thổ nông thôn thực chất là các khu sinh thái tự nhiên và nhân tạo, là vùng đệm rộng lớn, bao bọc và che phủ các vùng đô thị lớn nhỏ xung quanh Phần lớn ruộng, vườn ở vùng nông thôn được cây xanh che phủ, các khu vực ao hồ, rừng núi giữ vai trò như những lá phổi xanh không chỉ cho khu vực đó
mà còn cả các khu vực lân cận Giữ gìn màu xanh cho vùng nông thôn chính là một biện pháp hữu hiệu, kinh tế, đảm bảo giảm thiểu các nguy cơ hiện hữu về môi trường đối với các vùng đô thị hoặc các khu công nghiệp tập trung
Nhìn chung, nông thôn Việt Nam cơ bản vẫn giữ được tính ổn định, tính cân bằng nhất định: không khí ở vùng nông thôn trong lành, tỷ lệ cây xanh trên đầu người cao hơn hẳn so với vùng đô thị và vùng khu công nghiệp tập trung Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, lá phổi xanh này đang gặp nhiều mối
đe dọa từ nhiều phía
Nhờ vị trí địa lý trải dài qua nhiều kinh độ/vĩ độ mà ở nước ta tồn tại đa dạng các hệ sinh thái: hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái ao hồ, hệ sinh thái đồng cỏ tự nhiên, hệ sinh thái đô thị… Trong số đó, ngoài hệ sinh thái đô thị thì những hệ sinh thái còn lại đều ở vùng lãnh thổ nông thôn Những hệ sinh thái này đều có vai trò rất quan trọng góp phần cân bằng sinh thái giữa vùng nông thôn và thành thị
d Nông thôn là thị trường cung cấp lực lượng lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp còn cao
Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2013 là 53,2 triệu người, trong
đó, lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70% lực lượng lao động của
cả nước Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm
Trang 3020
2013 ước tính 52,4 triệu người, trong đó, lao động đang làm việc khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ 47% tổng số (biểu đồ 1.2)
Lao động làm việc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Lao động làm việc khu vực công nghiệp
và xây dựng Lao động làm việc khu vực dịch vụ
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại các ngành kinh tế
Nguồn Tổng cục thống kê, 2014
Tính đến thời điểm 01/10/2013, lực lượng lao động của cả nước tập trung chủ yếu ở 4 vùng là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao nhất là ở hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc (84,3%) và Tây Nguyên (82,9%) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn (81,5%) cao hơn khu vực thành thị (70,6%) khoảng gần 11% Đặc biệt, ở khu vực nông thôn, dân số trẻ (dưới
15 tuổi) chiếm khá đông; do đó, trong một vài năm trước mắt, lao động nông thôn vẫn còn tiếp tục gia tăng
Sự di dân từ khu vực nông thôn ra các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, góp phần cung cấp lực lượng lao động cho khu vực đô thị Lực lượng lao động nông thôn di cư ra thành thị phần lớn là những người có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cao hơn những người ở lại, việc này đã góp phần làm gia tăng khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
e Thu nhập bình quân của người dân nông thôn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao
Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nông thôn thấp mặc dù trong những năm gần đây khoảng cách thu nhập dân nông thôn - thành thị đã được thu hẹp, từ gấp 2 lần năm 2008 xuống còn 1,8 lần năm 2012
Trang 3121
Bảng 1.2 Thu nhập bình quân đầu người theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng
Nguồn Tổng cục Thống kê, 2013
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76%
(năm 2011) và 9,6% (năm 2012), bình quân giảm 2,3%/năm (bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tỷ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước năm 2011 - 2012
Nguồn Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững, 2013
Trang 3222
Đói nghèo sẽ làm mất cân đối cán cân kinh tế - môi trường - xã hội, như vậy
để bảo vệ môi trường, ổn định chính trị - xã hội, trước hết phải thực hiện được chương trình xóa đói, giảm nghèo
f Đất sản xuất giảm do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm 2013 đạt 10.210,8 nghìn ha, chiếm 36% tổng diện tích đất cả nước Biến động mạnh nhất là diện tích đất trồng lúa, tốc độ giảm diện tích đất trồng lúa tương đối nhanh, điển hình tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long do chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp và đô thị, phát triển hạ tầng giao thông, xây dựng các khu du lịch sinh thái, khu vui chơi hoặc chuyển sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả
Hiện nay, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, năm 2012,
tỷ lệ đô thị hóa khoảng 31% và sẽ đạt xấp xỉ 45% vào đầu năm 2020 Việc đã, đang
và sẽ có hàng trăm khu đô thị mới được xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp, khiến cho đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: việc làm cho nông dân bị mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường…
1.2.2 Tổng quan vấn đề nông thôn mới ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCH TW Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 04/06/2010,, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu phấn đấu số xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015 là 20% và đến năm 2020 là 50%
Từ việc thực hiện chương trình nông thôn mới, đến nay, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao Chương trình
đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện
Trang 3323
Hiện cả nước đã và đang triển khai xây dựng trên 5.000 công trình với khoảng 70.000 km đường giao thông nông thôn; nâng cấp hơn 3.000 công trình thủy lợi gồm bờ bao, cống, trạm bơm phục vụ tưới tiêu, trong đó nạo vét, tu sửa gần 7.000 km kênh mương; huy động khoảng 15.205 tỷ đồng vốn đầu tư cải tạo và xây dựng mới hệ thông điện nông thôn; nâng cấp hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh, 40% xã lập
tổ thu gom rácthải; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin internet tốc độ cao đã đến được hầu hết các điểm bưu điện văn hóa xã, khoảng 55% số xã có điểm truy cập internet công cộng; tổng số vốn đầu tư cải tạo, xây dựng chợ nông thôn đạt 2.783 tỷ đồng); trường học các cấp từng bước xây dựng theo chuẩn và xã hội hóa; hệ thống các trạm y tế được tăng cường cả về số lượng và bổ sung nhân viên y tế; cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và nâng cấp Qua đó, phát triển nông thôn mới đã góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển kinh tế Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
Tính đến quý I/2014, đã có 93,7% số xã của cả nước đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới (trước khi có Quyết định 193/QĐ-TTg, toàn quốc mới chỉ đạt 23,4%) và hiện đã có 81% số xã phê duyệt xong đề án Trong những năm qua, BNN&PTNT, các địa phương, doanh nghiệp và bà con nông dân đã đẩy mạnh ứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật, xây dựng nhiều mô hình theo hướng xanh - sạch - phát triển bền vững Điển hình, đối với cây lúa đã áp dụng các mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “1 phải 5 giảm”, “cánh đồng mẫu lớn áp dụng VietGAP” Đối với cây ăn trái, áp dụng quy trình canh tác GAP và mô hình sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi Đối với ngành nuôi trồng thủy sản, áp dụng kiểm soát chất lượng từ ao nuôi đến bàn ăn
Kết quả xây dựng NTM trên cả nước tính theo BTCQG về xây dựng NTM, tính đến hết năm 2014, đã có 785 xã đạt chuẩn NTM (chiếm 8,8%); 1.285 xã đạt từ
14 - 18 tiêu chí (14,5%); 2.836 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí (32,1%); 2.964 xã đạt từ 5 -
9 tiêu chí (33,6%); 945 xã đạt dưới 5 tiêu chí (11%)
Trang 35Tại vùng ĐBSH, toàn vùng có 1.955 xã thực hiện chương trình MTQG xây
dựng NTM (chiếm 21% tổng số xã cả nước) Tính đến ngày 31/12/2014, bình quân
các xã khu vực ĐBSH đạt 13,25 tiêu chí, tăng 6,78 tiêu chí so với năm 2011 ĐBSH
là vùng có mức tăng tiêu chí cao nhất so với cả nước
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tính đến ngày 31/12/2014, bình quân toàn vùng đạt 7,77 tiêu chí, tăng 3,93 tiêu chí so với năm 2011 Vùng này là vùng
có mức đạt tiêu chí xây dựng NTM thấp nhất cả nước với thu nhập bình quân chỉ tăng 35%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 7% Trong đó, tổng vốn huy động cho nông thôn toàn vùng là 92.172 tỷ đồng (vốn ngân sách 65%, vốn nhân dân đóng góp 3.8%, còn lại là vốn tín dụng và vốn doanh nghiệp đóng góp)
(Đơn vị: %)
Biểu đồ 1.3 Bình quân tiêu chí đạt chuẩn NTM các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSH
Nguồn Báo cáo sơ kết thực hiện xây dựng NTM toàn quốc giai đoạn 2010-2014, 2014
Trang 3626
(Đơn vị: %)
Biểu đồ 1.4 Bình quân tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới các tỉnh miền núi phía Bắc
Nguồn Báo cáo sơ kết thực hiện xây dựng NTM toàn quốc giai đoạn 2010-2014, 2014
