1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA

36 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận điểm trung tâm trong học thuyểt của Dilman là sự nhạy cảm vùng dưới đồi đối với sự phản hồi âm tính, chủ yếu từ các hormone tuyến yên và các tuyến đích, giảm theo độ tuổi, kết quả là hoạt động của vùng dưới đồi tăng lên làm phá vỡ trạng thái cân bằng nội môi và phát sinh bệnh tật. Khi chúng nhiều tuổi hơn, vùng dưới đồi mất khả năng điều hoà hoạt động của toàn bộ cac hormone trong cơ thể một cách chính xác và các thụ thể tiếp nhận hormone này trong vùng dưới đồi cũng thiếu nhạy cảm với chúng. Theo dó, khi chúng ta già quá trình tiết của rất nhiều hormone bị suy sụp và tác động của nó cũng bị suy giảm do sự suy giảm của thụ thể. Học thuyết thần kinh nội tiết giải thích nguyên nhân của các bệnh chủ yếu của qúa trình lão hoá, gây ra trên 85% ca tử vong và ốm yếu tàn tật ở những người ở tuổi trung mien và người già. Các bệnh này bao gồm béo phì, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, ung thư, rối loạn tự miễn, suy giảm miễn dịch và hyperadaptosis. Hai bệnh khác –suy giảm và mãn kinh mặc dù không tránh được, cũng xảy ra đều đặn cùng với tuổi già. (Mãn kinh theo Dilman là một bệnh,, bởi vì ông mô tả bệnh lá bất kỳ những vi phạm thường xuyên đến cái bất biến bên trong cơ thể)

Trang 2

I-THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT

Trên cơ sở những quan sát được tiến hành trong nhiều năm ở những bệnh nhân lớn tuổi và cả những nghiên cứu trên động vật Các quá trình lão hoá cũng như những nguyên nhân của nó rất được quan tâm ở nước Nga Vladimir Dilman là người đâu tiên phát triển thuyết lão hoá trên sơ sở những thay đổi về chức năng xảy ra trong vùng dưới đồi

Trang 3

2 Nội dung học thuyết [1]

2.1 Luận điểm trung tâm

Luận điểm trung tâm trong học thuyểt của Dilman là sự nhạy cảm vùng dưới đồi đối với sự phản hồi âm tính, chủ yếu từ các hormone tuyến yên và các tuyến đích, giảm theo

độ tuổi, kết quả là hoạt động của vùng dưới đồi tăng lên làm phá vỡ trạng thái cân bằng nội môi và phát sinh bệnh tật

Khi chúng nhiều tuổi hơn, vùng dưới đồi mất khả năng điều hoà hoạt động của toàn

bộ cac hormone trong cơ thể một cách chính xác và các thụ thể tiếp nhận hormone này trong vùng dưới đồi cũng thiếu nhạy cảm với chúng Theo dó, khi chúng ta già quá trình tiết của rất nhiều hormone bị suy sụp và tác động của nó cũng bị suy giảm do sự suy giảm của thụ thể

Học thuyết thần kinh nội tiết giải thích nguyên nhân của các bệnh chủ yếu của qúa trình lão hoá, gây ra trên 85% ca tử vong và ốm yếu tàn tật ở những người ở tuổi trung mien và người già Các bệnh này bao gồm béo phì, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, ung thư, rối loạn tự miễn, suy giảm miễn dịch và hyperadaptosis Hai bệnh khác –suy giảm và mãn kinh mặc dù không tránh được, cũng xảy ra đều đặn cùng với tuổi già (Mãn kinh theo Dilman là một bệnh,, bởi vì ông mô tả bệnh lá bất kỳ những vi phạm thường xuyên đến cái bất biến bên trong cơ thể)

2.2 Hệ thống nội tiết

Mặc dù tuyến yên trong não trực tiếp điều khiển hệ thống nội tiết, tuyến yên này bản thân nó cũng được điều khiển bằng tuyến một cấu trúc khác gọi là vùng đươi đồi Các chất được biết là “yếu tố giải phóng” được tiết ra từ vùng dưới đồi cạnh tuyến yên và hoạt hoá giải phóng một hoặc nhiều hormone của nó Các hormone này kích thích sự tạo thành hormone của các tuyến đích ví dụ như tuyến giáp, tuyến thượng thận, tinh hoàn, buồng trứng và tuyến ức

Trang 4

2.3 Vùng dưới đồi và cân bằng nội môi

Nguồn gốc cơ bản của sinh lý học là khái niệm của cân bằng nội môi Cân bằng nội môi là trạng thái duy trì các thông số về sinh lý, nội tiết, sinh hoá của cơ thể trong một khoảng khá hẹp giúp cho cơ thể khoẻ mạnh và sinh tồn Khoảng cân bằng nội môi mà cơ thể đòi hỏi là tương đối hẹp, và nếu bấy kỳ một thông số then chốt nào ở trên dưới mức

“bình thường” (ví dụ như huyết áp, đường máu, than nhiệt), thì được xem như là mắc bệnh

