1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5

27 569 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5

Trang 1

PHÒNG GD VÀ ĐT TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC AN NÔNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

An Nông, ngày 07 tháng 11 năm 2016

BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến

Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn

tập làm văn lớp 5

I/ Sơ lược lý lịch tác giả:

- Họ và tên: Cao Dương Huyền Trung Nam, nữ: Nam

- Ngày tháng năm sinh: 04 / 11 / 1972

- Nơi thường trú: Ấp Phú Cường, xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học An Nông

- Chức vụ hiện nay: Giáo viên

- Lĩnh vực công tác: Giáo viên dạy lớp 5B

II/.Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn tập làm văn lớp 5

III/ Lĩnh vực: Tập làm văn

IV/ Mục đích, yêu cầu của sáng kiến:

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung

ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế chỉ ra rằng Giáo dục Tiểu học là một bậc học nền tảng có vai tròquan trọng, tạo những cơ sở ban đầu cơ bản, bền vững về trí thức, hình thành nhữngđường nét phát triển nhân cách, giúp trẻ có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn

Thật vậy, chúng ta thấy, Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua bảyloại bài học khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, luyện từ và câu, kể chuyện,tập làm văn Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt xéttrên hai phương diện:

- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phânmôn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm đượcmột bài văn nói hoặc viết, học sinh phải hoàn thiện cả bốn kĩ năng nói, đọc, viết, nghe;phải vận dụng các kiến thức về tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng vàkiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần

- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết).Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặtqua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy,học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan

Trang 2

trọng bậc nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đờisống sinh hoạt, trong quá trình học sinh lĩnh hội các tri thức khoa học

Chính những văn bản nói, viết các em có được từ phân môn tập làm văn theo các nghithức lời nói, thuyết trình đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kỹ năng sử dụngTiếng Việt mà các em đã được học ở phân môn Tập làm văn qua kiểu bài miêu tả nhiềunhất, nó giúp cho học sinh tái hiện lại cuộc sống con người, phong cách thiên nhiên hiệnlên như một bức tranh nhiều màu sắc Nó giúp các em có tâm hồn văn học có tình yêuquê hương đất nước và cuộc sống con người

1/ Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến.

Trên thực tế hiện nay việc dạy phân môn Tập làm văn kiểu bài tả cảnh trong trường tiểuhọc, giáo viên và học sinh có nhiều thuận lợi và gặp không ít khó khăn như:

*Thuận lợi:

- Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học cũng được áp dụng hầu hết các mônhọc, trong đó có phân môn Tập làm văn làm cho giờ học thêm sinh động và khắc sâu kiếnthức cho học sinh nhiều hơn thông qua các hoạt động trong giờ học

- Kiểu bài tả cảnh các em cũng đã được làm quen với lớp 2, 3 Lên lớp 4, 5 các em lạitiếp tục rèn kỹ năng làm văn từ dễ đến khó ( Rèn kỹ năng viết đoạn, liên kết đoạn) rấtphù hợp nhận thức của học sinh tiểu học Đặc biệt trình tự tả cảnh cũng giống như ở lớp

4, đối tượng miêu tả của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc gần gũi với các

em, một dòng sông, một đêm trăng, một cánh đồng vì vậy các em dễ quan sát hơn

+ Một số giáo viên dạy còn áp đặt chỉ hướng dẫn học sinh theo yêu cầu của sách màchưa chú ý đến việc thâm nhập và khám phá cái hay, cái đẹp của bài văn

+ Đại đa số giáo viên chỉ chú ý đến học ở lớp mà chưa chú ý đến việc luyện tập ở nhà,chưa hướng cho các em tìm hiểu thêm sách, báo

+ Để đối phó với việc học của học sinh làm bài chưa hoàn thành, để đảm bảo chấtlượng nhiều giáo viên cho học sinh chép bài mẫu Vì vậy dẫn đến tình trạng cả thầy vàtrò nhiều khi bị lệ thuộc vào “mẫu” không thoát khỏi “mẫu”

+ Giáo viên chưa phối hợp linh hoạt, nhịp nhàng khi sử dụng các phương pháp làm chohọc sinh thường bị động và chưa phát huy tính tích cực của học sinh

- Học sinh:

+ Học sinh học rất nhiều kiến thức mới trong khi đó trình độ của các em thì hạn chế,các em còn lười suy nghĩ, chép đáp án mẫu, vay mượn ý tình của người khác thường làcủa bài mẫu nào đó Với cách khác học sinh thường sẵn sàng học thuộc văn mẫu, khilàm bài các em sao chép ra và biến thành bài làm của mình không kể đầu bài qui định

Trang 3

thế nào Với cách làm bài ấy các em không cần biết đến đối tượng miêu tả, không quansát và không có cảm xúc gì về cảnh vật được tả.