Nhờ triển khai nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch nên tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản sạch, truy xuất được nguồn gốc đã chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Tuy nhiên, trong khi triển khai và nhân rộng đã nảy sinh những bất cập Cụ thể, từ các địa phương, doanh nghiệp, nông dân đã yêu cầu cần phải có giải pháp khắc phục Đặc biệt, như trên cây lúa, cây ăn trái thời gian qua một số mô hình đạt chuẩn GAP nhưng không có đầu ra ổn định nên nông dân quay lại làm theo cách sản xuất truyền thống
Nguồn lực đầu tư cho chương trình ngày càng tăng, mặc dù ngân sách TW
hỗ trợ còn có hạn, nhưng các địa phương đã chủ động sử dụng nguồn lực từ ngân sách địa phương, lồng ghép từ các chương trình, dự án khác, từ các nguồn vốn tín dụng và thu hút, huy động mạnh mẽ sự tham gia của các doanh nghiệp và đóng góp
tự nguyện của người dân Công tác kiểm tra giám sát được tăng cường Vai trò của
hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố và nâng lên Quyền và vai trò làm chủ của nhân dân được đề cao, vai trò lãnh đạo của Ðảng ở nông thôn được tăng cường, an ninh trật tự ở nông thôn được giữ vững Ðời sống của nông dân được cải thiện rõ rệt, an sinh xã hội ngày càng được đảm bảo; các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hóa tiếp tục được cải thiện
Trang 3727
Theo báo cáo tổng hợp của BCĐ, đến nay có 185 xã đạt 19 tiêu chí; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước tăng từ 4,7 tiêu chí/xã năm 2011 lên 8,47 tiêu chí/xã năm 2014; có 93,1% số xã hoàn thành quy hoạch chung; 81% số xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, bao gồm: mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; thu nhập của dân cư nông thôn năm 2013 tăng hơn 1,8 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết 2013 là 12,6%, giảm bình quân 2% năm trong thời điểm kinh tế khó khăn
Bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt được, thực hiện chương trình trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: tiến độ triển khai nhìn chung còn chậm
so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của chương trình chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thường xuyên, sâu sát; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều chỉnh, sửa đổi; công tác
sơ kết, nhân rộng mô hình chưa được thường xuyên, kịp thời; bộ máy giúp việc BCĐ ở một số địa phương còn chưa đủ mạnh; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phương thức tổ chức mô hình sản xuất trong nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đang có xu hướng chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển theo hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn được sản xuất với chế biến, tiêu thụ
và xuất khẩu; nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp chưa được coi trọng Ðào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu Tỷ lệ hộ nghèo cả nước tuy có giảm nhưng vẫn cao, thu nhập và mức sống của nông dân còn khó khăn; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chưa được giải quyết có hiệu quả, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế; chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục ở nhiều nơi còn thấp; hệ thống hạ tầng nông thôn, nhất là các vùng miền núi còn lạc hậu, chậm được cải thiện Nguồn
Trang 3828
lực TW và huy động nguồn lực xã hội cho chương trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế
1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Lạng Sơn
Sau 04 năm triển khai, thực hiện xây dựng nông thôn mới (2011 - 2014), chương trình đã trở thành một phong trào rộng lớn, tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Công tác huy động sức dân tham gia xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn được quan tâm và đẩy mạnh, nhân dân đã nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình trong xây dựng nông thôn mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện đáng kể, nhiều mô hình phát triển sản xuất hiệu quả đã xuất hiện, có
sự liên kết giữa nguời dân và doanh nghiệp Đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, thu nhập bình quân của người nông dân được nâng lên, an sinh xã hội được đảm bảo, quy chế dân chủ ở có
sở được thực hiện v.v… Theo BTCQG về nông thôn mới, bình quân 01 xã đạt 4,8 tiêu chí, tăng 2,23 tiêu chí so với năm 2011 Cụ thể:
- Đạt 10 tiêu chí trở lên có 15/207 xã (chiếm 7,25%), tăng 14 xã so với năm 2011;
- Đạt từ 5 - 9 tiêu chí có 71/207 xã (chiếm 34,3%), tăng 49 xã so với năm 2011;
- Dưới 5 tiêu chí: còn 121/207 xã (chiếm 58,45%), giảm 65 xã so với năm
2011 và không còn xã nào là xã trắng về tiêu chí nông thôn mới
Để đạt được kết quả trên, cùng với việc thành lập BCĐ xây dựng nông thôn mới các cấp, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch số 101/KH-UBND ngày 27/10/2010
