Mặc dù hội thoại đã được đưa thành một nội dung học tập trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, nhưng để hiểu rõ hơn về hội thoại và thực hiện giảng dạy các bài học có nội dung hội
Trang 1CHUYÊN ĐỀ GIẢI PHÁP DẠY TỐT KĨ NĂNG HỘI THOẠI TRONG PHÂN
MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 5
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp là hoạt động bình thường của mọi người Trong giao tiếp, hội thoại chiếm tỉ lệ thời gian rất lớn Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng Các nhân vật trò chuyện, trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn biến của cốt truyện Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhân vật
Hội thoại có vị trí quan trọng như thế trong đời sống và trong văn học nên việc đưa hội thoại vào nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ Việc chú ý đến dạy hội thoại trong nhà trường giúp học sinh giao tiếp ngày càng linh hoạt sinh động
Chương trình môn tiếng Việt ở tiểu học đã đặt mục tiêu “ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nói, nghe, viết ) để học tập giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi”
Xuất phát từ mục tiêu trên mà nội dung dạy tiếng Việt ở tiểu học đã chú trọng đến dạy phát triển lời nói cho học sinh thông qua nội dung dạy hội thoại
Mặc dù hội thoại đã được đưa thành một nội dung học tập trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, nhưng để hiểu rõ hơn về hội thoại và thực hiện giảng dạy các bài học có nội dung hội thoại còn là một khó khăn đối với giáo viên Qua thực tế
giảng dạy và học hỏi kinh nghiệm, tôi chọn nghiên cứu và tìm hiểu về: “Giải pháp
dạy tốt kĩ năng hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 5”.
II NỘI DUNG DẠY HỘI THOẠI Ở TIỂU HỌC
1 Nội dung chương trình
1.1 Kiến thức Tập làm văn
Trang 2- Sơ giản về liên kết câu, đoạn văn
- Văn miêu tả (tả cảnh, tả người)
- Văn bản thông thường: đơn từ, báo cáo thống kê, biên bản, chương trình hoạt động
- Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận
1.2 Kĩ năng
a) Nghe
* Nghe và kể lại câu chuyện Nhận xét về nhân vật trong truyện
* Nghe - thuật lại bản tin, văn bản phổ biến khoa học
* Nghe và tham gia ý kiến trong trao đổi thảo luận
* Nghe - viết chính tả một đoạn văn, đonạ thơ, bài thơ
* Nghe - ghi chép một số thông tin, nhân vật, sự kiện
b) Nói
- Kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc; thuật lại sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia
- Trao đổi, thảo luận về đề tài phù hợp với lứa tuổi; bày tỏ ý kiến, thái độ về vấn đề đang trao đổi, thảo luận
- Giới thiệu về lịch sử, văn hoá, các nhân vật tiêu biểu,… của địa phương Chuẩn kiến thức và kĩ năng
Nói:
Sử dụng nghi thức
lời nói
Biết dùng lời nói phù hợp với quy tắc giao tiếp khi bàn bạc, trình bày ý kiến.
Xưng hô lịch sự, dùng từ, đặt câu phù hợp với mục đích nói năng.
Thuật việc, kể
chuyện
Biết kể lại một câu chuyện đã nghe, đã đọc; chuyển đổi ngôi kể khi kể chuyện;
thuật lại một việc đã biết hoặc đã tham gia.
- Kể câu chuyện đã nghe, đã chứng kiến bằng lời kể, bằng lời của nhân vật trong câu chuyện.
- Thuật lại một việc thành bài
có độ dài khoảng 15 - 20 câu
Trang 3Trao đổi, thảo luận
Biết giải thích để làm rõ vấn đề khi trao đổi ý kiến với bạn bè, thầy cô Bước đầu biết nêu lí lẽ để bày tỏ sự khẳng định hoặ phủ định.
Phát biểu, thuyết
trình
Biết giới thiệu thành đoạn hoặc bài ngắn
về lịch sử, văn hoá, về các nhân vật tiểu biểu, … của địa phương.
2 Tổ chức dạy hội thoại
Một bài tập dạy hội thoại có thể thực hiện theo một trong hai hướng: Hướng phân tích và hướng thực hành
2.1 Dạy hội thoại theo hướng phân tích
Là cách dạy đưa ra những nhận xét, đánh giá các yếu tố tạo thành tình huống giả định nêu ra trong đề bài Sự phân tích này làm rõ đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, đề tài giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp Từ đó đưa ra dự kiến các lời hội thoại phù hợp nhất với đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp
Việc phân tích các tình huống hội thoại để chỉ ra các yếu tố của ngữ cảnh và tìm ra lời thoại phù hợp Lúc này thật sự cuộc thoại chưa diễn ra Cả thầy và trò đều phỏng đoán về diễn biến của cuộc thoại Cách dạy này mang tính chất duy lí, dự báo chứ chưa tạo ra cuộc hội thoại đích thực, không quan sát, đánh giá nó trong diễn biến thực tế Vì vậy, khi dạy cần coi phân tích tình huống giao tiếp giả định như một biện pháp dạy mở đầu tiết học về hội thoại sau đó chuyển sang tổ chức thực hành cuộc thoại theo đề bài, chứ không dùng duy nhất phân tích tình huống giao tiếp giả định như một phương pháp dạy học
2.2 Dạy hội thoại theo hướng thực hành
Giao tiếp là hoạt động thực tiến nên cách tốt nhất để nhanh chóng trao dồi năng lực giao tiếp cho học sinh là đưa các em vào hoạt động thực hành Dựa trên tình huống giao tiếp giả định trong đề bài hội thoại, giáo viên tổ chức cho học sinh
Trang 4thực hành tình huống đó trên lớp Phương pháp thích hợp nhất lúc này là đóng vai Giáo viên chỉ cần thống nhất với cả lớp các yếu tố giao tiếp chi phối cuộc thoại đã quy định trong đề bài, còn các hoạt động hội thoại ( lời nói, nét mặt, cử chỉ …), quá trình hội thoại diễn ra như thế nào cứ để cho học sinh đóng vai sáng tạo và tự hoàn thiện dần qua các lần luyện tập
Ví dụ: Bài “ Luyện tập thuyết trình, tranh luận” (TV5, Tập 1 trang 91)
Bài tập 2: Hãy đóng vai một trong ba bạn Hùng, Quý, Nam (trong bài Cái gì quý nhất) nêu ý kiến tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để lời
tranh luận thêm sức thuyết phục
Mẫu: (Hùng) - Theo tớ, quý nhất là lúa gạo Lúa gạo quý như vàng Trong bài
Hạt gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã gọi hạt gạo là “ hạt vàng làng ta ” Lúa
gạo nuôi sống tất cả mọi người Có ai trong chúng ta không ăn mà sống được đâu?
( Bài tập 2 trang 91 - TV5, Tập 1)
Với bài tập này, giáo viên chỉ cần thống nhất với học sinh:
Nhân vật tham gia hội thoại: Hùng, Quý, Nam
Đề tài hội thoại: về cái gì quý nhất trên đời
Hoàn cảnh giao tiếp: ở lớp học (diễn lại cảnh các bạn trên đường đi học về)
Tình huống hội thoại: 3 bạn tranh luận về cái gì quý nhất ở trên đời
Đích hội thoại: Học sinh phải nêu được ý kiến tranh luận về cái gì quý nhất (bằng cách mở rộng lí lẽ và dẫn chứng để lời tranh luận thêm sức thuyết phục) Dạy hội thoại theo hướng thực hành có thế mạnh là đưa học sinh tắm mình trong thực tiễn hội thoại, khai thác kinh nghiệm hội thoại có sẵn của các em để nâng cao lên Do đó, giúp các em thêm tự tin và mạnh dạn; đồng thời hứng thú học tập hội thoại Cả giáo viên và học sinh cùng bình luận, đánh giá cuộc hội thoại như nó
đã diễn ra trong thực tiễn và học được chứng kiến
Khi dạy bài hội thoại, nếu chỉ có hoạt động thực hành hội thoại thì không đủ,
vì bên cạnh việc rèn luyện kĩ năng hội thoại còn cần nâng dần hiểu biết có tính lí luận nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng hội thoại Vì vậy cần kết hợp phương
Trang 5thức dạy hội thoại theo hướng thực hành với sử dụng biện pháp phân tích hội thoại khi cần thiết
III PHƯƠNG PHÁP ĐẶC TRƯNG: Đóng vai
Mỗi bài tập dạy hội thoại Tiểu học nhằm thực hiện một tình huống giao tiếp giả định Dạy hội thoại theo hướng phân tích, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp hỏi đáp (giữa thầy và trò, giữa trò và trò) để phân tích tình huống giao tiếp giả định, phân tích cuộc hội thoại dự báo sẽ diễn ra Còn dạy hội thoại theo hướng thực hành chủ yếu là tập trung tạo ra cuộc hội thoại phù hợp yêu cầu đề bài bằng phương pháp đóng vai Học sinh sẽ tham gia đóng các nhân vật hội thoại và thực hiện cuộc giao tiếp như đề bài quy định
a) Đóng vai chỉ là một cách thức, một phương pháp để học cinh học tập Nó diễn ra ngay trong lớp học, không đòi hỏi sự trang trí phức tạp Các đoạn thoại kế tiếp nhau để phát triển đề tài hội thoại, thúc đẩy giao tiếp tự hình thành và hoàn thiện ngay trong thực tiễn đóng vai, do cả thầy và trò cùng tham gia sáng tạo
Người tham gia đóng vai là học sinh trong tổ, trong lớp Các em đóng vai nhằm nhằm tập dượt theo đề bài tập hội thoại Sản phẩm của các lần đóng vai là các màn hội thoại hoặc giao tiếp, các sản phẩm này sẽ được các bạn trong lớp phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm; nhờ đó, các lần tập dượt hội thoại tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn, tốt hơn Mục đích của việc đóng vai là hoàn thành một bài tập hội thoại; thông qua đó hình thành kĩ năng hội thoại, tích luỹ các kinh nghiệm ứng xử trong hội thoại để chuẩn bị cho các cuộc hội thoại đích thực các em sẽ trải qua trong cuộc đời
Khi đóng vai, học sinh cần chú ý không chỉ lời nói mà còn cả các động tác hình thể, cách biểu cảm trên nét mặt, trong giọng nói có tác động đến hiệu quả hội thoại
b) Khi tổ chức đóng vai thực hiện một tình huống giao tiếp giả định, ngoài hội thoại, giáo viên có thể dùng kết hợp thêm nhiều biện pháp để phát triển đề tài như: phiếu bài tập, đưa ra lời giải trên giấy, hỏi - đáp, sử dụng các đồ dùng dạy học…
Trang 6c) Hội thoại trong hoạt động đóng vai được thực hiện trong mỗi giai đoạn của cuộc giao tiếp với những chức năng nhiệm vụ khác nhau:
Đoạn thoại mở đầu cuộc giao tiếp: bao gồm những nghi thức lời nói dùng trong lúc gặp gỡ, làm quen và các lời thoại giới thiệu đề tài giao tiếp
Đoạn thoại triển khai đề tài giao tiếp: gồm những đoạn thoại của các nhân vật trò chuyện và thương lượng hay trình bày, phân tích trao đổi, thảo luận…
Đoạn thoại kết thúc cuộc giao tiếp: gồm những nghi thức lời nói dùng trong lúc kết thúc cuộc giao tiếp
Ví dụ: Bài “ Tập viết đoạn đối thoại” TV5, tập 2 (trang 77 - 78)
1 Đọc đoạn trích sau của truyện Thái sư Trần Thủ Độ:
Có lần, Linh Từ Quốc Mẫu, vợ ông, muốn xin riêng cho một người làm chức câu đương Trần Thủ Độ bảo người ấy:
- Ngươi có phu nhân xin cho làm chức câu đương, không thể ví như những câu đương khác Vì vậy, phải chặt một ngón chân để phân biệt.
Người ấy kêu van mãi, ông mới tha cho.
2 Dựa theo nội dung của đoạn trích trên, em hãy cùng các bạn trong nhóm viết tiếp một số lời đối thoại để hoàn chỉnh màn kịch theo gợí ý sau:
Xin Thái sư tha cho!
3.Phân vai đọc lại ( hoặc diễn thử) mà kịch trên
IV QUY TRÌNH DẠY HỘI THOẠI
Bước 1: Phân tích tình huống hội thoại nêu ra trong đề bài.