+ Phần lớn học sinh là vùng sâu, việc tiếp xúc với môi trường sống ở mức độ hẹp nênviệc sử dụng từ ngữ và làm bài chưa được sinh động, sử dụng từ ngữ chưa phong phú

2/ Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến.

Chúng ta đã tự hào tiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sứcbiểu cảm sâu sắc Nhưng một thực tế làm buồn lòng những thầy cô giáo chúng tôi vì họcsinh học tốt phân môn Tập làm văn còn quá khiêm tốn Khi nhận xét bài Tập làm văn, tôithấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan,nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy- học Tậplàm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 5? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên là mộtquá trình và cũng là mục đích cần hướng đến của các kỹ sư tâm hồn

Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích thực trạng

và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu

tả Với những lý do trên, tôi chọn và viết đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh ở phân môn Tập làm văn lớp 5 ”, trước hết là giúp nâng cao chất

lượng Tập làm văn cho lớp tôi phụ trách Sau đó, mục tiêu quan trọng hơn là góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung

3/ Nội dung sáng kiến.

Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mớiphương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại tả cảnh mộtcách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn

Để đạt được mục tiêu trên thì cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau:

* Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng.

* Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh.

* Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ.

* Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết các bài văn, thơ về tả cảnh Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh.

Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cáchnhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều

Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết trìnhbày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau:

3.1/ Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh

nói riêng.

Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nóiriêng giúp học sinh có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không bị sai lệch về cả nộidung và hình thức

- Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả:

+ Cụ thể hóa sự vật (tả cái gì?)

Trang 4

Ví dụ: Tả dòng sông thì tập trung tả dòng sông, không miên man tả sâu cảnh cánh

đồng nằm bên cạnh dòng sông, hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đócũng có liên quan

+ Cá thể hóa sự vật (tả như thế nào?) : Tả cảnh nào thì người đọc hình dung cảnh

đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác

Ví dụ: Tả cảnh dòng sông thì phải tả chủ yếu những yêu tố liên quan không thể

tách rời như: Nước, sóng, thuyền bè, bờ sông

+ Mục đích hóa sự vật (tả với mục đích gì)

Ví dụ: Tả dòng sông với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của

người dân quê hương

+ Cảm xúc hóa sự vật (tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao?)

Ví dụ: Tả dòng sông với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ

- Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả

+ Bước 1: Tìm hiểu đề

+ Bước 2: Quan sát tìm ý

+ Bước 3: Sắp xếp ý (lập dàn ý)

+ Bước 4: Viết bài hoàn chỉnh

+ Bước 5: Kiểm tra lại bài.

Tuy rằng hiện nay Sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho Tìm hiểu đề, quansát tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước kểtrên

Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗibước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương pháp cũngnhư cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm

Cụ thể:

* Bước 1: Tìm hiểu đề

- Tác dụng: Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề Nói cách

khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc thể loại

gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu

- Cách thực hiện: Hướng dẫn học sinh làm những công việc sau:

+ Đọc kĩ đề

+ Phân tích đề

Phân tích đề bằng cách:

- Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.

- Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.

- Gạch một nét đứt dưới các từ xác định giới hạn miêu tả.

Ví dụ:

Đề bài: Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm.

Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi:

?/ Hãy xác định thể loại làm văn?

?/ Đối tượng miêu tả là gì?

?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ?

Trang 5

Thể loại Đối tượng

Nơi em ở Một mùa trong năm Một cảnh

Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên, học sinh thực hành gạch chân trực tiếp trên đềbài

Đề bài: Hãy miêu tả một cảnh đẹp nơi em ở vào một mùa trong năm.

* Bước 2: Bước quan sát và tìm ý

- Tầm quan trọng: Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết

được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải

có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả

- Cách thực hiện: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu

tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thính giác, vị giác, khứugiác, xúc giác nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn

Luyện kĩ năng quan sát:

Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sát phải cócách nghĩ, cách cảm của riêng mình Quan sát để làm văn nhằm phản ánh một đối tượng

cụ thể , vừa chi tiết, vừa có tính khái quát Qua chi tiết , người đọc phải thấy được bảnchất của sự việc Vì vậy quan sát phải có lựa chọn Nếu yêu cầu các chi tiết cụ thể nhưng

đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê Chi tiết khôngcần nhiều mà phải chọn lọc, phải tinh Đó là những chi tiết lột được các thần của cảnh.Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điều quan trọng là phải quan sátbằng tấm lòng Mục đích quan sát sẽ quy định đối tượng và phương pháp quan sát Để tảcảnh, cần xác định vị trí quan sát thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát Quansát phảI luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả Để giúp quan sát và tìm ý, vớimỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không cóchất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép bài văn

từ những bài văn mẫu Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉnhững điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵnchất liệu để làm bài

Với bất kì một đề bài nào tôi cũng lập bảng quan sát và yêu cầu các en ghi kết quảquan sát vào bảng đó

Trang 6

Ví dụ: Khi tả dòng sông quê hương

Học sinh quan sát và hoàn thành bảng quan sát như sau:

Mắt thấy

(Thị giác)

- Sông rộng mênh mông, trải dài…

- Thuyền bè đi lại trên sông tấp nập…

- Sóng nhấp nhô…

- Bờ bên phải: bãi ngô xanh biêng biếc…

- Bờ bên trái: Bãi cát trải dài, trắng xoá…

- Mặt trời, mặt trăng soi báng xuống mặt nước…

- Mặt sông loang loáng lấp lánh…

- Lũ trẻ bơi lội tung tăng…

- Ánh đèn hai bên bờ tạo thành vết sáng loang loáng.

Tai nghe

( Thính giác)

- Sóng vỗ rì rào, soàn soạt…

- Bãi ngô bên bờ rì rầm, xào xạc…

- Tiếng gõ lanh canh của thuyền đánh cá …

- Tiếng hát của ngư dân trong đêm trên sông…

- ….

Mũi ngửi

( Khứu giác)

- Mùi tanh tanh của thuyền no bụng cá…

- Mùi hương thoang thoảng của những bãi ngô ven bờ…

-

Trang 7

Ví dụ : Dòng sông được quan sát theo trình tự thời gian.

- Bến sông nhộn nhịp tiếng cười nói.

Trưa - Mặt trời chiếu tia nắng chói chang làm sông đỏ ngầu

giận dữ, cuồn cuộn chảy về xuôi.

Chiều

- Mặt nước gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô vào hai bên bờ.

- Lũ trẻ tắm sông tha hồ lặn ngụp.

- Làn nước mát rượi ôm ấp lũ trẻ.

- Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bến.

Tối

- Trăng lên, ánh trăng toả xuống mặt sông.

- Mặt sông như trải rộng mênh mông, bàng bạc một màu.

- Ánh đèn hai bên bờ tạo thành vệt sáng lung linh.

- Tiếng gõ lanh canh của thuyền đánh cá đêm, tiếng hát của ngư dân làm dòng sông thêm đẹp, thêm sinh động.

Thu - Nước sông dâng cao, mấp mé bờ.

- Sóng cuồn cuộn xô vào bờ soàn soạt.

Nói tóm lại, giáo viên lưu ý cho học sinh khi quan sát một số điểm sau:

+ Khi quan sát học sinh phải nhìn ngắm cảnh trước mặt.

+ Học sinh phải quan sát nhiều lần, quan sát tỉ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh ở

thời gian, địa điểm khác nhau

Trang 8

+ Khi quan sát học sinh phải tìm ra những nét chính, trọng tâm của cảnh, sẵn sàng bỏ

đi những nét thừa không cần thiết ( Cho nên học sinh không cần điền tất cả các ô gợi ýtrên )

+ Học sinh cần phải tìm được nét tiêu biểu, đặc sắc của cảnh Phải bộc lộ cảm xúc

hứng thú say mê của mình trước đối tượng quan sát.

+ Học sinh phải tìm được những từ ngữ chính xác, những câu văn ngắn ngọn để ghi

lại những gì quan sát được

* Bước 3 Sắp xếp ý và lập dàn ý

 Sau khi quan sát và tìm ý, truớc khi lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác định trình

tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí Trình tự miêu tả trong văn tả cảnh có thể làtrình tự không gian, có thể là trình tự thời gian tuỳ theo từng cảnh để lựa chọn cho phùhợp

Ví dụ: Với bài tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian.

+ Trước cửa vườn:

+ Giữa vườn:

+ Góc vườn bên trái:

+ Góc vườn bên phải:

+ Cuối vườn:

Tuy nhiên, ta vẫn có thể chọn trình tự thời gian:

+ Khoảng trời phía đông ửng hồng

+ Mặt trời bắt đầu nhô lên sau rặng tre.

+ Khi ánh nắng ban mai bắt đầu toả xuống

+ Mặt trời lên cao.

Ví dụ: Với bài tả dòng sông chọn trình tự miêu tả là thời gian.

+ Dàn ý chung cho một bài văn tả cảnh cụ thể như sau

Trang 9

- Kết hợp tả hoạt động của người song chỉ lướt qua để tránh nhầm sang dạng bài tả cảnh sinh hoạt.

3 Kết bài + Nêu nhận xét, đánh giá:

+Tình cảm: … + Hành động :…

+ Dàn ý chung cho yêu cầu viết một đoạnvăn

Mở đoạn Giới thiệu cảnh sẽ tả

Thân đoạn Tả chi tiết những đặc điểm nổi bật của cảnh

Kết đoạn Nêu tình cảm, nhận xét đánh giá về cảnh.

Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, học sinh sẽ áp dụng để lập dàn ýchi tiết Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho học sinh viết thành bài văn cụ thể

Ví dụ:

Với bài văn tả dòng sông, ta có thể xây dựng 2 dàn ý chi tiết: Dàn ý lựa chọn miêu tảtheo trình tự không gian, dàn ý theo lựa chọn trình tự thời gian

+ Dàn ý tả dòng sông theo trình tự thời gian:

- Dòng sông như dãi lụa đào vắt qua cánh đồng lúa quê em.

- Mặt sông gợn lên những con sóng nhẹ.

- Bờ bên phải là bãi ngô xanh mướt ngả đầu vào nhau rì rầm trò chuyện.

- Bờ bên trái là con đường rải nhựa thẳng tắp, xe cộ qua lại nhộn nhịp.

- Thuyền trở người, chở lúa, thuyền đánh cá tấp nập qua lại như mắc cửi.

- Tiếng cười nói, tiếng động cơ xe nhộn nhịp bến đò ngang.

+ Buổi trưa: - Khi mặt trời giận dữ ném những tia nắng chói chang xuống

mặt sông khoác chiếc áo dát vàng lấp lánh.

- Nước sông đỏ ngầu, sóng lao vào bờ soàn soạt.

Trang 10

- Dòng sông hừng hực , hăm hở chảy về xuôi.

+ Buổi chiều:

- Sông lại hiền hoà như người mẹ.

- Sóng rì rào ca hát

- Làn nước trong mát

- Lũ trẻ tha hồ lặn ngụp vui đùa.

- Cuối chiều, đoàn thuyền no bụng cá trở về cập bến.

Trang 11

- Cánh hoa đỏ thắm mịn màng, khum khum úp sát vào nhau.

- Nàng Cúc cũng thay cho mình bộ váy vàng rực rỡ để chờ đón anh ong bước đến chơi.

- Các nàng thi nhau toả hương làm cả một khoảng không gian thơm mát.

+ Giữa vườn: - Hai hàng rau cải xanh mơn mởn chen nhau mọc.

- Những lá cải to bản thi nhau vươn cao hứng ánh nắng vàng óng.

+ Góc bên trái:

- Cây bưởi nặng nhọc mang trên mình những trái bưởi tròn lông lốc.

- Lũ sơn ca, hoạ mi ngủ đêm trên cành đang bay nhảy, cất tiếng hát véo von chào buổi sáng.

+ Góc bên phải: - Mấy anh ớt đỏ gầy leo kheo đã tỉnh giấc.

- Anh ngả nghiêng vặn mình trong gió

+ Cuối vườn:

- Mẹ con bác chuối lục đục gọi nhau dậy tập thể dục.

- Những cánh tay to bản giơ cao phần phật trong gió

- Mấy đứa chuối con thấy chuối mẹ tập vỗ tay reo vui làm chút sương cuối cùng rơi vội xuống đất.

3 Kết bài - Nhìn cảnh khu vườn vào buổi sáng mới thấy được vẻ đẹp và sức

sống mãnh liệt của cây cối nơi đây.

Lưu ý: Mỗi một ô của dàn bài chi tiết sẽ tạo thành một đoạn văn khi làm bài Tuy vậy, tùy

vào nội dung và khả năng mà các em có thể điều chỉnh thêm, bớt số đoạn cho phù hợp

* Bước 4: Tạo bài văn

Đây là giai đoạn quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất, đòi hỏi học sinh phải linhhoạt vận dụng nhiều kiến thức để làm Học sinh phải biết:

+ Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn

Trang 12

+ Vận dụng phong cách ngôn ngữ văn bản

+ Bám sát dàn bài để viết thành bài văn hoàn chỉnh.

