1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn một số biện pháp tích cực để vận dụng vào dạy học sinh viết tốt tập làm văn lớp 5

32 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 11,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TP PLEIKUTRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TRÃI TỔ: 5 TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC SINH VIẾT TỐT TẬP LÀM VĂN LỚP 5 Họ và tên người viết: Ng

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TP PLEIKU

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TRÃI

TỔ: 5

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC

SINH VIẾT TỐT TẬP LÀM VĂN LỚP 5

Họ và tên người viết: Nguyễn Thị Huế

Chức danh: Giáo viên Năm học: 2015-2016

Trang 2

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU

Trang 3

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC SINH

VIẾT TỐT TẬP LÀM VĂN LỚP 5

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong trường phổ thông hiện nay, phân môn Tập làm văn có một vai trò hếtsức quan trọng Đây là một môn học có tính chất tổng hợp toàn diện, kiến thức liênquan đến nhiều môn học, nhiều ngành khoa học Tập làm văn là môn tổng hợp caonhất của tất cả các phân môn Tiếng Việt khác ở bậc tiểu học như: Tập đọc, Kểchuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu Vấn đề trọng tâm của phân môn Tậplàm văn là trau dồi và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh ( Ngôn ngữ nói và ngôn ngữviết)

Một lời nói, một câu văn khi chuyển đến người đọc hay người nghe đều chứađựng các nội dung, ý nghĩa thông tin cần thiết Muốn giao tiếp có hiệu quả ngườinghe, người đọc phải hiểu đúng nội dung, ý nghĩa thông tin của các ngôn bản nghe

và đọc Ở bậc Tiểu học các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, lúc nghe thầy, cô giảng,học sinh rèn luyện ngôn bản thông qua nghe hiểu và đọc nội dung Từ đó học sinhphải biết diễn đạt chính xác, đầy đủ những gì cần nói ra, viết ra Nhà văn Vũ TúNam từng nói: “Người viết phải là cây ăng ten nhạy cảm theo định hướng yêu cáiđẹp, trọng sự thật và quý điều thiện thì mới có hiệu quả, bắt được những làn sóng tốtlành.”

Tập làm văn có quan hệ chặt chẽ với Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu …

đó là quan hệ giữa kĩ năng sử dụng Tiếng Việt Tập làm văn rèn luyện kĩ năng sảnsinh ngôn bản viết Nếu không học tốt Tập làm văn, khả năng nói và viết bị hạn chế.Tập làm văn thừa hưởng, tận dụng vốn từ vựng nghệ thuật dùng từ, đặt câu, thu nhận

từ các môn :Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu…

Tập làm văn còn sử dụng các kiến thức sơ giản của từ đơn, từ ghép, từ láy, từtượng thanh, từ tượng hình, nghĩa của từ, câu đơn, câu ghép, các thành phần của câu.Tập làm văn sử dụng kết quả học tập của Luyện từ và câu

Trang 4

Tập làm văn là nơi học sinh luyện tập có kỹ năng và vận dụng các kiến thức

đã học vào thực tiễn, có quan hệ chặt chẽ với các phân môn, là nơi tiếp nhận vàluyện tập các kiến thức của các phân môn trên Tập làm văn là một sản phẩm tổnghợp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tiếng Việt Tập làm văngiúp học sinh hình thành nhân cách, có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài với học sinhtrong cả quá trình cuộc sống thực tiễn sau này, mỗi khi các em chuẩn bị (nói vàviết) bất cứ vần đề gì theo đòi hỏi của cuộc sống của một công dân trong tương lai

Tóm lại: Tập làm văn có ý nghĩa hết sức to lớn đó là thể hiện kết quả các môn

học khác và mở đầu cho định hướng và kiến thức kĩ năng mới

Để giúp học sinh tiểu học (nhất là học sinh lớp 5) có sự yêu thích, say mê vớimôn học để các em tạo ra các sản phẩm là những bài văn hay thì lại không phải làđiều dễ ? Vậy làm thế nào để các em có niềm yêu thích môn học này ? Đó là nhữngtrăn trở không chỉ riêng bản thân tôi mà còn là của rất nhiều các thầy cô giáo kháctrong trường Tiểu học Viết được một bài văn hay đã khó, cảm nhận được cái hay,cái đẹp trong bài văn đó như thế nào lại càng khó hơn Vậy một bài văn hay là bàivăn như thế nào ? Đó là những bài văn “đúng”: đúng yêu cầu, đúng thể loại, chânthật, có cảm xúc, có khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, về đời sống, gia đình, tìnhcảm…

