- Tóm lại, có thể thấy, trong quan niệm của các nhà Nho có sưu tầm ghi chép ca dao cũng như trong quan niệm của giới nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ ca dao thường ñược hiểu theo 3
Trang 1- Trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ, ñịa danh chiếm một tỉ lệ
không nhiều nhưng lại có vai trò rất quan trọng:
Địa danh là một phạm trù lịch sử Nó xuất hiện và tồn tại hàng trăm, hàng
ngàn năm Nó phản ánh nhiều khía cạnh ñịa lý, lịch sử, văn hoá… tại mảnh ñất
mà nó chào ñời Từ lâu nó ñược xem như là những tấm bia lịch sử - văn hoá
bằng ngôn ngữ Chính vì vậy, muốn hiểu rõ một vùng ñất nào, ta không thể
không quan tâm ñến ñịa danh
Do ñịa danh có chức năng cơ bản là ñịnh danh và cá thể hoá ñối tượng
nên nó trở thành một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống xã hội Thử
tưởng tượng nếu như một ngày bỗng dưng tất cả tên các tỉnh, thành phố trên ñất
nước ta biến mất Thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ bị ñe doạ, mọi hoạt
ñộng của các cơ quan nhà nước cũng như các ngành ñều gặp khó khăn
Địa danh có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Chất
liệu tạo ra ñịa danh là ngôn ngữ, nên số lượng và tính chất ña dạng của ñịa danh
cũng có thể xem là tấm gương phản ánh sự phát triển và biến ñổi của ngôn ngữ
tiếng Việt Việc nghiên cứu ñịa danh còn giúp chúng ta biết nghĩa của một số từ
cổ nay không còn dùng nữa và giúp ta xác ñịnh rõ ràng hơn ý nghĩa của các từ
ngữ ñịa phương
Địa danh ñược hình thành, tồn tại và biến ñổi không chỉ do các tác ñộng
của ngôn ngữ mà còn do các tác ñộng bên ngoài ngôn ngữ (ñặc ñiểm văn hoá, sự
di dân, tiếp xúc, vay mượn,…) Chính vì vậy mà nhiều biến cố về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, ngôn ngữ,… ñược lưu giữ trong ñịa danh Nghiên cứu ñịa
danh sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm ñược một phần nào ñó về một vùng ñất với
những ñặc trưng văn hoá, phong tục tập quán riêng biệt của vùng…
Với vai trò như vậy, ñịa danh học ñang là một trong những bộ môn ngôn
Trang 2ngữ học ñược quan tâm chú ý hiện nay
- Ca dao là một trong những bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học
dân gian Việt Nam Việc nghiên cứu ñịa danh trong ca dao sẽ giúp chúng ta hiểu
thêm ñược một phần nào ñó về cái nội dung phong phú mà ca dao biểu ñạt
Nghiên cứu các ñịa danh trong ca dao sẽ cho ta thấy những phong tục, tập
quán và ñặc trưng riêng của từng vùng, từng ñịa danh trước ñây ñược phản ánh
trong ca dao, mà những ñịa danh này có khi ñax không còn nữa hoặc ñã bị biến
ñổi thành một ñịa danh khác do qúa trình phát triển của lịch sử
Nghiên cứu ñịa danh trong ca dao còn cho chúng ta thấy ñược một phần
nào ñó về diện mạo và những ñặc ñiểm cơ bản về cấu tạo, ý nghĩa cùng tiến
trình lịch sử của ñịa danh, mang lại những giá trị lí luận và thực tiễn cho việc
nghiên cứu ñịa danh ở Việt Nam
2 Mục ñích nghiên cứu
Niên luận này ñược viết với những mục ñích sau:
- Nêu ra những lí luận cơ bản về ñịa danh và ñịa danh học ñể giúp chúng
ta hiểu thêm về ngành học này
- Nghiên cứu tên các ñịa danh Việt Nam trong các câu ca dao trên mặt ñặc
ñiểm về cấu tạo và ý nghhĩa của ñịa danh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trong niên luận này là hệ thống ñịa danh của Việt
Nam ở trong các câu ca dao, Gồm có ñịa danh chỉ các ñối tượng tự nhiên và ñịa
danh chỉ các ñối tượng nhân tạo (ñịa danh hành chính, ñịa danh công trình xây
dựng và ñịa danh vùng)
b Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian hạn chế nên trong niên luận này chúng tôi chỉ khảo sát ñịa
danh Việt Nam trong phạm vi 273 câu ca dao với 498 ñịa danh
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Tư liệu và cách xử lý
* Nguồn tư liệu
Trang 3Do mục ñích của niên luận nên nguồn tư liệu mà chúng tôi thu thấp, sưu
tầm là những câu ca dao có liên quan ñến ñịa danh Việt Nam trong các sách có
sưu tầm về ca dao Việt Nam
* Cách xử lý tư liệu
- Từ nguồn tư liệu thu thập ñược chúng tôi ñã tập hợp, thống kê ñược 498
ñịa danh, bao gồm ñịa danh chỉ ñối tượng tự nhiên, ñịa danh chỉ các ñơn vị hành
chính, ñịa danh chỉ các công trình xây dựng và ñịa danh chỉ vùng lãnh thổ
- Xử lý tư liệu:
Sau khi ñã tập hợp, thống kê ñịa danh thành 4 loại trên chúng tôi tiến
hành phân loại theo mẫu, thống kê, tổng hợp biểu bảng Trên cơ sở ñó rút ra
những nhận xét về ñặc ñiểm ñịa danh Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trong niên luận này khi nghiên cứu chúng tôi ñã sử dụng phương pháp
quy nạp Trêm cơ sở những tư liệu ñược thu thập và xử lý, trên nền tảng những
con số ñược thống kê và phân tích, chúng tôi ñưa ra những nhận xét mang tính
tổng hợp và khái quát về vấn ñề ñược nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu mà cụ thể ở ñây là nghiên cứu các ñịa danh Việt
Nam xuất hiện trong các câu ca dao, từ ñó rút ra những nhận xét mang tính tổng
hợp và khái quát về vấn ñề ñược nghiên cứu
- Miêu tả những ñặc ñiểm về mặt cấu tạo của ñịa danh
Trang 4CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ THU THẬP ĐỊA DANH TRONG
CA DAO VIỆT NAM
I QUAN NIỆM VỀ CA DAO
Khi ñưa ra quan niệm về ca dao, các nhà nghiên cứu ñã có những ñịnh
nghĩa về ca dao trong tương quan phân biệt ca dao với dân ca bởi vì trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam cũng không chỉ có ca dao mà còn có cả dân ca
Tuy nhiên, sự phân biệt ca dao và dân ca không phức tạp như sự phân biệt tục
ngữ với thành ngữ
Thuật ngữ ‘ca dao’ ñã xuất hiện từ khá lâu, từ khi xuất hiện các sách biên
soạn bằng Hán Nôm của các nhà Nho như Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú
giải (chưa rõ soạn giả, năm soạn), Lý hạng ca dao (chưa rõ soạn giả, năm soạn),
Nam phong giải trào (Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phu soạn từ khoảng năm
1788-1789), Thanh Hoá quan phong (Vương Duy Trinh soạn năm 1903), Việt Nam
phong sử (Nguyễn Văn Mại), Quốc phong thi hợp thái (chưa rõ soạn giả)
Để chỉ thuật ngữ ‘ca dao’ Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phú ñã dùng thuật
ngữ ‘Nam Phong’, Vương Duy Trinh dùng ‘Quan Phong’, Nguyễn Văn Mại
dùng thuật ngữ ‘phong sử’, còn soạn giả Quốc phong thi hợp thái dùng ‘Quốc
Phong’
Đến ñầu thế kỉ XX, sách báo chữ quốc ngữ xuất hiện rất nhiều và cũng ñã
có dùng thuật ngữ ‘ca dao’ hay ‘phong dao’ như Tục ngữ phong dao (Nguyễn
Văn Ngọc biên soạn năm 1928), Tục ngữ ca dao (Phạm Quỳnh – 1932), Ca dao
cổ (Tạp chí Nam Phong số 167, HN, 1930), Phong dao cổ (tạp chí Nam Phong
số 179, HN, 1932), Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ (Nguyễn Tấn
(Văn ?) Chiển,HN, 1936) Hai thuật ngữ ‘ca dao’ và ‘phong dao’ phạm vi ảnh
hưởng của chúng có chỗ giống nhau Người xưa gọi : ‘ ca dao là phong dao vì
có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi ñịa phương, mỗi thời ñại’ (tục
ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan) Vì vậy dần dần tên gọi phong
dao cũng ít ñược dùng nhường chỗ cho ‘ca dao’ (thi pháp ca dao – Nguyễn Xuân
Trang 5Trong giới nghiên cứu, trong các sách sưu tầm, so với từ ca dao, từ dân ca
xuất hiện muộn hơn, khoảng những năm 50 của thế kỉ XX Dân ca ñược chính
thức sử dụng bằng sự xuất hiện trong cuốn sách ‘ tục ngữ và dân ca Việt Nam’
của Giáo sư Vũ Ngọc Phan in lần ñầu tiên vào năm 1956
Sau ñây là quan niệm về ca dao của một số nhà nghiên cứu :
- Trong ‘Việt Nam văn học sử yếu’ giáo sư Dương Quảng Hàm ñã ñịnh
nghĩa về ca dao như sau: Ca dao (ca : hát, dao : bài hát không có chương khúc)
là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của
người bình dân Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong : phong tục) nữa
Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai ; chắc lúc ban ñầu cũng do một
người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi ñến
bây giờ (Dương Quảng Hàm – Việt Nam văn học sử yếu – quyển I)
- Quan niệm của giáo sư Vũ Ngọc Phan : Ca dao vốn là một thuật ngữ
Hán Việt ‘ca dao là những bàn văn vần do nhân dân sáng tác Cũng như tục ngữ,
ca dao không rõ tác giả là ai, ñược lưu tuyền bằng miệng và cũng ñược phổ biến
rộng rãi trong nhân dân’ còn ‘dân ca là những bài hát có nhạc ñiệu nhất ñịnh
