1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biểu hiện lâm sàng, nội soi phế quản, hình ảnh học và tiên lượng của u thần kinh nội tiết Carcinoid khí phế quản phổi điển hình và không điển hình

6 68 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 379,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về u carcinoid khí phế quản phổi, xác định đặc điểm lâm sàng, X quang và hình ảnh soi phế quản, cũng như điều trị u carcinoid khí phế quản phổi điển hình và không điển hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy các triệu chứng thường gặp nhất là thở khò khè nghe rõ hơn ở một bên phổi, và khó thở.

Trang 1

VÀ TIÊN LƯỢNG CỦA U THẦN KINH NỘI TIẾT CARCINOID   KHÍ PHẾ QUẢN PHỔI ĐIỂN HÌNH VÀ KHÔNG ĐIỂN HÌNH 

Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Huy Dũng*, Nguyễn Sơn Lam*, Lê Tự Phương Thảo** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: U carcinoid khí phế quản phổi là u thần kinh nội tiết hiếm gặp, chiếm 1% đến 2% u ác tính phổi, 

được xếp hạng từ mức độ ác tính thấp với thời gian sống dài (u carcinoid điển hình: TC) đến mức độ ác tính  trung bình với diễn tiến lâm sàng nặng nề hơn (u carcinoid không điển hình: AC). Tiên lượng tương đối tốt  trong TC, và xấu hơn trong AC 

Mục tiêu: Mục đích của nghiên cứu này là xác định đặc điểm lâm sàng, X quang và hình ảnh soi phế quản, 

cũng như điều trị u carcinoid khí phế quản phổi điển hình và không điển hình. 

Chất liệu và phương pháp: Ghi nhận, đánh giá 24 trường hợp bệnh nhân u carciniod khí phế quản phổi 

nhập viện tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ năm 2008 và 2013. 

Kết  quả:  4  bệnh  nhân  có  u  carcinoid  điển  hình  và  20  bệnh  nhân  có  u  carcinoid  không  điển  hình.  Tỷ  lệ 

nam:nữ là 1:3. Tuổi trung vị là 20,5 tuổi và 34,5 tuổi theo thứ tự đối với TC và AC. Hầu hết u carcinoids phế  quản ở định vị trung tâm trong tầm quan sát được của soi phế quản (100% trong TC so với 85% trong AC). U  carcinoids nằm trong lòng phế quản có hình dạng bên ngoài trơn láng, màu đỏ anh đào, dạng polyp. Hình ảnh X  quang ban đầu bao gồm nốt/khối u phổi (25% TC so với 45% trong AC, p > 0,4) và xẹp phổi (75% TC so với  40% trong AC, p > 0,1). Thở khò khè do u nội khí phế quản là triệu chứng thường gặp nhất trong TC (100%) so  với 45% trong AC. Tiếp đến là triệu chứng khó thở (75% trong TC so với 45% trong AC, p > 0,2). Phẫu thuật  cắt bỏ u là biện pháp điều trị được lựa chọn. 

Kết luận: Các triệu chứng thường gặp nhất là thở khò khè nghe rõ hơn ở một bên phổi, và khó thở. Hình 

ảnh X quang ban đầu bao gồm xẹp phổi và nốt/khối u phổi. Chẩn đoán thường được thiết lập nhờ soi phế quản  ống mềm và sinh thiết phổi dưới hướng dẫn CT Scan lồng ngực. 

Từ khóa: U carcinoid khí phế quản phổi, u carcinoid điển hình, u carcinoid không điển hình. 

ABSTRACT 

CLINICAL MANIFESTATIONS, BRONCHOSCOPIC, IMAGING FINDINGS  

AND PROGNOSIS OF TRACHEOBRONCHOPULMONARY TYPICAL  

VERSUS ATYPICAL NEUROENDOCRINE CARCINOID TUMORS 

Nguyen Huu Lan, Nguyen Huy Dung, Nguyen Son Lam, Le Tu Phuong Thao 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 49 ‐ 54 

Background:  Tracheobronchopulmonary  carcinoid  tumors  are  rare  neuroendocrine  neoplasm,  which 

account  for  1%  to  2%  of  all  lung  malignancies,  ranging  from  low‐grade  tumors  with  a  long  life  expectancy  (typical  carcinoid  tumors:  TC)  to  intermediate‐differentiation  tumors  with  a  more  aggressive  clinical  course  (atypical carcinoid tumors: AC). The prognosis is relatively good in TC, although it is worse in AC. 

Objective:  The  aim  of  this  study  was  to  determine  the  clinical  features,  radiological  and  bronchoscopic 

findings, as well as treatment of typical and atypical tracheobronchopulmonary carcinoid tumors. 

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch  **Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: TS. BS. Nguyễn Hữu Lân  ĐT: 0913185885  Email: nguyenhuulan1965@gmail.com 

Trang 2

Materials  and  Methods:  The  hospital  records  of  24  patients  with  tracheobronchopulmonary  carcinoid 

tumor, who admitted to Pham Ngoc Thach hospital between 2008 and 2013, were evaluated.  

Results:  4  patients  had  typical  and  20  had  atypical  carcinoid  tumor.  Male  to  female  ratio  was  1:3.  The 

median age was 20.5 years and 34.5 years in TC and AC, respectively   Most bronchial carcinoids are in a central  location  within  reach  of  a  bronchoscope  (100%  in  TC  vs.  85%  in  AC).  They  appear  as  smooth,  cherry  red,  polyploidy end bronchial nodules. Initial   radiological findings included pulmonary nodule/mass (25% in TC vs  45% in AC, p > 0.4) and atelectasis (75% in TC vs 40% in AC, p > 0.1). Wheezing due to trachebronchial tumor  was the most common symptom observed in TC (100%) compared to 45% in AC. Then shortness of breath (75% 

in TC vs 45% in AC, p > 0.2). Surgical resection of carcinoid tumor is the treatment of choice. 

Conclusion:  The  most  common  symptoms  are  unilateral  wheezing,  and  shortness  of  breath.  Initial  

radiological  findings  included  atelectasis  and  pulmonary  nodule/mass.  The  diagnosis  is  usually  established  by  flexible bronchoscopy and biopsy or CT‐guided transthoracic core biopsy. 

Key words: Tracheobronchopulmonary carcinoid tumors, typical carcinoid tumors, atypical carcinoid tumors. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Các  u  carcinoid  ở  phổi  là  loại  u  hiếm  gặp, 

thuộc nhóm u thần kinh nội tiết, chiếm khoảng 1 

‐ 2% các u ác tính ở phổi. U carcinoid phổi được 

chẩn đoán đầu tiên bởi Hamperl vào năm 1937, 

lúc  đầu  được  chẩn  đoán  là  ʺU  tuyến  phế 

quản”nằm  trong  số  những  u  kiểu  tuyến  nước 

bọt có độ ác tính thấp trong phế quản với diễn 

tiến  bệnh  rất  chậm.  Hiện  nay,  u  carcinoid  phổi 

nằm  trong  3  nhóm  chính  của  những  u  có  biệt 

hóa thần kinh nội tiết của phổi(4). Các u carcinoid 

được xếp vào các loại từ u carcinoid điển hình có 

độ  ác  thấp  với  tuối  thọ  kéo  dài  cho  tới  loại  u 

carcinoid  không  điển  hình  có  độ  ác  trung  bình 

với diễn tiến bệnh nhanh hơn và carcinôm tế bào 

nhỏ có độ ác cao và cần xem xét nhiều yếu tố về 

cách xử trí lâm sàng và hình thái mô học(2,4). Mục 

đích của nghiên cứu này là mô tả các đặc tính về 

lâm  sàng,  hình  ảnh  học,  kết  quả  điều  trị  của  u 

carcinoid khí phế quản phổi điển hình và không 

điển hình. 

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP  

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu, mô 

tả loạt lâm sàng các trường hợp bệnh nhân nhập 

viện  tại  bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch  từ  tháng 

9.2008 đến tháng 9.2013, có chẩn đoán xác định 

u carcinoid khí phế quản phổi dựa vào kết quả 

giải phẫu bệnh mô tổn thương khí phế quản qua 

soi phế quản ống mềm hay mô phổi lấy từ sinh 

thiết phổi qua sinh thiết phổi xuyên thành ngực 

dưới  hướng  dẫn  chụp  cắt  lớp  điện  toán  lồng  ngực hoặc phẫu thuật lồng ngực. Tất cả các mẫu  bệnh phẩm đều được thực hiện nhuộm hóa mô  miễn dịch kết hợp với hình ảnh mô học nhuộm  Hematoxylin‐Eosin  để  chẩn  đoán  phân  biệt  với  các  u  ác  tính  khác  của  phế  quản‐phổi  và  các  u  khác trong nhóm u thần kinh nội tiết của phổi.  Tất cả các bệnh nhân đều được ghi nhận tiền sử,  bệnh sử, chụp cắt lớp điện toán lồng ngực và soi  phế quản. Các số liệu sau khi thu thập sẽ được 

mã hóa và nhập vào máy vi tính, sử dụng phần  mềm Stata 10 để xử lý. Chúng tôi sử dụng phép  kiểm  Mann‐Whitney  để  so  sánh  sự  khác  biệt  giữa  hai  nhóm  bệnh  nhân  cho  các  biến  định  lượng và phép kiểm χ2 để so sánh sự khác biệt 

về tỷ lệ giữa hai nhóm bệnh nhân cho các biến  định  tính.  Thực  hiện  phép  kiểm  chính  xác  của  Fisher (Fisher’s Exact Test) nếu có trên 20% số ô  trong bảng chéo có tần số mong đợi nhỏ hơn 5.  Tất  cả  các  phương  pháp  kiểm  định  giả  thuyết  được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định 2  bên (two‐sided alternatives). Ngưỡng ý nghĩa là  0,05  (p  <  0,05)  để  chấp  nhận  hay  bác  bỏ  giả  thuyết thống kê.  

KẾT QUẢ 

Trong khoảng thời gian từ tháng 9.2008 đến  tháng  9.2013  chúng  tôi  thu  dung  được  24  bệnh  nhân u carcinoid khí phế quản phổi, bao gồm 4 

u carcinoid điển hình ở khí phế quản phổi và 20 

u  carcinoid  không  điển  hình  ở  khí  phế  quản 

Trang 3

triệu chứng lâm sàng như trình bày trong bảng 

1.  Vị  trí  và  hình  ảnh  học  X  quang  lồng  ngực  u 

carcinoid khí phế quản phổi được trình bày theo 

thứ tự trong bảng 2 và bảng 3. 100% trường hợp 

carcinoid điển hình có u nội phế quản quan sát 

được  qua  soi  phế  quản  ống  mềm.  Chỉ  có  3 

trường  hợp  (15%)  carcinoid  không  điển  hình 

không  phát  hiện  bất  thường  qua  soi  phế  quản. 

Hình ảnh soi phế quản của u carcinoid phổi điển 

hình  và  không  điển  hình  được  trình  bày  trong 

bảng 4. 

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng của bệnh 

nhân u carcinoid phổi điển hình và không điển hình  

Điển hình (n = 4)

Không điển hình (n

= 20)

Nam/Nữ 2/2 4/16

Biểu hiện lâm sàng:

Khó thở 3 9

Bảng 2: Vị trí tổn thương của u carcinoid phổi điển 

hình và không điển hình 

Điển hình (n = 4)

Không điển hình (n

= 20)

+ Thùy dưới phải

+ Gốc trái

0

3

2

3

Bảng 3: Hình ảnh học X quang lồng ngực của u 

carcinoid phổi điển hình và không điển hình 

Điển hình (n = 4)

Không điển hình (n = 20)

Không thấy tổn thương trên phim X quang lồng ngực

3 3

U phổi:

+ Bờ rõ, tròn đều 0 3

Tổn thương đi kèm + Tổn thương phổi 1 0

+ U tuyến ức 0 1

Bảng 4: Hình ảnh soi phế quản ống mềm của u 

carcinoid phổi điển hình và không điển hình 

Điển hình (n = 4)

Không điển hình (n = 20)

U sùi, dễ xuất huyết 4 7

BÀN LUẬN 

Các u carcinoid khí phế quản phổi là loại u 

có độ ác tính thấp và trung bình của các tế bào  thần kinh nội tiết, các u này có nguồn gốc từ các 

tế  bào  Kulchitsky  ở  lớp  niêm  mạc  phế  quản.  U  carcinoid khí  phế  quản  phổi  chiếm  từ  1‐5%  các  loại  u  phổi.  Nhóm  các  u  thần  kinh  nội  tiết  của  phổi được phân chia thành 3 loại: (1) U có độ ác  tính thấp (U carcinoid điển hình), (2) U có độ ác  tính  trung  bình  (U  carcinoid  không  điển  hình),  (3) U có độ ác tính cao (các loại carcinôm tế bào  nhỏ và carcinôm tế bào lớn)(3,5). Về mặt hình thái  giải phẫu bệnh cho thấy 90% các u carcinoid là  loại  biệt  hóa  cao  với  ít  phân  bào,  ít  đa  dạng  tế  bào  và  hoại  tử,  gọi  là  u  carcinoid  điển  hình.  Khoảng 10% có sự phân bào cao, nhân đa dạng 

và  các  tế  bào  không  đều  đặn,  đây  cũng  là  tiêu  chí để chẩn đoán u carcinoid không điển hình(1).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  u  carcinoid  không điển hình của khí phế quản phổi chiếm tỷ 

lệ 83,3%, trong khi u carcinoid điển hình của khí  phế  quản  phổi  chỉ  chiếm  tỷ  lệ  16,7%,  (p  < 

Trang 4

quản  phổi  là  30,5  tuổi;  tuổi  trung  vị  của  u 

carcinoid điển hình là 20,5 tuổi, của u carcinoid 

không  điển  hình  là  34,5  tuổi  (p  <  0,02);  tỷ  lệ 

nam/nữ  bị  u  carcinoid  điển  hình  là  2/2,  của  u 

carcinoid không điển hình là 1/4 (p > 0,2). Theo 

Jamaati  H.R.  và  cộng  sự,  u  carcinoid  điển  hình 

thường  xảy  ra  ở  độ  tuổi  50,  còn  u  carcinoid 

không  điển  hình  thường  xảy  ra  ở  độ  tuổi  60(0). 

Theo  Jeung  M.Y.  và  cộng  sự,  u  carcinoid  phế 

quản xảy ra ở hai giới nam và nữ tương đương 

nhau,  ở  mọi  lứa  tuổi,  với  tuổi  trung  bình  là  45 

tuổi(2). Các báo cáo về tỉ lệ mắc bệnh giữa hai giới 

có thay đổi. Một vài nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nữ 

giới  trẻ  có  cao  hơn  một  ít(0).  Nhìn  chung,  các 

bệnh nhân bị carcinoid phế quản có độ tuổi trẻ 

hơn  so  với  các  u  tân  sinh  khác  của  phổi  ví  dụ 

như  carcinôm  phế  quản.  Tính  trung  bình  bệnh 

nhân  bị  u  carcinoid  không  điển  hình  già  hơn 

bệnh  nhân  u  carcinoid  điển  hình  khoảng  10 

tuổi(2). Biểu hiện lâm sàng cả hai loại u carcinoid 

này bao gồm ho, ho ra máu và những biểu hiện 

tắc  nghẽn  phế  quản.  Tuy  nhiên,  một  số  bệnh 

nhân  bị  u  carcinoid  ở  ngoại  vi  phổi  thường 

không  có  triệu  chứng  lâm  sàng  gì  lạ(0).  Trong 

nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng đau ngực 

gặp  ở  54,2%  bệnh  nhân.  25%  u  carcinoid  điển 

hình  và  60%  u  carcinoid  không  điển  hình  có 

triệu  chứng  khó  thở  (p  >  0,5).  Triệu  chứng  khò 

khè, khó thở do tắc  nghẽn  đường  dẫn  khí  xuất 

hiện  theo  thứ  tự  là  54,2%  và  50%  bệnh  nhân. 

100%  u  carcinoid  điển  hình  và  45%  u  carcinoid 

không điển hình có triệu chứng khò khè. 75% u 

carcinoid  điển  hình  và  45%  u  carcinoid  không 

điển hình có triệu chứng khó thở (p  >  0,2).  Các 

triệu  chứng  ít  gặp  hơn  là  ho  khan  (50%  u 

carcinoid  điển  hình  và  45%  u  carcinoid  không 

điển  hình,  p  >  0,8),  ho  khạc  đàm  (25%  u 

carcinoid  điển  hình  và  40%  u  carcinoid  không 

điển  hình,  p  >  0,5),  sốt  (50%  u  carcinoid  điển 

hình  và  25%  u  carcinoid  không  điển  hình,  p  > 

0,3),  ho  ra  máu  (25%  u  carcinoid  điển  hình  và 

20%  u  carcinoid  không  điển  hình,  p  >  0,8),  sụt 

cân  (50%  u  carcinoid  điển  hình  và  5%  u 

carcinoid không điển hình, p < 0,02). Tất cả bệnh 

nhân u carcinoid đều có triệu chứng lâm sàng. U  carcinoid  phế  quản  có  khả  năng  tổng  hợp,  tích  trữ và chế tiết ra các chất nội tiết nhóm peptide 

và  amin  thần  kinh  như  serotonin,  adrenocorticoid  (ACTH),  somatostatin  và  bradykinin(2). Nhưng theo Jamaati H.R. và cộng 

sự,  các  u  carcinoid  phế  quản  hiếm  khi  có  kèm  hội chứng carcinoid (< 5%); đây là hội chứng do  tăng  tiết  các  chất  adrenocorticoid  ngoại  lai  và  gây  ra  hội  chứng  Cushing.  Về  căn  nguyên  cho  thấy  tất  cả  các  trường  hợp  Cushing  có  1%  là  u  carcinoid(0).  Theo  Jeung  M.Y.  và  cộng  sự,  hiếm  khi bệnh nhân có những biểu hiện bên ngoài do  những  hormone  đặc  hiệu  ngoại  lai  tiết  ra  từ  bướu  như  ACTH.  Hội  chứng  Cushing  chỉ  thấy 

có  ở  2%  những  ca  u  carcinoid  phế  quản.  Hội  chứng  carcinoid  cũng  hiếm  (2‐5%  số  ca)  và  không  phải  do  sản  xuất  từ  bướu  nguyên  phát  phế  quản  trừ  khi  có  di  căn  gan(2).  Chúng  tôi  không  phát  hiện  hội  chứng  Cushing  ở  tất  cả  nhóm  bệnh  nhân  nghiên  cứu  của  chúng  tôi.  Theo  Jeung  M.Y.  và  cộng  sự,  không  có  sự  liên  quan  giữa  u  này  với  việc  hút  thuốc  lá  hoặc  hít  các  chất  gây  ung  thư  khác(2).  Trong  nghiên  cứu  của chúng tôi, chỉ có 25% u carcinoid điển hình  hút  thuốc  lá  3  gói/năm,  5%  u  carcinoid  không  điển hình hút thuốc lá 9 gói/năm. 

