Nguyên nhân gây hẹp thực quản ở trẻ em ít đa dạng hơn, có thể là bệnh bẩm sinh hay mắc phải trong đó thường gặp nhất là ở nhóm trẻ sau phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản bẩm sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN TÌNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG HẸP THỰC QUẢN Ở TRẺ EM
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 - 2016
Hà Nội – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 - 2016
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.BS NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những người đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Cô giáo TS.BS Nguyễn Thị Việt Hà, người đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em hết lòng trong suốt thời gian em thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, đồng thời cô cũng là người đã truyền nhiệt huyết, động lực để em trở thành một bác sĩ Nhi khoa tương lai
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới phòng Kế hoạch tổng hợp- bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong quá trình thu thập mẫu nghiên cứu
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong hội đồng chấm đề cương và luận văn, Bộ môn Nhi- Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bệnh nhi và gia đình các cháu đã hợp tác tốt, giúp em thu thập số liệu và hoàn thành nghiên cứu
Cuối cùng, em xin gửi lời biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Văn Tình
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Văn Tình, sinh viên tổ 19 Y6E, Trường Đại học Y Hà Nội, khóa học 2010-2016, chuyên ngành Bác sĩ đa khoa
Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả thu được trong khóa luận này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin và số liệu đưa ra
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Văn Tình
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về hẹp thực quản trên thế giới và tại Việt Nam 3
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt nam 4
1.2 Phôi thai học thực quản 4
1.3 Giải phẫu và sinh lý thực quản 5
1.3.1 Đặc điểm giải phẫu 5
1.3.1.1 Chiều dài và đường kính 5
1.3.1.2 Các đoạn thực quản và liên quan giải phẫu 5
1.3.1.3 Mạch máu 6
1.3.2 Sinh lý 7
1.4 Đặc điểm mô học thực quản 8
1.5 Bệnh nguyên- bệnh sinh hẹp thực quản ở trẻ em 8
1.5.1 Hẹp thực quản sau phẫu thuật dò khí-thực quản, teo thực quản 9
1.5.2 Hẹp thực quản do các hóa chất ăn mòn 10
1.5.3 Hẹp thực quản do bệnh trào ngược dạ dày thực quản 11
1.5.4 Hẹp thực quản bẩm sinh 12
1.5.5 Rối loạn nhu động thực quản 12
1.6 Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của hẹp thực quản ở trẻ em 13
1.6.1 Lâm sàng 13
1.6.2 Cận lâm sàng 17
Trang 61.7 Điều trị 18
1.7.1 Nong thực quản bằng bóng qua nội soi 18
1.7.2 Phẫu thuật 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Cỡ mẫu 20
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 20
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.2.5 Các biến số nghiên cứu: 21
2.2.5.1 Các thông tin chung 21
2.2.5.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 21
2.2.5.3 Cận lâm sàng 22
2.2.6 Phân tích và xử lí số liệu 23
2.2.7 Đạo đức nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm của trẻ trong nhóm nghiên cứu 24
3.1.1 Tuổi 24
3.1.2 Giới tính 25
3.1.3 Tiền sử viêm phổi, nhiễm khuẩn hô hấp cấp 25
3.1.4 Tiền sử nong thực quản qua nội soi 26
3.2 Nguyên nhân hẹp thực quản 26
3.3 Triệu chứng lâm sàng 27
3.3.1 Triệu chứng nuốt khó, nuốt nghẹn 27
Trang 73.3.2 Triệu chứng nôn, trớ 28
3.3.3 Triệu chứng khác 29
3.3.4 Mức độ suy dinh dưỡng dựa vào cân nặng theo tuổi 29
3.4 Triệu chứng cận lâm sàng 30
3.4.1 Xquang thực quản có cản quang 30
3.4.2 Nội soi thực quản 30
3.4.2.1 Vị trí 30
3.4.2.2 Đường kính chỗ hẹp 31
3.4.3 Công thức máu 31
3.5 Mối tương quan giữa mức độ hẹp trên nội soi với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng 32
3.5.1 Mối tương quan giữa mức độ hẹp và triệu chứng nuốt khó 32
3.5.2 Mối tương quan giữa mức độ hẹp với các triệu chứng khác 32
3.6 Kết quả điều trị nong thực quản qua nội soi 33
3.6.1 Kết quả nong thực quản qua nội soi 33
3.6.2 Thời gian nằm viện 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 35
4.1 Đặc điểm chung của trẻ trong nhóm nghiên cứu 35
4.1.1 Tuổi 35
4.1.2 Giới tính 35
4.1.3 Tiền sử viêm phổi, nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp 36
4.1.4 Tiền sử nong thực quản qua nội soi 36
4.2 Nguyên nhân hẹp thực quản 37
4.3 Triệu chứng lâm sàng 37
4.4 Triệu chứng cận lâm sàng 39
4.4.1 Xquang thực quản có cản quang 39
4.4.2 Nội soi thực quản 39
Trang 84.4.2.1 Vị trí 39
4.4.2.2 Đường kính chỗ hẹp 40
4.4.3 Công thức máu 40
4.5 Mối tương quan giữa mức độ hẹp trên nội soi với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng 40
4.5.1 Mối tương quan giữa mức độ hẹp và triệu chứng nuốt khó 40
4.5.2 Mối tương quan giữa mức độ hẹp với các triệu chứng khác 40