Dân ca khác với ca dao là nó chỉ ñược hát lên trong hoàn cảnh nhất ñịnh, trong
những nghề nhất ñịnh hay trong những ñịa phương nhất ñịnh (Vũ Ngọc Phan –
Văn học dân gian Việt Nam)
Tuy nhiên, theo ông, nếu xét về nguồn gốc và bản chất, ca dao và dân ca
không khác nhau mấy Có những câu ca dao ñược phổ làm nhạc, biến thành bài
dân ca và ngược lại có những bài dân ca biến thành ca dao Khi ca dao và dân ca
chuyển hình thức như vậy thì nội dung của nó vẫn giữ nguyên, chỉ thêm hay bớt
một số tiếng ñệm và tiếng láy (Văn học dân gian – Vũ Ngọc Phan)
Giáo sư Vũ Ngọc Phan còn cho rằng, phong dao và ñồng dào cũng ñều là
ca dao Theo ñó, phong dao là những bài ca dao nói về phong tục, tập quán nào
ñó Đồng dao là những bài hát của trẻ , như những bài ‘nu na nu nống’, ‘ông
giẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,…
- Quan niệm của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân và Lý Hữu Tấn : Theo hai
Trang 6ông, ñịnh nghĩa về ca dao của giáo sư Dương Quảng Hàm chưa nêu ñược ñầy ñủ
nội dung và hình thức của ca dao Thực ra, nhân dân sáng tác ca dao là ñể hát và
có những bài có cả chương khúc như làn nhịp ñuổi (thí dụ bài ‘tay cầm con dao
làm sao cho sắc…) hoặc làn hát cách (thí dụ bài ‘làm trai quyết chí tu thân, công
danh chớ vội nợ nần chớ lo…) Những bài dân ca ñó biến thành những bài ca
dao và ngược lại nhiều bài ca dao thể lục bát có thể hát thành các làn ñiệu khác
nhau và có nhạc kèm theo Như vậy, ca dao là những bài hát có hoặc không có
chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc (thường là lục bát ñể miểu
tả, tự sự, ngụ ý và diễn ñạt tình cảm) Về các loại khác, cần phân biệt những bài
ca dao nói về phong tục và ñược truyền ñi gọi là phong dao; ñồng dao là những
bài hát của trẻ con (như bài ‘ông giẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,…) (giáo
trình lịch sử văn học Việt Nam – tập 1 – Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Nghĩa
Dân,…)
- Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do tập thể nhân
dân sáng tác, lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở những vùng
có nội dung trữ tình và có giá trị ñặc biệt về nhạc Dân ca thường có nội dung
như ca dao (Phan Ngọc – Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du)
Như vậy, theo tác giả, chỗ khác nhau cơ bản giữa ca dao và dân ca là ở
hình thức và nhạc ñiệu Trong một số bài dân ca tiếng ñệm, tiếng láy hoặc tiếng
ñưa hơi chen vào lời thơ lục bát của ca dao
- Quan niệm của Nguyễn Xuân Kính: Ca dao là những sáng tác văn
chương ñược phổ biến rộng rãi, ñược lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những
ñặc ñiểm nhất ñịnh và bền vững về phong cách Và ca dao ñã trở thành một
thuật ngữ dùng ñể chỉ thể thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát
mà còn ngâm, ñọc, xem bằng mắt thường (khi ca dao ñã ñược ghi chép, biên
soạn từ cuối thế kỉ XVIII)
- Tóm lại, có thể thấy, trong quan niệm của các nhà Nho có sưu tầm ghi
chép ca dao cũng như trong quan niệm của giới nghiên cứu văn học dân gian,
thuật ngữ ca dao thường ñược hiểu theo 3 nghĩa rộng hẹp khác nhau như sau:
Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ
Trang 7biến trong dân gian, có hoặc không có khúc ñiệu
Ca dao là danh từ chỉ những tác phẩm ngôn từ (phần lời ca) của dân ca
(không kể những tiếng ñệm, tiếng láy, tiếng ñưa hơi)
Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào ñó cứ tước bớt
tiếng ñệm, tiếng láy, tiếng ñưa hơi…thì ñều là ca dao Ca dao là những sáng tác
văn chương ñược phổ biến rộng rãi, ñược lưu truyền qua nhiều thế hệ mang
những ñặc ñiểm nhất ñịnh và bền vững về phong cách Và ca dao ñã trở thành
một thuật ngữ dùng ñể chỉ một thể thơ dân gian
II QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1 Lược sử nghiên cứu
Nghiên cứu ñịa danh ñã có từ sớm trên thế giới, và ñịa danh học thực sự
ñược phát triển vào những năm 60 của thế kỉ XX Khi nghiên cứu về ñịa danh
trên thế giới có nhiều khuynh hướng, quan ñiểm không giống nhau, và ngay cả ở
Việt Nam cũng có nhiều quan ñiểm khác nhau Cụ thể : ở nước ta, cho ñến nay
ñã có nhiều công trình nghiên cứu về ñịa danh Do tính phức tạp của ñịa danh
nên các khuynh hướng nghiên cứu cũng rất phong phú, ña dạng Có thể tóm lại
hai khuynh hướng chính sau ñây:
Thứ nhất, có nhiều công trình tập hợp, khảo sát nghiên cứu ñịa danh mang
tính chất sưu tầm, lý giải dưới góc ñộ ñịa lý, lịch sử , văn hoá Tiêu biểu cho
cách tiếp cận phi ngôn ngữ học này có thể kể ñến ñó là Nguyễn Văn Âu (2000)
với ‘Một số vấn ñề ñịa danh học Việt Nam’; hay cuốn sổ tay ñịa danh Việt Nam
của Đinh Xuân Vịnh
Thứ hai, ñó là cách tiếp cận ngôn ngữ học ñược khơi dòng bởi bài viết của
tác giả Hoàng Thị Châu ‘Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ ñại ở Đông Nam á qua một
vài tên sông’ (1964) Trên cơ sở nền tảng ban ñầu này, một loạt các công trình
nghiên cứu một cách công phu, hệ thống về ñịa danh ñược các tác giả khác lần
lượt công bố: Lê Trung Hoa với ‘ñịa danh ở thành phố Hồ Chí Minh’ (1991),
Nguyễn Kiên Trường với ‘Những ñặc ñiểm chính của ñịa danh Hải Phòng’
(1996), và gần ñây là Từ Thu Mai với “nghiên cứu ñịa danh Quảng Trị” Có thể
nói, những công trình này ñã ñưa ra những vấn ñề căn bản của lý thuyết ñịa
Trang 8danh cũng như cung cấp những nguồn tư liệu rất có giá trị, góp phần ñịnh hướng
cho những người nghiên cứu về sau Ngoài ra, không thể không kể ñến một số
bài viết theo hướng so sánh-lịch sử, hướng ngôn ngữ -văn hoá của một số tác giả
khác như Trần Trí Dõi : “Về một vài ñịa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong
vùng Hà Nội xưa”(2000), “tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa ñịa danh Cổ
Loa” (2005); hay Nguyễn Văn Hiệu “những ñịa danh gốc Hán ở một số vùng
dân tộc Mông Dao ở Việt Nam” (2005) Những bài viết này có tác dụng nghiên
cứu ñịa danh ở bề sâu, cung cấp cho ta một cái nhìn khoa học và ña chiều về ñịa
danh
Chính sự ña dạng trong khuynh hướng tiếp cận ña thể hiện tính chất liên
ngành của chuyên ngành ngôn ngữ học còn nhiều ñiều cần khám phá này
Còn ñịa danh trong tục ngữ ca dao thì hiện nay cũng ñã có một số người
quan tâm chú ý ñến, và ñã có một số bài viết hay khoá luận tốt nghiệp làm về ñịa
danh trong tục ngữ ca dao Việt Nam Trong niên luận này chúng tôi tập trung
nghiên cứu ñịa danh Việt Nam trong ca dao
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Quan niệm về ñịa danh và ñịa danh học
Trước khi ñi vào nghiên cứu “ñịa danh Việt Nam trong ca dao” chúng ta
cần tìm hiểu khái niệm ñịa danh và ngành học này Bởi vì, như ñã nói ở trên khi
nghiên cứu ñịa danh ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay có nhiều quan
ñiểm không thống nhất, hoặc nặng về hình thức từ nguyên học hoặc nặng về tên
riêng, dẫn ñến những kết quả khác nhau Vậy ñịa danh học là gì ?
Địa danh, tiếng khoa học là TOPONYMIE có hai phần : TOPO là ñịa
ñiểm, NYMIE là tên gọi TOPO là gốc ả rập, NYMIE là gố tiếng La tinh, gọi
theo tiếng Hán Việt là ñịa danh Bản thân ñịa danh là ngành khoa học, nó có
nhiệm vụ, ñối tượng và chức năng rõ ràng Trong quá trình nghiên cứu ñịa danh
ñã có những quan ñiểm khác nhau :
Có luận ñiểm cho rằng : Địa danh học là một ngành khoa học chuyên
nghiên cứu về từ nguyên của tên ñất một vùng hay một dân tộc Đại diện cho
quan ñiểm này là Oviveric, tác giả cuốn từ ñiển “ñịa danh nước ý” xuất bản tại
Trang 9Một quan ñiểm khác khẳng ñịnh : “ ý ñịnh của tôi khi viết cuốn từ ñiển
này là hạn chế các tên gọi ñịa danh vào phạm vi các dân tộc quen thuộc, không
ñi vào lịch sử của nó, tức là ñi vào những nét cơ bản của ñịa danh”, người tiêu
biểu cho quan ñiểm này là Lorique, viết trong cuốn “Dictionnaire etymologique
desnoms de pays et de peuples” xuất bản tại Pari năm 1971
Có quan ñiểm cho rằng : Đối tượng nghiên cứu của ñịa danh học là giải
thích cách ñọc của ñịa danh, không phải giải thích sự hình thành ñịa ñiểm của
ñịa danh ñó mà giải thích quá trình lịch sử của tên ñịa danh ñó và tất cả mọi sự
phức tạp của nó về mặt ngôn ngữ.Đại diện cho quan ñiểm này là hai giáo sư của
ñại học Sorboune : Blok và Variary
Ngoài ra còn có rất nhiều quan ñiểm khác nhau, gần ñây trong cuốn “Đại
bách khoa toàn thư” do Brunot xuất bản có tiến bộ hơn nhiều trong các quan
ñiểm Tác giả cho rằng ñối tượng nghiên cứu của ñịa danh học là nghiên cứu tên
riêng dưới góc ñộ ngôn ngữ học Môn học này là một ngành khoa học tên riêng,
nó ñược phân chia ra hai ngành : ñịa danh và nhân danh Về sau tác giả còn nói
rõ thêm: người ta tìm tháy cơ man những ñiều hỗn ñộn trong các ngành nghiên
cứu ñịa danh, thế nhưng không có gì vô ích, nguy hiểm hơn khi nghiên cứu từ
nguyên của nó
Nhìn chung các nhà nghiên cứu trên khi ñịnh nghĩa về ñịa danh có nhiều
chỗ chưa thống nhất và phiến diện Vì tên ñịa danh chứa ñựng trong nó một nội
dung tư tưởng xã hội của con người nên ta phải thấy ñược tính kế thừa, tính phát
triển, tính xã hội khi nghiên cứu nó Đó là mặt chủ yếu của ñịa danh mà các
quan ñiểm trên ít ñề cập ñến
Địa danh là những từ hoặc ngữ, ñược dùng làm tên riêng của các ñịa hình
thiên nhiên(núi, ñèo, cao nguyên, thung lũng ,sông, hồ, biển), các ñơn vị hành
chính(làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các vùng lãnh thổ (vùng nông nghiệp,
khu công nghiệp…) và các công trình xây dựng (cầu ñường,chợ,cống…) Trước
ñịa danh ta có thể ñặt một danh từ chung chỉ tiểu loại ñịa danh ñó: Sông Hương,
huyện Mộ Đức, vùng Ba vì, ñường Nguyễn Trãi…
Trang 10Vậy,ñịa danh học là gì? Địa danh học là một ngành khoa học chuyên
nghiên cứu sự hình thành, phát triển nội dung ý nghĩa,tên các ñịa danh của một
dân tộc, một quốc gia, một vùng nhất ñịnh qua hình thức cấu thành và phát triển
của ngôn ngữ ñịa danh
Như vậy, ta ñi sâu vào nội dung ñịa danh tức là nghiên cứu sự hình thành
và phát triển của ñịa danh ñó Nhưng nếu bỏ cái vỏ ngôn ngữ ấy thì không thể
ñược Để ñi vào nội dung ý nghĩa thì chỉ có một con ñường là thông qua cái cầu
ngôn từ Địa danh học không dừng ở mặt từ nguyên học, ở khoa học tên riêng
mà qua ngôn ngữ ñịa danh Địa danh học ñi xa hơn vào sự phát triển của một
vùng,một ñịa phương Để ñi sâu vào ñối tượng nghiên cứu chính ñó,cái vỏ của
ngôn ngữ ñịa danh không phải chính nhưng rất quan trọng,vì không có nó thì
không có gì ñể nghiên cứu Vả lại,nó phản ánh ý thức của con ngườcuwtieeu
2.2 Phân loại ñịa danh
Phân loại ñịa danh là một vấn ñề khá phức tạp Sự phức tạp này nằm ngay
trong ñối tượng ñược phân loại cũng như phương pháp phân loại Bản thân ñịa
danh là một tập hợp phong phú, ña dạng, nó có thể ñược phân tách thành các
tiểu loại khác nhau tuỳ theo mục ñích và phương diên nghiên cứu
Mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo cách tiếp cận và ñối tượng nghiên cứu mình
lựa chọn ñã ñưa ra những cách phân loại thích hợp
Các nhà ñịa danh học Xô Viết chia ñịa danh theo ñối tượng mà ñịa danh
biểu thị, tức là dựa vào nôI dung của nó
Trong cuốn Toponimijc Moskoy, G.L.Smolisnaja và M.V.Gorbaneveskiji ñã
chia ñịa danh làm 4 loại : phương danh (tên các ñịa phương), sơn danh (tên núi,
ñồi, gò…), thuỷ danh (tên các dòng sông, hồ, vũng…), phố danh (tên các ñối
tượng trong thành phố)
A.V.Superauskaja, trong Chto takoe toponimika chia ñịa danh làm 7 loại :
phương danh, thuỷ danh, sơn danh, phố danh, viên danh (tên các quảng trường,
công viên), lộ danh (tên các ñường phố), ñại danh (tên các ñương giao thông
trên ñất, dưới ñất, trên nước, trên không)
ở Việt Nam, mỗi tác giả nghiên cứu về ñịa danh ñưa ra những cách phân
Trang 11Nguyễn Văn Âu dưới góc ñộ ñịa lý - lịch sử - văn hoá ñã phân loại theo
phương pháp “ñịa lý tổng hợp”, tức là sắp xếp ñịa danh thành các kiểu khác
nhau theo các ñối tượng ñịa lý tự nhiên và kinh tế xã hội trong một hệ thống
phân loại nhất ñịnh Hệ thống này bao gồm ba cấp từ trên xuống dưới : loại ñịa
danh (2 loại: ñịa danh tự nhiên và ñịa danh xã hội), kiểu ñịa danh (7 kiểu: thuỷ
danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh thành phố, quốc gia), dạng ñịa
danh (12 dạng: sông ngòi, hồ ñầm, ñồi núi, hải ñảo, rừng núi, truông trảng, làng
xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh thành phố, quốc gia)
Dưới góc ñộ ngôn ngữ học, Lê Trung Hoa và Từ Thu Mai lại ñưa ra 2 tiêu
chí khi phân loại ñịa danh thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Trị: căn cứ vào
thuộc tính của các loại ñối tượng ñịa lý (tự nhiên- không tự nhiên) và nguồn gốc
ngôn ngữ (thuần Việt- không thuần Việt) Nguyễn Kiên Trường lại áp dụng thêm
một tiêu chí khác khi tiến hành phân loại Hải Phòng: dựa vào chức năng giao
tiếp, có thể chia thành các loại tên chính thức, tên cũ, cổ và các loại tên khác
Như vậy, sự phân loại ñịa danh bao giờ cũng phụ thuộc vào mục ñích và
phương pháp tiếp cận của nhà nghiên cứu Đứng dưới góc ñộ ngôn ngữ học,
chúng tôI áp dụng cách phân loại theo tiêu chí ñặc tính tự nhiên- không tự nhiên
của ñối tượng ñịa lý Dựa trên ñặc tính này chúng tôi phân loại ñịa danh ra như
sau : ñịa danh chỉ ñịa hình tự nhiên (gọi tắt ñịa danh chỉ ñịa hình), ñịa danh chỉ
các công trình xây dựng (ñịa danh công trình xây dựng), ñịa danh chỉ các ñơn vị
hành chính (ñịa danh hành chính), ñịa danh chỉ vùng(ñịa danh vùng)
Địa danh vùng
Trang 12Mặt khác, theo ngữ nguyên ta có thể chia ñịa danh Việt Nam thành 4
nhóm lớn : ñịa danh thuần Việt, ñịa danh Hán Việt, ñia danh bằng các ngôn ngữ
dân tộc thiểu số, ñịa danh bằng các ngoại ngữ
Ta có sơ ñồ :
2.3 Vị trí của ñịa danh học trong ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học ñược chia làm 3 ngành chính : ngữ âm học, từ vựng học và
ngữ pháp học Trong từ vựng học có một bộ môn gọi là danh xưng học chuyên
nghiên cứu tên riêng Danh xưng học lại gồm 3 ngành nhỏ hơn : nhân danh học,
ñịa danh học và hiệu danh học Nghiên cứu lịch sử cấu tạo tên người (họ, tên
chính, tên ñệm, tự, hiệu, bút danh) là công việc của nhân danh học; nghiên cứu
về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và sự biến ñổi của các tên gọi ñịa lý là nhiệm vụ
của ñịa danh học; còn nghiên cứu tên gọi của các sự vật,hiện tượng không phải
là người cũng không phảI là các ñối tượng ñịa lý (như các thiên thể) lại là lĩnh
vực của hiệu danh học
Trong ñó, ñịa danh học lại ñược chia làm nhiều ngành nhỏ hơn chuyên
nghiên cứu các ñối tượng hay nhóm ñối tượng ñịa lý trên bề mặt trái ñất Các
ngành chỉ nghiên cứu tên sông, rạch (thuỷ danh) và tên ñồi núi,…gọi là thuỷ
danh và sơn danh học Ngành chuyên nghiên cứu tên của các ñịa ñiểm quần cư
làng xã, thôn,…(phương danh) ñược gọi là phương danh học Còn ngành chỉ
nghiên cứu các ñối tượng ở trong thành phố (phố danh) như tên ñường, tên phố,
Địa danh ở Việt Nam
Địa danh
thuần Việt
Địa danh Hán Việt
Địa danh các ngôn ngữ dân tộc
Địa danh ngoại ngữ
Trang 13tên các quảng trường,… gọi là phố danh học
Ta có thể lập sơ ñồ sau ñây:
2.4 Chức năng của ñịa danh và ích lợi của việc nghiên cứu ñịa danh
2.4.1 Chức năng của ñịa danh
Khi giao tiếp, dù nghi thức hay không nghi thức thật khiếm nhã biết bao
nếu viết hoặc nói không ñúng tên người Với ñịa danh cũng thế Địa danh không
chỉ ñơn thuần là cái tên ñược ñặt ra ñể chúng ta gọi về một vùng ñất Mỗi ñịa
danh thường phản ánh một ñặc ñiểm nào ñó về ñịa bàn, lịch sử, xã hội, ngôn
ngữ Tên của những người thân quen có khả năng gợi cho chúng ta những tình
cảm thân thiết, ngọt ngào hay những kỉ niệm về những tháng ngày gắn bó Địa
danh, không chỉ như vậy mà còn mang ý nghĩa khái quát hơn, thiêng liêng hơn
Nguyễn Khoa Điềm ñã nói về tình cảm của những người ñi khai phá vùng ñất
mới ñối với ñịa danh, quê hương mình qua câu thơ sau : họ gánh theo tên xã, tên
làng trong mỗi chuyến di dân
Khi ñi vào thi ca ñịa danh ñược coi như là ‘ma thuật của âm thanh’ Địa
danh có thể thay ñổi và mỗi cái tên ñều gợi cho ta về một thời ñiểm nào ñấy của
Phương danh học
Phố danh học
Trang 14lịch sử Địa danh không chỉ có ý nghĩa ñối với những ai sinh ra trên mảnh ñất
Những cái tên như :Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Gia Định, Sài Gòn, thành
phố Hồ Chí Minh là một minh chứng
Địa danh là tên gọi của một ñịa hình tự nhiên, một công trình xây dựng,
một ñơn vị hành chính hay một vùng lãnh thổ Như mọi danh từ, danh ngữ
chung, ñịa danh có chức năng ñịnh danh sự vật Nhưng ñịa danh còn có một
chức năng là danh từ, danh ngữ chung không có ñó là cá thể hoá ñối tượng
Chính nhờ các chức năng này, ñịa danh trở thành một bộ phận không thể tách rời
của cuộc sống xã hội Mỗi ñịa danh ra ñời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch sử
nhất ñịnh, cụ thể Do ñó, nó phản ánh nhiều mặt khung cảnh chung quanh nó
Các ñịa danh như khu Đầm Sen (thành phố Hồ Chí Minh), khu Đồng Ông Cộ
(khu vực bên này cầu Bình Lợi-thành phố Hồ Chí Minh),nay bao gồm các
phường 11, 12, 13, quận Bình Thạnh Xưa vùng này là ñồng hoang, sình lầy, rất
khó ñi lại.Một phú ông tổ chức “cộ” thuê người và hàng hoá trên những tấm
bằng tre ñan do hai người khoẻ mạnh khiêng Từ ñó có ñịa danh Đồng Ông
Cộ, cho ta biết ñịa hình nơi nó chào ñời Các ñịa danh khu Ông Tạ, xóm Bà
Năm Chanh, bến ñò Cây Bàng, rạch Cá Trê (thành phố Hồ Chí Minh) thông
báo cho chúng ta những con người, cây cỏ, cầm thú ñã sinh sống hoạt ñộng trên
các vùng ñất ấy Các công trình xây dựng của ñất nước ñã ñược các ñịa danh ghi
lại : ngã ba Thành (thành Diên Khánh), tỉnh Khánh Hoà, huyện sông Cầu (Phú
Yên), vùng Chợ Lớn,
Các ñịa danh còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của người dân
ñịa phương : các ñịa danh Hán Việt mang các yếu tố An, Bình, Phú, Long,
Mỹ nói lên ñược ước mơ sống thanh bình, giàu có, tốt ñẹp của người Việt
Các ñịa danh phố Quang Trung, thành phố Hồ Chí Minh, ñường Điện Biên Phủ,
sân vận ñộng Thống Nhất biểu thị niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Đó là ñứng trên quan ñiểm ñồng ñại Nếu ñứng trên quan ñiểm lịch ñại,
ñịa danh có chức năng bảo tồn.Rất nhiều biến cố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, ngôn ngữ ñược lưu giữ trong ñịa danh Hầu hết tên làng xã ở Nam Bộ nói
riêng và cả nước nói chung, dưới triều Nguyễn ñều ñược Hán Việt hoá vì triều
Trang 15ñại này rất sùng mộ Hán học Hay sau khi thua trận ở Điện Biên Phủ, thực dân
Pháp rút khỏi Việt Nam, phần lớn tên ñường phố ở Sài gòn không còn mang tên
người Pháp mà mang tên người Việt Nam (từ năm 1955) Chính vì thế, việc
nghiên cứu ñịa danh mang lại nhiều ích lợi cho các ngành khác như sử học, ñịa
lý học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, kinh tế học
2.4.2 ích lợi của việc nghiên cứu ñịa danh
Việc nghiên cứu ñịa danh giúp chúng ta xác ñịnh thế nào là một ñịa danh,
có bao nhiêu loại ñịa danh ở Việt Nam, người Việt có mấy phương thức ñặt ñịa
danh, cấu tạo của ñịa danh Việt Nam như thế nào, các nguyên tắc và phương
pháp nghiên cứu ñịa danh là gì, những nguyên nhân nào khiến một ñịa danh ra
ñời và mất ñi, giải quyết những trường hợp nhập nhằng về cách viết hoa ñịa
danh, soi sáng nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều ñịa danh Từ ñó, chúng ta có thể
khẳng ñịnh những ñặc ñiểm có tính truyền thống của ñịa danh Việt Nam, vạch ra
những tiêu chuẩn ñể ñặt tên ñịa danh mới,
Về mặt ngôn ngữ học, việc nghiên cứu ñịa danh cung cấp những tư liệu
quý ñể nghiên cứu lịch sử tiếng Việt nói chhng, từ vấn ñề tiếp xúc ngôn ngữ
(trước hết là tiếp xúc Việt Hán, một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài và
quan trọng ñối với tiếng Việt), ñến những vấn ñề ngữ âm lịch sử, xu hướng biến
ñổi từ vựng, ngữ pháp Việc nghiên cứu ñịa danh ñã giúp ta biết một số từ cổ
nay không còn nữa, ñồng thời nó cũng giúp ta xác ñịnh rõ ràng hơn ý nghĩa của
các từ ngữ ñịa phương Ngoài ra, cũng qua nghiên cứu ñịa danh ta có thể khẳng
ñịnh ý nghĩa của một số từ thường xuất hiện trong ñịa danh
Mặt khác, ñịa danh là một phạm trù lịch sử mang những dấu vết của thời
ñiểm mà nó chào ñời Vì thế, nó ñược xem là một ñài kỉ niệm hay tấm bia bằng
ngôn ngữ ñộc ñáo về thời ñại của mình Nó phản ánh những sự kiện lịch sử diễn
ra trong ñời sống của cộng ñồng : di dân, chiến tranh, trao ñổi văn hoá, kinh tế,
ngôn ngữ, Khi ñó, ñia danh như một bộ môn của lịch sử học, nhất là ñịa lý lịch
sử, và khi ñó , các nhà nghiên cứu lịch sử ñã làm giàu thêm cho ñịa danh những
phương pháp nghiên cứu
ở mức ñộ nhất ñịnh, ñịa danh phản ánh phong cảnh thiên nhiên, sự giàu có
Trang 16ña dạng của thiên nhiên cùng với những ñặc ñiểm ñịa lý lãnh thổ khác, Vì ñịa