Muốn viết được bài văn hay phải có vốn từ phong phú, chắc chắn, viết câugãy gọn, sáng sủa, sắc sảo, chính xác, rõ ràng, mạch lạc và có sức truyền cảm.Nhưng thực trạng Tập làm văn ở cấp Tiểu học hiện nay ra sao? Cách giải quyết nhưthế nào ? Điều đó khiến bản thân phải trăn trở, suy nghĩ nên tôi đã đầu tư nghiên cứu

và chọn đề tài : “Một số biện pháp tích cực để vận dụng vào dạy học sinh viết tốt tập làm văn lớp 5.”

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG :

Với vai trò, ý nghĩa và mục đích nêu trên, trong thời gian qua, tôi đã có nhiềusuy nghĩ, tìm tòi làm thế nào để giúp học sinh viết được những bài văn hay ? Mặc dù

Trang 5

ở trường Tiểu học hiện nay đã có một quy trình dạy tập làm văn khá rõ ràng theotrình tự (kèm những bài văn mẫu) Nhưng Tập làm văn (nhất là phần lập dàn ý trìnhbày miệng ở lớp 5) vẫn là phân môn khó đối với giáo viên và học sinh Cái khó đó là:

1 Về chương trình: Mặc dù đã được giảm tải một số đề chưa phù hợp, nhưng

trong chương trình vẫn còn đề tương đối khó đối với học sinh lớp 5

Ví dụ : Đề bài : Em hãy tả lại một cảnh đẹp ở địa phương em

Hay đề bài : Hãy miêu tả về cảnh sông nước

Đa số học sinh chỉ bó hẹp cuộc sống trong khuôn khổ từ nhà đến trường, chỉ dựa vàolời kể của cô giáo hoặc các bạn, với một vốn liếng hiểu biết ít ỏi như vậy từ đó các

em sẽ dễ bắt chước, sao chép của nhau một cách nhạt nhẽo, máy móc cho gọi là cóbài mà không hề phát huy được óc quan sát, trí tưởng tượng phong phú, đa dạng củabản thân

Tiết lập dàn ý, trình bày miệng chưa thực sự tạo được hứng thú cho học sinh,làm tiết học thiếu sinh động, nặng nề Học sinh rụt rè, ngại nói và thường đọc mộtbài văn đã chuẩn bị sẵn ở nhà chứ không phải là những ý chính của một dàn bài nhưyêu cầu rất gượng gạo vì không có đối tượng thật để quan sát được kĩ, được sâu,được đầy đủ để chuẩn bị được một tiết văn miệng được tốt

Ví dụ : Khi dạy bài văn miêu tả, giáo viên thường yêu cầu học sinh chuẩn bị

bài ở nhà bằng cách tự quan sát đối tượng miêu tả dựa theo gợi ý sách giáo khoa(hoặc tự quan sát đối tượng đó ỏ trên lớp vào trước giờ học, giờ ra chơi hoặc saubuổi học như : Quan sát tả ngôi trường em (Trước và sau buổi học) Giáo viên khôngbiết là học sinh có tự tìm kiếm đối tượng ở nhà để quan sát hay không, có thích quansát và biết cách quan sát theo trình tự như thế nào ? (Từ xa đến gần hay từ gần đến

xa, từ trên xuống dưới …) Vì vậy kết quả các em quan sát thường chưa kĩ càng, tỉ

mỉ hoặc chưa hề quan sát mà chỉ tưởng tượng, nói phỏng chừng chưa chính xác hoặcdựa vào lời kể của bạn bè, cô giáo mang tính chất gợi ý, viết qua loa, đại khái cho cóbài…

Trang 6

2 Đối tượng học sinh :

Cái khó là khi học kể chuyện hay tập đọc học sinh có thể nói hay kể dựa trênmột văn bản có sự sáng tạo chỉ ở mức độ nào đó thì khi học Tập làm văn các emphải làm một việc thực sự sáng tạo là tự mình tạo ra văn bản

Các em chưa thực sự hồ hởi, thích thú vì vốn sống các em còn quá ít, chưa rõnét chưa đầy đủ và toàn diện Tuy nhu cầu nói đã có nhưng chưa biết chuyển thànhngôn ngữ viết Một số em có khả năng diễn đạt trôi chảy nhưng cũng không phải là :

“ Nói thế nào, viết thế ấy.”