Vùng dưới đồi là cơ quan cơ bản của sự cân bằng nội môi của cơ thể, chịu trách nhiệm duy trì trạng thái cân bằng của hầu hết các quá trình sinh học trong một khoảng khá hẹp

Yếu tố giải phóng được tiết từ vùng dưới đồi để khởi đầu những thay đổi trong quá trình tiết hormone của tuyến yên Quá trình tiết này duy trì than nhiệt, huyểt áp, trạng thái

no, đói, tập tính giới tính, cân bằng các chất hoá học, nuớc, chu kỳ kinh nguyệt và hang loạt hoạt động chức năng thông thường

Trang 5

Để tuyến dưới đồi hoạt động như vậy, nó phải nhạy cảm với những thay đổi sinh hoá nhỏ bắt nguồn trong chức năng của nó Quá nhiều hay quá it một hormone nhất định trong mô làm cho vùng dưới đồi tiết các yếu tố giải phóng đặc thù ít hơn hay nhiều hơn và/hoặc các yếu tố ức chế để mang lại những điều chỉnh cần thiết.

Các hormones giải phóng từ vùng dưới đồi, làm cho tuyến yên giải phóng các hormone kích thích Các hormone kích thích này làm cho các tuyến nội tiết ngoại vi (tuyến giáp, tuyến thượng thận, buồng trứng và tinh hoàn) để tiết các hormone của nó (thyroxine, cortisone, estrogen, progesterone và testosterone là tên của một số loại hormone) Hệ thống nay được điều khiển theo cơ chế phản hồi âm tính-ví dụ như nồng độ của một hormone ngoại vi trong máu tăng lên (như thyroxin hay testosterone), nó phản hồi đến vùng dưới đồi và tuyến yên, tín hiệu của chíng làm giảm lượng các yếu tố kích thích tuyến yên giải phóng hormone và các hormone

2.4 Tuyến tùng

Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng bản thân vùng dưới đồi bị tác động bởi một cấu trúc khác trong não bộ gọi là tuyến tùng Tuyến tùng có vai trò điều hoà thực hiện chức năng theo chu kỳ của toàn bộ hệ thống thần kinh nội tiết, đặc biệt

Trang 6

hầu hết chu kỳ ngủ-thức trong 24h của chúng ta cũng như là hoạt động của các đồng

hồ sinh học khác.

Ví dụ, mệt mỏi sau chuyến bay được cho là sự mất điều hoà của tuyến yên, mệt mỏi sau chuyến bay thường là cảm giác của khách du lich (đặc biệt khi đi theo hướng đông), nhưng cũng có thể gây ra bởi khi thay đổi công việc, hay chỉ là thức quá khuya Khi chúng ta già đi, chúng ta mất khả năng chịu đựng những thay đổi trong chu kỳ ngủ-thức, và triệu chứng “mệt mỏi sau khi bay” trở nên ngày càng tiến triển sấu đi trong chu kỳ ngủ-thức bởi vì có sự giảm tiết melatonin, một hormone cơ bản của tuyến tùng Nhiều người già hơn khó ngủ vào ban đêm và như là hậu quả của nó, cảm thấy mệt mỏi suốt cả ngày Thông thường hiện tuợng này thường đi cùng với hang loạt các triệu trứng khác bao gồm mất trí, cáu kỉnh, nhầm lẫn, suy nhược hay táo bón Những triệu trứng này tương tự với chứng mệt mỏi sau khi bay Bởi vậy những người mà trải qua những triệu trứng này đang bị lão hoá, rối loạn mãn tính đồng hồ sinh học, giống như là sự mệt mỏi khi bay, gây ra bởi sự suy giảm melatonin (hình 3)

2.5 Cân bằng nội môi và lão hoá

Nếu cơ thể có khả năng duy trì đúng trạng thái cân bằng nội môi từ lúc sinh ra thì sự sinh trưởng và phát triển sẽ không xảy ra Dilnam tin rằng sự thay đổi tính nhạy cảm của vùng dưới đồi đổi với sự phản hồi âm tính là cơ chế làm cho quá trình sinh trưởng và phát triển có thể xảy ra Tuy nhiên, nó cũng là cơ chế chủ yếu của quá trình lão hoá và các bệnh tật của quá trình lão hoá Ví dụ, khi còn là đứa trẻ, chỉ một lượng nhỏ testosterone

Trang 7

được tạo ra Nếu cơ thể của chúng ta vẫn duy trì đúng trạng thái cân bằng nội mô, thậm chí một lượng nhỏ hormone cũng có thể đủ để ngăn cản vùng dưới đồi và tuyến yên tạo ra lượng lớn hơn yếu tố kích thích giải phóng (gonadoliberin) và hormone testosterone Nếu điều này xảy ra (không chỉ testosterone, mà với tất cả các hormone), sự sinh trưởng và phát triển sẽ không bao giờ xảy ra , và chúng ta vẫn là mãi là những đứa trẻ Theo đó trong suốt thời ký thơ ấu và tuổi dậy thì, có sự thay đổi không ngừng của trạng thái cân bằng nội môi, tạo ra sự sinh trưởng và phát triển Vần đề đó là một khi chúng ta đã trưởng thành, không có cơ chế nào để làm ngừng sự mất dần tính nhạy cảm của vùng dưới đồi với cơ chế ức chế phản hồi Theo đó, cân bằng nội môi-cân bằng nội môi đạt đến điều kiện tốt nhất ở tuổi 20-25-tiếp tục thay đổi, tạo ra cao hơn (ví dụ cortisol, insulin) hay thấp hơn (ví dụ estrogen, testosterone) so với lượng tối ưu của rất nhiều hormone, và cuối cùng, trạng thái kiệt sức của các tuyến nội tiết ngoại vi do những nỗ lực kéo dài để chiến thắng sự đánh mất tính nhạy cảm của vùng dưới đồi.

2.6 Sự nhạy cảm của vùng dưới đồi

Cái gì gây làm mất tính nhạy cảm của thụ thể theo độ tuổi Điều này chưa được biết

cụ thể, song Dilman đã xác đinh một số yếu tố dưới đây:

1 Lượng các chất dẫn truyền thần kinh bị suy giảm (catecholamine và serotonin)

2 Giảm số lượng thụ thể hormone của vùng dưới đồi (gây ra một phần bởi giảm nồng đọ amine biogenic)

3 Suy giảm quá trình tiết các hormone tuyến tùng (melatonin và các hormone polypeptide)

4 Tích tụ chất béo

5 Giảm sử dụng glucose

6 Tích tụ các tổn thương thần kinh tạo bởi lượng cortisol tăng dần theo thời gian do stress kéo dài

7 Tích tụ cholesterol trong màng sinh chất của các tế bào thần kinh

2.7 Cân bằng nội môi và quá trình sinh trưởng

Dilman tin rằng 3 hệ thống cân bằng nội môi (ông đã chỉ rõ, “homeostats”)

Liên quan đến quá trình sinh trưởng và phát triển và lão hoá là:

1 Khả năng thích ứng (trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận)

Trang 8

2 Sinh sản (trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục)

3 Năng lượng (trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp)

Ward Dean, MD tin rằng hệ homeostat khác cũng có thể bổ xung vào hệ thống trên: Miễn dịch (tuyến tùng-vùng dưới đồi- tuyến yên-tuyến ức)

Sự phá hỏng hay làm biến đổi chức năng của các homeostat này gây ra những thay đổi trong trao đổi chất đặc trưng của quá trình lão hoá và các bệnh của lão hoá

Dilman xác định qua trực giác rằng tất cả các bênh của quá trình lão hoá được mô tả bởi những thay đổi trong trao đổi chất tương tự Những biến đổi thường gặp nhất bao gồm

sự suy giảm trong dung nạp glucose, chứng tăng insulin và chứng tăng lipid

3 Một số hạn chế của học thuyết [2]

Học thuyết của Dilman đã đưa ra một cơ sở học thuyết mới táo bạo về quá trình lão hoá, cũng như cụ thể, các quy trình kiểm tra lâm sàng để xử lý ngăn cản các bệnh của tuổi già Cái hay của thuyết này là không phủ nhận các thuyết khác, các thuyết về quá trình lão hoá có uy tín hơn, mà nó đứng độc lập Hơn nữa, nó lại kết hợp hay bổ xung cho các học thuyết khác Tuy vậy học thuyết này cũng bộc lộ một số hạn chế

Trước đây học thuyết này đã bị phê bình bởi Nâthn Shock (1977), trên cơ cở là quá ít bằng chứng hay không có bằng chứng ủng hộ nó và nhiều bằng chứng chồng lại nó Ngày nay cũng có những phê bình tương tự, mặc dù những quan sát gần đây của Dilman vẫn khiến ông ủng hộ học thuyết này

Vùng dưới đồi có thể ít đáp ứng với những kích thích phản hồi âm tính của các hormone và các tác nhân khác cùng với tuổi già , nhưng điều này không giải thích được cái gì chịu trách nhiệm cho sự mất chức năng của vùng dưới đồi và không có sự tăng tiết của vùng dưới đồi, tuyến yên, và các hormone tuyến đích Sự mất chức năng của vùng dưới đồi tiến triển một phần bởi sự suy giảm catecholamine (CAs) cần thiểt cho sự giải phóng các hormone vùng dưới đồi Điều này có thể là kết quả của sự suy giảm tyrosine hydroxylase, một enzyme giới hạn tốc độ tổng hợp CAs, cũng như là những tổn thương của các neuron tiết CA trực tiếp gây ra bởi các gốc tự do, các chất độc, và estrogen Sự đánh mất các tế bào thần kinh trong các nhân đặc thù của vùng dưới đồi và sự suy sụt của các thụ thể hormone cũng đã được báo cáo (Meites, 1990, 1991) Kết quả của chúng phần lớn là làm giảm phần lờn đúng hơn là làm làm tăng tiết hormone tuyến đích trên chuột Ở người già, chỉ duy nhất có sự tăng tiết hormone gonadotropic do sự giảm tiết hormone buồng trứng và giảm sự đáp ứng của buồng trứng với gonadotropic hormone (Harman

Trang 9

and Taobert, 1985) Sự tiết của hormone tuyến yên và các tuyến đích vẫn không thay đổi

và sự tiểt hormone sinh trưởng bị suy giảm (Gregerman và Bierman, 1981) Dilman tin rằng thới kỳ mãn kinh của phụ nữ gây ra bởi sự mất chức năng của vùng dưới đồi, trong khi hầu hết đó hầu hết các bằng chứng đều tập trung vào tình trạng thiếu hoạt động của buồng trứng là nguyên nhân ban đầu (Harman và Talbert, 1985)

Rất nhiều quan điểm trong học thuyết gây tranh luận Ví dụ, “đinh nghía về sinh lý học quá trình lão hoá, là một bệnh và không thể có một ranh giới giữa bệnh thông thường

và quá quá trình lão hoá thông thường” Quan điểm này làm lẫn lộn quá trình lão hoá và bệnh tật và thu được trên cơ sở dữ liệu thu được từ các bệnh nhân cao tuổi bị mắc nhiều bệnh Trong quan điểm về sinh lý học, lão hoá được định nghĩa là sự suy biến chức năng của cơ thể theo thời gian, có liên quan đến sự giảm khả năng duy trì cân bằng nội môi (Meites, 1990) Sự giảm chức năng cơ thể bắt đầu từ giai đoạn tương đối sớm của cuộc đời, trước năm 30 tuổi (Shock, 1977) và trước khi bệnh tật xảy ra Do đó, lão hoá không phải là một bệnh, đối lập với quan điểm của Dilman Thậm chí khi tuổi già, cơ thể có thể khoẻ mạnh và thoát khỏi bệnh tật Dilman cũng tin rằng chứng tăng tiết insulin là một đặc điểm điển hình của tuổi già dẫn đến chứng sơ vữa động mạch, cao huyết áp, béo phì và các bệnh khác Tuy nhiên, ở hầu hết người lao động quá trình tiết insulin không thay đổi theo lứa tuổi (Gregerman và Biernan, 1981), và các nguyên nhân khác cũng đã được xác định cho các bệnh nêu trên Cũng đáng quan tâm trong quan điểm tăng tiết GH về ban đêm bởi vì nồng độ glucose thấp là kết quả của sự thiếu thu nhận thức ăn vào ban đêm

Sự dao động lớn của GH thực tế là chỉ xảy ra trong vài giờ đầu tiên của giấc ngủ

Trang 10

II- LÃO HOÁ DA

Sự thay đổi của da là những dấu hiệu dễ nhận biết nhất của quá trình lão hóa Da thực hiện các chức năng khác nhau như là hàng rào cho sự vào ra của các chất, điều hòa thân nhiệt và dịch thể, cân bằng điện giải và cung cấp các thụ thể cho các cảm giác như xúc giác, đau đớn hay áp lực Lão hóa da là phức hợp của quá trình lão hóa bên trong (quy định bởi di truyền) và lão hóa bên ngoài (do tác động của môi trường như phơi dưới ánh nắng) Do trong quá trình lão hóa da trở nên mỏng hơn, nhăn nheo, nhũn cùng với sự biến đổi của màu lông Trong nội dung bài tiểu luận này tôi xin trình bày một số biến đổi về hình thái và hóa sinh học quá trình lão hoá da và một số cơ chế phân tử của quá trình này

1 Sinh lý học của da người [3]

Sự phát triển của da với vai trò là một cơ quan bắt đầu từ thời kỳ bào thai; tuy nhiên

nó chỉ phát triển hoàn thiện sau khi đứa trẻ được sinh ra Ở người trưởng thành, cấu trúc của da được chia làm 3 lớp- bì, biểu bì và lớp dưới da

Trang 11

Hình 4 Cấu trúc da người

1.1 Tầng biểu bì

Tầng biểu bì bao gồm lớp sừng (horny layer, stratum corneum) là lớp bên ngoài, tiếp xúc với môi trường, lớp hạt (granular layer, stratum spinosum), lớp tế bào gai (prickle cell layer, stratum spinosum) và lớp mầm (basal layer, stratum basale) Lớp biểu bì là tầng không sống dày 10-15 lớp tế bào, được xây lên bởi các tế bào sừng như các viên gạch được bao quanh bởi lipid (đóng vai trò như lớp vữa) và tạo nên một hàng rào hoàn hảo cho quá trình vận chuyển tích cực qua da Mặc dù biểu bì là một lớp sống, tầng tiếp theo, lớp gai (dày 1-3 lớp tế bào) có chứa các enzyme co khả năng làm thoái hóa các bào quan như là nhân Bằng cách tổng hợp chất sừng và sự thoái hóa các bào quan, các keratinocyte trong lớp này dần dần biệt hóa thành các tế bào sừng của lớp sừng Các keratinocyte cũng tổng hợp lớp màng bao lấý các hạt là nơi tích trức tiến thân của lá lipid bên trong tế bào của lớp sừng Lớp hạt, là lớp biểu bí sống tiếp theo bao gồm 2-6 lớp tế bào keratin hình trụ và những biến thể của nó thành các hính đa giác Chất sừng trong lớp này kết tụ lại tạo thành các sợi Lớp hạt cùng với lớp mầm cũng được gọi là lớp Malphigian Lớp mầm là lớp có tất cả các bào quan điển hình của tế bào và là lớp có khả năng phân chia tế bào Các tế bào keratin trong lớp này liên kết với màng nền ( hay màng giữa tầng biểu bì và tầng bì) bởi các cấu trúc protein gọi là hemidesmosome và với các tế bào của lớp hạt bởi

Trang 12

desmosome Cùng với các tế bào keratin, các loại tế bào đặc biệt khác cũng có mặt trong lớp mầm là melanocyte, tế bào Langerhan và tế bào Merkel Melanocyte tiết các melanosome có chứa melanin (eumelanin hay phaeomelanin) có tác dụng bảo vệ da chống lại bức xạ của tia cực tím và gốc tự do Tế bào Langerhan có nguồn gốc từ tủy xương thực hiện chức năng của hệ thống miễn dịch với vai trò là các tế bào trình diện kháng nguyên của da Tế bào Merkel cùng với đầu sợi dây thần kinh có mặt trong lớp bì

có vai trò trong cảm giác của da

1.2 Tầng bì

Tầng bì dày khoảng 3-5 mm và bao gồm các mô liên kết đặc biệt là sợi collagen và

mô elastic giúp cho da có khả năng chịu lực và có tính linh động Nó được cung cấp một mạng lưới các mạch máu, mạch bạch huyết, đầu mút dây thần kinh và hàng loạt các phần phụ khác Có 3 phần phụ chính là nang lông, tuyến bã nhờn và các tuyến nội tiết có mặt trong da bắt ngồn gốc từ tầng bì Các nang lông có ở toàn bộ bên ngoài cơ thể ngoại trừ lòng bàn chân, gan bàn tay và môi Bã nhờn được tiết bởi tuyến bã nhờn liên kết với nang lông bao gồm axit béo tự do, triglycerid và sáp và đóng vai trò thiết yếu trong sự bôi trơn

bề mặt da và duy trì pH của bề mặt khoảng 5 Tuyến ngoại tiết (hay tuyến mồ hôi) bắt nguồn từ tầng bì này tiết ra mồ hôi (một dung dịch muối loãng có pH 5) khi phản ứng với stress sinh lý hay khi xúc động Các tuyến đặc biệt đã được biết là các tuyến tiết rụng đầu cũng có mặt mà định vị trong lớp bì-biểu bì ở các khu vực nhất định Tất cả các phần phụ này hoạt động như những đường tắt để có thể đi vào lớp da ở dưới mà không phải đi qua hàng rào của lớp sừng Nó tạo ra sự cách ly của cơ thể và bảo vệ cơ thể khỏi sốc cơ học

1.3 Tầng hạ bì

Tầng hạ bì (hay lớp mỡ dưới da) liên kết tầng bì với các cơ quan bên dưới Nó tạo ra

sự cách ly của cơ thể và bảo vệ cơ thể tránh khỏi sốc cơ học

2 Sự thay đổi cấu trúc da theo tuổi tác [3]

2.1 Tầng biểu bì

Bạc tóc hay nhăn, lún và mỏng đi rõ ràng của da là một số những thay đổi trong các dấu hiệu lâm sàng của lão hóa da Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy không có mối tương quan giữa độ dày của lớp biểu bì và tuổi Không có sự khác biệt nào

về độ dày được nghi nhận do sự khác biệt về giới tính Tính đàn hồi của da bị suy giảm theo tuổi, tuy nhiên khởi động sự xuất hiện của lớp da mỏng hơn do khả năng co của biểu

bì giảm và theo đó các tế bào biểu bì ít tập trung hơn Tính toàn vẹn bị thay đổi cũng làm chậm lại quá trình phục hồi da ở người già Mô hình da mịn, đều đặn đã trở nen thô hơn,

Trang 13

các gợn ít đều đặn hơn cùng với quá trình lão hoá làm cho bề mặt da không đều Trạng thái mỏng như giấy của da lão hoá thậm chí là có khi gần như trong suốt là do sự đánh mất độ dày của tầng bì.