4.6 Kết quả điều trị nong thực quản qua nội soi 41
4.6.1 Kết quả nong thực quản qua nội soi 41
4.6.2 Thời gian nằm viện 41
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khoảng cách nội soi từ cung răng trên đến miệng thực quản 5
Bảng 3.1 Tiền sử viêm phổi, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên 25
Bảng 3.2 Tiền sử nong thực quản qua nội soi 26
Bảng 3.3 Mức độ nuốt nghẹn với thức ăn 27
Bảng 3.4 Tần suất nôn trong ngày 28
Bảng 3.5 Đường kính chỗ hẹp trên nội soi 31
Bảng 3.6 Triệu chứng thiếu máu 31
Bảng 3.7 Mối tương quan giữa mức độ hẹp và triệu chứng nuốt khó 32
Bảng 3.8 Mối tương quan giữa mức độ hẹp với các triệu chứng khác 32
Bảng 3.9 Đường kính chỗ hẹp trung bình trước và sau nong trên nội soi 33
Bảng 3.10 Thời gian nằm viện 34
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố tuổi của trẻ 24
Biểu đồ 3.2 Phân bố giới tính 25
Biểu đồ 3.3 Nguyên nhân hẹp thực quản 26
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ trẻ có biểu hiện nuốt khó, nuốt nghẹn 27
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ trẻ có biểu hiện nôn, trớ 28
Biểu đồ 3.6 Triệu chứng khác 29
Biểu đồ 3.7 Mức độ suy dinh dưỡng 29
Biểu đồ 3.8 Xquang thực quản có cản quang 30
Biểu đồ 3.9 Vị trí hẹp thực quản trên nội soi 30
Biểu đồ 3.10 Đường kính chỗ hẹp trước và sau nong của bệnh nhân 33
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Hình ảnh Xquang hẹp thực quản 17
Hình 1.2 Hình ảnh nội soi hẹp thực quản 18
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hẹp thực quản là tình trạng đường kính của thực quản nhỏ lại không giãn nở được khi nuốt, làm gián đoạn sự lưu thông của thức ăn, nước uống và các chất dịch từ thực quản xuống dạ dày không hoàn toàn hoặc hoàn toàn [1]
Ở người lớn nguyên nhân gây hẹp thực quản khá đa dạng, hẹp thực quản có thể là hậu quả của các tổn thương niêm mạc thực quản do quá trình viêm, xơ hóa hoặc bỏng hẹp do hóa chất, trào ngược dịch acid của dạ dày Sự xâm lấn của các khối u bất thường, các tổ chức lympho hay các bệnh lý rối loạn nhu động thực quản, sự co thắt bất thường của cơ thắt thực quản dưới cũng gây ra các triệu chứng lâm sàng của hẹp thực quản Nguyên nhân gây hẹp thực quản
ở trẻ em ít đa dạng hơn, có thể là bệnh bẩm sinh hay mắc phải trong đó thường gặp nhất là ở nhóm trẻ sau phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản
bẩm sinh, bỏng hóa chất hay biến chứng của trào ngược dạ dày thực quản [2]
Hẹp thực quản là bệnh có tính chất lành tính, tuy nhiên nếu không được phát hiện và có các can thiệp kịp thời, bệnh có thể gây các hậu quả nặng nề như viêm phổi do hít, suy dinh dưỡng gây ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển thể chất và chất lượng cuộc sống của trẻ Chẩn đoán hẹp thực quản chủ yếu dựa vào các biểu hiện lâm sàng như nuốt khó, nuốt nghẹn đặc biệt với thức ăn đặc kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như Xquang, nội soi thực quản – dạ dày Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trẻ có thể tăng trưởng và phát triển bình thường Với sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh và các kỹ thuật nội soi can thiệp trên thế giới đã có một số nghiên cứu về hẹp thực quản ở trẻ em Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bệnh
lý thực quản ở trẻ em còn chưa nhiều, xuất phát từ vấn đề này chúng tôi tiến
hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hẹp thực quản
ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng” nhằm hai mục tiêu:
Trang 131 Mô tả nguyên nhân, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh hẹp thực quản ở trẻ em
2 Tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ hẹp trên nội soi với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và bước đầu nhận xét kết quả điều trị hẹp thực quản bằng nong thực quản qua nội soi
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu về hẹp thực quản trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Hẹp thực quản ở trẻ em là vấn đề ngày càng được quan tâm và nghiên cứu nhiều trên thế giới tuy nhiên cho đến nay chưa có số liệu về tỷ lệ mắc hẹp thực quản chung ở trẻ em Các nghiên cứu về hẹp thực quản ở trẻ em chủ yếu tập trung ở nhóm hẹp thực quản bẩm sinh, hẹp thực quản sau trào ngược dạ dày thực quản hay hẹp thực quản do bỏng hóa chất Tỷ lệ hẹp thực quản cũng thay đổi theo giới tính, lứa tuổi và nguyên nhân gây hẹp thực quản
