1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp hữu ích Rèn kĩ năng sử dụng từ trong môn tập làm văn lớp 5

11 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 80,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được một bài văn đúng và hay, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng các kiến thức liên môn như: tập đọc, tập viết, chính tả, kể chuyện, luyện từ và câu.... Vì các kiến thức liên môn

Trang 1

RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ TRONG PHÂN MÔN

TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 5

I/ MỞ ĐẦU:

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (kĩ năng đọc – viết – nghe – nói ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Môn học này bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Ơû lớp 5, môn Tiếng Việt được chia theo các phân môn: Tập đọc; Kể chuyện; Luyện từ và câu; Chính tả; Tập làm văn Trong các phân môn đó, Tập làm văn là phân môn có tính chất tổng hợp, toàn diện, sáng tạo Để làm được một bài văn đúng và hay, đòi hỏi học sinh

phải biết vận dụng các kiến thức liên môn như: tập đọc,

tập viết, chính tả, kể chuyện, luyện từ và câu Vì các

kiến thức liên môn này sẽ giúp cho học sinh có được tư liệu để viết một bài văn và biết sử dụng ngôn từ thế nào để trình bày suy nghĩ của mình một cách chính xác, rõ ràng, có hình ảnh và trong sáng

Mỗi bài tập làm văn học sinh phải thể hiện được tình cảm, suy nghĩ của mình, bộc lộ rõ quan điểm yêu hay ghét của bản thân Quan điểm, trình độ và tình cảm của các em thể hiện trong từng câu văn Mặt khác, môn tập làm văn còn có tác dụng rèn luyện nhân cách tốt, đặc biệt là tính trung thực trong cách miêu tả, kể chuyện, viết đoạn đối thoại,…

Một bài văn hay không chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc dễ hiểu, mà cái quan trọng hơn, đó là sự truyền cảm Sự truyền cảm ấy có được là do: tính chân thực, tính nhân bản; cao hơn nữa là các chất văn gợi lên từ bài viết của các em

Như vậy, muốn làm được một bài văn đúng và hay, học sinh phải huy động toàn bộ kiến thức về đời sống,

Trang 2

sách vở, văn học để viết Kiến thức học tập giúp các

em viết câu có hình ảnh, ngôn ngữ trong sáng Chính tả, tập viết giúp các em viết đúng chính tả, trình bày bài văn đẹp Môn luyện từ và câu giúp các em viết được những câu văn đúng ngữ pháp, vốn từ phong phú Ngoài ra còn vận dụng nhiều kĩ năng như: Quan sát, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, viết bài…

Mỗi bài Tập làm văn là sản phẩm tinh thần của từng em, khi các em đã hoàn thành được một bài văn tức là tình cảm của các em đã được gửi gắm trong từng bài văn đó Việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ phù hợp với đối tượng, văn cảnh giao tiếp cũng sẽ góp phần vào thành công bài văn của học sinh Là giáo viên dạy lớp 5 tôi mạnh dạn suy nghĩ và tiến hành tìm giải pháp để “

Rèn kĩ năng sử dụng từ trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5”.

II/ THỰC TRẠNG:

Trong năm học 2012 – 2013, tôi được phân công dạy lớp 5C, qua khảo sát đầu năm và qua trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy kĩ năng sử dụng từ của học sinh trong phân môn Tập làm văn còn nhiều hạn chế và sai sót Những hạn chế đó do các nguyên nhân sau:

1.Vốn từ của các em tổng hợp từ các lớp dưới cũng như tiếp thu từ các phân môn khác để vận dụng vào phân môn Tập làm văn còn nghèo nàn

2 Học sinh chưa biết giải nghĩa của từ trong một văn cảnh cụ thể

3 Sử dụng từ còn tùy tiện dẫn đến việc lựa chọn từ ngữ sử dụng trong phân môn Tập làm văn còn nhiều hạn chế Đặc biệt trong các bài văn, các em thường chỉ liệt kê sự vật, sự việc, chưa biệt chọn lọc từ ngữ trong sáng, có hình ảnh

Sau khi nắm bắt được tình hình của lớp, tôi tiến hành khảo sát và kết quả đầu năm đạt được như sau:

- Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ tương đối sát thực trong văn viết: 2 em

- Sử dụng từ còn hạn chế : 12 em

- Kĩ năng sử dụng từ quá yếu trong văn viết:14 em Xuất phát từ tình hình chung của lớp, để học sinh có

kĩ năng sử dụng từ ngữ thích hợp trong phân môn Tập làm văn, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh biết sử dụng và lựa chọn những từ ngữ phù hợp để sử dụng trong giao tiếp, cụ thể là viết văn

Trang 3

III/ CÁC GIẢI PHÁP :

1 Cung cấp vốn từ cho học sinh:

Vốn từ của học sinh được tích lũy từ những năm đầu của bậc Tiểu học thật sự chưa đủ Vì vậy, qua từng bài dạy, giáo viên có thể cung cấp vốn từ và kết hợp mở rộng vốn từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa thông qua các bài Tập đọc, Học thuộc lòng hoặc các môn học khác,… Khi học sinh đã được mở rộng vốn từ thông qua các môn học sẽ giúp các em có được vốn từ phong phú để lựa chọn từ ngữ để sử dụng trong diễn đạt dựng đoạn và viết bài ở phân môn Tập làm văn

Để thực hiện tốt việc cung cấp vốn từ cho học sinh một cách có hệ thống và mang lại hiệu quả cao, giáo viên phải luôn tu dưỡng về chuyên môn, nâng cao tay nghề, mạnh dạn đổi mới và vận dụng các phương pháp dạy học sao cho việc lên lớp diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, phù hợp với tình hình thực tế của lớp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Mỗi tiết, mỗi bài học cần có sự vận dụng linh hoạt các phương pháp để khuyến khích tất cả học sinh trong lớp cùng tham gia Không để bất kì một học sinh nào đứng ngoài cuộc Để thực hiện được điều này, giáo viên cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng một kế hoạch hướng dẫn, tổ chức lớp hoạt động hợp lí, khoa học, đặc biệt ở tiết Tập làm văn dựng đoạn và tiết

Tập làm văn trả bài viết tập trung vào việc dạy cách

học và nhu cầu tự học.

Ngoài ra, giáo viên phải đầu tư – nghiên cứu nội dung bài dạy, tìm tòi, sưu tầm các tư liệu cần thiết như: Ca dao,

thành ngữ-tục ngữ ,từ điển Tiếng Việt, tranh, ảnh,…để

trong khi dạy có những từ thuần Việt hoặc Hán Việt giáo viên có thể tra từ điển khi cần thiết, có thể giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ cho học sinh một cách dễ hiểu nhất

Ví dụ: Cần giải nghĩa một số thành ngữ , tục ngữ như

“Kề vai sát cánh” : sự đồng tâm hợp lực, cùng chia sẻ

gian nan giữa những người cùng chung sức gánh vác một

công việc quan trọng; “Danh bất hư truyền, ” Danh: tên

tuổi, tiếng tăm; Bất: không – tiếng tăm, danh tiếng được truyền đi không sai khác sự thật.

Hay khi cần giải nghĩa một số từ Hán Việt như phúc

đức: điều tốt lành để lại cho con cháu; phúc hậu:

nhân từ, có lòng thương người, hay làm điều tốt cho người khác,…

Trang 4

Nếu học sinh đã giải được nghĩa của từ chắc chắn trong văn viết thì học sinh sẽ biết lựa chọn từ phù hợp với văn cảnh giao tiếp

Tham khảo các bài văn hay, các bài tập đọc, học thuộc lòng mà cách sử dụng từ của tác giả nói lên được cái hay – cái đẹp của nội dung cần diễn đạt để trong từng tiết dạy có liên quan giáo viên có thể lấy ví dụ để minh họa

Ví dụ: Khi dạy về thể loại văn tả người, ngoài việc hướng dẫn cho học sinh biết lựa chọn những nét tiêu biểu tả về hình dáng và tính tình của người đó, giáo viên còn có thể cho các em tham khảo thêm một số từ ngữ liên quan đến văn tả người để khi làm dàn ý; dựng đoạn hoặc viết thành bài văn hoàn chỉnh học sinh có thể lựa chọn từ ngữ phù hợp nhằm tả được những đặc điểm nổi bật của người sẽ tả, chẳng hạn:

Tả hình dáng:

Thân hình, dáng người: cao tầm thước, mảnh mai, thon

thả, lực lưỡng, vạm vỡ, tiều tụy, bụ bẫm, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏng, đẫy đà, gầy đét, còm nhom,…

Tả khuôn mặt, diện mạo: bầu bĩnh, xanh xao, vuông vắn

chữ điền, trái xoan, khôi ngô, hiền hậu, ngây thơ, dễ thương, phúc hậu , thanh tú, nhẹ nhõm,…

Tả làn da: trắng hồng, trắng như trứng gà bóc, hồng

hào, đỏ đắn, trắng trẻo, trắng nõn nà, mịn màng, nhăn nheo, xanh xao, bánh mật, ngăm ngăm, đen đủi, sần sùi, thô ráp,…

Tả mái tóc: đen nhánh, đen mượt, hoa râm, muối tiêu, bạc phơ, mượt mà, óng ả, cứng như rễ tre,…

Tả mắt: Đen huyền, đen láy, long lanh, u buồn, thâm

quầng, một mí, bồ câu, nâu đen, linh lợi, tinh anh, hiền hậu, mơ màng, mờ dục, lim dim, láu lỉnh, tinh ranh, gian giảo, soi mói,…

Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đăm, trìu mến, ngơ

ngác, mơ màng, dáo dác, đắm đuối, chòng chọc,…

Diễn tả tính cách:

Đứng đắn, nhút nhát, nghiêm nghị, dè dặt, thận trọng, nóng nảy, ôn hòa,…

Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hể hả, vui mừng, sảng khoái,…

Tả phẩm chất:

Tốt, xấu, hiền, dữ, ngoan, hư, khiêm tốn, kiêu căng, dũng cảm, hèn nhát, cao thượng, hèn hạ, tế nhị, trung thành, thật thà,…

Trang 5

2.Rèn kĩ năng giải nghĩa từ trong văn cảnh cụ

thể:

Trong từng tiết dạy giáo viên cần chú ý đến việc xây dựng thói quen chủ động trong việc dùng từ sát hợp với nội dung cần thể hiện nhằm tăng thêm sức biểu cảm sao cho phù hợp với thái độ, cảm xúc mà mình muốn thể hiện Để thực hiện tốt vấn đề này, trong từng từ ngữ, giáo viên cần dạy cho học sinh hiểu được nghĩa của từ (nghĩa chính, nghĩa phụ, nghĩa gốc, nghĩa chuyển) để tránh trong khi sử dụng từ các em sẽ diễn đạt những câu văn dùng từ sai, không sát nghĩa

Ví dụ 1 :Nghĩa của từ “xuân” trong câu thơ:

Mùa xuân (1) là tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân (2) Xuân (1): Nghĩa chính – mùa đầu tiên trong năm.

Xuân (2): Nghĩa chuyển: càng ngày càng tươi đẹp.

Ví dụ 2: Nghĩa của từ “chín” trong các câu sau:

Lúa ngoài đồng đã chín (1)vàng

Nghĩ cho chín(2) rồi hãy nói

Tổ em có chín(3) học sinh.

Chín (1): hoa, quả phát triển đến độ thu hoạch được Thể hiện hai nghĩa khác

Chín(2) :suy nghĩ kĩ càng trước khi nói nhau của từ nhiều nghĩa

Nghĩa của hai từ “chín” ở trên đồng âm với từ “chín”(3) là số tiếp theo số 8

3.Dạy tốt các tiết lập dàn ý, dựng đoạn, trả bài để giúp học sinh lựa chọn và sử dụng từ.

* Đối với dạng bài văn dựng đoạn, ngoài việc dạy các

em quan sát – tìm ý, lập dàn bài chi tiết, thói quen trình bày bài làm của mình lưu loát trước đông người, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đánh giá, nhận xét những điểm hay, chưa hay về cách lựa chọn từ ngữ để sử dụng trong bài làm của bạn: Về nội dung, về từ, về ý, về mặt thành công của bài trong cách dùng từ miêu tả có hợp lí không? Song song với việc đánh giá và nhận xét bài làm của bạn, giáo viên có thể cho các em tham khảo, đánh giá các bài văn mà cách sử dụng từ thành công của tác giả

Để học sinh thấy rõ vì sao sử dụng từ trong bài văn phải biết lựa chọn từ ngữ thích hợp, giáo viên sẽ đưa ra một số câu văn dùng từ không sát như:

Trang 6

Ngày ông tôi chết, cả làng đi đưa đám ma, ông tôi được chôn ở nghĩa địa trên đồi thông.

Chim hót nhiều trong vườn nhà em.

Bà đang đổ nước vào gốc rau…

Yêu cầu học sinh nhận xét về cách sử dụng các từ ngữ được gạch chân, em có thể dùng các từ ngữ khác hoặc cách diễn đạt khác sửa lại nhằm biểu lộ cảm xúc, thái độ của mình Gợi ý, hướng để học sinh có thể sửa như sau:

Ngày ông tôi qua đời, dân làng vô cùng thương tiếc

và tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng trên đồi thông lộng gió

Chim hót líu lo trong vườn nhà em.

Bà lom khom tưới rau…

* Trong tiết Tập làm văn trả bài, giáo viên chuẩn bị một số bài văn hay; phiếu bài tập ghi ra một số lỗi của học sinh trong cách sử dụng từ ngữ trong bài viết của các

em Phân tích ưu – khuyết điểm về cách dùng từ trong bài Tập làm văn của học sinh, hướng dẫn các em rút kinh nghiệm bằng cách trực tiếp sửa lỗi về cách dùng từ mà giáo viên phát cho từng bàn Yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm để sửa về cách dùng từ trong bài làm của các bạn Đại diện nhóm thực hành trước lớp Các nhóm khác nghe trình bày, góp ý, nhận xét, bổ sung

Ví dụ 1: Dạng bài văn tả người quen, bài tả cô giáo có học sinh viết:

Thầyâ giáo của em chắc chắn đã 40 tuổi rồi.

Thầy rất dữ với những học sinh quậy ,nhưng thầy rất hiền khi hướng dẫn học sinh sửa lỗi Lúc chúng em chăm chỉ,ngoan, thầy luôn tươi cười.

Cần cho học sinh phân tích về từ ngữ, hình ảnh, phân tích những phán đoán, nhận xét của các em để học sinh thảo luận, thay đổi một số từ ngữ nhằm làm cho câu văn giàu hình ảnh hơn:

Thầy giáo của em năm nay khoảng 40 tuổi.

Thầy nghiêm khắc phê bình khi chúng em mắc lỗi nhưng chính thầy cũng lại là người ân cần hướng dẫn chúng em sửa lỗi Những lúc cả lớp chăm chỉ, ngoan ngoãn, khuôn mặt thầy như rạng ngời hạnh phúc.

Ví dụ 2: Dạng bài văn tả bạn, có học sinh dùng từ chưa sát và tả theo kiểu liệt kê, lặp từ :

Bạn Giang có dáng người nhỏ, thấp Hai mắt của bạn màu đen và bạn có cái trán cao Tóc bạn dài và đen.

Trang 7

Lúc nào bạn cũng cột tóc cao Quần áo bạn lúc nào cũng sạch sẽ Bạn học rất giỏi Em và bạn rất kính yêu

nhau từ nhỏ

Với dạng lỗi dùng từ như trên, cần hướng dẫn học

sinh nhận xét về ngôi thứ trong giao tiếp (với ông bà, cha mẹ, thầy cô và người lớn tuổi cần xưng hô lễ phép như thế nào; đối với bạn bè cần xưng hô thân mật ra sao…) Hướng dẫn để học sinh nhận ra sự lủng củng của đoạn văn vì lặp quá nhiều từ bạn và một số từ dùng đúng như chưa chau chuốt, chưa gợi hình ảnh để học sinh có

thể sửa lại là:

Bạn Giang có dáng người nhỏ nhắn Đôi mắt đen láy và vầng trán cao thông minh Em rất thích mái tóc dài đen óng ả luôn cột cao gọn gàng của Giang Ơû lớp cũng như

ở nhà, bạn ấy luôn giữ quần áo sạch sẽ Đặc biệt, Giang học rất giỏi Em và bạn ấy chơi thân với nhau từ nhỏ.

Ví dụ 3: Dạng bài văn tả người thân, bài văn tả ông

Da ông sần sùi với những chấm nâu…

Ông tôi đã già và rất khó tính và cũng thương con, cháu…

Với cách miêu tả như trên, cần hướng dẫn để học sinh nhận ra sự lủng củng của việc lặp từ và khuyến khích, gợi ý để các em có ý thức tìm từ gửi gắm tình cảm của mình vào từng câu văn

Da ông đã có nhiều nếp nhăn với những chấm đồi

mồi …

Ông tôi tuổi đã cao, ông rất nghiêm khắc nhưng luôn thương yêu con, cháu…

4.Thường xuyên chấm – trả bài để kịp thời:

Chấm bài kĩ và trả bài kịp thời giúp giáo viên phát hiện những ưu – khuyết điểm trong từng bài làm của học sinh để từ đó khuyến khích động viên và có biện pháp cụ thể đến từng đối tượng học sinh Đối với bài văn viết của học sinh tôi chấm cẩn thận, kĩ lưỡng, ghi “lời phê” nêu rõ ưu – khuyết điểm nỗi bật trong bài làm của các

em Nếu học sinh mắc các lỗi về chính tả, dùng từ,… tôi dùng bút đỏ gạch dưới các từ ngữ đó để học sinh tự sửa (GV không sửa thay cho học sinh)

Đối với học sinh có kĩ năng sử dụng từ tương đối chính xác, giáo viên khích lệ những thành công của các em để từ đó học sinh biết phát huy những thành công đó Đối với những em thường xuyên sai sót về cách dùng từ trong bài làm, giáo viên thường xuyên nhắc nhở các em

Trang 8

phải suy ngghĩ thật kĩ, phải biết lựa chọn từ ngữ để sử dụng nhằm làm nổi bật được nội dung cần thể hiện

Đối với những học sinh còn yếu trong khâu lựa chọn và sử dụng từ, ngoài việc kiểm tra, nhắc nhở, giáo viên động viên các em tham gia sôi nổi học tập và các hoạt động tập thể khác để các em có điều kiện phát triển vốn từ ngữ của mình Từ đó học sinh biết vì sao cần phải lựa chọn, sử dụng từ ngữ thích hợp với hoàn cảnh giao tiếp

IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Như chúng ta đã biết, bài Tập làm văn vừa yêu cầu các em phải miêu tả chân thật, vừa cho phép và khuyến khích các em hư cấu, thêm thắt một số tình tiết

Vì vậy, tùy theo từng đề bài mà giáo viên gợi ý để học sinh có khả năng vừa miêu tả chân thực lại vừa có tình tiết tưởng tượng phong phú, phù hợp theo đề bài

Muốn giỏi văn phải tích lũy được vốn văn học mà ở lứa tuổi nhỏ, điều này thật không dễ Nếu không có “vốn từ” thì bài văn sẽ trở nên nghèo ý và khô khan Vì vậy phải làm sao để học sinh phát huy được tính độc lập, sáng tạo của bản thân Muốn vậy học sinh phải có khả năng quan sát tinh tế, giàu trí tưởng tượng, có vốn từ phong phú và điều quan trọng là các em phải được nói, được viết, được nhận xét, đánh giá kết quả

Để có một bài văn hay, với mỗi đề bài, tôi yêu cầu học sinh phải tìm hiểu đề qua các việc sau:

Đọc kĩ đề bài.