Ở bước này, cần làm rõ các nội dung:
Đề tài hội thoại
Nhân vật tham gia hội thoại
Hoàn cảnh xã hội
Môi trường xảy ra hội thoại
Đích của hội thoại
Vấn đề cần giải quyết qua hội thoại
Trang 7Bước 2: Phác hoạ diễn biến chính cuộc thoại bằng lời
Giáo viên cho học sinh dựa trên kết quả phân tích tình huống hội thoại, mỗi
em nêu ra cách giải quyết vấn đề đặt ra trong bài tập Các em dùng trí tưởng tượng kết hợp với các hiểu biết của bản thân liên quan đến đề tài để nêu ra khái quát các diễn biến chính trong một cuộc thoại Dựa vào diễn biến chínhvà nội dung chủ yếu
mà khi thực hành hội thoại học sinh sẽ tự tìm ra lời hội thoại cụ thể
Bước 3: Thực hành hội thoại
Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành cuộc thoại theo tình huống được bài tập đặt ra theo phươg pháp đóng vai
Khi thực hành, dựa trên gợi ý những diễn biến chính của cuộc thoại, từng nhân vật phải tìm ra lời thoại của mình
Tổ chức thực hành tối thiểu 2 lần hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc theo quỹ thời gian Sau mỗi lần thực hành, giáo viên và học sinh nhận xét về:
Mức độ phù hợp của lời thoại với nội dung cuộc thoại, với hoàn cảnh xã hội, với môi trường và nhân vật tham gia hội thoại
Việc giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc thoại
Đích của hội thoại
Cách sử dụng ngữ điệu, các yếu tố phụ trợ cho lời nói, nhằm giúp cho lần thực hành sau phát triển các kết quả đạt được, khắc phục các nhược điểm của lần thực hành trước
V CÁC KIỂU DẠY BÀI TẬP HỘI THOẠI
Nội dung dạy hội thoại được được phân phối ở sách tiếng Việt lớp 5: Tập thuyết trình, tranh luận, chuyển thể các câu chuyện thành cuộc thoại Cụ thể:
1 Kiểu bài tập dạy tập thuyết trình, tranh luận
a) Cấu trúc của bài tập
Bài tập này đưa ra một đề tài ( mẩu chuyện hoặc bài ca dao … ), sau đó yêu cầu học sinh nêu ý kiến tranh luận, thuyết trình bằng cách mở rộng lí lẽ và dẫn chứng
Trang 8Bài tập 1: Hãy đóng vai một trong ba bạn Hùng, Quý, Nam ( trong bài Cái gì
quý nhất ) nêu ý kiến tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để lời tranh luận thêm sức thuyết phục
Mẫu: (Hùng) - Theo tớ, quý nhất là lúa gạo Lúa gạo quý như vàng Trong bài
Hạ gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã gọi hạt gạo là “ hạt vàng làng ta ” Lúa gạo nuôi sống tất cả mọi người Có ai trong chúng ta không ăn mà sống được đâu? (Bài tập 2 trang 91 - TV5, tập 1)
* Với bài tập này, học sinh phải tạo ra được các đoạn thuyết trình ngắn phù hợp với tình tiết trong truyện nhằm thuyết phục người nghe
Đây là bài tập đầu tiên giúp học sinh làm quen với thuyết trình, tranh luận nên
đã có gợi ý sẵn ngay sau yêu cầu của bài nhằm định hướng cho học sinh Điều này
có ưu điểm và hạn chế nhất định:
+ Ưu điểm
- Học sinh có thể dựa vào mẫu để đóng vai Quý hoặc Nam trình bày ý kiến của mình một cách nhanh chóng, dễ dàng, không cần sáng tạo
- Phát huy được khả năng giao tiếp ( thuyết trình, trao đổi, …) cho học sinh + Hạn chế
- Tiếp thu bài thụ động, theo khuôn mẫu
- Lí lẽ và dẫn chứng các em đưa ra thường ngắn, đơn giản, xoay quanh ý kiến của nhân vật trong bài
- Học sinh chưa gắn được ý kiến của các nhân vật trong bài với các vấn đề trong cuộc sống do vốn kinh nghiệm, ngôn ngữ của các em còn hạn chế Do vậy mà
ý kiến các em đưa ra thường chưa phong phú
- Khả năng sáng tạo của học sinh chưa rõ ràng
b) Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập
- Thao tác 1: Đọc kĩ lại mẩu chuyện, xác định số ý kiến của các nhân vật, những điểm có lí của từng ý kiến mà các nhân vật nêu ra, đọc kĩ mẫu
- Thao tác 2: Phân tích những điểm có lí trong từng ý kiến
Trang 9- Thao tác 3: Sáng tạo thêm các các lí lẽ và dẫn chứng nhưng vẫn đảm bảo lí
lẽ và dẫn chứng gốc
Bài tập 2: Dựa vào ý kiến của một nhân vật trong mẩu chuyện dưới đây, em
hãy mở rộng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết trình, tranh luận cùng các bạn:
Đất, Nước, Không Khí và Ánh Sáng đều tự cho mình là người cần nhất đối với cây xanh
Đất nói:
- Tôi có chất màu để nuôi cây lớn Không có tôi, cây không thể sống được! Nước kể công:
- Nếu chất màu không có nước vận chuyển thì cây có lớn lên được không? Không Khí chẳng chịu thua:
- Cây xanh rất cần khí trời Không có khí trời thì tất cả cây cối đều chết rũ Còn Ánh Sáng nhẹ nhàng nói:
- Cây cối dù có đủ đất, nước, không khí nhưng thiếu ánh sáng thì sẽ không thể
có màu xanh Không có màu xanh thì còn gọi là cây xanh sao được!