Theo kết quả của các nghiên cứu trên thế giới, hẹp thực quản là bệnh gặp ở mọi lứa tuổi tuy nhiên trẻ nhỏ có xu hướng bị bệnh nhiều hơn trẻ lớn và trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái [3], [4] Nghiên cứu Poddar trên 107 trẻ, tuổi trung bình là 25,8 tháng bị hẹp thực quản lành tính nhận thấy tỷ lệ nam: nữ là 3:1, tất cả trẻ đều có triệu chứng nuốt khó và nôn [4] Theo nghiên cứu của Lan trên 77 trẻ, tuổi trung bình là 1,8 tuổi, thấy đa số bệnh gặp ở trẻ trai, triệu chứng gồm nôn (64,7%), chậm phát triển (47%), nuốt khó (41,2%) [5] Trong một nghiên cứu khác của Bazrafshan trên 43 trẻ hẹp thực quản, tuổi trung bình là 25,8 tháng nhận thấy trẻ trai có xu hướng mắc bệnh cao hơn trẻ gái (56% và 44%) Tác giả không tìm thấy mối liên quan giữa nguyên nhân gây bệnh và hiệu quả điều trị cuối cùng [3] Trong một nghiên cứu dự đoán khả năng hẹp thực quản trên 32 trẻ bỏng hóa chất, Chen và cộng sự không ghi nhận thấy mối liên quan giữa mức độ tổn thương thực quản với các triệu chứng như nôn, nuốt khó, tăng tiết nước bọt [6]
Trang 151.1.2 Nghiên cứu tại Việt nam
Nghiên cứu Ngô Phương Minh Thuận trên 77 bệnh nhân hẹp thực tâm vị lành tính, tuổi trung bình là 47,6 tuổi (17 tuổi- 78 tuổi) nhận thấy nam gặp nhiều hơn nữ, tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng nuốt nghẹn, đa số bệnh nhân cải thiện tốt triệu chứng nuốt nghẹn ngay lần nong đầu tiên (84,4%), nguyên nhân hẹp thực quản tâm vị-lành tính gồm co thắt tâm vị (53,7%), hẹp miệng nối (42,9%), Schatzki ring (1,3%) và sẹo hẹp (2,6%) [7]
quản-1.2 Phôi thai học thực quản
Đường tiêu hóa bắt đầu hình thành từ tuần thứ 4 của thai kỳ với ba giai đoạn phát triển: (1) giai đoạn hình thành và phát triển; (2) giai đoạn biệt hóa
tế bào; (3) giai đoạn trưởng thành [8] Sự phát triển của thực quản gắn liền với
sự phát triển của của khí, phế quản Vào ngày thứ 22, ở mặt trước của ruột trước, rãnh hầu giữa phát triển Mầm phổi sẽ được hình thành từ rãnh này vào ngày thứ 26 [9] Thực quản là một bộ phận được phát triển từ đoạn ruột trước trong thời kỳ bào thai vào tuần thứ 4, hình thành từ một vùng nhỏ của nội bì giữa đoạn giãn to của dạ dày và mầm phổi Ngày thứ 28, mầm phổi được tách rời một cách rõ rệt khỏi đường tiêu hóa và đi xuống vào phần trung mô nằm trước đoạn ruột trước Một phần của phần trung mô này sẽ nằm vào giữa ống tiêu hóa và ống hô hấp tạo thành vách khí-thực quản Hai bờ rãnh thanh-khí quản tiến lại gần nhau và sát nhập lại ngăn đoạn sau ruột trước thành hai ống: ống phía bụng là ống thanh-khí quản, ống phía lưng là thực quản Quá trình phân chia hoàn thành khi thai 8 tuần Cùng với sự hạ thấp của lồng ngực, tim
và phổi, thực quản mau chóng dài ra về phía đuôi phôi và đường đi của nó gần như song song với đường đi của khí quản, đạt tới chiều dài cuối cùng ở tuần thai thứ 7 và 8, đến khi sinh thực quản dài 8-10cm Biểu mô phủ niêm mạc thực quản đều có nguồn gốc từ nội bì ở đoạn sau của ruột trước, các thành phần cấu tạo khác của thực quản có nguồn gốc từ trung mô Ở đoạn
Trang 16trên, tầng cơ được phân bố bởi các nhánh của dây thần kinh phế vị, còn đoạn dưới có các sợi thần kinh của đám rối tạng, các thần kinh này có nguồn gốc từ ngoại bì Các tác động bất thường vào giai đoạn này có thể gây ra các dị tật ở thực quản như rò khí-thực quản và teo thực quản [8], [10], [11]
1.3 Giải phẫu và sinh lý thực quản
1.3.1 Đặc điểm giải phẫu
1.3.1.1 Chiều dài và đường kính
Thực quản ở trẻ sơ sinh có hình chóp, vách thực quản trẻ em mỏng hơn người lớn, tổ chức đàn hồi và xơ chun chưa phát triển, lớp niêm mạc ít tổ
chức tuyến, nhiều mạch máu Ở trẻ em mới sinh thực quản dài khoảng 8-10
cm, nhưng khi trẻ tròn 1 tuổi thì thực quản dài 12 cm, đến 5 tuổi thực quản có thể dài 16 cm, đến 15 tuổi thực quản dài 19 cm, ở tuổi trưởng thành thực quản dài trung bình ở phụ nữ là 23 cm, đàn ông là 25 cm Đường kính thực quản ở trẻ sơ sinh khoảng 5 mm, nhưng đường kính này tăng gấp đôi khi trẻ 1 tuổi và khi trẻ 5 tuổi có đường kính là 15 mm, ở người trưởng thành đường kính
1.3.1.2 Các đoạn thực quản và liên quan giải phẫu
- Đoạn thực quản cổ giới hạn: Từ miệng thực quản ngang mức C6 Liên quan của thực quản cổ: Phía trước thực quản là khí quản và ở giữa là tổ chức liên kết lỏng lẻo chứa thần kinh thanh quản quặt ngược, phía sau thực
Trang 17quản liên quan với cột sống cổ qua lớp mô tế bào lỏng lẻo và cân trước sống Ở hai bên có tuyến giáp và bó mạch thần kinh cảnh [14], [15]
- Đoạn thực quản ngực giới hạn: Từ D1 đến D10, lúc đầu thực quản đi qua trung thất trên rồi sau đó qua trung thất sau, ngang mức D5 thì rời xa cột sống đi ra trước và sang trái tới lỗ thực quản cơ hoành Liên quan của thực quản ngực: phía trước với khí quản, chỗ phân đôi của khí quản và phế quản gốc trái Phía sau có các đốt sống ngực, ống ngực, tĩnh mạch đơn Bên trái có cung động mạch chủ bắt chéo thực quản ngang mức D4, dây thần kinh thanh quản quặt ngược trái, động mạch dưới đòn trái, ống ngực
và màng phổi trung thất trái Bên phải thực quản liên quan màng phổi trung thất phải và cung tĩnh mạch đơn Ở các cuống phổi dây thần kinh lang thang tạo nên một đám rối trên bề mặt thực quản, thần kinh lang thang trái nằm trước, thần kinh lang thang phải nằm sau
- Đoạn thực quản bụng: Thực quản đi qua cơ hoành vào bụng ở ngang mức D10 Thực quản nằm trong rãnh thực quản ở mặt sau thùy trái của gan và được phúc mạc che phủ ở mặt trước và bờ trái, mặt sau tiếp xúc với trụ trái của cơ hoành, bờ phải liên tiếp với bờ cong bé dạ dày, trong khi bờ trái ngăn các với đáy vị bởi khuyết tâm vị Thực quản tận cùng tại lỗ tâm vị ở ngang mức D11, [14], [15]