Xác định nội dung bài, gạch dưới ý chính của bài.

Xác định trọng tâm ý chính, cần tập trung trong bài.

Xác định tư tưởng, tình cảm cần thể hiện trong bài.

Khuyến khích các em sử dụng từ ngữ không lặp, dùng hình ảnh liên tưởng, so sánh Nhờ vậy, nội dung bài của học sinh vừa đủ ý chính vừa phong phú và đảm bảo đúng trọng tâm

V/ KẾT QUẢ

Qua thời gian thực hiện các giải pháp nêu trên, tôi nhận thấy kĩ năng sử dụng từ trong phân môn Tập làm văn của học sinh trong lớp có tiến bộ rõ rệt Các bài văn viết của các em dùng từ tương đối đúng nghĩa, ít

Trang 9

lặp từ, câu văn gãy gọn, bước đầu có hình ảnh Chất lượng bài văn viết của học sinh ngày càng được nâng cao, cách sử dụng từ đạt được như sau:

-Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ tương đối sát thực, có hình ảnh trong văn viết: 5 em

-Sử dụng từ đúng : 8 em

-Sử dụng từ còn hạn chế : 8 em

-Kĩ năng sử dụng từ còn yếu trong văn viết: 7 em

Kết quả đạt được tuy chưa cao như mong muốn nhưng bước đầu đã có tiến triển tốt Bản thân tôi sẽ tiếp tục áp dụng các giải pháp trên và không ngừng tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ các bậc đàn anh đàn chị cũng như học hỏi các phương pháp mới từ các đồng nghiệp trẻ để tích lũy kinh nghiệm cho bản thân và giúp học sinh học ngày càng tốt hơn

VI BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Mặc dù đã tìm tòi được một số giải pháp nhằm giúp học sinh rèn luyện về cách dùng từ trong phân môn Tập làm văn song tôi biết mình vẫn còn phải cố gắng học hỏi nhiều hơn nữa Qua thực hiện các giải pháp nêu trên, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

1.Đối với giáo viên:

- Phải chuẩn mực và có vốn từ ngữ phong phú để nhằm truyền đạt, cung cấp và mở rộng vốn từ cho học sinh

- Thường xuyên tham khảo các bài văn hay Biết sưu tầm, tích lũy những câu văn sử dụng từ ngữ sinh động, hợp lí ghi vào cuốn sổ tay văn học của mình

- Cần trang bị cho học sinh những phương pháp, cách thức làm bài cơ bản; đưa các em vào nội dung bài một cách tự nhiên, diễn đạt có nghệ thuật và giúp học sinh bộc lộ cảm xúc qua các bài học nhằm xây dựng mầm non văn học trỗi dậy và mãi mãi vươn lên

2.Đối với học sinh:

- Thường xuyên tham khảo các bài văn hay

- Phát huy tối đa tính tích cực, tự giác trong học tập

-Phải có lòng kiên nhẫn, kiên trì, biết lắng nghe, quan sát, vận dụng các giác quan

Trên đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng và bước đầu thấy có hiệu quả tương đối tốt Tôi xin mạnh dạn chia sẻ và mong nhận được sự góp ý chân thành của Ban giám hiệu nhà trường, của các anh chị và các bạn đồng nghiệp

Trang 10

R’lơm, tháng 11 năm 2012

Người viết

NGUYỄN VĂN SƠN

Ý kiến đánh giá của Hội đồng thẩm định

Ngày đăng: 30/04/2018, 08:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w