Khi viết văn các em chưa biết viết nháp để khi làm bài có được các câu vănhay gãy gọn, diễn đạt được ý trọn vẹn, trong sáng phản ánh chân thực và giàu cảmxúc

Trong tiết luyện tập lập dàn ý chi tiết có những em có ý kiến thú vị vì trẻ vốnthông minh và một số em thích đề văn nhưng khả năng quan sát còn hạn chế, khôngđầy đủ, toàn diện, thậm chí thiếu chính xác do học sinh không chịu nói, không tìmđược ý mới Nên rất nhiều giáo viên phàn nàn : “Thuật lại một việc làm tốt thì có tớihơn một nửa lớp học sinh viết về lượm được cây bút viết, hoặc là lượm được tiền trảlại người mất…” Hay khi tả về cô giáo, tả về mẹ của mình thì hai người này hầunhư là một, hoặc tả cô này với cô kia nhưng cô nào cũng có nụ cười giống nhau :“hàm răng đều tăm tắp như hạt bắp ” Không biết có nên cho dàn bài chi tiết nữa haykhông ? Vì học sinh quen xem những gì cô nói, cô viết là mẫu mực để bắt chước, vì

có em lười suy nghĩ, lười sáng tạo vì đề bài chưa kích thích các em tâm tư, bộc bạchthể hiện, nên các em đã chọn cách viết rập khuôn theo mẫu để trả bài cho xong

Học sinh còn dễ lẫn lộn giữa văn tả và văn kể, văn thuật Khi tả thì chẳng thấycảnh đâu, hình ảnh nào đẹp, sinh động hấp dẫn mà chỉ thấy liệt kê một cách lan mankhông đầu, không đuôi, không theo một trình tự nhất định nào

Ví dụ : Khi đề yêu cầu tả lại buổi lễ khai giảng năm học mới thì học sinh lại

nhầm sang văn thuật lại từ đầu đến cuối buổi lễ khai giảng mà quên đi yêu cầu của

Trang 7

văn tả cảnh Nhiều khi giáo viên chấm bài lại dung thứ cho sự không phân biệt này

vô tình đã khuyến khích cho học sinh lẫn lộn, lúng túng hết lần này đến lần khác

3 Đối với giáo viên :

Tài liệu để tham khảo để dạy làm văn còn ít, sách giáo khoa, sách giáo viênhướng dẫn còn sơ sài nên chính bản thân tôi còn lúng túng trong giảng dạy Tập làmvăn

Nhất là trình độ của học sinh ở một lớp không đồng đều, học sinh còn ngại nóitrước đám đông, lười suy nghĩ, chỉ trông chờ ở cô một dàn ý chi tiết để sao chép máymóc Học sinh chưa hiểu sâu sắc nghĩa của các từ nên khi dùng từ thường thiếuchính xác làm câu văn diễn đạt không đúng theo ý muốn của bản thân mình Trái lạicòn làm cho người đọc cảm giác khó chịu, hiểu sai lệch Thời lượng của một tiết tậplàm văn chỉ vẻn vẹn 40 phút mà lượng kiến thức đòi hỏi phải hoàn thành thì khôngphải là ít Để hoàn thành yêu cầu tối thiểu của tiết học đã khó, nói chi đến việc khơigợi và làm giàu vốn sống cho các em, kích thích khả năng thích nói, thích bộc bạch,

để biết cách ứng xử, nhận xét chính xác được

Lý thuyết làm một thể loại văn còn chung chung, nghèo nàn, ít hiệu quả Các

kĩ năng nói chưa được đánh thức trong mỗi học sinh một cách thực sự đều khắptrong mọi đối tượng học sinh, chỉ khuyến khích được trong một số em tích cực, họctương đối tốt môn văn Còn mốt số em nhút nhát thụ động thì chỉ ngồi đợi để “Họchỏi” vì thời lượng tiết dạy không cho phép

Điều kiện phục vụ dạy văn còn nhiều hạn chế, thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể,phương pháp còn nghèo nàn, chưa thực sự có một phương pháp nào có thể gọi là

“phương pháp cẩm nang”, đồ dùng dạy học thiếu Sĩ số học sinh lớp học thì kháđông nên thời gian không đủ để tạo cho mọi đối tượng cùng bộc bạch, chia sẻ…

4 Đối với nhà trường-xã hội:

Không phải nhà trường nào cũng đã thực sự chú trọng, quan tâm đúng mứcđến môn Tập làm văn như : Tổ chức cho học sinh hoạt động thực tiễn, ngoại khóa để

hỗ trợ cho việc học tập môn tập làm văn Học sinh chỉ bó hẹp trong khuôn khổ bốn

Trang 8

bức tường gia đình, nhà trường, lớp học Đây cũng là một nguyên nhân khách quanảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn Tập làm văn.

Về phía gia đình và xã hội : Đa số phụ huynh có thiên hướng coi trọng cácmôn khoa học tự nhiên mà coi nhẹ các môn xã hội, dẫn đến học sinh có tư tưởngchán học Tập làm văn ngay từ bậc Tiểu học Vì vậy môn tập làm văn vốn đã khó naylại càng khó hơn

* Biện pháp 1: Giáo viên cần kích thích học sinh tính chủ động, tích cực sáng

tạo trong hoạt động học tâp :

Giáo viên chỉ đóng vai trò chỉ đạo hướng dẫn học sinh tích cực chủ động, sángtạo trong quá trình học chứ không nên làm thay cho học sinh Học sinh phải thực sự

là trung tâm của quá trình dạy và học đó chính là tư tưởng cơ bản của giáo dục hiệnđại Trong dạy và học Tập làm văn cũng vậy Học sinh phải thực sự làm chủ quátrình hình thành kĩ năng sản sinh văn bản Người thầy đóng vai trò tổ chức dẫn dắt

Trang 9

để học sinh chủ động trong việc học tập Vì vậy để tạo hứng thú cho học sinh, giáoviên phải luôn có giọng nói truyền cảm, có tâm hồn yêu cái đẹp, yêu văn học Giáoviên cần trau dồi cho bản thân một số kiến thức cơ bản, nhất là vốn từ ngữ phongphú để có một khối lượng từ vừa và đủ để cung cấp cho học sinh Trong giờ dạy phảibiết khai thác tối đa những hiểu biết từ phía học sinh bằng hệ thống câu hỏi hấpdẫn,lô gích, kích thích tư duy muốn tìm tòi khám phá từ phía học sinh Giáo viên cầnchú ý đến từng cử chỉ, điệu bộ, lời nói, ánh mắt, nụ cười của bản thân, biết thay đổicảm xúc vui, buồn theo từng tình tiết trong câu truyện, nhân vật Một cô giáo có maymắn thừa hưởng một chất giọng hay, lời giảng hấp dẫn sẽ tạo cho học sinh hứng thútrong giờ học.

Ngoài ra giáo viên phải tôn trọng những khám phá, suy nghĩ của học sinh cho

dù những khám phá đó còn có thể vụng về, chưa theo ý muốn của chúng ta, khích lệhọc sinh kịp thời bởi đó là những dấu ấn riêng của từng em trong cách suy nghĩ,cách tả, cách diễn đạt của các em

* Biện pháp 2 : Giáo viên luôn coi trọng yêu cầu thực hành suốt quá trình

dạy tập làm văn :

Giáo viên cần tránh việc làm thay cho học sinh, giảm bớt những giảng giải dàidòng, cần ngắn gọn, xúc tích dễ hiểu, tăng thời lượng luyện tập thực hành về lýthuyết từng kiểu bài Giáo viên cần truyền đạt chính xác, đầy đủ bằng cách :

+ Giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hành trong bài tập làm văn là : Thựchành quan sát thực hành nói, thực hành viết

Ví dụ : Tả một em bé đang tuổi tập nói, tập đi thì phải quan sát như thế nào để

không nhầm lẫn với một em bé ở độ tuổi khác Vì những chi tiết kiểu “Lúc bé cười

để lộ ra hai cái răng sún” khi mà bé chỉ mới có răng sữa và (bé chạy sà vào lòng mẹkhi mà bé đang chập chững từng bước tập đi)

+ Quan sát đầy đủ, toàn diện, nắm được cái “hồn” đó là cái dáng vẻ đặcbiệt, riêng nhất của người và vật

Trang 10

+ Khi làm thể loại văn tả người các em cần chú ý 3 mặt: Hình dáng, tínhtình và sự hoạt động Nếu tả riêng từng mặt thì bài văn sẽ rời rạc, khô, cứng nhắc,đơn điệu Bởi qua hoạt động sẽ làm toát lên hình dáng, tính tình hoặc qua hình dángbộc lộ rõ tâm trạng, tính nết của người mình tả.

Ví dụ : Phần thân bài của bài văn tả người

a- Tả hình dáng (ngoại hình) một người cần chú ý đến tầm vóc, cách ăn mặc,rồi đến các chi tiết như : Khuôn mặt, mái tóc, làn da, cặp mắt… cách đi đứng, nói,cười… song cần biết lướt qua (hoặc lược bỏ) những nét không nổi bật để tập trungvào đặc điểm nổi bật, tiểu biểu nhất gây ấn tượng mạnh cho người đọc, có liên quanđến hoạt động, tính tình người được tả Thông thường dựa vào tuổi tác, nghề nghiệp,hoàn cảnh sống của mỗi người ta có thể chọn những nét độc đáo nổi bật

- Khi quan sát một chàng trai Hmông đang cày ruộng Nhà văn Ma VănKháng đã biết lựa chọn những chi tiết gây ấn tượng mạnh như : “ Mười tám tuổi,ngực nở vòng cung, bắp tay bắp chân rắn như gụ Vóc cao, vai rộng, người đứngthẳng như trụ đá trời trồng…” (Hạng A Cháng-Sách Tiếng Việt 5 tập 1-trang 119)

Đó chính là vẻ đẹp của một thanh niên dân tộc khỏe khoắn, lực lưỡng, trung thực,thẳng thắn Vẻ đẹp của núi rừng, của thiên nhiên hoang dã … thật độc đáo không lẫnvới bất cứ một thanh niên người Kinh hay một thanh niên trí thức khác

Hay ở tuần 27: “Ôn tập về tả cây cối” Nếu muốn tả được cây phượng mộtcách chân thực, giàu hình ảnh thì học sinh phải được cùng cô đứng bên gốc phượng,

sờ tay vào lớp vỏ để có cảm giác về độ xù xì, thô ráp của vỏ cây, vòng tay ôm thâncây, ngửa đầu ước lượng về chiều cao, ngửi được mùi hăng của vỏ cây, nghe tiếnggió thổi xào xạc trong từng tán lá, ngắm rễ, ngắm cành, ngắm sắc đỏ của hoa, ngắmtừng chiếc lá rơi lả tả trong gió thu hây hẩy Hồn nhiên nhìn lũ chim chuyền cành,nhớ lúc ngồi bên gốc phượng ôn bài, nhớ những lúc ngồi chơi dưới gốc phượngcùng bè bạn, cảm giác buồn vu vơ trong tâm trí khi nghĩ đến giờ phút bùi ngùi chiatay thầy cô, bạn bè… mới khai thác hết được các cung bậc tình cảm trong tâm hồnnon nớt của các em Để từ đó dâng tràn một cảm xúc mãnh liệt, một thứ tình cảm

Trang 11

gắn bó thiêng liêng được các em thổi hồn vào bài văn Cây phượng không còn làmột cái cây vô tri, vô giác mà bỗng chốc trở thành một người bạn tri kỉ có tâm tínhbiết chia sẻ buồn, vui…

Giáo viên phải tận dụng, khai thác tối đa các giác quan của học sinh khi quansát như : Thị giác, thính giác, xúc giác, khướu giác … Nhờ những gợi mở và nhữngliên tưởng thú vị học sinh sẽ có nhiều chi tiết nổi bật để tả cảnh hoặc tả người

Giáo viên phải tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động như đi tham quancác danh lam thắng cảnh đẹp ở địa phương, đến thăm các bà mẹ Việt Nam anh hùng,trò chuyện với các chiến sĩ quân đội Từ các hoạt động này giúp học sinh có tácdụng bồi dưỡng thêm những tình cảm, để cảm thụ văn học một cách tự nhiên hơn,cung cấp cho các em vốn sống và cả những chi tiết sống động, thú vị để làm văn

* Biện pháp 3: Giáo viên phải giúp học sinh viết văn có cảm xúc chân thật và

viết văn có nghệ thuật :

Ở Tiểu học, học sinh chủ yếu học các bài thuộc ngôn ngữ nghệ thuật (Kiểu bàimiêu tả, tường thuật, kể chuyện) Kiểu bài này đòi hỏi người viết phải giàu cảm xúc,tạo được cái “hồn” trong bài viết nhưng phải chân thành, tránh vờ vĩnh, giả tạo.Muốn vậy giáo viên luôn nuôi dưỡng trong các em tâm hồn trong sáng cái nhìn hồnnhiên, cảm xúc chân thực nảy nở, dễ xúc động, hướng tới cái thiện, yêu ghét cái ác,cái xấu …

Để luyện viết được bài văn có tính nghệ thuật cao là luyện cho học sinh biếtcách vào bài (mở bài theo kiểu gián tiếp, kết bài mở rộng) hấp dẫn người đọc, ngườinghe ngay từ lúc mới vào bài Giúp học sinh biết sử dụng các biện pháp tu từ như sosánh, nhân hóa, biết sử dụng các từ tượng hình, tượng thanh trong khi tả người, tảcơn mưa, tả tiếng nước chảy, tiếng gió thổi một cách chính xác và linh hoạt

Bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, đất nước từ tình yêu những cảnhvật thiên nhiên xung quanh mình Biết khơi nguồn cảm xúc trong các em bằng nhiềucung bậc tình cảm Không nhất thiết bó buộc trong phân môn tập làm văn mà phảithường xuyên đắp bồi, chắt chiu qua nhiều môn học Phân môn tập đọc cũng là một

Trang 12

phân môn góp vai trò quan trọng trong việc cảm thụ cái hay, cái đẹp qua các thể loạivăn của các nhà văn.

Ví dụ: Trong tuần 11 khi dạy bài tập đọc: “Chuyện một khu vườn nhỏ” của

nhà văn Vân Long ngoài việc giúp học sinh luyện đọc tốt bài văn Người giáo viêncòn cần và rất cần giúp các em biết cảm thụ văn học qua cách hành văn của ngườiviết Qua hình ảnh đẹp của mảnh vườn nhỏ, hình dung được mảnh vườn trồng rấtnhiều hoa, mỗi loài mang một vẻ đẹp riêng rất sống động Người ông của cô bé rấtyêu cây xanh nên rất hiểu tâm tính chúng Mỗi loài cây được nói đến như một conngười có tâm tính: “Cây quỳnh lá dày giữ được nước, không phải tưới nhiều” Banđêm hoa quỳnh nở cả khu vườn tràn ngập hương thơm Cây hoa Ti gôn thì thật đángyêu, nó nghịch ngợm như một đứa trẻ Giáo viên kích thích trí tò mò trong các em,giúp các em phát hiện ra sự tinh tế của nhà văn khi khéo léo sử dụng nghệ thuật nhânhóa, so sánh để thể hiện sự đáng yêu của cây hoa Ti gôn Cây cối trong khu vườncùng chung sống quấn quýt bên nhau tạo thành một quần thể sinh vật có sự giao thoanhau bằng tình cảm như những con người trong một gia đình Người viết không chỉkhéo léo sử dụng hàng loạt những biện pháp tu từ mà còn táo bạo sử dụng hàng loạtđộng từ mạnh: “Bật ra, xòe ra…” để miêu tả sức sống mãnh liệt, sự sinh sôi nảy nởcủa cây cối trong vườn Từ đó các em thấy được ích lợi của cây côí, thiên nhiênxung quanh mình Mảnh vườn nhỏ đã mang đến cho ngôi nhà Thu một bầu khôngkhí trong lành và một khung cảnh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp Tình yêu thiên nhiên

sẽ tự nảy nở và lớn lên trong tâm hồn các em một cách tự nhiên mà không hề gượnggạo, áp đặt

Hình thành, bồi dưỡng cảm xúc đó là thể hiện được tình cảm chân thật củamình trong từng câu, từng đoạn, tình cảm có thể là yêu, ghét chân, thiện mĩ Chỉ cónhững tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra đoạn văn, bài văn giàu tínhnhân văn Tình cảm này từ đâu? Đó là động cơ các em biết yêu quý ông bà, cha mẹ,anh chị, em của mình Đó là tình yêu từ mỗi mảnh vườn, từng góc phố, con đường

mà hằng ngày các em đi qua Tình yêu những con gà, con chó, con lợn mà gia đình

Trang 13

mình nuôi Sự yêu quý trân trọng, nâng niu từng quyển sách, cây bút, đồ vật củamình Biết chia sẻ giúp đỡ người già, em nhỏ, người tàn tật, bạn bè lúc khó khăn.Chính những tình cảm ấy sẽ tạo nên những mạch nguồn cảm xúc trong các em khiviết bài làm bài viết thêm sống động, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

Giáo viên luôn coi trọng những “đứa con tinh thần” của các em, dù những sảnphẩm đó thực sự chưa hoàn hảo như ta mong đợi Nhưng không có nghĩa là chúng ta

dễ dãi đối với cái sai của học sinh

Ví dụ : Khi tả về con đường đến trường có em đã nói lên cảm xúc như sau :

“Con đường trơn, nhiều ổ gà, người đi đường than thở Xe chạy bắn nước tung tóelên người đi đường làm bẩn hết bồ quần áo đẹp của em Con đường này thật đángghét…”

Đây là cảm xúc dù rất thực của học sinh nhưng giáo viên cần hướng cho các

em biểu hiện thái độ tế nhị, kín đáo phù hợp khi diễn đạt, chỉ ra những thiếu sóthướng các em tự sửa chữa

*Biện pháp 4: Tăng cường khuyến khích khi đánh giá bài làm của học sinh :

Giáo viên không nên xem suy nghĩ, cảm thụ của mình là khuôn mẫu chuẩnmực để áp đặt vào việc đánh giá học sinh Luôn khuyến khích học sinh từ nhữngphát hiện, khám phá dù là rất nhỏ từ phía học sinh bằng những nhận xét hết sức lạcquan như : “ Em rất giỏi! Em rất tinh ý khi quan sát được chi tiết này, chi tiết kia,hay “ Một ý kiến thật thú vị”, “Bài văn thật độc đáo” “ Cô rất hài lòng về bài văncủa em”… Tuyệt đối không nên trách mắng nặng lời ,chê bai “ Bài tồi thế! Hoặc “

Cô quá thất vọng về em”…

Giáo viên khi chấm bài nên nhận xét từng câu, từng đoạn để học sinh hiểu rõcái sai trong bài viết để khắc phục trong những bài sau, không nên biến tiết trả bàivăn thành tiết :” Vạch lá , tìm sâu”, mà không hề động viên các em giống như : V.A.Xukhômlinxki viết : “Nếu đứa trẻ không thấy thành công trong công việc, ngọn lửaham hiểu biết trong lòng nó sẽ lụi tắt, nó sẽ mất niềm tin vào khả năng của mình”( Trích trong tác phẩm : Trái tim tôi xin hiến dâng cho trẻ.”

Trang 14

Bằng cách này nhiều em kém năng lực đã nảy sinh niềm tin vào khả năng củabản thân để cố gắng hơn Những nhận xét thiếu tế nhị của thầy cô giáo sẽ phủ bóngmây đen lên tâm hồn ngây thơ của những đứa trẻ, làm cho tâm trạng của các em bịtổn thương dẫn tới cảm giác mặc cảm, xấu hổ nặng nề hơn có thể dẫn đến mức chánhọc môn văn, muốn bỏ học…

* Biện pháp 5: Những yêu cầu cần lưu ý đối với giáo viên khi dạy phân môn

- Chấm, chữa bài thường xuyên cho học sinh, đánh giá nhận xét một cáchkhách quan, công bằng giữa các học sinh, khuyến khích, động viên học sinh mộtcách kịp thời

- Quan tâm nhiều hơn đến đối tượng học sinh yếu, kém trong lớp để các rútngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ

- Tìm hiểu để nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trong các em để điềuchỉnh phương pháp, hình thức tổ chức cho phù hợp đảm bảo tính vưa sức trong cácem

- Phải quan tâm đồng đều tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt

* Biện pháp 6: Những yêu cầu cần lưu ý đối với học sinh khi học phân môn

Tập làm văn

- Phải đọc kĩ đề trước khi làm bài, cần xác định rõ thể loại, yêu cầu của đề bài

- Lập dàn bài chi tiết, dựa vào dàn bài chi tiết để làm bài

Trang 15

- Quan sát kĩ đối tượng trước khi làm bài, chuẩn bị bài chu đáo trước khi đếnlớp.

- Cần có thái độ học tập nghiêm túc tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt

- Không được chép văn mẫu khi làm bài, văn mẫu chỉ mang tính tham khảo.Được phép tận dụng tham khảo ý kiến của bố mẹ, anh, chị, bạn bè

- Tích cực luyện nói lưu loát trong các tiết làm văn miệng, tiếp thu ý kiến, có

Muốn thực hiện tốt vấn đề này, tôi thực hiện trong tiết “Quan sát, tìm ý-lậpdàn bài chi tiết.”

Thông thường một bài văn có 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài Xác định đề làmột khâu vô cùng quan trọng, bởi giúp học sinh tránh lạc đề, xa rời nội dung, khôngthực tế, bài viết sẽ mông lung, không đạt yêu cầu

Tìm hiểu đề : Học sinh cần đọc kĩ đề rồi trả lời các câu hỏi về vấn đề trọngtâm của đề bài

Ví dụ : Đề bài thuộc thể loại gì ? (Miêu tả ? tường thuật ? hay viết thư ?)

Đối tượng phải nói đến là gì ?(Tả người nào ? Cảnh nào ? Tường thuật thìthuật chuyện gì ? Viết thư cho ai ? Viết về vấn đề gì ?)

Trọng tâm yêu cầu ở điểm nào ? ( Tả người thỉ tả hình dáng, tính tình làchính? Hay tả hoạt động là chính ? Tả cảnh sinh hoạt thì hoạt động của những ai làcần thiết ? Viết thư thì chủ yếu là báo tin, thăm hỏi hay kể chuyện ?)

Trang 16

Vậy, nếu giúp học sinh xác định được yêu cầu đề, huy động được vốn từ đểtìm ý, xây dựng nên một dàn bài chi tiết đưa vào các dàn bài chung của từng thể loạithì tôi dùng một loạt những câu hỏi gợi mở (Chú ý lời nói phải diễn cảm, tạo sự thuhút học sinh) để giúp các em tìm được nhiều ý, xây dựng nên một nội dung phongphú cho bài văn như sau :

Ví dụ : “ Tả ngôi trường em trong giờ ra chơi”.

Phần thân bài gồm có những cảnh :

a) Cảnh bao quát của ngôi trường,

b) Tả chi tiết các cảnh của ngôi trường (Chi tiết làm nổi bật nhất sự nhộn nhịpcủa ngôi trường trong giờ ra chơi đó là hoạt động trên sân trường)

Khi học sinh nêu được hai cảnh chính này tôi cho nhiều em nhắc lại để nhớ vàhỏi tiếp : “Cảnh nào là trọng tâm”?

Sau đó tôi hướng dẫn cho các em tìm ý cho từng cảnh (Chú ý cảnh trọng tâm).+ Cảnh nơi diễn ra các trò chơi : (sân trường, ánh nắng, chim chóc, bầu trời,

âm thanh, tiếng nói, tiếng cười, tiếng gió thổi, tiếng chân chạy…)

2.2 Hướng dẫn học sinh tập diễn đạt bài văn có nghệ thuật :

Muốn học sinh biết cách diễn đạt bài văn một cách sinh động có nghệ thuật.Thông thường khi thực hiện biện pháp này tôi trau dồi các em trong tiết văn miệng.Qua tiết học này sẽ được thể hiện cách diễn đạt, được học tập ở các bạn cách làm mởbài, kết bài, cả bài văn và tập vận dụng một số biện pháp nghệ thuật dùng từ, đặt câuvào trong mỗi bài văn

ý

Ngày đăng: 10/02/2017, 11:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w