1.3.1.3 Mạch máu
- Thực quản được cấp máu bởi động mạch giáp dưới, động mạch phế quản, động mạch hoành trái, động mạch vị trái cùng một loạt nhánh nhỏ xuất phát từ động mạch chủ
- Tĩnh mạch: tĩnh mạch ở phần cổ đổ vào tĩnh mạch giáp dưới, ở ngực đổ vào tĩnh mạch đơn, bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ, ở bụng đổ vào tĩnh
mạch vị trái [15]
Trang 181.3.2 Sinh lý
Thực quản được xem là một cơ quan quá cảnh vì thức ăn, chất uống chỉ đi ngang qua đó để vào dạ dày Vai trò quan trọng nhất của thực quản là nó tham gia vào động tác nuốt Nuốt là động tác đưa thức ăn từ miệng xuống thực quản, bắt đầu xuất hiện từ tuần thứ 4 trong thời kỳ bào thai, gồm ba giai đoạn
kế tiếp nhau [8], [16]
- Giai đoạn miệng: miệng đóng lại, thức ăn đã được nhai và tẩm nước bọt sẽ được lưỡi ép lên vòm khẩu cái và được tống tới eo họng Giai đoạn này được điều khiển hoàn toàn theo ý muốn
- Giai đoạn hầu: sau khi thức ăn qua eo họng, lưỡi đẩy từng đợt cho thức ăn vào hầu Thức ăn chạm vào thành sau họng sẽ gây phản xạ nuốt Các cơ nâng thanh quản kéo thanh quản và hạ họng lên làm cho thanh thiệt đẩy xuống thanh quản, cơ siết họng co lại và bóp đẩy viên thức ăn xuống, miệng thực quản mở ra và thức ăn rơi vào thực quản Thì này không phụ thuộc vào ý muốn của người nuốt
- Giai đoạn thực quản: miệng thực quản trước đó được đóng do cơ thắt họng nay được mở ra để cho thức ăn đi vào thực quản Thức ăn được đẩy xuống dạ dày nhờ sóng nhu động của các cơ thực quản và trọng lượng viên thức ăn Thì này cũng không phụ thuộc vào tư thế và ý muốn của người nuốt
Sở dĩ động tác nuốt hoàn toàn không theo ý muốn (không thể nuốt liên tiếp được), là do ở 1/3 trên cơ hoạt động theo ý muốn và do các sợi vận động theo
ý muốn của dây X chi phối, còn 2/3 dưới là bị chi phối bởi các sợi đối giao cảm của dây X và các sợi giao cảm [14], [16]
Trang 191.4 Đặc điểm mô học thực quản
- Lớp niêm mạc thực quản được cấu tạo bởi nhiều lớp:
+ Lớp biểu mô: Thuộc loại lát tầng không sừng hóa, từ ngay cơ hoành trở xuống là biểu mô trụ kiểu dạ dày
+ Lớp đệm: Dày đặc và có các nhú trồi ra dọc theo các nếp dọc của niêm mạc Gồm các sợi liên kết chun có hướng dọc theo lòng thực quản, xen kẽ
có đám tổ chức lympho
+ Cơ niêm: gồm các sợi cơ trơn
- Lớp dưới niêm mạc: Là mô liên kết chun lỏng lẻo, có các mạch máu và thần kinh đi qua để vào lớp niêm mạc Do đó giữa các lớp cơ và niêm mạc
dễ trượt lên nhau nên khi có lỗ thủng khó phát hiện trên nội soi thực quản Trong lớp này có những tuyến thực quản chính thức, là loại tuyến ngoại tiết chùm nho
- Lớp cơ: 1/4 trên lớp cơ gồm những sợi cơ vân ở cả lớp trong lẫn lớp ngoài, 3/4 dưới những sợi cơ trơn dần dần thay thế cơ vân.1/3 dưới cùng của thực quản, lớp cơ được tạo hoàn toàn bởi cơ trơn Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong,
cơ dọc ở ngoài, giữa hai lớp cơ có đám rồi thần kinh Auerbach
- Lớp vỏ ngoài: Phần thực quản trên cơ hoành được bọc bên ngoài bởi tổ chức liên kết với các tổ chức lân cận Ở phần dưới cơ hoành, lớp vỏ và lớp thanh mạc giống như ở dạ dày [15], [17]
1.5 Bệnh nguyên- bệnh sinh hẹp thực quản ở trẻ em
Nguyên nhân gây hẹp thực quản ở trẻ em thường do bẩm sinh hoặc mắc phải như sẹo hẹp sau bỏng hóa chất, hẹp miệng nối sau mổ teo thực quản, hậu quả của bệnh trào ngược dạ dày thực quản, xơ hẹp sau các can thiệp [2], [3], [4] Theo nghiên cứu của Bazrafshan và cộng sự trên 43 trẻ em Iran tuổi từ 1 tháng đến 10 tuổi trong 8 năm (1995 – 2003), nguyên nhân gây hẹp thực quản thường gặp nhất là hẹp thực quản sau phẫu thuật sửa chữa dò khí-thực quản
Trang 20(34,9%) Hẹp thực quản do bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, bỏng hóa chất và hẹp thực quản bẩm sinh lần lượt là 25,6%; 11,6% và 11,6%[3] Khi can thiệp điều trị cho 24 trẻ em tuổi trung bình 3,5 tuổi, Güitrón và cộng sự ghi nhận thấy phần lớn trẻ bị hẹp thực quản trong nghiên cứu này là do bỏng hóa chất [18] Trong một nghiên cứu khác của tác giả Broor trên 41 trẻ em dưới 16 tuổi bị hẹp thực quản lành tính, nguyên nhân hẹp thực quản thường gặp nhất là hẹp do bỏng hóa chất và biến chứng của tiêm xơ điều trị giãn tĩnh mạch thực quản [2] Nghiên cứu của Bittencourt và cộng sự trên 125 trẻ 1 tháng – 16 tuổi, nguyên nhân hẹp thực quản sau phẫu thuật chiếm 43,2%, ăn mòn do hóa chất chiếm 27,2% và nguyên nhân do trào ngược acid chiếm 21,6% [19]
1.5.1 Hẹp thực quản sau phẫu thuật dò khí-thực quản, teo thực quản bẩm sinh
Tỷ lệ hẹp thực quản sau phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản gặp
