1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tập làm văn lớp 5 ở trường TH hoàng hoa thám

19 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chương trình tập làm văn của lớp 5 hiện nay khá phong phú, học sinh được học một số thể loại văn như: Kể chuyện, miêu tả và một số loại văn bản khác lập chương trình hoạt động,

Trang 1

I.MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, sáng tạo, thực hành và thể hiện được đậm nét dấu ấn cá nhân Nội dung chương trình tập làm văn của lớp

5 hiện nay khá phong phú, học sinh được học một số thể loại văn như: Kể chuyện, miêu tả và một số loại văn bản khác( lập chương trình hoạt động, báo cáo thống kê, thuyết trình tranh luận, viết đoạn đối thoại…)

Dạy tập làm văn lớp 5 vừa giúp học sinh có thể quan sát được thiên nhiên xã hội môi trường sống một cách sinh động, chân thực và sâu sắc hơn Học sinh có thể lĩnh hội được kiến thức từ những người xung quanh và thông qua đó có thể diễn đạt, xúc cảm, suy nghĩ, nhận thức của mình tới những khác thông qua bài tập làm văn hay đoạn văn mà các em viết được, nhằm trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn; góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn từ, cách sử dụng vốn từ hợp lí đúng mục đích rèn luyện tư duy lô gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm

mĩ, giáo dục kĩ năng sống và hình thành nhân cách cho học sinh

Trong chương trình Tiểu học mới, các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn vị học Quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn văn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ đề đã học Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý chia đoạn bài kể chuyện, miêu tả, biên bản,… góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh nhân hoá khi miêu tả : Tả cảnh, tả người, tả nhân vật, tả đồ vật; nhờ huy động vốn sống, huy động trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện Khi học các tiết tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình Khi phân tích đề tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài Khi quan sát đồ vật trong văn miêu

tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người và vật Các bài luyện tập, làm báo cáo thống kê, làm đơn, làm biên bản, lập chương trình hoạt động…cũng tạo cơ hội cho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Những cơ hội đó làm cho tình yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người và vật xung quanh của trẻ nảy nở; tâm hồn tình cảm của trẻ thêm phong phú Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ Qua phân môn Tập làm văn này giúp trẻ:

Học để làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như kiểm soát cảm xúc, tự nhận

thức, tự tin…

Có thể nói bàn đến việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tập làm văn nói riêng theo tinh thần đổi mới phương pháp, không áp đặt, không làm thay, chỉ gợi mở để học sinh sắp xếp ý, viết câu, lập dàn bài, giáo viên thường gặp khó khăn, kết quả học tập cảu học sinh còn nhiều hạn chế Đây là thực trạng rất phổ biến ở các lớp học Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các em thiếu vốn

từ ngữ để diễn đạt Gần đây, nhiều báo đưa về một bài “thơ” có tên là “Cô bắt

làm văn tả bà”, tác giả có tên là Hiếu Orion Nguyên văn như sau:

Trang 2

“Bà ngoại em vẫn chưa già - Chiều chiều bà cưỡi xe ga ra đường - Mắt

bà vẫn rất tinh tường - Tóc nhuộm ánh tím, soi gương mỗi ngày - Nhưng Bà em vẫn rất hay - Bà chăm con cháu luôn tay, luôn mồm - Công việc bà vẫn ôm đồm - Chăm lo con cháu sớm hôm không nề - Hôm nay cô giáo ra đề - Bắt em phải tả, viết về Bà em - Em tả giống hệt bên trên - Cô bắt viết lại, mắng thêm

em rằng: Đã Bà là phải rụng răng Tóc phải bạc trắng như trăng trên trời

-Bà cũng không được ăn chơi - Vì mắt phải kém và môi nhai trầu - Đã -Bà là phải ngồi khâu - Không được ngồi hát Ka Ra Ô Kề - Nhất là không được ghi đề

- Tuyệt đối không được phóng xe ào ào - Em nghe chẳng hiểu thế nào - Em phải hỏi mẹ xem sao vụ này - Tả sai thì lại không hay - Tả đúng thì lại có ngày

ăn roi - Kiểu này phải bảo mẹ thôi - Hay đổi Bà khác đúng lời của cô???”