Hình 5 Sự thay đổi cấu trúc da theo tuổi tác

Sự khác biệt mấu chốt giữa da người già và da người trẻ bắt nguồn từ chỗ nối liền giữa tầng bì-biểu bì Hàng loạt các gợn song từ những chỗ lồi ra giống như những ngón tay đã được quan sát giữa tầng bì và biểu bì để tăng diện tích tiếp xúc giúc giữa hai lớp

Trang 14

giúp ngăn cản tầng biểu bì bị tuột khỏi tầng bì Những chỗ nún xuống dưới là các mạng lưới chốt (rete peg) trong khi đó những chỗ lồi lên trên gọi là núm biểu bì (dermal papollae) Các các chỗ lồi này bị dẹt dần dẫn đến làm giảm bề mặt thích hợp của biểu bì

và làm độ dốc của nó dễ dàng bị mất đi Theo đó, diện tích biểu bì bị thu nhỏ một cách đáng kể cùng với các tế bào mầm và tế bào sinh keratin ít hơn trên một đơn vị diện tích Tác động rõ ràng của chính nó là đặc điểm khô da ở tuổi già

Ở mức độ tế bào, lão hóa da bên trong cũng cho thấy sự bất thường đặc trưng trong

sự biệt hoá và hình thái của lớp tế bào mầm Sự phát triển của các tế bào mầm hình khối thành các tế bào Malphigian hình cầu và cuối cùng là các tế bào hình hạt dẹt bị phá vỡ và tính phân cực bị mất Hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành để nghiên cứu tác động của lão hoá đến các tế bào biểu bì Langerhans và phản ứng của nó khi phơi dưới tia cực tím trên mẫu sinh thiết da của người trưởng thành, độ tuổi 22-26/62-86 tuổi Nghiên cứu

đã cho thấy sự giảm mật độ tế bào Langerhan ở người già Tế bào Langerhan phản ứng để nhận ra các kháng nguyên lạ và tiếp theo là phản ứng miễn dịch Hơn nữa, sự thay đôi cũng được nhận ra trong tế bào mast là tế bào đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng Sử dụng phản ứng đốt dưới ánh nắng mặt trời như là một marker cho sự đánh giá phản ứng miễn dịch, các tác giả đã thấy các tế bào cháy nắng ít hơn và sự biến đổi của tế bào mast và tế bào nội bì ở người già ít nổi bật hơn vào lúc đầu, nhưng tác động tương đối mạnh mẽ hơn sau 72 h tương đương với da người trẻ Quan sát cho thấy da người già bị giảm phản ứng miễn dịch Số lượng các tế bào melanocyte có hoạt tính enzyme bị giảm

do giảm số lượng thực tế hay làm mất chức năng của các tế bào này Melanocyte được phân ra làm 2 loại khác nhau về hình thái và chức năng Melanocyte dương tính với DOPA có đặc điểm là tạo thành chất mầu được hoạt hoá và melanocyte không hoạt động hay âm tính với DOPA Theo những nghiên cứu ở trên, mật độ các tế bào melanocyte đã giảm xấp xỉ 6-8% trong 10 năm Giảm mật độ melanocyte đi cùng với sự tăng nói chung quá trình tạo tạo sắc tố theo sự tăng dần của độ tuổi Tuy vậy, quá trình tạo sắc tố này là không đều Nghịch lý này được giải thích sự tăng riêng lẻ melanocyte dương tính với dopa mặc dù mật độ của nó lại giảm khi da phơi liên tục dưới mặt trời làm ảnh hưởng đến sự tạo thành sắc tố

Một nhân tố khác đã được nghiên cứu để giải thích một phần kiểu hình lão hoá đó là chiều dài của telomere Telomere là một đoạn DNA nhỏ ở đầu mút của mỗi NST Chúng bảo vệ NST khỏi bị phá hủy, do đó chúng chúng đảm bảo tính toàn vẹn của NST Tuy nhiên, các telomere bị ngắn đi sau mỗi lần tái bản cho đến khi NST không có khả năng tái bản được nữa Chiều dài telomere bị giảm dần theo độ tuổi ở cả tầng biểu bì và tầng bì

Trang 15

và tỷ lệ ngắn đi trung bình trong lớp biểu bì và lớp bì lần lượt là 9-10bp/năm Sự đánh mất telomere đóng vai trò là đồng hồ sinh học của quá trình lão hoá Sự ngắn dần của telomere gây ra sự lão hoá hay nó là một tác động phụ vẫn còn là một ẩn số song sự ngắn dần cuả telomere và tuổi già luôn đi cùng với nhau

Một nhân tố khác đóng vai trò quan trọng trong tỷ lệ chữa lành vết thương đó là tốc

độ thay thế tế bào biểu bì đã bị giảm đi cùng với tuổi già Sự biến mất của thuốc nhuộm fluorescent, tetrachlorosalicylanilide trên lớp sừng được dung làm chỉ thị cho sự thay thế của các tế bào Thời gian hay thế 20-26 ngày ở nhóm tuổi trên 70 và 1-13,5 ngày ở nhóm đươi 40 tuổi Một phép đo trực tiếp khác cho sự đổi mới của tế bào biểu bì đó là số lượng các tế bào sừng (corneocyte) có thể được cọ sạch ra khỏi da trong 4 ngày- ở da người trẻ

nó cao gấp 2 lần so với ở da người già

2.2 Các tuyến

Một thuận lợi đã không được đánh già đúng mức của tuổi già đó là giảm tiết mồ hôi

và mùi của cơ thể Tuyến mồ hôi và tuyến tiết rụng đầu ít hơn đi cùng với lượng mồ hôi bài tiết ít hơn dẫn đến sự giảm bài tiết trên toàn bộ cơ thể Những nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học nhật bản đã so sánh các mô hình tạo thành mồ hôi ở các mùa trong năm trên người đàn ông già và trẻ đã cho thấy người già giảm khả năng duy trì than nhiệt khi

bị làm nóng đến điểm giới hạn Tuy vậy, có sự khác biệt theo khu vực trong sự giảm tiết

mồ hôi có liên quan đến tuổi già Ví dụ, tốc độ tiết mồ hôi ở đùi người già thấp hơn nhưng nó không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm tuổi khi so sánh tốc độ tiết mồ hôi

so với ở da người trẻ Nghịch lý của sự giảm tiết bã nhờn mặc dù có sự tăng sinh của tuyến bã nhờn đã được giải thích bởi Plewig và Lligman là do sự di động chậm chạp của các tế bào, tăng thời gian đi qua, giảm tốc độ thay thế của các tế bào tạo thành bã nhờn ở tuổi già, dẫn đến làm giảm hoạt động tăng sinh và quá trình bài tiết bị giảm Một thực tế đáng lưu ý là phản ứng với sự kích thích của các hormone từ bên ngoài Sự tạo thành bã nhờn đã tăng gần như gấp đôi khi đưa fluoxymesterone, một sterol đồng hoá có liên hệ về mặt hoá học và dược học với testosterone, khi đưa vào phụ nữ mãn kinh Sauk hi mãn kinh, hoạt động của tuyến bã nhờn giảm dần ở phụ nữ trong khi nó vẫn không bị biến đổi

Trang 16

ở đàn ông cho đến khi 70-80 tuổi mới thây sự suy giảm Do vậy, thiếu sự tạo thành bã nhờn gây ra khô da và tăng sự tạo thành melamin cục bộ nhìn chung làm cho da dễ bị tổn thương hơn cùng với tuổi già.

2.3 Các phần phụ

Bạc và mỏng đi của lông là dấu hiệu ai cũng biết của quá trình lão hoá Mật độ lông, lượng melanocyte chức năng bị giảm nhanh chóng và đường kính của lông cũng vậy Bạc lông là hậu quả của 2 yếu tố: (a) thay đổi chu ký sinh sản của sắc tố melanin trong tế bào melanocyte , kết quả là pha loãng sắc tố trong mỗi nang lông riêng lẻ và (b) bạc lông bởi

vì sự trộn lẫn của tóc mầu và tóc trắng Trái ngược với sự tiếp tục tạo thành melanocyte biểu bì, sự tạo thành melanin trong tóc đi cùng với chu kỳ sinh trưởng của tóc Có giai đoạn tăng sinh melanocyte, giai đoạn chin và cái chết của melanocyte theo chương trình Nhịp điệu bên trong của và melanocyte và sự sinh trưởng của lông bi ảnh hưởng bởi các hormone tuyến sinh dục, thượng thận và thyroid

Các búi lông đã được quan sát trên mặt của các phụ nữ tuổi trung niên tiêm với liều lặp lại testosterone Tương tự như vậy, sự sinh trưởng của râu cũng tăng lên ở người đàn ông già khi xử lý với mô hình tương tự Chu trình của lông ở người già không có khả năng xây dựng lại các đơn vị sắc tố mới bởi vì khả năng tạo thành sắc tố bị giảm ở các nang lông riêng lẻ cũng như có một thực tế là các melanocyte còn lại trong nang lông đã

có không bào và đánh mất thể mang melanin, các melanosome này hay melanocyte bị giảm về số lượng Tyrosinase là enzyme giới hạn tốc độ của quá trình tạo thành melanin Khả năng tạo thành sắc tố của các nang lông bị thay đổi bởi vì hỗn hợp của sự giảm hoạt tính tyrosinase của melanocyte của lông, sự tương tác melanocyte-cortical keratinocyte chưa tối ưu, và những thiếu sót trong sự di chú của melanocyte

Trang 17

Hình 6 Sự thay đổi sắc tố lông

Trái ngược với quá trìng lão hoá da, quá trình lão hoá sinh học của các phần phụ không được nghiên cứu ở mức độ tương đương Móng đã trải qua sự biến đổi rõ rệt trong tốc độ sinh trưởng đã được quan sát bởi Orentreich và Sharp, trong nghiên cứu của họ, sinh trưởng của móng ngón tay cái giảm trung bình 38% từ năm 30 đến 90 tuổi Về cấu trúc, độ dày của móng có thể tăng hoặc giảm, chúng có thể biểu hiện nhợt mầu và mờ đục với khoảng mầu từ trắng đến vàng Ở mức độ tế bào, tấm keratinocyte móng tăng về kích thước và nền móng (nail bed) có sự dày lên của mạch máu và thoái hoá của mô đàn hồi (elastic tissue) Lượng canxi và strontium của móng tăng lên và tính dễ gãy và sự nhấp nhô của móng tăng lên do quá trình hydrat hoá giảm Móng ở những người bị lão hoá có thể bị tác động bởi sự nhiễm trùng như nhiễm trùng bởi nấm, onychauxis (sự phình to cục

bộ của móng biểu thị như hyperkeratosis, mất mầu và mất tính trong), onychogryphosis (móng ngón chân cái to ra và dầy lên), onychocryptosis (móng mọc vào trong) là những dấu hiệu hay gặp Tuy nhiên, người ta vẫn chưa tìm thấy có mối tương quan rõ ràng nào giữa sự nhiễm trùng và lão hoá

2.5 Thần kinh

Mạng lưới thần kinh dưới da phát triển thành 2 giai đoạn: thứ nhất, giai đoạn sinh trưởng trong suốt thời kỳ thơ ấu có thể hoàn chỉnh lúc đầu giai đoạn trưởng thành, gia đoạn thứ 2 với sự suy giảm từ từ ở lúc ban đầu, và sau đó giảm nhanh hơn mật độ các cấu trúc thần kinh và tăng sự phức tạp với tuổi già Số lượng các hạt Meissner bị giảm theo độ tuổi từ 80/mm2 mô của trẻ dưới 7 tuổi xuống 5/mm2 ở người già Như vậy sự suy giảm cảm giác xuất phát từ lý do trên là nguyên nhân của sự thiếu nhạy cảm của các giác quan đặc trưng ở người già

3 Những thay đổi hoá sinh [3]

3.1 Tầng bì

Trong khi hầu hết các thay đổi về hình thái xảy ra ở tầng biểu bì thì những thay đổi

về hoá sinh lại xảy ra ở tầng bì Sự teo của tầng bì được chứng minh bởi những thay đổi trong mô liên kết của tầng bì Để hiểu về sự thay đổi của tầng bì trong quá trình lão hoá, điều cần thiết đầu tiên là hiểu về thành phần hoá sinh của nó

Trang 18

Hình 7 Cấu trúc mô liên kết trong tầng bì

Tầng bì là một lớp mô đàn hồi và mô sợi dày làm cho da có sức bền, mền dẻo và vững chắc và cung cấp nơi nuơng tựa cho tầng biểu bì cũng như là mạng lưới thần kinh

và mạch máu và các phần phụ Nó bao gồm chủ yếu một chất nền ngoại bào của mô liên kết mà có thành phần chủ yếu là collagen và elastin Collagen chiếm 70-80% trọng lượng khô của tầng bì, nó có lực căng lớn do đó nó ngăn cản sự căng quá mức và xé rách, trong khi đó elastin là protein đàn hồi giúp duy trì trạng thái căng, mềm dẻo và đàn hồi của da Thành phần thứ 3 nhỏ hơn của chất nền ngoại bào của biểu bì là glycosaminoglycan/ các đại phân tử proteoglycan chiếm khoảng 1-3% trọng lượng khô Glycosaminoglycan trong

da bao gồm hyaluronic acid (HA), dermatan sulfate, chondroitin 6-sulfate Các hợp chất này được gọi là các nhân tố chống khô da tự nhiên đóng vai trò quan trọng cho quá trình hydrat hoá của da, chủ yếu thông qua khả năng liên kết của nước với HA Tầng bì chia ra làm 2 lớp chính, lớp bì nhú (papillary dermis), nằm ngay dưới tầng biểu bì và lớp lưới nằm đươi lớp bì nhú và ở trên hạ bì Lớp bì nhú bao gồm các bó sợi collagen mỏng bị trộn lẫn với sợi elastic, như là sợi elaunin và oxytalan, tạo ra từ một mạng lưới trộn lẫn vào nhau Ở dưới cấp độ lớp nhú, các sợi này chạy theo một hướng song song với bề mặt tầng biểu bì, trong khi các cái khác lại đi vào giữa lớp nhú và tạo thành dãy cuốn ở phía dưới

Ngày đăng: 30/03/2016, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4. Cấu trúc da người - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 4. Cấu trúc da người (Trang 11)
Hình 5. Sự thay đổi cấu trúc da theo tuổi tác - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 5. Sự thay đổi cấu trúc da theo tuổi tác (Trang 13)
Hình 7. Cấu trúc mô liên kết trong tầng bì - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 7. Cấu trúc mô liên kết trong tầng bì (Trang 18)
Hình 9. Cấu trúc các sợi collagen - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 9. Cấu trúc các sợi collagen (Trang 20)
Hình 10. Sự tạo liên kết ngang trong sợi collagen bởi các AGEs - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 10. Sự tạo liên kết ngang trong sợi collagen bởi các AGEs (Trang 22)
Hình 11: Những bất thường ở sợi elastic có liên quan đến tuổi già. (a) Sợi elastic   trưởng thành với vùng vi sợi đậm đặc ở những người từ 30-70 tuổi - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 11 Những bất thường ở sợi elastic có liên quan đến tuổi già. (a) Sợi elastic trưởng thành với vùng vi sợi đậm đặc ở những người từ 30-70 tuổi (Trang 24)
Hình 12. Tác động của UV đến quá trình lão hoá da - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 12. Tác động của UV đến quá trình lão hoá da (Trang 31)
Hình 13. Con đường truyền t ín hi ệu của photoaging - THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA
Hình 13. Con đường truyền t ín hi ệu của photoaging (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w