ở 6 - 40% các trường hợp Đây là biến chứng hay gặp sau phẫu thuật teo thực quản/dò khí-thực quản type A, C, D Hẹp miệng nối thực quản có thể ở các mức độ khác nhau từ hẹp nhẹ đến chít hẹp hoàn toàn lòng thực quản Nguyên nhân của tình trạng hẹp thực quản sau phẫu thuật được cho là do sự tổn thương các mạch máu dinh dưỡng cho thực quản đặc biệt là đoạn thực quản dưới, động mạch nuôi dưỡng xuất phát từ động mạch chủ, động mạch liên sườn Mặt khác sự tái tưới máu cho thực quản sau phẫu thuật, nguy cơ thiếu máu cục bộ ở hai đầu của đoạn nối do miệng nối bị căng sau mổ, kỹ thuật khâu nối thực quản và sẹo nối cũng là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng hẹp [20] Nếu trẻ có tình trạng trào ngược dạ dày thực quản sau phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản, tình trạng hẹp thực quản sẽ gia tăng Dutta và cộng sự trong nghiên cứu của mình ghi nhận thấy tỷ lệ hẹp thực quản lên tới 52% ở nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản có
Trang 21trào ngược dạ dày thực quản trong khi đó tỷ lệ này chỉ là 22% bệnh nhân không có trào ngược [21]
1.5.2 Hẹp thực quản do các hóa chất ăn mòn
Hẹp thực quản do tổn thương thực quản bởi các chất ăn mòn cũng là nguyên nhân khá thường gặp ở trẻ em Sau khi nuốt phải hoá chất, bề mặt niêm mạc bị tổn thương nhanh chóng bởi các phản ứng hóa học Mức độ tổn thương thực quản phụ thuộc vào loại hóa chất, nồng độ hóa chất cũng như thời gian tiếp xúc giữa hóa chất với niêm mạc thực quản Thông thường các hóa chất gây tổn thương thực quản là các chất có tính kiềm hoặc tính acid Các hóa chất có tính acid có khả năng gây tổn thương thực quản khi pH ≤3 trong khi các chất có tính kiềm gây tổn thương thực quản khi pH ≥11 [22]
Các hóa chất gây tổn thương thực quản có tính acid như acid
hydrochloric, acid sulfuric… có trong chất tẩy bồn cầu, chất tẩy bể bơi là những chất có mùi vị khó chấp nhận hơn, kích thích hơn các chất kiềm vì thế
cơ thể có xu hướng loại bỏ sớm khi tiếp xúc Khi tiếp xúc với các chất này có thể có các biểu hiện trên đường hô hấp như ho, ngạt thở và các triệu chứng trên đường tiêu hóa Khi trẻ nuốt phải các hóa chất có hoạt tính acid tình trạng hoại tử niêm mạc xuất hiện, hình thành các vết loét chắc, làm cho khả năng thâm nhập acid qua niêm mạc bị hạn chế [23]
Các hoạt chất có tính kiềm thường có trong các chất tẩy rửa, pin… khi tiếp xúc với niêm mạc có thể gây các tổn thương hoại tử niêm mạc thực quản hoặc thấm sâu hơn gây tổn thương lớp dưới niêm mạc và lớp cơ Vết loét không màu, dễ mủn nát mà dưới đó có quá trình phá hủy như hiện tượng xà phòng hóa các chất béo, biến tính protein và tạo các huyết khối ở mạch máu nhỏ vẫn tiếp tục cho đến khi chất kiềm được trung hòa Hiện tượng chảy máu, tắc mạch và phản ứng viêm xảy ra trong vòng 24 giờ đầu Tùy theo mức độ bỏng, quá trình viêm sẽ lan qua các lớp cơ và làm thủng thực quản Sau 48
Trang 22giờ, các mạch máu dưới niêm mạc bị tắc dẫn đến hoại tử cục bộ Vi khuẩn khu trú có thể gây các tổn thương abces trong thành thực quản, tổn thương này có thể lan rộng dẫn đến viêm trung thất, rò khí thực-quản hoặc rò thực quản với động mạch chủ [23]
Sau vài ngày tổ chức hoại tử rụng đi, phù nề giảm xuống và bắt đầu xuất hiện các mạch máu tân tạo, giai đoạn bán cấp và sửa chữa xảy ra từ cuối tuần thứ nhất đến hết tuần thứ hai Sẹo hình thành vào tuần thứ ba khi lớp cơ niêm và lớp dưới niêm mạc được thay thế bằng các tế bào xơ gây hẹp lòng thực quản Trong giai đoạn này hiện tượng dính làm lòng thực quản hẹp lại và
có thể bị bít tắc, hiện tượng co rút làm thực quản ngắn lại [23]
1.5.3 Hẹp thực quản do bệnh trào ngược dạ dày thực quản
Trào ngược dạ dày thực quản là bệnh khá thường gặp ở trẻ em, chiếm 35-58% Hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ em xảy ra do sự giãn
nở thoáng qua của cơ thắt thực quản dưới, đoạn thực quản bụng ngắn và nằm trên cơ hoành, góc His được hình thành ở đoạn nối thực quản – dạ dày là một góc tù do dạ dày nhỏ và nằm ngang, thực quản ngắn, thoát vị qua khe thực quản Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản nặng có thể dẫn đến các tổn thương viêm, hẹp thực quản [24] Trên thực tế tỷ lệ hẹp thực quản ở bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản nặng chỉ chiếm khoảng 1,5% và thường gặp ở các bệnh nhân bại não, thoát vị qua khe thực quản, dị dạng đường tiêu hóa bẩm sinh hoặc các bệnh phổi mạn tính Trong những trường hợp này, trẻ có thể bị hẹp thực quản, viêm phổi tái diễn, tăng mẫn cảm đường thở và các nhiễm khuẩn hô hấp mạn tính Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có mối tương quan giữa tổn thương đường tiêu hóa, hô hấp với mức độ nặng của trào ngược dạ dày thực quản dựa trên các nghiên cứu về mô bệnh học đường hô hấp, thực quản Mối liên quan giữa mức độ nặng của trào ngược dựa trên kết quả đo pH thực quản với tổn thương
Trang 23thực quản nặng gặp ở 20%, viêm thực quản Barrett là 6% trên các bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản nặng Mức độ viêm, hẹp thực quản nặng có liên quan với tình trạng giảm nhu động thực quản ở các bệnh nhân trào ngược [25].