về “Triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 tỉnh Lạng Sơn” Cấp uỷ, chính quyền, BCĐ các cấp đã ban hành trên 800 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc để triển khai thực hiện chương trình Tỉnh cũng đã phát động phong trào thi đua “Lạng Sơn cùng cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động
Trang 3929
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới” Đến hết tháng 03/2014, toàn tỉnh đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch chung và
đề án xây dựng nông thôn mới cho 207/207 xã, 11 huyện, thành phố và hoàn thành
Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020
- Những mặt đã đạt được:
+ Tổ chức bộ máy chỉ đạo, điều hành chương trình xây dựng nông thôn mới
đã được thành lập và thường xuyên được kiện toàn từ tỉnh đến xã, thôn Đã hoàn thành công tác lập quy hoạch chung, đề án nông thôn mới cấp tỉnh, huyện, xã Các chương trình, dự án được quan tâm chỉ đạo lồng ghép thực hiện theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới, bình quân số tiêu chí/xã tăng 2,23 tiêu chí, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
+ Chương trình đã trở thành một phòng trào rộng lớn, tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về xây dựng nông thôn mới Công tác huy động sức dân tham gia xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn được quan tâm và đẩy mạnh, người dân đã nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình trong xây dựng nông thôn mới
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện đáng kể, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn; xuất hiện nhiều mô hình phát triển sản xuất hiệu quả, có sự liên kết giữa người dân và doanh nghiệp; đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao, tỷ lệ
hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân của người nông dân được nâng lên, an sinh xã hội được đảm bảo, quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện
- Hạn chế, yếu kém:
+ Công tác chỉ đạo, điều hành tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đồng đều
Kế hoạch thực hiện của các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện chưa rõ ràng, cụ thể Một số Sở, ngành hướng dẫn thực hiện một số tiêu chí còn máy móc, thiếu chủ động, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên Chất lượng quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, không mang tính liên kết vùng, nhiều BCĐ xã không nắm rõ
Trang 4030
nội dung quy hoạch, đề án của xã mình Việc lựa chọn đầu tư các dự án thành phần còn nhiều lúng túng, chất lượng chưa cao Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể nhân dân chưa chặt chẽ, chưa phát huy hết khả năng tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới
+ Nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới của một số cấp ủy, chính quyền và một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân còn hạn chế, còn coi đây là chương trình đầu tư Một số địa phương vẫn còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại cấp trên Một số địa phương chỉ mới quan tâm đến dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, chưa quan tâm chỉ đạo thực hiện các tiêu chí mang tính chất vận động như: xây dựng gia đình văn hóa, giảm hộ nghèo, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất… Kết cấu hạ tầng nông thôn tuy đã được đầu tư xây dựng đáng kể nhưng nguồn lực đầu tư còn thấp so với yêu cầu, làm hạn chế việc phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung
+ Công tác tuyên truyền, tập huấn đã có cố gắng nhưng chất lượng tuyên truyền nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu, chỉ mang tính hình thức chưa làm chuyển biến được nhận thức, sự chủ động vào cuộc của người dân trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới
+ Nguồn lực đầu tư cho xây dựng nông thôn mới còn hạn hẹp, nhất là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, sự hỗ trợ, ủng hộ của các tổ chức, doanh nghiệp chưa nhiều Nhiều mô hình phát triển sản xuất chưa thật sự bền vững, còn hạn chế trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản Thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh còn thấp nên khả năng huy động sức dân đóng góp xây dựng nông thôn mới còn rất khó khăn
Từ kết quả trên, UBND tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng,
UBND các huyện, thành phố, BCĐ các cấp thực hiện mục tiêu đã đề ra trong năm
2015, trong đó, mục tiêu cụ thể đến hết năm 2015 là: