Thuyết thần kinh nội tiết của quá trình lão hoá được mô tả lần đầu tiên trong luận văn thạc sĩ của nhà lão khoa suất sắc người Nga và Vladimir Dilman. Mặc dù Dilman là một nhà khoa học và soạn giả nổi tiếng ở nước Nga nhưng ông lại không được biết đến ở bên ngoài các nước Đông Âu vì hầu hết các sách và bài báo của ông đều được biên soạn bằng tiếng Nga. Năm 1981. hai năm trước khi công bố một quả bom tấn , “kéo dài sự sống” (Life Extension, 2,5 triệu bản), một trong những cuốc sách của Dilman được dịch sang tiếng Anh.
Trang 1HỌCTHUYẾT THẦN KINH NỘI TIÊT CỦA QUÁ TRÌNH LÃO
HOÁ
Trang 2Lich sử
• Thuyết thần kinh nội tiết của quá trình lão
hoá được mô tả lần đầu tiên trong luận văn thạc sĩ của nhà lão khoa suất sắc người Nga
và Vladimir Dilman
• Mặc dù Dilman là một nhà khoa học và soạn
giả nổi tiếng ở nước Nga nhưng ông lại
không được biết đến ở bên ngoài các nước Đông Âu vì hầu hết các sách và bài báo của ông đều được biên soạn bằng tiếng Nga Năm 1981 hai năm trước khi công bố một quả bom tấn , “kéo dài sự sống” (Life
Extension, 2,5 triệu bản), một trong những cuốc sách của Dilman được dịch sang tiếng Anh
Trang 3• Ward Dean, M.D một nhà lão
khoa nổi tiếng của nước Mỹ đã tình cờ đọc được một trong số bản coppy này và sau đó ông
đã cùng Vladimir Dilman phát triển học thuyết này và cho ra đời của cuốn “Học thuyết thần kinh nội tiết của quá trình lão hoá và các bệnh thoái hoá”
xuất bản năm 1992.
Trang 4Luận điểm trung tâm trong học
thuyết
• Luận điểm trung tâm trong học thuyểt của Dilman là sự
nhạy cảm vùng dưới đồi đối với sự phản hồi âm tính, chủ yếu từ các hormone tuyến yên và các tuyến đích, giảm theo độ tuổi, kết quả là hoạt động của vùng dưới đồi
tăng lên làm phá vỡ trạng thái cân bằng nội môi và phát sinh bệnh tật
• Khi chúng nhiều tuổi hơn, vùng dưới đồi mất khả năng
điều hoà hoạt động của toàn bộ cac hormone trong cơ thể một cách chính xác và các thụ thể tiếp nhận
hormone này trong vùng dưới đồi cũng thiếu nhạy cảm với chúng Theo dó, khi chúng ta già quá trình tiết của rất nhiều hormone bị suy sụp và tác động của nó cũng bị suy giảm do sự suy giảm của thụ thể
Trang 5• Học thuyết thần kinh nội tiết giải thích
nguyên nhân của các bệnh chủ yếu của qúa trình lão hoá, gây ra trên 85% ca tử vong và ốm yếu tàn tật ở những người ở tuổi trung mien và người già Các bệnh
này bao gồm béo phì, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, ung thư, rối
loạn tự miễn, suy giảm miễn dịch và
hyperadaptosis
Trang 6Hệ thống nội tiết
• Mặc dù tuyến yên trong não
trực tiếp điều khiển hệ thống
nội tiết, tuyến yên này bản
thân nó cũng được điều khiển
bằng tuyến một cấu trúc khác
gọi là vùng đươi đồi Các chất
được biết là “yếu tố giải
phóng” được tiết ra từ vùng
dưới đồi cạnh tuyến yên và
hoạt hoá giải phóng một hoặc
nhiều hormone của nó Các
hormone này kích thích sự tạo
thành hormone của các tuyến
đích ví dụ như tuyến giáp,
tuyến thượng thận, tinh hoàn,
buồng trứng và tuyến ức
Trang 8Cân bằng nội môi
• Nguồn gốc cơ bản của sinh lý học là khái niệm của cân bằng nội môi
• Cân bằng nội môi là trạng thái duy trì các thông
số về sinh lý, nội tiết, sinh hoá của cơ thể trong một khoảng khá hẹp giúp cho cơ thể khoẻ mạnh
và sinh tồn
• Khoảng cân bằng nội môi mà cơ thể đòi hỏi là tương đối hẹp, và nếu bấy kỳ một thông số then chốt nào ở trên dưới mức “bình thường” (ví dụ như huyết áp, đường máu, than nhiệt), thì được xem như là mắc bệnh
Trang 9Vùng dưới đồi và cân bằng nội
môi
• Vùng dưới đồi là cơ quan cơ bản của sự cân
bằng nội môi của cơ thể, chịu trách nhiệm duy trì trạng thái cân bằng của hầu hết các quá trình
sinh học trong một khoảng khá hẹp.
• Yếu tố giải phóng được tiết từ vùng dưới đồi để khởi đầu những thay đổi trong quá trình tiết
hormone của tuyến yên Quá trình tiết này duy trì than nhiệt, huyểt áp, trạng thái no, đói, tập
tính giới tính, cân bằng các chất hoá học, nuớc, chu kỳ kinh nguyệt và hang loạt hoạt động chức năng thông thường.
Trang 11điều hoà thực hiện
chức năng theo chu kỳ
Trang 13Cân bằng nội môi và lão hoá
• Sự thay đổi tính nhạy cảm của vùng dưới đồi đổi với sự phản hồi âm tính là cơ chế làm cho quá trình sinh
trưởng và phát triển có thể xảy ra
• Theo đó trong suốt thời ký thơ ấu và tuổi dậy thì, có sự thay đổi không ngừng của trạng thái cân bằng nội môi, tạo ra sự sinh trưởng và phát triển Vần đề đó là một khi chúng ta đã trưởng thành, không có cơ chế nào để làm ngừng sự mất dần tính nhạy cảm của vùng dưới đồi với
cơ chế ức chế phản hồi
• Cân bằng nội môi-cân bằng nội môi đạt đến điều kiện tốt nhất ở tuổi 20-25-tiếp tục thay đổi, tạo ra cao hơn (ví dụ cortisol, insulin) hay thấp hơn (ví dụ estrogen,
testosterone) so với lượng tối ưu của rất nhiều
hormone, và cuối cùng, trạng thái kiệt sức của các tuyến nội tiết ngoại vi do những nỗ lực kéo dài thắng sự đánh mất tính nhạy cảm của vùng dưới đồi
Trang 14Sự nhạy cảm của vùng dưới đồi
• Cái gì gây làm mất tính nhạy cảm của thụ thể theo độ tuổi Điều này chưa được biết cụ thể, song Dilman đã xác đinh một số yếu tố dưới đây:
• Lượng các chất dẫn truyền thần kinh bị suy giảm
(catecholamine và serotonin)
• Giảm số lượng thụ thể hormone của vùng dưới đồi (gây
ra một phần bởi giảm nồng đọ amine biogenic)
• Suy giảm quá trình tiết các hormone tuyến tùng
(melatonin và các hormone polypeptide)
Trang 15Hệ thống cân bằng nội môi
homeostats
1 Khả năng thích ứng (trục vùng dưới đồi-tuyến
yên-tuyến thượng thận)
2 Sinh sản (trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục)
3 Năng lượng (trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp)
4 Miễn dịch (tuyến tùng-vùng dưới đồi- tuyến yên-tuyến
ức)
Sự phá hỏng hay làm biến đổi chức năng của các
homeostat này gây ra những thay đổi trong trao đổi chất đặc trưng của quá trình lão hoá và các bệnh của lão hoá.
Trang 16Ưu điểm của học thuyết
Cái hay của thuyết này là không phủ
nhận các thuyết khác, các thuyết về quá trình lão hoá có uy tín hơn, mà nó đứng độc lập Hơn nữa, nó lại kết hợp hay bổ xung cho các học thuyết khác.
Trang 17Nhược điểm
• Không giải thích được cái gì chịu trách nhiệm cho sự mất chức năng
của vùng dưới đồi và không có sự tăng tiết của vùng dưới đồi, tuyến yên, và các hormone tuyến đích
• Sự mất chức năng của vùng dưới đồi tiến triển một phần bởi sự suy
giảm catecholamine (CAs) cần thiểt cho sự giải phóng các hormone vùng dưới đồi Điều này có thể là kết quả của sự suy giảm tyrosine hydroxylase, một enzyme giới hạn tốc độ tổng hợp CAs, cũng như
là những tổn thương của các neuron tiết CA trực tiếp gây ra bởi các gốc tự do, các chất độc, và estrogen.
• Sự đánh mất các tế bào thần kinh trong các nhân đặc thù của vùng
dưới đồi và sự suy sụt của các thụ thể hormone cũng đã được báo cáo Kết quả của chúng phần lớn là làm giảm phần lờn đúng hơn là làm làm tăng tiết hormone tuyến đích trên chuột
Trang 19Sinh lý học của da người
Trang 21Sự thay đổi cấu trúc da theo
tuổi tác
Trang 22lớp biểu bì
• Không có mối tương quan giữa độ dày
của lớp biểu bì và tuổi
• Không có sự khác biệt nào về độ dày
được nghi nhận do sự khác biệt về giới
tính
• Tính đàn hồi của da bị suy giảm theo
tuổi, tuy nhiên khởi động sự xuất hiện
của lớp da mỏng hơn do khả năng co
của biểu bì giảm và theo đó các tế bào
biểu bì ít tập trung hơn
• Tính toàn vẹn bị thay đổi cũng làm chậm lại quá trình phục hồi da ở người già Mô hình da mịn, đều đặn đã trở nen thô
hơn, các gợn ít đều đặn hơn cùng với
quá trình lão hoá làm cho bề mặt da
không đều
Trang 23• Sự khác biệt mấu chốt giữa da người già và da người trẻ bắt nguồn từ chỗ nối liền giữa tầng bì-biểu bì
• Các các chỗ lồi này bị dẹt dần dẫn đến làm giảm bề mặt thích hợp của biểu bì và làm độ dốc của nó dễ dàng bị mất đi Theo
đó, diện tích biểu bì bị thu nhỏ một cách đáng kể cùng với các
tế bào mầm và tế bào sinh
keratin ít hơn trên một đơn vị diện tích Tác động rõ ràng của chính nó là đặc điểm khô da ở tuổi già
Trang 24• Ở mức độ tế bào, lão hóa da bên trong cũng cho thấy
sự bất thường đặc trưng trong sự biệt hoá và hình thái của lớp tế bào mầm
• Sự phát triển của các tế bào mầm hình khối thành các tế bào Malphigian hình cầu và cuối c ùng là các tế bào
hình hạt dẹt bị phá vỡ và tính phân cực bị mất
• Nghiên cứu đã cho thấy sự giảm mật độ tế bào
Langerhan ở người già
• Giảm mật độ melanocyte đi cùng với sự tăng nói chung quá trình tạo tạo sắc tố theo sự tăng dần của độ tuổi
Tuy vậy, quá trình tạo sắc tố này là không đều
Trang 25• Chiều dài telomere bị giảm dần theo độ
độ thay thế tế bào biểu bì đã bị giảm đi
cùng với tuổi già
Trang 26• Tuyến nhờn gần như lớn gấp đôi ở da người già và do đó theo
đúng như lý tưởng thì bã nhờn ở da người già có thể được tiết
nhiều hơn so với ở da người trẻ
• Do sự di động chậm chạp của các tế bào, tăng thời gian đi qua,
giảm tốc độ thay thế của các tế bào tạo thành bã nhờn ở tuổi già, dẫn đến làm giảm hoạt động tăng sinh và quá trình bài tiết bị giảm.
• thiếu sự tạo thành bã nhờn gây ra khô da và tăng sự tạo thành
melamin cục bộ nhìn chung làm cho da dễ bị tổn thương hơn cùng với tuổi già.
Trang 27• Trái ngược với sự tiếp tục tạo thành melanocyte biểu bì, sự tạo thành
melanin trong tóc đi cùng với chu kỳ sinh trưởng của tóc Có giai đoạn tăng sinh melanocyte, giai đoạn chin và cái chết của melanocyte theo chương trình Nhịp điệu bên trong của và melanocyte và sự sinh trưởng của lông bi ảnh hưởng bởi các hormone tuyến sinh dục, thượng thận và thyroid.
