Sự thay đổi của da là những dấu hiệu dễ nhận biết nhất của quá trình lão hóa. Da thực hiện các chức năng khác nhau như là hàng rào cho sự vào ra của các chất, điều hòa thân nhiệt và dịch thể, cân bằng điện giải và cung cấp các thụ thể cho các cảm giác như xúc giác, đau đớn hay áp lực. Lão hóa da là phức hợp của quá trình lão hóa bên trong (quy định bởi di truyền) và lão hóa bên ngoài (do tác động của môi trường như phơi dưới ánh nắng). Do trong quá trình lão hóa da trỏ nên mỏng hơn, nhăn nheo cùng với sự biến đổi của màu lông.
Trang 1TIỂU LUẬN LÃO HÓA DA Giới thiệu
Sự thay đổi của da là những dấu hiệu dễ nhận biết nhất của quá trình lão hóa Da thựchiện các chức năng khác nhau như là hàng rào cho sự vào ra của các chất, điều hòa thânnhiệt và dịch thể, cân bằng điện giải và cung cấp các thụ thể cho các cảm giác như xúcgiác, đau đớn hay áp lực Lão hóa da là phức hợp của quá trình lão hóa bên trong (quyđịnh bởi di truyền) và lão hóa bên ngoài (do tác động của môi trường như phơi dưới ánhnắng) Do trong quá trình lão hóa da trỏ nên mỏng hơn, nhăn nheo cùng với sự biến đổicủa màu lông
1 Sinh lý học của da người
Sự phát triển của da với vai trò là một cơ quan bắt đầu từ thời kỳ bào thai; tuy nhiên
nó chỉ phát triển hoàn thiện sau khi đứa trẻ được sinh ra Ở người trưởng thành, cấu trúccủa da được chia làm 3 lớp- bì, biểu bì và lớp dưới da
Trang 2Hình1
1.1 Tầng biểu bì
Tầng biểu bì bao gồm lớp sừng (horny layer, stratum corneum) là lớp bên ngoài, tiếpxúc với môi trường, lớp hạt (granular layer, stratum spinosum), lớp tế bào gai (prickle celllayer, stratum spinosum) và lớp mầm (basal layer, stratum basale) Lớp biểu bì là tầngkhông sống dày 10-15 lớp tế bào, được xây lên bởi các tế bào sừng như các viên gạchđược bao quanh bởi lipid (đóng vai trò như lớp vữa) và tạo nên một hàng rào hoàn hảocho quá trình vận chuyển tích cực qua da Mặc dù biểu bì là một lớp sống, tầng tiếp theo,lớp gai (dày 1-3 lớp tế bào) có chứa các enzyme co khả năng làm thoái hóa các bào quannhư là nhân Bằng cách tổng hợp chất sừng và sự thoái hóa các bào quan, các keratinocytetrong lớp này dần dần biệt hóa thành các tế bào sừng của lớp sừng Các keratinocyte cũngtổng hợp lớp màng bao lấý các hạt là nơi tích trức tiến thân của lá lipid bên trong tế bàocủa lớp sừng Lớp hạt, là lớp biểu bí sống tiếp theo bao gồm 2-6 lớp tế bào keratin hìnhtrụ và những biến thể của nó thành các hính đa giác Chất sừng trong lớp này kết tụ lại tạothành các sợi Lớp hạt cùng với lớp mầm cũng được gọi là lớp Malphigian Lớp mầm làlớp có tất cả các bào quan điển hình của tế bào và là lớp có khả năng phân chia tế bào.Các tế bào keratin trong lớp này liên kết với màng nền ( hay màng giữa tầng biểu bì và
Trang 3tầng bì) bởi các cấu trúc protein gọi là hemidesmosome và với các tế bào của lớp hạt bởidesmosome Cùng với các tế bào keratin, các loại tế bào đặc biệt khác cũng có mặt tronglớp mầm là melanocyte, tế bào Langerhan và tế bào Merkel Melanocyte tiết cácmelanosome có chứa melanin (eumelanin hay phaeomelanin) có tác dụng bảo vệ dachống lại bức xạ của tia cực tím và gốc tự do Tế bào Langerhan có nguồn gốc từ tủyxương thực hiện chức năng của hệ thống miễn dịch với vai trò là các tế bào trình diệnkháng nguyên của da Tế bào Merkel cùng với đầu sợi dây thần kinh có mặt trong lớp bì
có vai trò trong cảm giác của da
1.2 Tầng bì
Tầng bì dày khoảng 3-5 mm và bao gồm các mô liên kết đặc biệt là sợi collagen và
mô elastic giúp cho da có khả năng chịu lực và có tính linh động Nó được cung cấp mộtmạng lưới các mạch máu, mạch bạch huyết, đầu mút dây thần kinh và hàng loạt các phầnphụ khác Có 3 phần phụ chính là nang lông, tuyến bã nhờn và các tuyến nội tiết có mặttrong da bắt ngồn gốc từ tầng bì Các nang lông có ở toàn bộ bên ngoài cơ thể ngoại trừlòng bàn chân, gan bàn tay và môi Bã nhờn được tiết bởi tuyến bã nhờn liên kết với nanglông bao gồm axit béo tự do, triglycerid và sáp và đóng vai trò thiết yếu trong sự bôi trơn
bề mặt da và duy trì pH của bề mặt khoảng 5 Tuyến ngoại tiết (hay tuyến mồ hôi) bắtnguồn từ tầng bì này tiết ra mồ hôi (một dung dịch muối loãng có pH 5) khi phản ứng vớistress sinh lý hay khi xúc động Các tuyến đặc biệt đã được biết là các tuyến tiết rụng đầucũng có mặt mà định vị trong lớp bì-biểu bì ở các khu vực nhất định Tất cả các phần phụnày hoạt động như những đường tắt để có thể đi vào lớp da ở dưới mà không phải đi quahàng rào của lớp sừng Nó tạo ra sự cách ly của cơ thể và bảo vệ cơ thể khỏi sốc cơ học
1.3 Tầng hạ bì
Tầng hạ bì (hay lớp mỡ dưới da) liên kết tầng bì với các cơ quan bên dưới Nó tạo ra
sự cách ly của cơ thể và bảo vệ cơ thể tránh khỏi sốc cơ học
2 Sự thay đổi cấu trúc da theo tuổi tác
2.1 Tầng biểu bì
Bạc tóc hay nhăn, lún và mỏng đi rõ ràng của da là một số những thay đổi trong cácdấu hiệu lâm sàng của lão hóa da Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấykhông có mối tương quan giữa độ dày của lớp biểu bì và tuổi Không có sự khác biệt nào
về độ dày được nghi nhận do sự khác biệt về giới tính Tính đàn hồi của da bị suy giảmtheo tuổi, tuy nhiên khởi động sự xuất hiện của lớp da mỏng hơn do khả năng co của biểu
Trang 4bì giảm và theo đó các tế bào biểu bì ít tập trung hơn Tính toàn vẹn bị thay đổi cũng làmchậm lại quá trình phục hồi da ở người già Mô hình da mịn, đều đặn đã trở nen thô hơn,các gợn ít đều đặn hơn cùng với quá trình lão hoá làm cho bề mặt da không đều Trạngthái mỏng như giấy của da lão hoá thậm chí là có khi gần như trong suốt là do sự đánhmất độ dày của tầng bì.
Sự khác biệt mấu chốt giữa da người già và da người trẻ bắt nguồn từ chỗ nối liềngiữa tầng bì-biểu bì Hàng loạt các gợn song từ những chỗ lồi ra giống như những ngóntay đã được quan sát giữa tầng bì và biểu bì để tăng diện tích tiếp xúc giúc giữa hai lớpgiúp ngăn cản tầng biểu bì bị tuột khỏi tầng bì Những chỗ nún xuống dưới là các mạnglưới chốt (rete peg) trong khi đó những chỗ lồi lên trên gọi là núm biểu bì (dermalpapollae) Các các chỗ lồi này bị dẹt dần dẫn đến làm giảm bề mặt thích hợp của biểu bì
và làm độ dốc của nó dễ dàng bị mất đi Theo đó, diện tích biểu bì bị thu nhỏ một cáchđáng kể cùng với các tế bào mầm và tế bào sinh keratin ít hơn trên một đơn vị diện tích.Tác động rõ ràng của chính nó là đặc điểm khô da ở tuổi già
Ở mức độ tế bào, lão hóa da bên trong cũng cho thấy sự bất thường đặc trưng trong
sự biệt hoá và hình thái của lớp tế bào mầm Sự phát triển của các tế bào mầm hình khốithành các tế bào Malphigian hình cầu và cuối cùng là các tế bào hình hạt dẹt bị phá vỡ vàtính phân cực bị mất Hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành để nghiên cứu tác độngcủa lão hoá đến các tế bào biểu bì Langerhans và phản ứng của nó khi phơi dưới tia cựctím trên mẫu sinh thiết da của người trưởng thành, độ tuổi 22-26/62-86 tuổi Nghiên cứu
đã cho thấy sự giảm mật độ tế bào Langerhan ở người già Tế bào Langerhan phản ứng đểnhận ra các kháng nguyên lạ và tiếp theo là phản ứng miễn dịch Hơn nữa, sự thay đôicũng được nhận ra trong tế bào mast là tế bào đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dịứng Sử dụng phản ứng đốt dưới ánh nắng mặt trời như là một marker cho sự đánh giáphản ứng miễn dịch, các tác giả đã thấy các tế bào cháy nắng ít hơn và sự biến đổi của tếbào mast và tế bào nội bì ở người già ít nổi bật hơn vào lúc đầu, nhưng tác động tương đốimạnh mẽ hơn sau 72 h tương đương với da người trẻ Quan sát cho thấy da người già bịgiảm phản ứng miễn dịch Số lượng các tế bào melanocyte có hoạt tính enzyme bị giảm
do giảm số lượng thực tế hay làm mất chức năng của các tế bào này Melanocyte đượcphân ra làm 2 loại khác nhau về hình thái và chức năng Melanocyte dương tính vớiDOPA có đặc điểm là tạo thành chất mầu được hoạt hoá và melanocyte không hoạt độnghay âm tính với DOPA Theo những nghiên cứu ở trên, mật độ các tế bào melanocyte đãgiảm xấp xỉ 6-8% trong 10 năm Giảm mật độ melanocyte đi cùng với sự tăng nói chung
Trang 5quá trình tạo tạo sắc tố theo sự tăng dần của độ tuổi Tuy vậy, quá trình tạo sắc tố này làkhông đều Nghịch lý này được giải thích sự tăng riêng lẻ melanocyte dương tính vớidopa mặc dù mật độ của nó lại giảm khi da phơi liên tục dưới mặt trời làm ảnh hưởngđến sự tạo thành sắc tố
Một nhân tố khác đã được nghiên cứu để giải thích một phần kiểu hình lão hoá đó làchiều dài của telomere Telomere là một đoạn DNA nhỏ ở đầu mút của mỗi NST Chúngbảo vệ NST khỏi bị phá hủy, do đó chúng chúng đảm bảo tính toàn vẹn của NST Tuynhiên, các telomere bị ngắn đi sau mỗi lần tái bản cho đến khi NST không có khả năngtái bản được nữa Chiều dài telomere bị giảm dần theo độ tuổi ở cả tầng biểu bì và tầng bì
và tỷ lệ ngắn đi trung bình trong lớp biểu bì và lớp bì lần lượt là 9-10bp/năm Sự đánhmất telomere đóng vai trò là đồng hồ sinh học của quá trình lão hoá Sự ngắn dần củatelomere gây ra sự lão hoá hay nó là một tác động phụ vẫn còn là một ẩn số song sự ngắndần cuả telomere và tuổi già luôn đi cùng với nhau
Một nhân tố khác đóng vai trò quan trọng trong tỷ lệ chữa lành vết thương đó là tốc
độ thay thế tế bào biểu bì đã bị giảm đi cùng với tuổi già Sự biến mất của thuốc nhuộmfluorescent, tetrachlorosalicylanilide trên lớp sừng được dung làm chỉ thị cho sự thay thếcủa các tế bào Thời gian hay thế 20-26 ngày ở nhóm tuổi trên 70 và 1-13,5 ngày ở nhómđươi 40 tuổi Một phép đo trực tiếp khác cho sự đổi mới của tế bào biểu bì đó là số lượngcác tế bào sừng (corneocyte) có thể được cọ sạch ra khỏi da trong 4 ngày- ở da người trẻ
nó cao gấp 2 lần so với ở da người già
2.2 Các tuyến
Một thuận lợi đã không được đánh già đúng mức của tuổi già đó là giảm tiết mồ hôi
và mùi của cơ thể Tuyến mồ hôi và tuyến tiết rụng đầu ít hơn đi cùng với lượng mồ hôibài tiết ít hơn dẫn đến sự giảm bài tiết trên toàn bộ cơ thể Những nghiên cứu gần đây củacác nhà khoa học nhật bản đã so sánh các mô hình tạo thành mồ hôi ở các mùa trong nămtrên người đàn ông già và trẻ đã cho thấy người già giảm khả năng duy trì than nhiệt khi
bị làm nóng đến điểm giới hạn Tuy vậy, có sự khác biệt theo khu vực trong sự giảm tiết
mồ hôi có liên quan đến tuổi già Ví dụ, tốc độ tiết mồ hôi ở đùi người già thấp hơnnhưng nó không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm tuổi khi so sánh tốc độ tiết mồ hôi
ở lưng
Sự tạo thành testosterone điều khiển các tuyến nhờn tạo chất dầu trong suốt cuộc đời.Người ta thấy rằng có sự giảm điều đặn sự tiết bã nhờn với 23% ở đàn ông và 32% ở phụ
Trang 6nữ trong 10 năm Tuy nhiên thông thường sự tạo thành bã nhờn cũng tương ứng với kíchthước tuyến Nghiên cứu đã chứng minh rằng tuyến nhờn gần như lớn gấp đôi ở da ngườigià và do đó theo đúng như lý tưởng thì bã nhờn ở da người già có thể được tiết nhiều hơn
so với ở da người trẻ Nghịch lý của sự giảm tiết bã nhờn mặc dù có sự tăng sinh củatuyến bã nhờn đã được giải thích bởi Plewig và Lligman là do sự di động chậm chạp củacác tế bào, tăng thời gian đi qua, giảm tốc độ thay thế của các tế bào tạo thành bã nhờn ởtuổi già, dẫn đến làm giảm hoạt động tăng sinh và quá trình bài tiết bị giảm Một thực tếđáng lưu ý là phản ứng với sự kích thích của các hormone từ bên ngoài Sự tạo thành bãnhờn đã tăng gần như gấp đôi khi đưa fluoxymesterone, một sterol đồng hoá có liên hệ vềmặt hoá học và dược học với testosterone, khi đưa vào phụ nữ mãn kinh Sauk hi mãnkinh, hoạt động của tuyến bã nhờn giảm dần ở phụ nữ trong khi nó vẫn không bị biến đổi
ở đàn ông cho đến khi 70-80 tuổi mới thây sự suy giảm Do vậy, thiếu sự tạo thành bãnhờn gây ra khô da và tăng sự tạo thành melamin cục bộ nhìn chung làm cho da dễ bị tổnthương hơn cùng với tuổi già
2.3 Các phần phụ
Bạc và mỏng đi của lông là dấu hiệu ai cũng biết của quá trình lão hoá Mật độ lông,lượng melanocyte chức năng bị giảm nhanh chóng và đường kính của lông cũng vậy Bạclông là hậu quả của 2 yếu tố: (a) thay đổi chu ký sinh sản của sắc tố melanin trong tế bàomelanocyte , kết quả là pha loãng sắc tố trong mỗi nang lông riêng lẻ và (b) bạc lông bởi
vì sự trộn lẫn của tóc mầu và tóc trắng Trái ngược với sự tiếp tục tạo thành melanocytebiểu bì, sự tạo thành melanin trong tóc đi cùng với chu kỳ sinh trưởng của tóc Có giaiđoạn tăng sinh melanocyte, giai đoạn chin và cái chết của melanocyte theo chương trình.Nhịp điệu bên trong của và melanocyte và sự sinh trưởng của lông bi ảnh hưởng bởi cáchormone tuyến sinh dục, thượng thận và thyroid
Các búi lông đã được quan sát trên mặt của các phụ nữ tuổi trung niên tiêm với liềulặp lại testosterone Tương tự như vậy, sự sinh trưởng của râu cũng tăng lên ở người đànông già khi xử lý với mô hình tương tự Chu trình của lông ở người già không có khảnăng xây dựng lại các đơn vị sắc tố mới bởi vì khả năng tạo thành sắc tố bị giảm ở cácnang lông riêng lẻ cũng như có một thực tế là các melanocyte còn lại trong nang lông đã
có không bào và đánh mất thể mang melanin, các melanosome này hay melanocyte bịgiảm về số lượng Tyrosinase là enzyme giới hạn tốc độ của quá trình tạo thành melanin.Khả năng tạo thành sắc tố của các nang lông bị thay đổi bởi vì hỗn hợp của sự giảm hoạt
Trang 7tính tyrosinase của melanocyte của lông, sự tương tác melanocyte-cortical keratinocytechưa tối ưu, và những thiếu sót trong sự di chú của melanocyte
2.4 Móng
Trái ngược với quá trìng lão hoá da, quá trình lão hoá sinh học của các phần phụkhông được nghiên cứu ở mức độ tương đương Móng đã trải qua sự biến đổi rõ rệt trongtốc độ sinh trưởng đã được quan sát bởi Orentreich và Sharp, trong nghiên cứu của họ,sinh trưởng của móng ngón tay cái giảm trung bình 38% từ năm 30 đến 90 tuổi Về cấutrúc, độ dày của móng có thể tăng hoặc giảm, chúng có thể biểu hiện nhợt mầu và mờ đụcvới khoảng mầu từ trắng đến vàng Ở mức độ tế bào, tấm keratinocyte móng tăng về kíchthước và nền móng (nail bed) có sự dày lên của mạch máu và thoái hoá của mô đàn hồi(elastic tissue) Lượng canxi và strontium của móng tăng lên và tính dễ gãy và sự nhấpnhô của móng tăng lên do quá trình hydrat hoá giảm Móng ở những người bị lão hoá cóthể bị tác động bởi sự nhiễm trùng như nhiễm trùng bởi nấm, onychauxis (sự phình to cục
bộ của móng biểu thị như hyperkeratosis, mất mầu và mất tính trong), onychogryphosis(móng ngón chân cái to ra và dầy lên), onychocryptosis (móng mọc vào trong) là nhữngdấu hiệu hay gặp Tuy nhiên, người ta vẫn chưa tìm thấy có mối tương quan rõ ràng nàogiữa sự nhiễm trùng và lão hoá
Trang 82.5 Thần kinh
Mạng lưới thần kinh dưới da phát triển thành 2 giai đoạn: thứ nhất, giai đoạn sinhtrưởng trong suốt thời kỳ thơ ấu có thể hoàn chỉnh lúc đầu giai đoạn trưởng thành, giađoạn thứ 2 với sự suy giảm từ từ ở lúc ban đầu, và sau đó giảm nhanh hơn mật độ các cấutrúc thần kinh và tăng sự phức tạp với tuổi già Số lượng các hạt Meissner bị giảm theo độtuổi từ 80/mm2 mô của trẻ dưới 7 tuổi xuống 5/mm2 ở người già Như vậy sự suy giảmcảm giác xuất phát từ lý do trên là nguyên nhân của sự thiếu nhạy cảm của các giác quanđặc trưng ở người già
3 Những thay đổi hoá sinh
3.1 Tầng bì
Trong khi hầu hết các thay đổi về hình thái xảy ra ở tầng biểu bì thì những thay đổi
về hoá sinh lại xảy ra ở tầng bì Sự teo của tầng bì được chứng minh bởi những thay đổitrong mô liên kết của tầng bì Để hiểu về sự thay đổi của tầng bì trong quá trình lão hoá,điều cần thiết đầu tiên là hiểu về thành phần hoá sinh của nó
Trang 9Tầng bì là một lớp mô đàn hồi và mô sợi dày làm cho da có sức bền, mền dẻo vàvững chắc và cung cấp nơi nuơng tựa cho tầng biểu bì cũng như là mạng lưới thần kinh
và mạch máu và các phần phụ Nó bao gồm chủ yếu một chất nền ngoại bào của mô liênkết mà có thành phần chủ yếu là collagen và elastin Collagen chiếm 70-80% trọng lượngkhô của tầng bì, nó có lực căng lớn do đó nó ngăn cản sự căng quá mức và xé rách, trongkhi đó elastin là protein đàn hồi giúp duy trì trạng thái căng, mềm dẻo và đàn hồi của da.Thành phần thứ 3 nhỏ hơn của chất nền ngoại bào của biểu bì là glycosaminoglycan/ cácđại phân tử proteoglycan chiếm khoảng 1-3% trọng lượng khô Glycosaminoglycan trong
da bao gồm hyaluronic acid (HA), dermatan sulfate, chondroitin 6-sulfate Các hợp chấtnày được gọi là các nhân tố chống khô da tự nhiên đóng vai trò quan trọng cho quá trìnhhydrat hoá của da, chủ yếu thông qua khả năng liên kết của nước với HA Tầng bì chia ralàm 2 lớp chính, lớp bì nhú (papillary dermis), nằm ngay dưới tầng biểu bì và lớp lướinằm đươi lớp bì nhú và ở trên hạ bì Lớp bì nhú bao gồm các bó sợi collagen mỏng bị trộnlẫn với sợi elastic, như là sợi elaunin và oxytalan, tạo ra từ một mạng lưới trộn lẫn vàonhau Ở dưới cấp độ lớp nhú, các sợi này chạy theo một hướng song song với bề mặt tầngbiểu bì, trong khi các cái khác lại đi vào giữa lớp nhú và tạo thành dãy cuốn ở phía dướichỗ nối liền giữa tầng biểu bi và tầng bì (gọi là sợi elaunin) Sợi elastic nguyên chất nằm
ở đuôi (gọi là sợi oxytalan) phát sinh dải này và chạy vuông góc với bản mỏng cơ sở củachỗ nối bì-biểu bì Một số sợi khác xuất phát từ lớp nhú tách ra tạo thành các nhánhnguyên chất giống như cái chổi đi từ các cấp độ thấp hơn của lớp nhú đến bản mỏng cơ sởcủa chỗ nối biểu bì-bì mà không tạo thành một dải hay một dãy cuộn Các sợi đàn hồi tạonên 2 thành phần, một giàn giáo bao gồm cấu trúc sợi đường kính 10-12nm goi là vi sợi,chúng được gắn vào một chất gắn hay một chất nền là elastin, trong đó elastin chiếm 90%trong các sợi này Trong khi các sợi oxytalan có nhiều các vi sợi, với một số elastin vôđịnh hình, các sợi elaunin có tỷ lệ elastin liên kết với các vi sợi nhiều lơn Lớp bì mạnglưới (reticular dermis) bao gồm các bó collagen dầy, không lượn sóng gần như song songvới mặt phẳng của tầng biểu bì (hình 4.3) Các bó collagen này liên kết với nhau bởi cácđiểm khác nhau do sự bện lại của các sợi này và nó được chống đỡ bởi một mạng lưới cácsợi đàn hồi lớn đầy sức mạnh Sợi đàn hồi và các bó collagen tăng nhanh chóng về kíchthước khi hướng về phía hạ bì