1.5.4 Hẹp thực quản bẩm sinh
Hẹp thực quản bẩm sinh là bệnh hiếm gặp ở trẻ em, với tỷ lệ 1 trên 25.000 – 50.000 trẻ đẻ ra sống, bệnh có xu hướng mắc ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái Hẹp thực quản bẩm sinh là hậu quả của các sang chấn, thiếu oxy trong 25 ngày đầu của thai kỳ dẫn đến sự phân tách không hoàn toàn của đường dẫn khí khỏi ruột trước [26] Amae và cộng sự ghi nhận thấy có mối liên quan giữa hẹp thực quản bẩm sinh với các bất thường bẩm sinh khác của cơ thể đặc biệt là teo thực quản ở 17 – 33% các trường hợp [27] Có 3 thể hẹp thực quản bẩm sinh được ghi nhận đó là hẹp phần màng (esophageal membranes), hẹp phần cơ chun (fibromuscular stenosis) và còn tồn tại dải xơ khí – phế quản (tracheobronchial remnants) trong đó dị tật còn tồn tại dải xơ khí – phế quản
là tổn thương hay gặp nhất gây hẹp đoạn một phần ba dưới thực quản [28] Biểu hiện lâm sàng của hẹp thực quản bẩm sinh phụ thuộc vào vị trí và mức
độ nặng của hẹp Bệnh nhân thường có các biểu hiện của hô hấp kèm theo các biểu hiện của tiêu hóa như nuốt khó, nuốt nghẹn ở giai đoạn trẻ bắt đầu ăn bổ sung Các nghiên cứu gần đây cho thấy siêu âm nội soi giúp chẩn đoán và chọn biện pháp điều trị hẹp thực quản bẩm sinh [26], [27], [28]
1.5.5 Rối loạn nhu động thực quản (Achalasia)
Rối loạn nhu động thực quản là bệnh bất thường thần kinh vận động thực quản hiếm gặp ở trẻ em Bệnh thường ít gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, trẻ trai
có xu hướng mắc bệnh cao hơn trẻ gái Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là 0,11/100.000 trẻ [29] Tỷ lệ trẻ có biểu hiện triệu chứng trước 15 tuổi là <5%, thường có liên quan với rối loạn NST 21, viêm thực quản tăng bạch cầu ái
Trang 24toan, bệnh Chagas… Tổn thương tế bào hạch thần kinh chi phối hoạt động của cơ thắt thực quản dưới và thực quản dẫn đến ba đặc điểm chính của bệnh
là tăng trương lực cơ thắt thực quản dưới, cơ thắt thực quản dưới không giãn
nở hoàn toàn trong khi nuốt và rối loạn nhu động thực quản Goldblum và cộng sự ghi nhận thấy có sự bất thường hạch thần kinh, phá hủy và viêm mạn tính tế bào thần kinh lớp áo cơ thực quản ở các mảnh sinh thiết thực quản của
42 bệnh nhân rối loạn nhu động thực quản [30] Sự bất thường của hệ thần kinh phó giao cảm điều hòa nhu động thực quản cũng được cho là nguyên nhân gây ra bệnh rối loạn nhu động thực quản, tuy nhiên nguyên nhân chính xác của tình trạng này còn chưa được xác định rõ [31]
Trẻ bị rối loạn nhu động thực quản thường có các biểu hiện nuốt khó, nôn trớ, chậm tăng cân tiến triển tăng dần Trẻ nhỏ có thể có các biểu hiện của viêm phổi tái diễn, ho về đêm, hội chứng hít, khàn tiếng hoặc khó khăn khi ăn uống và dễ bị chẩn đoán nhầm với bệnh trào ngược dạ dày thực quản [29]
1.6 Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của hẹp thực quản ở trẻ em
1.6.1 Lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng bệnh hẹp thực quản khá đa dạng, tùy thuộc vào lứa tuổi và nguyên nhân gây hẹp thực quản Các biểu hiện hay được mô tả
nhất là:
- Nuốt khó (dysphagia) là tình trạng khó khăn trong khi nuốt, được chia
thành nuốt khó ở họng và nuốt khó ở thực quản Nuốt khó ở họng là tình trạng khó khăn khi đưa thức ăn từ miệng xuống thực quản Biến chứng nguy hiểm nhất của nuốt khó ở họng là sặc thức ăn vào đường thở đe dọa tính mạng Nuốt khó ở thực quản là tình trạng khó khăn khi đưa thức ăn qua thực quản, tình trạng này có thể do nguyên nhân thần kinh cơ hay tắc nghẽn cơ học Những rối loạn nhu động tiên phát gây nuốt khó ở trẻ em rất hiếm gặp [32] Theo các nghiên cứu trên thế giới, nuốt khó chiếm 25%-
Trang 2545% ở trẻ phát triển bình thường, 30%- 80% ở trẻ rối loạn phát triển Tỷ lệ này ngày càng tăng do tỷ lệ trẻ đẻ non, đẻ thấp cân và phối hợp với các bệnh khác được cứu sống tăng lên [33], [34], [35] Nhận định dấu hiệu nuốt khó trên trẻ em tương đối khó khăn Đa số trẻ có biểu hiện nuốt khó với các thức ăn rắn tuy nhiên một số trường hợp trẻ có thể nuốt khó với cả các thức ăn lỏng Nuốt khó là triệu chứng hay gặp ở trẻ bị hẹp thực quản
do hóa chất, biến chứng của trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn nhu động thực quản [36] Tỷ lệ trẻ sau phẫu thuật hẹp thực quản có các biểu hiện tại đường tiêu hóa như nuốt khó, bú kém, nôn gặp ở 80% các trường hợp, 8% có biểu hiện nuốt nghẹn thức ăn rắn và 12% có viêm phổi tái phát [37] Trong một nghiên cứu khác trên 81 trẻ teo thực quản type 3 được phẫu thuật, tỷ lệ trẻ bị hẹp thực quản là 46% trong đó 61% trẻ có biểu hiện nuốt khó [38] Nuốt khó được ghi nhận ở 50% trẻ hẹp thực quản bẩm sinh trong nghiên cứu của Michaud [39]
- Nuốt đau (odynophagia) là tình trạng đau khi nuốt, nguyên nhân có thể ở