• Chu trình của lông ở người già không có khả năng xây dựng lại các đơn vị sắc tố mới bởi vì khả năng tạo thành sắc tố bị giảm ở các nang lông riêng
lẻ cũng như có một thực tế là các melanocyte còn lại trong nang lông đã
có không bào và đánh mất thể mang melanin, các melanosome này hay melanocyte bị giảm về số lượng
• Tyrosinase là enzyme giới hạn tốc độ của quá trình tạo thành melanin Khả năng tạo thành sắc tố của các nang lông bị thay đổi bởi vì hỗn hợp của sự giảm hoạt tính tyrosinase của melanocyte của lông, sự tương tác
melanocyte-cortical keratinocyte chưa tối ưu, và những thiếu sót trong sự
di chú của melanocyte
Trang 28• Móng đã trải qua sự biến đổi rõ rệt trong tốc độ sinh
trưởng đã được quan sát bởi Orentreich và Sharp, trong nghiên cứu của họ, sinh trưởng của móng ngón tay cái giảm trung bình 38% từ năm 30 đến 90 tuổi
• Về cấu trúc, độ dày của móng có thể tăng hoặc giảm, chúng có thể biểu hiện nhợt mầu và mờ đục với khoảng mầu từ trắng đến vàng
• Ở mức độ tế bào, tấm keratinocyte móng tăng về kích thước và nền móng (nail bed) có sự dày lên của mạch máu và thoái hoá của mô đàn hồi (elastic tissue)
• Lượng canxi và strontium của móng tăng lên và tính dễ gãy và sự nhấp nhô của móng tăng lên do quá trình
hydrat hoá giảm
Trang 30Thần kinh
• giảm nhanh hơn mật độ các cấu trúc thần kinh và tăng sự phức tạp với tuổi già Số lượng các hạt Meissner bị giảm theo độ tuổi từ 80/mm2 mô của trẻ dưới 7 tuổi
xuống 5/mm2 ở người già Như vậy sự
suy giảm cảm giác xuất phát từ lý do trên
là nguyên nhân của sự thiếu nhạy cảm
của các giác quan đặc trưng ở người già.
Trang 313 Những thay đổi hoá sinh
Trang 32thành phần hoá sinh của tầng bì
Trang 33Mô liên kết
• Sự mất tổ chức của các sợi collagen tăng cùng với sự mỏng dần của các bó sợi, tăng khoảng không giữa các sợi và sự mất tổ chức được mở rộng thì độ tuổi tăng
• các bó collagen ở người già tạo thành hạt và phân tán với các bó
và sợi riêng lẻ, hay có thể xuất hiện sự nhồi nhét dầy đặc ở một số khu vực
• Mặc dù độ bền của collagen tăng cùng với lão hoá, vì phần lớn liên kết ngang giữa các phân tử không bị giảm, tổng số collagen bị giảm cùng với lão hoá, do sự tăng hoạt tính collagen và vì giảm tổng hợp collagen mới
• Khả năng sinh trưởng của nguyên bào sợi giảm dần khi độ tuổi
tăng lên, trong khi đó hoạt độ của MMPs, bao gồm cả
MMP-1(colagenase ruột), MMP-9 (gelatinase-TL 92kDa) và MMP-2
(gelatinase-TL 72kDa) tăng theo thứ tự 40, 52 và 82% ở nhóm trên
80 tuổi khi so sánh với nhóm 18-29 tuổi.
Trang 35Mạng lưới collagen
• những thay đổi trong mô liên kết có thể đi cùng với sự giảm tổng hợp collagen mới
• Sự ức chế tổng hợp procollagen được cho là do các
thành phần đã bị phân huỷ của chất nền ngoại bào Sự tổng hợp procollagen bởi nguyên bào sợi được điều hoà bởi sự tương tác giữa nguyên bào sợi và các collagen peptid, tuy nhiên sự có mặt của các collagen bị phân huỷ
đã phá vỡ mối tương tác này và làm giảm sư tổng hợp procollagen
• Những thay đổi trong mạng lưới collagen đi cùng với sự lão hoá của chính các sợi collagen này
• Liên kết ngang giữa các sợi collagen làm cho da bền và
có lực đàn hồi, và liên kết ngang này tăng theo độ tuổi làm cho độ cứng của da tăng lên
Trang 36• Hai cơ chế liên quan đó là quá trình phát triển và trưởng thành điều khiển bởi
enzyme và một quá trình đường hoá
không phụ thuộc bởi enzyme
(non-enzymatic glycosylation) tiếp theo là sự trưởng thành của mô