Trang 10Có 6 loại collagen khác nhau được phát hịên trong da (từ loại I đến loại VI) và cáccollagen bổ xung được tổng hợp bởi nguyên bào sợi trên invitro Ở người trẻ, collagenloại 1 chiếm 80% trên tổng số các collagen của tầng bì, trong khi đó collagen loại 3 chiếm15% Collagen là các sợi dầy, cân đối, và có định hướng, hơi gợn sóng là được lắp rápsong song, các sợi này bao gồm các vi sợi được tạo ra bởi các phân tử collagen riêng rẽ.Tuy nhiên trong lớp bì nhú, các bó này mỏng hơn, và dẹt hơn Collagen được tổng hợp từprocollagen, sau khi được tiết vào vúng ngoại bào nó biến đổi thành phân tử collagen Loại tế bào chính của tầng bì là nguyên bào sợi Các tế bào này tổng hợp ra tất cả cácthành phần của chất nền –collagen, elastin và biến đổi cơ chất phản ứng và chịu tráchnhiệm trong sự chỉnh sửa của các sợi collagen Tầng bì cũng chứa các đại thực bào và tếbào mast Nguyên bào sợi hay đại thực bào tạo ra collagenase kẽ, một enzyme của một họđược gọi là matrix metalloproteases (MMPs) có khả năng làm thoái hoá phân tử collagen.Nhóm thứ 2 của MMPs được gọi là gelatinase và chúng làm thoái hoá gelatin hay haycollagen đã bị biến tính
Trang 11chính bản thân nó cũng góp phần vào sự xuất hiện các nếp nhăn mịn, sự teo của tầng bì và
sự suy giảm của mô mỡ dưới da Sự thoái hóa collagen nổi tiếng là một nhân tố góp phầnlớn vào sự lão hoá của tầng bì, và dẫn đến một số thay đổi lớn gây ra sự xuất hiện của dalão hoá Trái ngươc với các bó nặng và rắn chắc ở da người trẻ, các bó collagen ở ngườigià tạo thành hạt và phân tán với các bó và sợi riêng lẻ, hay có thể xuất hiện sự nhồi nhétdầy đặc ở một số khu vực Mặc dù độ bền của collagen tăng cùng với lão hoá, vì phầnlớn liên kết ngang giữa các phân tử không bị giảm, tổng số collagen bị giảm cùng với lãohoá, do sự tăng hoạt tính collagen và vì giảm tổng hợp collagen mới đã được chứng minhbằng cách xác định tốc độ tổng hợp hydroxyproline phóng xạ Trong phương pháp này,mảnh da người được ủ trong môi trường có chưa proline phóng xạ, nơi mà protocollagenproline hydroxylase biến đổi proline liên kết với peptid thành hydroxyproline, và sự tạothành hydroxyproline có hoạt tính phóng xạ được dùng để xác định sự tổng hợp collagen
3.2.1 Mạng lưới collagen
Trong những năm trước đây, lão hoá do ánh sáng (photoaging) và lão hoá bên trong
đã được phân chia như là những hiện tượng khác nhau Tuy nhiên, trong những năm gầnđây, một số cơ chế phân tử chung của chúng đã được phát hiện Một trong số đó là sựtăng số lượng MMPs trong lão hoá da bên trong và lão hoá do ánh sáng mặc dù nó tăngcao hơn nhiều ở da bị phá huỷ bởi ánh sáng Varani và cộng sự đã nghiên cứu lão hoábên trong lớp bì ở 4 nhóm cá thể: 18-29 tuổi, 30-59 tuổi, 60-79 tuổi và trên 80 tuổi) Họthấy có sự giảm số lượng nguyên bào sợi khi tuổi tăng lên cùng với sự bất bình thườngcủa mô liên kết Sự mất tổ chức của các sợi collagen tăng cùng với sự mỏng dần của các
bó sợi, tăng khoảng không giữa các sợi và sự mất tổ chức được mở rộng thì độ tuổi tăng.Hai nhóm tuổi sau (60-79, và trên 80) đã được chứng minh là mất nguyên bào sợi và sựbất thường của mô liên kết nhiều hơn so với nhóm tuổi 18-29 và 30-59 Khả năng sinhtrưởng của nguyên bào sợi giảm dần khi độ tuổi tăng lên, trong khi đó hoạt độ của MMPs,bao gồm cả MMP-1(colagenase ruột), MMP-9 (gelatinase-TL 92kDa) và MMP-2(gelatinase-TL 72kDa) tăng theo thứ tự 40, 52 và 82% ở nhóm trên 80 tuổi khi so sánhvới nhóm 18-29 tuổi Người ta cũng nhận thấy biểu hiện của procollagen loại I và loại III