U  carcinoid  thường  xảy  ra  ở  phổi  phải  chủ  yếu ở thùy giữa. Tuy nhiên, nếu ở phổi trái thì 

đa số ở thùy trên. U carcinoid khí phế quản phổi 

có  những  đặc  điểm  hình  ảnh  học  thay  đổi  và  thường  là  nốt  đơn  độc  trên  phổi  (0).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  chỉ  có  37,5%  u  carcinoid  khí  phế  quản  phổi  nằm  ở  phổi  phải  (25%  u  carcinoid  điển  hình  và  40%  u  carcinoid  không điển hình, p > 0,5), 75% u carcinoid điển  hình nằm ở phế quản gốc trái, 25% u carcinoid  điển hình nằm ở phế quản thùy trên phải, 15% u  carcinoid không điển hình nằm ở thùy trên trái,  10%  u  carcinoid  không  điển  hình  nằm  ở  thùy  dưới  phải,  15%  u  carcinoid  không  điển  hình  nằm ở phế quản gốc trái, 5% u carcinoid không  điển  hình  nằm  ở  phế  quản  gốc  phải,  15%  u  carcinoid không điển hình nằm ở phế quản thùy  dưới trái, 5% u carcinoid không điển hình nằm ở 

Trang 5

hình nằm ở khí quản. Không có u carcinoid điển 

hình nằm ở khí quản. Khi được chẩn đoán, các u 

không điển hình thường có kích thước lớn và tỉ 

lệ di căn xa cao hơn loại u carcinoid điển hình(0). 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  bệnh  nhân  bị 

xẹp phổi do u gặp ở 75% u carcinoid điển hình, 

40% u carcinoid không điển hình (p > 0,1); hình 

ảnh  X  quang  u  phổi  bờ  đa  cung  gặp  ở  25%  u 

carcinoid điển hình, 25% u carcinoid không điển 

hình.  Các  hình  ảnh  X  quang  khác  của  u 

carcinoid không điển hình là u phổi bờ tròn đều 

(15%), u phổi bờ không rõ (5%). 15% u carcinoid 

không điển hình ở khí quản không có biểu hiện 

rõ hình ảnh trên phim X quang lồng ngực, bệnh 

nhân  đến  khám  vì  triệu  chứng  khó  thở  và  sốt, 

phát hiện u carcinoid khí quản nhờ soi phế quản 

ống mềm.  

U  carcinoid  khí  phế  quản  phổi  có  những 

biểu hiện đặc trưng qua nội soi phế quản. Hầu 

hết u carcinoid phế quản ở các phế  quản  trung 

tâm  dễ  quan  sát  khi  soi  phế  quản.  Các  khối  u 

láng, màu đỏ, dạng polyp trong lòng phế quản. 

Chẩn  đoán  mô  học  bằng  sinh  thiết  qua  nội  soi 

phế quản. Xuất huyết tạo máu tụ lòng phế quản 

sau sinh thiết do tăng sinh mạch máu của bướu 

cũng  đã  được  mô  tả.  Tuy  nhiên,  khi  thực  hiện 

sinh  thiết  thường  qui  qua  soi  phế  quản  cũng 

không  làm  tăng  thêm  tỉ  lệ  tử  vong.  Chẩn  đoán 

các khối u ngoại biên có thể thực hiện bằng sinh 

thiết  kim  dưới  hướng  dẫn  CT‐Scan(2).  Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  hình  ảnh  u  sùi,  dễ 

xuất huyết quan sát được qua soi phế quản ống 

mềm  gặp  ở  100%  u  carcinoid  điển  hình,  35%  u 

carcinoid  không  điển  hình.  50%  u  carcinoid 

không điển hình của khí phế quản có hình ảnh u 

trơn  láng  quan  sát  được  qua  soi  phế  quản  ống 

mềm, 15% u carcinoid không điển hình của phổi 

không  quan  sát  được  tổn  thương  qua  soi  phế 

quản  ống  mềm,  chẩn  đoán  xác  định  nhờ  sinh 

thiết  phổi  dưới  hướng  dẫn  chụp  cắt  lớp  điện 

toán.  Điều  trị  chuẩn  đối  với  các  u  carcinoid  dù 

loại điển hình hay không điển hình đều là phẫu 

thuật cắt bỏ hoàn toàn u(4). Phẫu thuật cắt bỏ u là 

biện pháp lựa chọn tốt nhất giúp tỉ lệ sống còn 

cao  nhất.  Ngày  nay  nhiều  biện  pháp  can  thiệp  qua soi phế quản để giải quyết các bệnh lý này, 

ví dụ như dùng laser Nd‐YAG. Phẫu thuật cắt u  không  hoàn  toàn  qua  nội  soi  phế  quản  được  thực  hiện  khi  tổng  trạng  bệnh  nhân  xấu,  u  tái  phát và tổn thương không tiến triển lan ra khỏi  lòng  phế  quản.  Tuy  nhiên,  phương  pháp  này  không  được  coi  như  phương  pháp  chữa  lành  bệnh, ngoại trừ một vài trường hợp u carcinoid  điển  hình.  Nội  soi  laser  ND‐YAG  kết  hợp  với  phẫu  thuật  giúp  cho  chữa  lành  bệnh  thành  công(0). Ngoài ra, điều trị hóa‐xạ trị liệu còn đang  tranh cãi dù là loại đa mô thức hay đơn trị liệu(4).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tất  cả  bệnh  nhân đều được điều trị phẫu thuật cắt bỏ hoàn  toàn  u  và  hiện  vẫn  còn  sống.  Theo  Jeung  M.Y., 

và  cộng  sự,  tiên  lượng  bệnh  phụ  thuộc  nhiều  vào kết quả chẩn đoán mô học. U carcinoid điển  hình có tiên lượng tốt hơn ngay cả khi có di căn  tới hạch rốn phổi hoặc hạch trung thất cùng bên. 

Tỉ lệ sống còn chung từ 5, 10 tới 15 năm là 92%,  88%  và  76%.  Bệnh  nhân  bị  u  carcinoid  không  điển  hình  có  tiên  lượng  xấu  hơn  với  tỉ  lệ  sống  còn 5, 10 năm là 69 và 24‐52%. Kích thước bướu,  phân  type  mô  học  và  di  căn  hạch  vào  lúc  chẩn  đoán đầu tiên là những yếu tố ảnh hưởng đến tỉ 

lệ tái phát của bệnh(2). 

KẾT LUẬN 

Các  triệu  chứng  thường  gặp  nhất  của  u  carcinoid  khí  phế  quản  phổi  là  thở  khò  khè  nghe rõ hơn ở một bên phổi,  và  khó thở.  Hình  ảnh  X  quang  ban  đầu  bao  gồm  xẹp  phổi  và  nốt/khối  u  phổi.  Hình  ảnh  nội  soi  phế  quản  thường gặp là u sùi dễ xuất huyết hoặc u trơn  láng. Chẩn đoán thường được thiết lập nhờ soi  phế  quản  ống  mềm  và  sinh  thiết  phổi  dưới  hướng  dẫn  CT  Scan  lồng  ngực.  Bệnh  nhân  có  tiên lượng ngắn hạn tốt với điều trị phẫu thuật  cắt bỏ u hoàn toàn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Carcinoid Tumor. Tanaffos, 1(2): 51‐56. 

Tumors  of  the  Thorax:  Spectrum  of  Radiologic  Findings. 

RadioGraphics, 22: 351‐365. 

Trang 6

3 Moran CA, Suster S. (2007). Carcinoid Tumors of The Lung. 

In:  Christopher  D.M.  Fletcher.  Diagnostic  Histopathology  of 

Tumors,  Vol.  2,  3rd  ed.,  pp  187‐188,  Churchill  Livingtone 

Elsevier Inc. 

Atypical  Pulmonary  Carcinoid  Tumor  Overdiagnosed  as 

Small‐Cell  Carcinoma  on  Biopsy  Specimens.  Am  J  Surg 

Pathol, 29: 179‐187. 

Neuroendocrine  Lung  Tumors.  Journal  Thoracic  Pathology,  56: 123‐126. 

 

Ngày nhận bài báo:       01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   30/11/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w