Ở câu chuyện bài thơ “lạ” tả bà, qua những câu thơ lục bát, tác giả Hiếu

Orion đã khắc họa hình ảnh bà ngoại thực tế, hình ảnh ấy đối lập hoàn toàn với

hình ảnh người bà mà cô giáo hay bắt học trò tả theo văn mẫu như: tóc trắng, răng rụng, miệng nhai trầu Ngoại trong bài thơ lạ rất hiện đại: tóc nhuộm, hát karaoke, đi xe ga…Nhiều người phụ nữ Việt Nam hôm nay khi đã lên chức bà nội, bà ngoại ở tuổi 45- 50 nhiều người vẫn trẻ trung, xinh đẹp nhưng hình ảnh chân thật ấy bị phê bình và nhận điểm kém vì… “thiếu thực tế”, hay nói đúng hơn là không giống trong văn mẫu Bài thơ cũng là một cách nhìn hài hước của chính tác giả về cách dạy và học văn trong thực tế hiện nay

Để rút kinh nghiệm cho bản thân giảng dạy tốt hơn phân môn tập làm văn và giúp các em học sinh lớp 5 học tập tốt hơn phân môn này, tôi xin chọn

đề tài: “Một số giải pháp tích hợp Giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tập

làm văn 5 ở trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám’’.

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở điều tra thực trạng về chất lượng dạy và học phân môn tập làm văn lớp 5, từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học sinh học tốt hơn phân môn tập làm văn trong trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám Đồng thời hình thành cho các em: “Kỹ năng sống” thông qua một quá trình sống, rèn luyện, học tập phân môn Tập làm văn trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội

3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu một số giải pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tập làm văn lớp 5

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu để tìm ra kiến thức cơ bản có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Từ

đó xây dụng phần cơ sở lí luận của đề tài, giúp cho kết quả của đề tài được nâng cao mở rộng

4.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng miêu tả bằng cách tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan

Trang 3

đến đối tượng, nhằm thu thập tài liệu sống về thực tiễn miêu tả từ đó khái quát rút ra kết luận

4.3 Phương pháp điều tra

Phương pháp này nhằm thu thập rộng rãi các số liệu, hiện tượng qua việc

sử dụng hệ thống câu hỏi, từ đó phát hiện ra vấn đề cần giải quyết Xác định tính phổ biến hay nguyên nhân nào đó chuẩn bị cho nghiên cứu trực tiếp

4.4 Phương pháp đàm thoại

Là phương pháp giảng dạy trong đó giáo viên nêu vấn đề, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời Trên cơ sở ấy giáo viên giúp học sinh rút ra kết luận

4.5 Phương pháp thực nghiệm

Là phương pháp thực hành để kiểm tra kết quả đưa ra có tốt không thông qua đó điều chỉnh cho hợp lí

5 Những điểm mới của SKKN

- Thống kê các lỗi mà HS mắc phải gần đây để hướng dẫn các em viết văn miêu tả phù hợp với giai đoạn hiện nay.Thông qua dạy học tập làm văn dạy các em một số kĩ năng sống cần thiết

- Học sinh có kĩ năng làm bài văn miêu tả tốt hơn

- Năm nay học sinh nghỉ học vì dịch covid 19các em ở nhà các em đã vận dụng được một số kĩ năng như tự học và tìm tòi kiến thức bổ ích, kĩ năng hợp tác với ngưòi khác trong việc phòng chống dịch…

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

1.1 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy tập làm văn lớp 5 có

tích hợp Kĩ năng sống.

Theo “ Theo chiến lược con người” mà Đảng đã vạch ra đường hướng rất

đúng đắn là “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhà

trường của chúng ta là hướng đến phát triển tối đa những năng lực còn tiềm ẩn trong mỗi học sinh Ở trường Tiểu học, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục Tiểu học, việc chăm lo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập cho học sinh góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước được xem là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng.Các kết quả nghiên cứu cho thấy số học sinh được xem là phát triển( có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống, kĩ năng…) chiếm từ 10-20% trong tổng số học sinh đến trường Đồng thời những con số thống kê cũng cho thấy, các tài năng xuất hiện từ rất sớm, hơn

3

1

những người được xem là tài năng đã là những thần đồng khi chưa đầy 10 tuổi Vì vậy, trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng đứa trẻ còn nhỏ tuổi Nhìn chung, nhiều năm nay, nhà trường chúng tôi