miệng, họng hay thực quản Nuốt đau là biểu hiện thường được ghi nhận ở những trẻ bị viêm loét miệng họng, abces vùng hầu họng, dị vật thực quản, bỏng thực quản do hóa chất hay viêm, hẹp thực quản ở bệnh nhân trào ngược Các nghiên cứu trên thế giới sử dụng manometry để đánh giá nuốt trên các bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật teo thực quản hoặc dò khí-thực quản ghi nhận thấy 75 – 100% trẻ có biểu hiện nuốt khó (nhu động nhịp nuốt không đều, khó phối hợp khi nuốt) Ở những trẻ này ngoài biểu hiện nuốt khó còn kèm theo các triệu chứng hô hấp, chậm tăng trưởng, dị vật tiêu hóa do kém hoặc rối loạn nhu động thực quản [20] Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả còn ghi nhận thấy 65% trẻ có các biểu hiện đường tiêu hóa như nuốt khó, nuốt đau, chảy nước bọt trong vòng 10 năm đầu đời, biểu hiện này còn duy trì ở 3% bệnh nhân khi đã 18 tuổi
Trang 26- Nghẹn thức ăn (food impactions) là triệu chứng gặp do dị vật mắc tại thực
quản, thường gặp trong các bệnh gây hẹp thực quản Một số trường hợp cần ăn thêm một lượng thức ăn để có thể đẩy dị vật vượt qua, một số khác phải dùng thuốc hay nội soi lấy dị vật Theo Hurtado, trong tất cả các trẻ
em có biểu hiện tắc dị vật thực quản cấp tính, thức ăn chỉ chiếm 10% [40] Michaud và cộng sự trong nghiên cứu với 61 trẻ hẹp thực quản bẩm sinh, 50% trẻ có biểu hiện nghẹn khi nuốt thức ăn [39]
- Nôn là hiện tượng thức ăn chứa đựng trong dạ dày hoặc ruột bị đẩy ra
ngoài một cách tùy ý hay không, do sự co bóp cơ trơn dạ dày ruột kèm theo sự co thắt của các cơ vân thành bụng Nôn là một triệu chứng hay gặp, nhất là trẻ nhỏ Nôn có thể do nguyên nhân tiêu hóa hoặc ngoài tiêu hóa [12] Trong bệnh lý hẹp thực quản, triệu chứng nôn được ghi nhận ở 40% trẻ hẹp thực quản bẩm sinh trong nghiên cứu của Michaud [39]
- Trớ (Regurgitation) là luồng thức ăn trào ngược đơn thuần sau khi ăn,
không có sự co thắt của các cơ vân mà căn nguyên đơn thuần thường do thực quản [12] Trớ là biểu hiện thường gặp trong các bệnh lý thực quản như trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn nhu động thực quản (achalasia) hay hẹp thực quản Nghiên cứu của Legrand và cộng sự trên 81 trẻ teo thực quản type 3 được phẫu thuật, tỷ lệ trẻ có các biểu hiện của trào ngược
dạ dày thực quản như nôn, trớ, nuốt đau lên tới 35% [38]
- Tăng tiết nước bọt (Drooling) là hiện tượng chảy nước bọt không tự chủ
từ miệng Chảy nước bọt do nhiều nguyên nhân như cường tuyến nước bọt, rối loạn chức năng nuốt, tổn thương thần kinh trung ương và cơ, thiểu năng trí tuệ hay các tổn thương thực quản Trong hẹp thực quản đặc biệt do hóa chất ăn mòn, tăng tiết nước bọt là biểu hiện khá thường gặp [41]
- Đau ngực là triệu chứng phổ biến ở trẻ, hầu hết lành tính nhưng nó có thể
ảnh hưởng đến các hoạt động và học tập của trẻ, làm trẻ và bố mẹ lo lắng
Trang 27Đau ngực có thể do bệnh tiêu hóa như hẹp thực quản, trào ngược dạ dày thực quản, bệnh dạ dày, ruột, đường mật và tụy Theo Saleeb và cộng sự, trong 21 trẻ đau ngực do nguyên nhân tiêu hóa có 16 trẻ viêm thực quản (đa số do trào ngược dạ dày thực quản), 4 trẻ viêm dạ dày và 1 trẻ co thắt thực quản [42]
- Nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn: tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn khá thường gặp ở trẻ bị hẹp thực quản đặc biệt nhóm trẻ hẹp thực quản sau
phẫu thuật teo thực quản, dò khí-thực quản Trong một nghiên cứu đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp ở các trẻ em bị hẹp thực quản sau phẫu thuật, Cozzi và cộng sự ghi nhận thấy 90% trẻ có vào viện vì nhiễm khuẩn
hô hấp tái diễn Tỷ lệ này là 85% ở nhóm trẻ bú mẹ và giảm xuống còn 25% khi trẻ 8 tuổi [43] Viêm phế quản phổi và viêm tiểu phế quản là hai bệnh thường gặp có liên quan đến triệu chứng nuốt khó của trẻ Trong nghiên cứu này, 32% trẻ phải sử dụng kháng sinh thường xuyên Không chỉ ghi nhận ở triệu chứng nhiễm khuẩn, hình ảnh Xquang phổi bất thường cũng được ghi nhận ở 36% trẻ có triệu chứng hô hấp mặc dù chỉ có một trẻ
có biểu hiện của giãn phế quản Tăng tính mẫn cảm đường thở liên quan đến tình trạng hẹp thực quản cũng được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu Tình trạng tăng mẫn cảm đường thở được giải thích có liên quan đến tình trạng hít các chất trong thức ăn trẻ ăn vào mà không được đưa xuống dạ dày do tình trạng hẹp thực quản Tỷ lệ trẻ có các biểu hiện ho mạn tính, khó thở kèm theo các triệu chứng nuốt khó do hẹp thực quản lần lượt là 19% và 37% cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Legrand 37% bệnh nhân không có bất kỳ một triệu chứng hô hấp nào nhưng 50% trẻ có rối loạn thông khí khi thăm dò bằng đo chức năng hô hấp [38] Biểu hiện triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cũng được ghi nhận ở 42% trẻ hẹp thực quản bẩm sinh trong nghiên cứu của Michaud [39]