bị giảm trên da bị lão hoá, điều này đã gợi ý rằng những thay đổi trong mô liên kết có thể
đi cùng với sự giảm tổng hợp collagen mới Sự ức chế tổng hợp procollagen được cho là
do các thành phần đã bị phân huỷ của chất nền ngoại bào Sự tổng hợp procollagen bởinguyên bào sợi được điều hoà bởi sự tương tác giữa nguyên bào sợi và các collagenpeptid, tuy nhiên sự có mặt của các collagen bị phân huỷ đã phá vỡ mối tương tác này và
Trang 12làm giảm sư tổng hợp procollagen Mặc dù hiện tượng này có ưu thế trong da bị phá huỷbởi ánh nắng do sự điều hoà giảm của tía cực tím lên MMPs và kết quả là phá huỷcollagen, collagen phá huỷ một phần cũng là đặc điểm của da bị lão hoá Những nghiêncứu in vitro cũng cho thấy tổng hợp procollagen bị giảm mạnh khi có mặt của collagen đã
bị phân huỷ một phần khi so sánh với collagen nguyên vẹn Fligiel và cộng sự đã thấyrằng các phân đoạn collagen trong mẫu da hông đã được bảo vệ khỏi mặt trời thu được từcác cá thể trên 80 tuổi hay già hơn đã tăng lên khi so với trong tuổi 18-20 Cũng vậy,lượng collagen tổng số trong da người già thấp hơn xấp xỉ 30% khi so sánh với mẫutương ứng của da người trẻ
Những thay đổi trong mạng lưới collagen đi cùng với sự lão hoá của chính các sợicollagen này Liên kết ngang giữa các sợi collagen làm cho da bền và có lực đàn hồi, vàliên kết ngang này tăng theo độ tuổi làm cho độ cứng của da tăng lên Hai cơ chế liênquan đó là quá trình phát triển và trưởng thành điều khiển bởi enzyme và một quá trìnhđường hoá không phụ thuộc bởi enzyme (non-enzymatic glycosylation) tiếp theo là sựtrưởng thành của mô Quá trình được điều khiển bởi enzyme này biến đổi từ dạng chưabão hoà với 2 mối liên kết ngang có thể bị khử thành dạng bão hoà với 3 mối liên kếtngang bền của histidinohydroxylysinorleucine (HHL), pyrydinoline (Pyr) vàdeoxypyridinoline (DPyr), trong đó HHL là liên kết ngang vững chắc nhất trong da Quátrình đường hoá không phụ thuộc vào enzyme của protein gọi là phản ứng Maillard dẫnđến sự tạo thành sản phẩm cuối cùng của quá trình đường hoá tiên tiến (advancedglycosylation end produce, AGE), các phân tử này làm tổn thương các phân tử bằng cáchhình thành các liên kết ngang trong collagen Hơn nữa, chỉ một sản phẩm AGE pentosidin(Pen) trong collagen đã được phân lập và mô tả, đã được tìm thấy với nồng độ thấp trong
da
3.3 Mạng lưới mô đàn hồi
Sư thay đổi cấu trúc sợi đán hồi liên quan đến quá trình lão hoá cũng rất rõ rangnhưng phức tạp và đa dạng Mạng lưới elastic bị thay đổi trở nên mất tổ chức và sự thayđổi này đa dạng từ chỗ nối bì-biểu bì đến lớp bì lưới và lớp bì nhú Trong khi các sợioxytalan đã trở nên suy yếu, sợi elaunin này cùng bị cọ sờn trong lớp bì lưới Số lượngcác vi sợi tăng lên đã hợp nhất vào bên trong chất nền đậm đặc vô định hình có mật độđiện tử cao Một trong những biểu hiện chính của lão hoá bẩm sinh là sự xuất hiện của sợiđàn hồi xốp trong mô liên kết Sự biến mất của các sợi oxytalan, tăng loạn dưỡng và bẻ