đã chú ý đến việc nâng cao chất lượng môn học này nhưng chưa tạo cho công

Trang 4

việc này những điều kiện đầy đủ Đặc biệt việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy tập làm văn trong môn Tiếng Việt 5 lồng ghép kĩ năng sống cho học sinh càng gặp nhiều khó khăn hơn bởi nhiều lý do: Về phía phụ huynh và học sinh,

số học sinh có hứng thú học tập làm văn ít hơn học môn toán Về phía giáo viên, kỹ năng làm văn ( ngôn ngữ giao tiếp ), khả năng tư duy nghệ thuật còn nhiều hạn chế Số giáo viên có kinh nghiệm dạy tập làm văn trong môn Tiếng Việt còn ít Thêm nữa, do kiến thức cơ bản về Tiếng Việt bị hao mòn nhiều, hoặc ít được rèn luyện kỹ năng này khi còn học ở tại nhà trường nên việc tiếp thu môn học cũng bị hạn chế Nhiều học sinh thực sự lúng túng khi phải bắt tay vào xây dựng dàn ý, viết một đoạn văn bản, ghi ý chính và tóm tắt văn bản, chữa lỗi dùng từ, đặt câu,…bằng Tiếng Việt

1.2 Nhiệm vụ của việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy tập làm

văn lớp 5

Mục tiêu chính của việc làm này là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng

tư duy và năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Góp phần phát triển bốn kỹ năng

sử dụng Tiếng Việt cho học sinh Các hoạt động dạy học phân môn tập làm văn rất gần với cuộc sống thực, do đó các kỹ năng nghe- nói- đọc- viết được vận dụng, rèn luyện và nâng cao, cảc tri thức Tiếng Việt được kiểm nghiệm trong thực tiễn giúp học sinh hiểu rõ hơn, sâu hơn Góp phần khơi dậy, nuôi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt Giờ học tập làm văn lẽ ra phải là giờ sinh động, hấp dẫn lại trở nên buồn tẻ, tạo nên không khí không thích học Có nhiều nguyên nhân cần khắc phục trong đó có một nguyên nhân chúng ta chưa coi trọng đó là: Dạy lý thuyết hoạt động giao tiếp với việc dạy tập làm văn trong Tiếng Việt lớp 5 Trong giao tiếp, nội dung một ngôn bản sẽ được xác định từ hai góc độ: Từ sự kết hợp các yếu tố theo đúng quy tắc ngôn ngữ, sự lý giải ngôn bản của người tiếp nhận, xét dưới góc độ quy tắc ngôn ngữ, ngôn bản là một hệ thống khép, nhưng xét dưới góc độ người tiếp nhận nội dung ngôn bản lại là một hệ thống mở Người mang thông tin cuối cùng trong hoạt động giao tiếp phải là người nghe, người đọc chứ không phải là bản thân ngôn bản Để đạt được mục tiêu trên, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy TLV cho HS lớp 5

có tích hợp Giáo dục KNS cần đặt cho mình những nhiệm vụ sau:

- Bồi dưỡng hứng thú học TLV cho HS

- Bồi dưỡng vốn sống, bổ sung vốn từ ngữ cần dùng ở từng thể loại giúp các em có một số vốn từ cơ bản

- Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng làm văn, giáo dục kĩ năng sống cho HS

- Bồi dưỡng cảm thụ văn học cho HS

2 Thực trạng của việc giảng dạy và học tập phân môn TLV 5 của nhà trường.

- Thuận lợi:

Nhìn một cách bao quát, việc giảng dạy phân môn TLV lớp 5 hiện nay ở nhà trường chúng tôi đã có một số chuyển biến tích cực Trước hết, các qui định, nền nếp về chuyên môn đã được các giáo viên thực hiện nghiêm túc hơn

Trang 5

với một tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm trong giảng dạy Chất lượng giờ lên lớp, chất lượng chấm chữa bài, đã có những tiến bộ nhất định Đặc biệt, một bộ phận giáo viên- nhất là những người vừa có trình độ, vừa có tâm huyết với nghề đã có ý thức tìm tòi, thể hiện phương pháp giảng dạy mới, và ít nhiều họ

đã gặt hái được những thành quả bước đầu rất đáng trân trọng Phong trào thi

GV dạy giỏi, đúc rút kinh nghiệm được nhà trường tiến hành thường xuyên và đem lại những kết quả khá khả quan Trước chuyển biến tích cực trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung phân môn TLV nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân Ngoài ra, bằng tình yêu nghề, ý thức trách nhiệm đối với

HS thân yêu, nhiều GV đã tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng những yêu cầu mới của chương trình hiện nay

- Khó khăn:

Tập Làm Văn là phân môn thực hành tổng hợp, nhưng không ít giáo viên lại dạy thiên về lí thuyết Để có được một kĩ năng, thường thường buộc phải trải qua nhiều bước luyện tập từ thấp đến cao, lúc đầu phải làm theo mẫu, sau đó mới có thể vận dụng sáng tạo Nhưng trên thực tế, HS thường nhảy cóc qua một

số bước, phần tập và phần luyện thường bị coi nhẹ Bên cạnh đó lại phải học những bài, những văn bản trùng lặp một cách đáng tiếc Việc ra đề cho HS làm bài cũng chưa được chú ý một cách đúng mức Phải chăng để có tỷ lệ chất lượng cao, nên ngay trong một số bài kiểm tra giữa kì, cuối kì đều xuất hiện

một số bài mà trước đó đã được không ít tài liệu tham khảo “giải” thành những

bài mẫu Hơn nữa, số HS say mê học phân môn TLV tuy có tăng như đã nêu ở trên nhưng chưa nhiều, chất lượng học phần TLV ở một số bộ phận HS vẫn còn nhiều hạn chế Phần đông vẫn chưa có thói quen chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp, thậm chí khi cần thiết chỉ chép lại bài của bạn Trừ những HS tiếp thu tốt, hầu như các em không để ý gì đến những phần đọc thêm trong SGK Năng lực cảm thụ văn bản cũng như những kĩ năng phân tích đề, làm bài văn,… còn nhiều hạn chế Không ít HS tỏ ra thờ ơ, ít có nhu cầu được tự thân bộc lộ cảm nhận của mình qua một tiết học hay một bài làm Ngay trong số những HS tiếp thu tốt cũng ít thấy sự sáng tạo nổi bật Vấn đề đặt ra ở đây không phải chỉ là đánh giá những bài làm văn tốt hay kém, việc xem thường hay coi trọng đối với một môn học, mà điều đáng nói hơn là chứng tỏ chất lượng dạy và học phân môn TLV rõ ràng còn nhiều bất cập Qua việc dự giờ, tôi nhận thấy rằng, việc giảng dạy và học tập phân môn TLV còn có những vấn đề sau

- Các tiết học thường kéo dài quá thời gian qui định

- Nhiều HS còn mơ hồ về loại văn miêu tả: vì chưa được hướng dẫn quan sát cụ thể chu đáo, tỉ mỉ

- Kĩ năng làm văn của các em còn hạn chế như: chưa biết quan sát, miêu

tả còn chung chung chưa thể hiện được đặc điểm nổi bật của từng chủ đề mình định tả; chưa biết sử dụng những từ gợi tả và các biện pháp nghệ thuật trong bài văn; chưa biết thể hiện cảm xúc của mình khi miêu tả Giáo viên chưa lồng ghép việc dạy chữ thông qua đó để dạy người

- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo…

Trang 6

Thực trạng này đòi hỏi giáo viên cần có những biện pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng dạy TLV có tích hợp GDKNS cho học sinh và khắc phục những hạn chế đã nêu trên

3 Các giải pháp đã tích hợp Giáo dục kĩ năng sống trong dạy học Tập làm văn 5 Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám.

3.1 Bồi dưỡng vốn sống:

Kĩ năng sống thích tò mò, khám phá, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kĩ năng quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đoạn này là sự khát khao được học Người giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khơi gợi tính tò mò tự nhiên của các em Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khơi gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được

Hiện nay, nhiều GV khi dạy làm văn cho HS thường thiên về dạy các kĩ thuật làm bài mà không cung cấp các chất liệu sống, cái tạo nên nội dung bài viết Thường GV ra một đề làm văn và hướng dẫn kĩ thuật làm bài Còn HS thì gắng đọc thật nhiều bài văn mẫu, thậm chí có em bê nguyên bài của người khác vào bài làm của mình Khi thấy một HS ngồi trước một đề văn hàng 15- 20 phút chưa viết được, GV thường cho rằng các em không nắm được lí thuyết viết thể văn nọ, thể văn kia mà không hiểu rằng nguyên nhân đầu tiên làm các

em không có hứng thú viết là do các em đã không tạo được một quan hệ thân thiết giữa mình và đề bài, đối tượng của miêu tả, kể…, nghĩa là các em không

có nội dung, không có gì để nói, để viết về cái đó Nguyên nhân của tình trạng trên là việc thiếu hụt vốn sống, vốn cảm xúc Vì vậy phải bồi dưỡng vốn sống cho các em Trước hết đó là vốn sống trực tiếp: GV cho các em quan sát, trải nghiệm những gì sẽ phải viết

Ví dụ:

GV cần hướng dẫn HS quan sát con đường từ nhà đến trường trước khi yêu cầu tả nó, hoặc GV tổ chức cho các em tham quan một danh lam thắng cảnh của địa phương trước khi yêu cầu các em viết lại một buổi tham quan Tất nhiên, GV cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởng tượng phong phú của HS Nhưng trí tưởng tượng dù bay bổng đế mấy vẫn phải có cơ sở, bắt nguồn từ đời sống thực Một em HS ở vùng núi xa xôi chưa từng thấy cảnh công viên thì không thể tả đúng và có cảm xúc với cảnh đó được; cũng như không thể tả cây chuối đang trổ buồng, cây bàng đang thay lá khi chưa hề nhìn thấy chúng lần nào và không thể gây ra xúc động cho ai khi tả Cần tổ chức tốt quá trình quan sát, tham quan thực tế của HS Khi HS tham quan hoặc quan sát,

GV nên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy suy nghĩ trong các em Sau khi các em đã quan sát, ghi chép ý về hình dáng tính tình, công việc làm quen với đối tượng rồi thì cần phải viết những bài cụ thể về những gì đã quan sát được, những gì đã được tham quan Quy trình hướng dẫn cách quan sát của tác giả qua bài văn :“Bà tôi” của Mác-xim go-rơ-ki Bài

“Người thợ rèn” của Nguyên Ngọc ( trang 123- TV 5 tập 1)

Trang 7

Nếu như đoạn văn tả bà của Hiếu Orion mà biết tả như sau vừa có tính

chân thực, vừa có óc quan sát kĩ, vừa phù hợp với giai đoan lịch sử hiện nay:

“Bà em năm nay đã ngoài 50 tuổi nhưng nhìn bà vẫn còn trẻ lắm Tóc bà chưa bạc mà nhuộm màu ánh tím trông rất quý phái Bà vẫn hay soi gương chải tóc mỗi ngày để cho tóc uốn vào gọn nếp, không lòa xòa sang mang tai Bà rất thương con cháu: công việc nhà bà đảm đương hết, để bố mẹ em yên tâm công tác Ngoài ra, bà còn tham gia quản lí cửa hàng buôn bán nhỏ Ngày lễ 8- 3 vừa qua bà cho cả gia đình em và cửa hàng đi liên hoan, bà còn tham gia hát ka-ra-ô-kê rất hay Em rất yêu quý và ngưỡng mộ bà ngoại của em.”

Ví dụ:

Khi làm bài văn tả cảnh trường em vào một buổi sáng mùa hè, học sinh

tìm ra ý: Những cây phượng vĩ đã nở hoa đỏ rực.Tôi gợi ý các em: Màu sắc của hoa phượng liên tưởng tới màu sắc của sự vật nào? Em có thể dùng hình ảnh so sánh nào để làm rõ vẻ đẹp của màu sắc và hình ảnh những bông hoa phượng, cây phượng?

Học sinh đã tìm ra:

+ Màu sắc của hoa phượng như màu lửa

+ So sánh những bông hoa phượng với ngọn lửa đang cháy

+ Cây phượng vĩ với bó đuốc khổng lồ

Từ đó học sinh viết thành những câu văn: “ Cây phượng vĩ trên sân trường đã nở hoa đỏ rực Những bông hoa như những ngọn lửa hồng rừng rực cháy giữa không trung Cả cây phượng như một bó đuốc khổng lồ treo lơ lửng giữa bầu trời xanh biếc ”

Những bài văn không phải chỉ bị chi phối bởi đích giao tiếp mà còn bị chi phối bởi đối tượng giao tiếp Trong đời sống thường ngày, HS phải tiếp xúc với nhiều người khác nhau và trong từng trường hợp cụ thể ấy các em cũng sẽ giữ

những “vai” khác nhau Chính “vai” giao tiếp này buộc các em trau dồi thêm

vốn sống lựa chọn chi tiết để nói, chọn ngôn từ để thể hiện

Ví dụ:

Bài viết của em Nguyễn Việt Hùng lớp 5E - Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám tả cảnh biển có đoạn viết:

“Biển rộng mênh mông, bát ngát trải ra tít chân trời Mặt biển cứ lóng lánh, lóng lánh dưới ánh trăng chan hòa Đẹp tuyệt vời! Sóng bạc đầu như những đứa trẻ tinh nghịch nối nhau cuồn cuồn xô vào bãi cát, tung bọt trắng xóa như giận hờn như thách thức Càng ra xa, sóng càng hiền hòa hơn, cứ dập dềnh, dập dềnh như nô giỡn, đùa nghịch với biển cả.”

Bài văn của Lê Quỳnh Chi lớp 5E Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám tả người thân của em có đoạn viết:

“Mỗi lần đi xa về mẹ không quên mua quà cho em Có lần là một chiếc bút xinh xắn, lần khác là một con búp bê vàng đáng yêu Đón nhận món quà từ tay mẹ em vô cùng sung sướng Bởi vì em hiểu, dù đi dến đâu mẹ cũng luôn nhớ

về em.”

Trang 8

Qua đó chúng ta giáo dục học sinh kĩ năng quan sát tinh tế , kĩ năng tìm tòi, khám phá và đức tính chân thực từ bé.

3.2 Bồi dưỡng cảm thụ văn học:

Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo Quá trình cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ hệ thống hoá tín hiệu thứ hai của loài người Quá trình này còn mang tính chất chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm( cuốn truyện, bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ) Cảm thụ văn học phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của

HS nên bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là cần tạo điều kiện để

HS tiếp xúc với bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ cần tôn trọng những suy nghĩ cảm xúc thực, thơ ngây của trẻ em và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn Cần trang bị cho các em một số kiến thức về văn học như hình ảnh, chi tiết kết cấu đoan văn, thơ, các đặc trưng ngữ nghệ thuật, một số biện pháp tu từ… Một trong những biện pháp có hiệu quả để bồi dưỡng cảm thụ văn học là rèn luyện cách đọc diễn cảm có sáng tạo Nó giúp HS nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mĩ, kích thích các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn chương Đọc diễn cảm là hình thức tái sản sinh văn bản nghệ thuật, là khám phá ra nhữnh gì

ẩn dưới các dòng chữ để cho chúng được vang lên, giúp cho việc học làm văn ngày càng tốt hơn và trở thành HS có tâm hồn văn chương

Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở HS lớp 5, GV cần giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 Để nắm vững

điệp ngữ “trông” trong bài ca dao Đi cấy đã nhấn mạnh ý nghĩa gì sâu sắc?

Trông trời,trông đất, trông mây

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.

Điệp ngữ “trông” có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc: người đi cấy

phải luôn tính toán, lo lắng, mong mỏi rất nhiều điều để công việc đạt kết quả tốt và bản thân được yên lòng

Nắm vững kiến thức ngữ pháp Tiếng Việt, HS sẽ không thể chỉ nói- viết tốt mà còn có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và sáng tạo Đọc đoan thơ :

Chắt trong vị ngọt mùi hương

Lặng thầm thay những con đường ong bay.

Trải qua mưa nắng vơi đầy

Men trời đất đủ làm thay đất trời.

( Hành trình của bầy ong - Nguyễn Đức Mậu- TV 5 tập một)

Trang 9

Dòng thơ thứ hai ( Lặng thầm thay những con đường ong bay) diễn đạt theo cách đảo vị ngữ lên trước Dòng thơ này có tác dụng nhấn mạnh được ý nghĩa đẹp đẽ: Sự lao động thầm lặng không mệt mỏi của bầy ong trên đường đi kiếm mật cho đời thật đáng cảm phục.

Ngoài những kiến thức về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp, qua các giờ tập đọc, kể chuyện, TLV ở lớp 5 người GV cần cho HS làm quen và cảm nhận bước đầu về một số khái niệm như: hình ảnh, chi tiết, bố cục…khi tìm hiểu một văn bản trên lớp,để tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của bài văn, bài thơ, cảm thụ văn học tốt hơn GV cần hướng dẫn về một số biện pháp nghệ thuật tu từ thuộc yêu cầu chương trình Tiểu học như: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ,đảo ngữ…Để làm được bài văn về cảm thụ văn học đạt kết quả tốt GV cần hướng dẫn HS thực hiện những việc sau:

- Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập( phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì? )

- Đọc và tìm hiểu về câu thơ, câu văn hoặc đoạn trích được nêu trong đề bài

- Viết đoạn văn về cảm thụ văn học hướng vào yêu cầu của đề bài

- Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học, kiên trì rèn luyện từng bước, nhất định các em sẽ viết được những đoạn văn hay về cảm thụ văn học, sẽ có được năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện biết bao điều đáng quý trong văn học và trong cuộc sống của chúng ta

Giúp các em kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo hướng tới chân, thiện, mĩ một cách dễ dàng.