( Bài tập 1 trang 93 - TV5, tập 1 )
* Giống như bài tập 1, bài tập này học sinh phải tạo ra được các đoạn thuyết trình ngắn phù hợp với tình tiết trong truyện nhằm thuyết phục người nghe Nhưng
do là tiết thứ hai nên không cần có gợi ý sẵn ngay sau yêu cầu của bài Điều này có
ưu điểm và hạn chế nhất định:
- Ưu điểm
+ Học sinh tự do tìm lí lẽ và dẫn chứng theo quan điểm của mình
+ Ý kiến đưa ra đa dạng, phong phú
+ Học sinh tự khám phá ra kiến thức cho mình
+ Tiếp thu bài nhanh, chắc chắn
+ Phát triển khả năng sáng tạo lời thoại, ngôn ngữ, tư duy, khả năng lập luận
có lí cho học sinh
- Hạn chế: Những học sinh trình độ đại trà hoặc yếu sẽ gặp khó khăn trong việc sáng tạo được lời thoại, tìm lí lẽ, dẫn chứng
Trang 10* Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập:
- Thao tác 1: Đọc kĩ lại mẩu chuyện, xác định số nhân vật và ý kiến của các nhân vật, những điểm có lí của từng ý kiến mà các nhân vật nêu ra
- Thao tác 2: Phân tích những điểm có lí trong từng ý kiến, sự cần thiết của từng thành phần: đất, nước, không khí, ánh sáng trong đời sống
- Thao tác 3: Sáng tạo thêm các lí lẽ và dẫn chứng nhưng vẫn đảm bảo lí lẽ và dẫn chứng gốc
Bài tập 3: Hãy trình bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ
sự cần thiết của cả trăng và đèn trong bài cao dao sau:
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đè ra trước gió còn chăng, hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?
Bài tập này giống bài tập 2, chỉ có một khó khăn khác đối với học sinh: đối với học sinh thành phố thì sự hiểu biết về sự cần thiết của chiếc đèn dầu trong cuộc sống trước khi có điện rất khó hình dung đối với các em, kinh nghiệm thực tế không
có, mặt khác việc ngắm trăng đối với trẻ em thành phố là cái gì đó xa vời nên việc xâu chuỗi các sự kiện để tìm lí lẽ và dẫn chứng đưa ra nhằm thuyết phục được mọi người là rất khó nếu không có sự trợ giúp của giáo viên Do vậy khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập giáo viên nên thu thập tư liệu ( tranh ảnh, băng hình, tin tức ) nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự cần thiết của chiếc đèn dầu trong cuộc sống của ông cha ta, từ đó học sinh mới có thể thực hiện được bài tập đầy đủ, phát huy khả năng sáng tạo, ngôn ngữ cho học sinh, mặt khác tích hợp việc hiểu cuộc sống của con người cho học sinh
2 Kiểu bài tập dạy chuyển thể các câu chuyện thành cuộc thoại
a) Cấu trúc của bài tập
Bài tập này nêu ra một đoạn chuyện hay một câu chuyện, sau đó yêu cầu học sinh chuyển thành một đoạn thoại hay một cuộc thoại theo một số gợi ý Sách tiếng