Muốn học sinh làm tốt bước này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện theocác yêu cầu sau:

a/ Dùng từ

- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng , tình cảmmột cách rõ rang;

- Phải tuân thủ các tiêu chuẩn chính tả;

- Dùng từ gợi cảm, gợi tả: Thường là các từ đơn, từ ghép, từ láy, động từ, tính từ, …

- Dùng từ giàu hình ảnh, âm thanh: Thường là các từ láy, từ tượng hình, từ tượngthanh

- Sử dụng từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các biện pháp tu từ về từ;

Ví dụ:

+ Dùng từ chính xác : Mặt trăng tròn toả ánh sáng xuống vạn vật.

+ Dùng từ có hình ảnh: Mặt trăng tròn vành vạnh toả ánh sáng vằng vặc xuống vạn

+ Trong khi làm văn, học sinh phải viết câu văn đúng ngữ pháp nghĩa là bản thân em

đó phải xác định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, đâu là các vế trong câu ghép

+ Các em phải biết sử dụng các phép liên kết câu như: Phép lặp, phép thế, phép nối,phép liên tưởng, , biết sử dụng các biện pháp tu từ về câu( câu hỏi tu từ, đảo ngữ, điệpngữ, so sánh, nhân hoá )

Ví dụ :

- Phép liên kết câu: Mưa xuân lất phất bay Cây cối thi nhau đâm chồi nảy lộc, đưa

tay đón những hạt mưa xuân Với chúng, mưa xuân chính là liều thuốc tiên để sinh tồn

và phát triển

- Phép lặp: Dòng sông như dải lụa đào mềm mại Nó cứ chảy mãi, chảy mãi để mang

phù sa màu mỡ cho đất đai

- Biện pháp tu từ:

- Câu hỏi tu từ Bạn có biết cảnh đẹp mà người dân quê em rất đỗi tự hào là

cảnh gì không? Đó chính là dòng sông quê hương quanh năm đỏ

Trang 13

- So sánh - Mặt trời như quả bóng tròn, đỏ hồng treo lơ lửng trên bầu trời.

- Nhân hoá - Nàng Xuân xinh đẹp mang những sắc màu lộng lẫy khoác lên cỏ

cây, hoa lá

+ Học sinh phải phân biệt được câu văn kể với câu văn tả để khi viết sẽ sử dụng cáccâu văn miêu tả tránh dùng câu kể khiến người đọc có cảm giác như người viết đang kể lểdài dòng về cảnh

- Câu văn kể chỉ nêu một thông báo cho người đọc, người nghe

- Câu văn tả là câu văn phối hợp nhiều yếu tố ( Các kiểu câu, các loại câu, các biệnpháp tu từ về câu, các từ gợi tả, gợi cảm ) để người đọc, người nghe có thể cảm thấy đượchình ảnh, màu sắc, âm thanh, cảm xúc của cảnh đó

Ví dụ:

Mặt trời toả nắng xuống mặt đất Ông mặt trời vén màn mây trắng, toả

những tia nắng vàng óng như tơ xuống mặt đất.

Lúc nào sông cũng chảy để mang phù

sa cho đất

Hết năm này đến năm khác, sông cứ cần

mẫn chảy mang phù sa bồi đắp cho đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt.

c/ Dựng đoạn

c1 Cách trình bày đoạn văn

- Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng và thường biểu đạt một ýtương đối hoàn chỉnh Khi làm bài thông thường học sinh chỉ để ý đến từ, câu mà ít quantâm đến đoạn văn

- Cách trình bày một đoạn văn thường là diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích,tổng phân hợp Song đó không phải là phần lý thuyết giáo viên dạy cho học sinh tiểu học

mà nhiện vụ của giáo viên là giúp các em biết cách viết các đoạn văn, biết trình bày cácđoạn văn theo các cấu trúc trên

Ví dụ:

Diễn dịch

+ Câu mở đoạn nêu nhận xét đánh giá chung về đối tượng tả trong đoạn; các câu còn lại tả chi tiết đối tượng đó.

+ Ví dụ: Ôi, bầu trời đêm mới đẹp làm sao! Mặt trăng tròn, to như quả

bóng vàng treo lơ lửng trên bầu trời mờ đục, cao thăm thẳm Những vì sao như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh tô điểm cho chiếc áo đêm thêm lộng lẫy.

Ngày đăng: 20/12/2017, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w