3.3 Cung cấp thêm một số vốn từ ngữ theo chủ đề:

Kĩ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, kho từ ngữ giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ

đối với các em học sinh lứa tuổi này Chương trình Tiếng Việt có các phân môn

Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, TLV làm cơ sở để các em học tốt phân môn TLV Tuy nhiên nội dung SGK Tiếng Việt thường không đáp ứng được Đối chiếu SGK Tiếng Việt 5 ta thấy: Khi dạy một thể loại TLV thì nội dung của phân môn Tập đọc, Từ ngữ tương ứng nhằm cung cấp cho HS vốn từ ngữ học thể loại này là rất ít Tất nhiên chúng ta đều biết rằng vốn từ ngữ của các em được tích luỹ từ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và cả suốt những năm đầu ở bậc Tiểu học Nhưng vốn từ ấy thực sự vẫn chưa đủ để các em làm tốt bài TLV nếu không được cung cấp thêm các từ ngữ theo chủ đề Để hỗ trợ HS, GV cần soạn thêm vốn từ ngữ giúp các em tham khảo để làm văn. Ví dụ: Từ thường dùng khi làm bài văn tả người:

Tả hình dáng:

- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó, tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏng, thon thả, đẫy đà, yểu điệu, béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước, cân đối, gầy guộc, mảnh mai, cường tráng, bệnh hoạn, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm…

Trang 10

- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám nắng, xanh xao, tái mét, tái xanh , không còn chút máu, vuông vắn, vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi ngô, tuấn tú, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ phờ, hung tợn, ngờ nghệch, khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,

- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo, nõn nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, có nhiều vết xẹo, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm đen, đen đủi Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sang, u buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, mù loà, sáng quắc, lồi, tròn vo,xếch, một mí, mắt ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,…

- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, đắm đuối, dáo dác, trìu mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…

Tả tính tình:

- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn, bạo dạn, vị tha, hời hợt, lười nhác, lì lợm, trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị, dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng,…

- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng

khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…

Qua việc cung cấp từ ngữ giúp học sinh khơi gợi đức tính hăng say học tập, tìm tòi cái hay, cái đẹp trong văn chương.

3.4 Khai thác sự chủ động sáng tạo, suy nghĩ tìm ý trên cơ sở quan

sát, liên tưởng hoặc hồi tưởng bằng hệ thống câu hỏi mở:

Ví dụ 1: Tả quang cảnh trường em trước buổi học(Đề bài TLV 5).Một số câu hỏi khai thác ý đòi hỏi sự quan sát:

- Tả khu vực sân trường: Sân trường rộng hay hẹp? Cây cối trồng trên sân đã cao lớn chưa? Có tán toả bóng mát cho các em trong giờ chơi chưa hay chỉ là khu đất nắng chói chang?

- Tả bồn hoa: Bồn hoa được trồng ở trước các lớp học với nhiều loài hoa màu sắc rực rỡ, nhiều cây xanh hay chỉ toàn những cây cỏ dại?

- Tả bảng tin: Bảng tin thường xuyên có những thông tin mới hay thường ngày chỉ là một mặt gỗ sơn đen phẳng lì, im lìm?

Ví dụ 2: Tả chiếc đồng hồ báo thức (Đề TLVlớp 5 -tiết 50) Câu hỏi gợi ý:

- Tả các bộ phận của đồ vật (hình thù ,kích thước từng bộ phận )

- Bốn kim trong đồng hồ ví như bốn anh em, hình dáng và công việc của

bốn được miêu tả như thế nào?( Anh Cả (kim giờ) béo ú ,lùn tịt tính chậm chạp.Anh Hai( kim phút) người tầm thước , điềm đạm Anh Ba ( kim giây) cao

Ngày đăng: 11/07/2020, 16:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w