Trang 28- Suy dinh dƣỡng là một trong những biến chứng của hẹp thực quản ở trẻ
em Suy dinh dưỡng do thiếu calo- protein là một tình trạng bệnh lý xảy ra
do khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng, thường kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại thường tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn phát triển và làm tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng thêm [12]
1.6.2 Cận lâm sàng
- Chụp Xquang thực quản có uống thuốc cản quang là phương pháp có
độ nhạy cao cho phép phát hiện vị trí, chiều dài và đặc điểm chỗ hẹp, hẹp nhẹ mà có thể bỏ sót khi nội soi hoăc hẹp khít nội soi không qua được Phương pháp này còn phát hiện được thực quản bị ngắn và thoát vị hoành [44] Chụp thực quản có cản quang có độ nhạy cao hơn nội soi trong phát hiện các tổn thương hẹp thực quản do chèn ép từ bên ngoài vào hoặc các tổn thương hẹp do acid dịch vị có đường kính lớn hơn 10mm
Hình 1.1 Hình ảnh Xquang hẹp thực quản [45]
- Nội soi thực quản giúp phát hiện vị trí hẹp so với cung răng trước, đường
kính chỗ hẹp, tình trạng niêm mạc thực quản, dạ dày Nội soi thực quản dạ dày không chỉ có giá trị trong chẩn đoán hẹp thực quản mà còn có giá trị trong điều trị (nong thực quản bằng bóng qua nội soi) và theo dõi tiến triển của bệnh Theo nghiên cứu của Michaud và cộng sự trên 61 trẻ bị hẹp thực quản bẩm sinh, giá trị chẩn đoán của các phương pháp chụp Xquang thực quản uống barit và nội soi thực quản lần lượt là 91% và 82% [39]
Trang 29Hình 1.2 Hình ảnh nội soi hẹp thực quản [46]
- Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: Ít có giá trị trong chẩn
đoán hẹp thực quản ở trẻ em
+ Chụp Xquang lồng ngực thẳng, nghiêng khi nghi ngờ hẹp thực quản do khối chèn ép từ bên ngoài vào
+ Chụp CT scanner: Thường áp dụng ở người lớn hoặc nghi ngờ hẹp thực quản do các nguyên nhân xâm lấn: khối u
+ Siêu âm nội soi: Giúp chẩn đoán hẹp thực quản bẩm sinh, hẹp thực quản
do chèn ép, xâm lấn của các khối u
- Công thức máu: Đánh giá trình trạng thiếu máu do nôn máu nhiều, mất
máu mạn tính hay các bệnh lý ác tính gây hẹp thực quản do chèn ép
1.7 Điều trị
1.7.1 Nong thực quản bằng bóng qua nội soi
Đây là một phương pháp tương đối an toàn, hiệu quả và dễ thực hiện, thường được lựa chọn đầu tiên [2], [4], [7] Theo Ngô Phương Minh Thuận,
đa số bệnh nhân cải thiện tốt triệu chứng nuốt nghẹn ngay lần nong đầu tiên với tỷ lệ là 84,4%, một số bệnh nhân còn lại cải thiện triệu chứng nuốt nghẹn với mức độ khá (11,7%) và trung bình (3,9%) [7] Số lần nong phụ thuộc vào
Trang 30từng bệnh nhân Theo Bittencourt (2006), trẻ hẹp thực quản sau bỏng hóa chất phải nong thực quản nhiều lần hơn so với trẻ hẹp thực quản do trào ngược dạ dày thực quản và sau mổ [19]
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị hẹp thực quản tại khoa Tiêu hóa, khoa Ngoại bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 01/01/2013 đến 31/03/2016
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Trẻ em dưới 18 tuổi vào viện được chẩn đoán hẹp thực quản dựa trên các biểu hiện lâm sàng: có ≥1 trong các biểu hiện sau: nuốt khó, nuốt đau, nuốt nghẹn, tăng tiết nước bọt
- Tiêu chuẩn cận lâm sàng: Chụp Xquang thực quản có cản quang và/hoặc nội soi thực quản có hình ảnh hẹp thực quản
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ không có kết quả chụp Xquang và nội soi xác định có hẹp thực quản
- Bệnh nhân/gia đình không hợp tác nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu kết hợp với tiến cứu dựa trên khai thác bệnh sử, tiền sử từ cha mẹ bệnh nhân và hồ sơ bệnh án các bệnh nhân hẹp thực quản dưới 18 tuổi từ 01/01/2013 đến 31/03/2016 của các khoa Tiêu hóa, khoa Ngoại được lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Nhi Trung ương
Trang 32được lưu trữ tại phòng lưu trữ hồ sơ và hồ sơ của các bệnh nhân vào điều trị hẹp thực quản tại bệnh viện Nhi Trung ương
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Với bệnh nhi tiến cứu, nghiên cứu viên phỏng vấn cha mẹ trẻ hoặc người chăm sóc trẻ theo bộ câu hỏi thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Mỗi trẻ cũng được khám lâm sàng, làm một số xét nghiệm sinh hóa và huyết học theo chỉ định của bác sĩ Với bệnh nhi hồi cứu, nghiên cứu viên trực tiếp thu thập số liệu nghiên cứu từ các hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn theo mẫu bệnh án nghiên cứu
2.2.5 Các biến số nghiên cứu:
2.2.5.1 Các thông tin chung
- Tuổi
- Giới tính
- Địa dư
- Thời điểm mắc bệnh
- Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên cho đến khi vào viện
2.2.5.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng