1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp sử dụng khi dạy tiết trả bài viết trong phân môn tập làm văn lớp 5

17 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 368,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp sử dụng khi dạy tiết trả bài viết trong phân môn tập làm văn lớp 5

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KHI DẠY TIẾT TRẢ BÀI VIẾT TRONG

PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 5

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học Tập làm văn cho bậc tiểu học là: hình thành cho học sinh thói quen tư duy độc lập, sáng tạo biết cách miêu tả, tường thuật lại thế giới khách quan bằng hệ thống từ ngữ, câu văn Từ đó các em sử dụng hệ thống ngôn từ của cá nhân vào thực tế bài viết cho sinh động, gợi cảm, bằng cách nhìn nhận

sự vật, đánh giá sự vật theo cảm tính và dần dần các em nhìn nhận sự vật, đánh giá sự vật bằng sự quan sát tinh tế, bằng sự cảm nhận của các giác quan Ở lớp 5 các em dã biết viết bài văn một cách chặt chẽ, logic và ít nhiều sử dụng được một số biện pháp nghệ thuật tu từ cho cách viết qua cảm nhận cái đẹp được thể hiện trong văn học Tôi nghĩ rằng dạy Tập làm văn cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ mà mỗi Thầy cô có tâm huyết đều thấy trăn trở và ai cũng mong muốn làm được, dạy được để học sinh cảm thấy yêu thích môn học này Vì vậy, trong phạm vi hẹp sáng kiến kinh

nghiệm này chỉ đề cập đến giai đoạn cuối của sản phẩm đó là: Tiết học trả bài viết.

Theo quy trình dạy và học, tiết học này là tiết học đánh giá sản phẩm để Thầy trò cùng nhau trau chuốt, gọt giũa, hoàn thiện sản phẩm bằng cách: chữa từ sai - ý chưa

hoàn chỉnh, câu văn khô khan hoặc lủng củng… để Thầy Trò qua đó tìm cách thể hiện

tốt hơn cho bài viết Và như thế tiết học trở thành tiết học tốt, cuốn hút học sinh Học sinh tự tin và thích học văn hơn Nếu người Thầy tìm được cách giải quyết vấn đề hợp

lý, học sinh được trực tiếp tham gia vào quy trình trả bài viết với tư cách là một chủ thể theo cách dạy học tích cực: Thầy thiết kế - Trò thi công thì ở trong tiết học Trò không phải lĩnh hội kiến thức thụ động theo lối: Thầy giảng - Trò ghi mà theo một

chiều hướng tích cực đó là: từ kiến thức Tập làm văn Trò có được do chính các em tích lũy, sáng tạo trong quá trình làm việc theo hướng tương tác: Thầy với Trò; Trò với Trò.

Chính từ những trăn trở này, qua thực tế dạy - học tôi đã cố gắng tìm hiểu,

nghiên cứu sâu hơn về phương pháp tổ chức dạy Tiết học trả bài viết cho HS lớp 5

nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình Vì vậy tôi mạnh dạn trình bày cách dạy của mình

và mong muốn với sự góp ý của hội đồng khoa học, của đồng nghiệp thì sẽ có được giải

pháp tốt nhất trong quá trình giảng dạy tiết: Trả bài viết của phân môn Tập làm văn.

Trang 2

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG

1 Thực trạng từ tiết dạy.

Như phần đặt vấn đề đã đề cập, dạy Tập làm văn nói đã khó thì dạy tiết trả bài là

vô cùng khó Nhiều khi tôi và những đồng nghiệp khác cứ trăn trở: với thời lượng 40 phút làm thế nào để dạy vừa đủ các bước (Trả bài - Sửa bài - Đọc bài hay) lại vừa đảm bảo về mặt nội dung của một tiết dạy?

- Nếu sửa bài qua loa học sinh sẽ học theo lối “cưỡi ngựa xem hoa” thì không

thể rút kinh nghiệm cho bài viết sau

- Nếu sửa bài kĩ, chi tiết thì thời gian lại quá ít

- Sửa như thế nào để :

+ Học sinh giỏi phát huy năng lực viết văn

+ Học sinh khá học tập cách viết của bạn

+ Học sinh yếu khắcphục được khiếm khuyết

- Sửa bài như thế nào để tôn trọng tinh thần đổi mới giáo dục là lấy học sinh làm trung tâm Trong khi đó yêu cầu của tiết trả bài là phải đảm bảo được 2 yêu cầu:

+ Sửa sai (lỗi về chính tả, lỗi về từ, lỗi về câu…)

+ Phát huy tinh thần độc lập, sáng tạo và khả năng viết văn cho mỗi cá nhân học sinh Như thế, chỉ cần nhìn vào yêu cầu ta sẽ thấy ngay vai trò chủ đạo của người Thầy trong tiết dạy tập làm văn Vậy người thiết kế (Thầy) phải làm gì để đảm bảo

đủ, đúng về kiến thức của tiết học Và làm thế nào để tiết dạy sinh động, lôi cuốn, tạo tâm lý thoải mái, sự yêu thích môn học, ham học đối với học sinh

2 Thực trạng về học sinh.

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy: Đa số học sinh khi nghe cô giáo đọc, bạn đọc những đoạn văn, bài văn hay hoặc được nghe cô giáo phân tích cái hay, cái đẹp trong văn học các em cũng có cảm hứng Thế nhưng khi yêu cầu viết đoạn văn hay bài văn các em lại rất ngại

Nguyên nhân: hầu hết học sinh trường tiểu học Nghĩa Phú sống ở nông thôn, các

em rụt rè, không mạnh dạn trước đông người, ngôn ngữ giao tiếp còn nhiều hạn chế Phát âm còn nặng về phương ngữ nên phát âm như thế nào viết như thế đó Mặt khác điều kiện kinh tế của gia đình còn khó khăn nên việc đầu tư tài liệu tham khảo chưa đáp ứng theo yêu cầu Bên cạnh đó, năng lực tiếp thu, ý thức học tập, sự chuẩn bị bài của các em chưa cao…Từ những nguyên nhân trên dẫn đến kết quả bài làm của học sinh còn thấp Bài viết chưa sinh động; dùng từ không chính xác; câu văn viết còn

Trang 3

lủng củng; diễn đạt không trôi chảy;ít học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ; bài văn chưa có hồn…

II CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH VÀ BIỆN PHÁP

1 Chấm bài:

Chấm bài là yêu cầu đòi hỏi sự chuẩn bị rất công phu của người giáo viên Bởi vì nếu chấm kỹ, chấm đúng, sửa từng chi tiết nhỏ về từ, về ý, về diễn đạt và cách dùng

từ … cho học sinh thì sẽ giúp cho tiết trả bài đạt kết quả tốt

 Biện pháp.

*Biện pháp 1: Sử dụng ký hiệu khi chấm bài, chữa bài.

Để học sinh nhận biết được bài viết của mình có những lỗi gì thì ngay từ tiết Tập làm văn đầu tiên tôi đã hướng dẫn các em làm quen với những ký hiệu mà khi chấm bài tôi thường sử dụng, cụ thể:

- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và viết lại từ sửa: đó là lỗi chính tả

- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và dấu ?: đó là lỗi về từ

- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và dấu sổ dọc: đó là lỗi về câu

Làm như thế khi đọc bài viết của mình học sinh sẽ dễ dàng nhận ra lỗi sai để từ đó các

em có cách sửa sai nhanh và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của các em

*Biện pháp 2: Khi chấm bài giáo viên ghi lại các lỗi học sinh hay mắc phải.

Song song với việc chấm bài tôi ghi lại các từ, câu cần sửa Việc này giúp các

em chọn được từ thay thế thích hợp hơn, hay hơn

Những lỗi mà học sinh hay mắc phải đó là:

- Viết sai các từ do phát âm sai, sử dụng từ không phù hợp với văn cảnh

- Câu sai ngữ pháp

- Câu không rõ ý

- Câu lặp; câu dài dòng; câu lủng củng; câu vụng

2 Trả bài:

Phần trả bài gồm các bước sau:

Bước 1: Giáo viên cho học sinh đọc và nhắc lại yêu cầu của đề ra

Bước 2: Giáo viên nhận xét chung về bài làm của học sinh rồi trả bài cho các em Bước 3: Yêu cầu học sinh:

- Đọc lại toàn bộ bài viết của mình

Trang 4

- Xem các lỗi sai mà mình đã mắc phải.

 Biện pháp.

Việc giáo viên cho học sinh đọc và nhắc lại yêu cầu của đề ra trong tiết trả bài là cần thiết Ở bước này tôi thường cho những học sinh có bài làm mà giáo viên phê

“Em chưa hiểu bài lắm” hoặc “Bài làm của em chưa thật đúng với yêu cầu của đề ra” để biết các em hiểu đề ra ở mức độ nào từ đó có hướng để chữa bài cho những

học sinh này Bước tiếp theo là giáo viên nhận xét chung về bài làm của học sinh rồi trả bài cho các em

Theo tôi, việc đọc lại bài, xem các lỗi sai rồi chờ được sửa sẽ làm cho tâm lý học sinh háo hức, hồi hộp Điều này đã góp phần làm cho tiết học sinh động hơn và đây chính là hoạt động học tập lấy học sinh làm trung tâm (vì khi đến phần sửa bài các em

sẽ tự nêu lỗi sai và cùng các bạn trong lớp sửa lỗi)

3 Sửa bài:

Phần này tôi chia bảng ra thành 3 cột và sửa theo trình tự sau:

Ví dụ: khuôn mặc Ví dụ: Mái tóc bà em bạc

phếch theo thời gian

Ví dụ: Không những Lan học giỏi mà hát rất hay

 *Biện pháp:

*Biện pháp 1: Sửa lỗi về chính tả.

Khi sửa lỗi về chính tả, tôi cho học sinh nêu từ sai (từ đã được giáo viên chỉ ra trong vở)

Ví dụ:

Từ học sinh viết : khuôn mặc

Giáo viên hỏi: Em hãy nhận xét về lỗi sai trong bài viết của bạn?

Học sinh nhận xét: Từ khuôn mặc bạn đã viết sai chữ mặc, sai ở phần vần, sai

âm cuối: âm “ t” bạn lại viết âm “ c”

Vậy từ được dùng trong câu văn này phải là từ gì để thay cho từ khuôn mặc: khuôn mặt

- Học sinh nêu từ: chái soan

- Học sinh nhận xét: Từ chái soan bạn đã viết sai cả hai chữ: chái và soan

Trang 5

sai âm đầu: “ tr”bạn viết “ch”

“x” bạn viết “s”

học sinh đọc lại: trái xoan

- Học sinh tiếp tục nêu từ sai: củng như

Giáo viên cho học sinh khác nhận xét: từ củng như bạn viết sai chữ củng

sai ở phần thanh điệu

thanh ngã (~) mà bạn viết thanh hỏi (,)

học sinh đọc lại: cũng như

Như vậy trong quá trình sửa lỗi chính tả, tôi cố ý để học sinh được sửa lỗi về âm đầu - phần vần - thanh điệu Sửa theo mô hình tiếng (vừa sửa vừa củng cố được mô hình tiếng cho học sinh)

Thanh

Âm Vần

Với cách sửa này dần dần tôi đã xây dựng cho học sinh thói quen nhận biết lỗi chính tả và các em biết nêu cách sửa nhanh gọn hơn Từ đó các em viết chính tả đúng hơn

Lưu ý:

Trong quá trình sửa lỗi chính tả, song song với việc sửa lỗi về ngữ âm tôi thường giúp học sinh xác định về nghĩa của từ Việc hiểu nghĩa của từ sẽ giúp các em tránh được lỗi chính tả một cách cơ bản và đây cũng là đặc trưng của môn Tiếng việt, để khắc phục tình trạng học sinh mắc lỗi phát âm theo vùng, miền

Ví dụ t/c l/n tr/ch

Ví dụ: Cùng một cách phát âm: mặt, mặc (phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa

lại khác nhau) : - mặt (khuôn mặt - danh từ)

- mặc (hoạt động mặc quần,áo - động từ)

hoặc: củng - cũng

củng - dùng trong từ : củng cố (nhắc lại cho nhớ)

cũng - dùng trong : cũng như (so sánh)

Trang 6

Do nghĩa của hai từ khác nhau nên khi dùng từ cần chú ý đặt mỗi từ sao cho phù hợp với văn cảnh

Vì vậy nếu các em viết sai lỗi chính tả có thể dẫn đến sai nghĩa của từ.

*Biện pháp 2: Sửa lỗi về từ.

Khi sửa lỗi về từ giáo viên cho học sinh lần lượt nêu câu có từ sai và ghi bảng:

Ví dụ: Mái tóc của bà em bạc phếch theo thời gian.

Giáo viên: Câu văn bạn viết như thế đã hay chưa?

Nếu học sinh không phát hiện ra lỗi sai của bạn thì giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi ý cho học sinh

Giáo viên: Trong câu văn trên bạn đã dùng từ phù hợp chưa? đó là từ nào?

Học sinh: Từ bạc phếch

Giáo viên: Em hãy giúp bạn tìm từ thay thế cho phù hợp?

Học sinh : bạc trắng, bạc phơ.

Tuy nhiên ở điểm này, tôi lưu ý học sinh không chỉ tìm từ đúng để thay thế mà còn phải chú ý đến văn cảnh để chọn từ thay thế phù hợp với văn cảnh

Trong trường hợp này thay từ bạc phếch bằng từ bạc trắng là hợp lý hơn cả: Mái

tóc của bà em bạc trắng theo thời gian.

Đó là hiện tượng sai từ gần nghĩa học sinh rất dễ sửa vì các em sẽ tìm được từ thay thế kiểu như :

- Dáng người cô cao ráo

- Mắt bà đã không sáng

-Tính bạn An rất nhân từ

- Dáng người cô cao cao.

- Mắt bà đã không còn tinh tường như trước.

- Tính bạn An rất hiền.

Tuy nhiên có những học sinh khi viết dùng từ sai khó giải thích, khó nhận biết

Để học sinh hiểu được nghĩa văn bản, giáo viên cho học sinh đọc lại câu sai và gợi ý bằng các từ liên quan

Ví dụ: Tấm lòng từ cô phát ra làm em kính trọng cô.*

Giáo viên gợi ý : Từ nào em thấy không phù hợp ?

Học sinh : Từ không phù hợp là từ “ phát ra”.

Giáo viên : Đúng chính từ này đã làm cho câu văn không rõ nghĩa, em hãy tìm từ thay thế ?

Học sinh : nói ra, lộ ra, sáng ra,

Trang 7

Giáo viên: Vẫn không rõ nghĩa, vậy trong trường hợp này ta phải đặt các từ đó vào trong câu và xét xem đã phù hợp với văn cảnh hay chưa

Tấm lòng của cô như thế nào làm em kính trọng cô?

Học sinh : Tấm lòng nhân ái của cô làm em kính trọng cô.

Giáo viên : Như vậy ta phải thay: từ phát ra bằng từ nhân ái.

Cơ sở để các em tìm từ đúng trong trường hợp này là em phải tìm từ trung tâm,

từ xương sống quyết định nghĩa câu văn như ví dụ sau:

Đôi mắt cô lấp lánh như giọt nước luôn nhìn chúng em trìu mến.**

Giáo viên: Trong câu, cụm từ nào dùng không hợp lý ?

Học sinh : Cụm từ “ lấp lánh như giọt nước.”

Giáo viên: Cụm từ “lấp lánh như giọt nước” không hợp lý ở điểm nào?

Học sinh: So sánh không hợp lý Đôi mắt lấp lánh - giọt nước

Học sinh: Từ sai Đôi mắt lấp lánh.

Học sinh đã chỉ ra được 2 lỗi sai:

- Sai từ : lấp lánh.

- Sai cách so sánh : Đôi mắt lấp lánh - như giọt nước.Vì thế các em sẽ nhanh

chóng tìm được từ thay thế

Đôi mắt sáng, hiền từ của cô luôn nhìn chúng em trìu mến.

Giáo viên : Cơ sở để em dùng được từ hiền từ thay thế cụm từ sai ở trên là gì? Học sinh: Là nhờ có ngữ nhìn chúng em trìu mến.

Giáo viên : Vậy chính từ trìu mến trong ngữ nhìn chúng em trìu mến là đốt sống giúp các em tìm được từ hiền từ thay thế.

*Biện pháp 3: Sửa lỗi về câu.

Với đối tượng học sinh tiểu học hiện tượng viết câu sai về ngữ pháp, không rõ nghĩa, câu dài dòng, câu không liên kết ý là phổ biến Chúng ta rất dễ bắt gặp trong bài văn của các em, kể cả bài văn của học sinh giỏi Điều đó bắt nguồn từ thực tế, các

em “nghĩ gì viết ấy, nói sao viết vậy” Vì thế sửa câu là giúp học sinh biết cách viết

câu đúng, biết trau chuốt câu qua cách diễn đạt, cách sử dụng hợp lý các biện pháp nghệ thuật tu từ (nhân hóa, so sánh…) Tôi cũng cố ý chọn sửa câu theo hệ thống sau:

- Câu sai về ngữ pháp

- Câu sai về diễn đạt (lủng củng, dài dòng, cộc lốc )

- Câu sai về ý ( thiếu ý, không rõ ý )

Trang 8

Phần sai diễn đạt, thiếu ý, sai ý, không rõ ý, tôi giúp các em sửa sai bằng cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ thường sử dụng cho bậc tiểu học

* Sửa câu sai ngữ pháp:

Ví dụ:

Trong lớp em, em chơi thân với Nam Là bạn tốt của em.*

Giáo viên: Em hãy chỉ ra câu sai?

Học sinh: Là bạn tốt của em

Giáo viên : Nhận xét lỗi sai?

Học sinh : Sai về cấu trúc ngữ pháp, câu không có chủ ngữ

Chủ ngữ ? là bạn tốt của em

Giáo viên : Em hãy sửa lại

Học sinh : Nam / là bạn tốt của em

C V

Vậy với cách sửa câu theo cấu trúc ngữ pháp sẽ giúp em có ý thức viết câu đúng ngữ pháp, củng cố kiến thức ngữ pháp và lưu ý các em khi viết câu phải chú ý đến cấu trúc C-V

* Sửa về trật tự ngữ pháp trong câu.

Ví dụ:

Bạn Mạnh Tuấn năm nay bằng tuổi em cũng học lớp 5 với em.

Giáo viên : Em nhận xét câu trên: Về cấu trúc ngữ pháp ?

Học sinh: Cấu trúc ngữ pháp đúng :

Bạn Mạnh Tuấn năm nay (chủ ngữ)

Bằng tuổi em, cũng học lớp 5 với em.( vị ngữ )

Giáo viên : Nhưng ở câu này có gì không ổn?

Học sinh : Không ổn ở trật tự câu

Giáo viên : Em hãy sửa lại giúp bạn

Học sinh : Năm nay, bạn Mạnh Tuấn

Giáo viên: Vậy trường hợp này nên để năm nay làm trạng ngữ sẽ hợp lý hơn bổ

ngữ

Trang 9

Giáo viên: Vị ngữ vẫn còn chưa hợp lý, em hãy thay đổi vị trí xem sao?

Học sinh: Học lớp 5 với em và cũng bằng tuổi em

Giáo viên: Như vậy sau khi sửa ta có câu:

Năm nay, bạn Mạnh Tuấn học lớp 5 với em và cũng bằng tuổi em.

Giáo viên : Em hãy diễn đạt lại để câu gọn ý hơn

Năm nay, cũng như em, Mạnh Tuấn đang học lớp 5.

Giáo viên : Vậy là bạn đã dùng một vị ngữ của câu làm trạng ngữ

Thế nên: Ta có thể thay đổi trật tự của câu, hoặc thay đổi chức năng ngữ pháp trong câu để sửa câu, làm cho câu rõ ý, gãy gọn và trong sáng hơn nhưng ý nghĩa của câu vẫn không thay đổi

* Lưu ý :

Với cách sửa câu sai ngữ pháp bằng cách cung cấp đủ kết cấu chủ ngữ - vị ngữ hoặc thay đổi chức năng ngữ pháp của câu sai sẽ làm cho câu có ý tường minh hơn,

dễ hiểu hơn Việc sửa bài trực tiếp tại bảng lớn với sự tham gia tích cực của cả lớp, của mỗi cá nhân sẽ tạo cho học sinh hứng thú và không còn cảm thấy ngại trước một câu tưởng như không sửa được

* Sửa câu có lỗi về diễn đạt.

Ví dụ:

Vừa gặp bạn chưa nói câu nào miệng bạn đã cười, cái mũi bạn cao rất th, nước da bạn trắng hồng và mịn như em bé mới sinh, mái tóc bạn đen láy buông xõa xuống vai, bạn mặc không bị bẩn áo trắng.

Đây là một ví dụ thường gặp về lỗi diễn đạt của học sinh Với những câu này tôi sửa theo từng bước sau:

Bước 1: Sửa lỗi về diễn đạt

Yêu cầu học sinh đọc to câu văn

Giáo viên: Em có suy nghĩ như thế nào khi đọc câu văn này?

Học sinh: Câu văn dài dòng, luộm thuộm

Học sinh: Em thấy câu văn không rõ ý…

Giáo viên: Đây là lỗi về diễn đạt

Bước 2: Sửa từng ý, từng câu

Yêu cầu học sinh đọc lại câu văn

Giáo viên : Em có nhận xét gì khi đọc câu văn trên ?

Trang 10

Học sinh : Bạn đã dùng từ lặp nhiều: miệng bạn, cái mũi bạn, nước da bạn, mái tóc bạn

Giáo viên : Em hãy giúp bạn khắc phục lỗi này ?

Học sinh: Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, bạn đã cười, mũi cao rất thính, da trắng hồng như em bé mới sinh, mái tóc đen láy buông xõa xuống vai, bạn mặc không bị bẩn áo trắng.

Yêu cầu học sinh đọc lại câu vừa mới sửa lỗi về dùng từ lặp

Giáo viên : Em có nhận xét gì về sự liên kết giữa các vế câu ?

Học sinh: Câu văn không có sự liên kết (tả cách ăn mặc lạc lõng với khuôn mặt) Giáo viên: Vậy em hãy sửa như thế nào để câu văn hay hơn ?

Học sinh: Bỏ vế tả cách ăn mặc

Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, bạn đã cười, đôi mắt đen láy, rất hợp với cái mũi cao và mái tóc dài xõa xuống vai, da trắng hồng như em bé mới sinh.

Giáo viên: Em hãy nhận xét về cách dùng từ miêu tả ?

Học sinh: Dùng từ miêu tả chưa phù hợp :

mũi thính (thính dùng cho con vật đánh hơi) tóc đen láy (đen láy dùng tả đôi mắt phù hợp hơn) Giáo viên : Em hãy sửa giúp bạn

Học sinh: Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, bạn đã cười, đôi mắt đen láy, rất hợp với cái mũi cao và mái tóc dài xõa xuống vai, da trắng hồng như em bé mới sinh.

Giáo viên : Em nhận xét vì sao câu vẵn chưa sinh động?

Học sinh: Bạn biết dùng từ so sánh nhưng so sánh sai:

Da trắng - như em bé

Giáo viên: Em hãy sửa bằng cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh hoặc liên tưởng? Học sinh: Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, em đã thấy bạn cười, nụ cười thân thiện

nở thật tươi và đôi mắt cũng cười Mái tóc đen, dài xõa xuống vai thật duyên dáng Cái mũi cao rất xinh được đặt trên làn da trắng mịn như da em bé làm bạn thêm đẹp

Ví dụ:

Đọng lại trên những chiếc lá xanh thẫm, trên cái trán đã nổi nhiều vết nhăn của ông là những giọt mồ hôi như muốn tưới cây giúp ông.

Ngày đăng: 21/05/2016, 13:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w