danh thường ñặt theo bản chất của ñối tượng ñịa lý Chính danh từ chung thể
hiện tính chất ñịa lý của ñối tượng ñã góp phần quan trọng trong việc xác ñịnh ý
nghĩa của ñịa danh.Nhờ biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của các ñịa danh, ta càng
yêu mến quê hương, ñất nước mình Vì vậy, ta có thể sử dụng những thành quả
của việc nghiên cứu ñịa danh vào những bài giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ
trẻ-nhất là học sinh trong các trường phổ thông Việc hiểu ñúng ý nghĩa của các
thành tố trong ñịa danh cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà ñịa lý trong việc
nắm bắt các ñiều kiện tự nhiên và hoạt ñộng của con người, sự phân bố dân cư
theo lãnh thổ và ngay cả việc xây dựng bản ñồ
Như vậy, ñịa danh phát triển trên nền tảng của 3 khoa học cơ bản : ngôn
ngữ học, lịch sử, ñịa lý, ngoài ra ñịa danh học còn có mối liên hệ chặt chẽ với
khảo cổ học, nhân chủng học, văn hoá học, Chính tính chất liên ngành của ñịa
danh học ñã góp phần khẳng ñịnh giá trị và vị thế của một ngành khoa học mới
phát triển
III CA DAO VỀ ĐỊA DANH
Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, ñược lưu
truyền bằng miệng và ñược phổ biến rộng rãi trong nhân dân Chính vì ca dao do
nhân dân sáng tác nên nôI dung của nó rất phong phú Ca dao biểu hiện tình yêu
của nhân dân lao ñộng về nhiều mặt : tình yêu giữa ñôi bên nam nữ, yêu gia
ñình, yêu xóm làng, yêu ñồng ruộng, yêu ñất nước, yêu lao ñộng, yêu giai cấp,
yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Ca dao còn biểu hiện tư tưởng ñấu tranh của nhân
dân trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao
còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử Như vậy,
ngoài sự biểu hiện ñời sống tình cảm, ñời sống vật chất của con người, ca dao
còn phản ánh ý thức lao ñộng, sản xuất của nhân dân và tình hình xã hội thời
xưa về các mặt kinh tế và chính trị
Địa danh Việt Nam xuất hiện trong ca dao chủ yếu là ở trong các lĩnh vực
về tình yêu ñất nước và con người
Có những câu ca dao về tình yêu nam nữ nhưng nhân dân ta ñã lồng thêm
Trang 17vào ñó những ñịa danh ñể nói lên tình yêu của mình với người mình yêu:
Bốn mùa xuân hạ thu ñông
Thiếp ngồi dệt vải những trông bóng chàng
Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu
Hay có những câu ca dao nói về những cảnh ñẹp của quê hương ñất nước
Ví dụ như ñèo Hải Vân xưa nay vẫn ñược coi là một cảnh thiên nhiên hùng vĩ
của ñất nước ta Do ở gần biển nên ñèo Hải Vân càng thêm bát ngát
Hải Vân bát ngát ngàn trùng,
Hòn Hồng ở ñấy là trong vịnh Hàn
Xưa nay qua ñấy còn truyền
Lối ñi lô gián thẳng miền ra khơi
Quảng Nam có Cửa Đại cũng bát ngát và ñẹp Nhân dân có kinh nghiệm :
hễ buổi chiều thấy mây ñen phủ trên bán ñảo Sơn Trà và sóng nổi lên dồn vào
Cửa Đại thì trời sắp mưa Để nói về hiện tượng thiên nhiên ấy nhân dân có câu:
Chiều chiều mây phủ Sơn Trà
Sóng xô cửa Đại trời ñà chuyển mưa
Hà Nội, kinh ñô xưa của nước ta, nay là thủ ñô của nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, ñược nhân dân ta coi là một ñô thành không những ñẹp mà
còn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của tổ quốc
Thăng Long, Hà Nội, ñô thành
Nước non ai vẽ nên tranh hoạ ñồ
Cố ñô rồi lại tân ñô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn ñây
Những câu ca dao về ñịa danh không chỉ nói ñến ñịa danh của một vùng
mà nó còn nói ñến phong tục, tập quán, nét văn hoá, ñặc ñiểm của từng vùng ñất
ấy ở trên khắp các miền ñất nước, gần như vùng nào cũng ñều có những món ăn
nổi tiếng ñược ca dao ghi lại như là những ñặc ñiểm ñịa phương, tô ñiểm cho
bức tranh thị hiếu và tập quán ăn uống của nhân dân ta những màu sắc vô cùng
ña dạng
Trang 18Diên Hoà có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, ñiện bàn Tây Ninh
Ở Hà Nội có nhiều ñặc sản và mỗi ñịa phương trong Hà Nội lại có những
ñặc sản riêng tạo nên ñặc trưng của mình
Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây
Hàng Đào tơ lụa làm say lòng người
Như vậy thời xưa, về cả ăn lẫn mặc, Hà Nội có nhiều cái làm cho người ta
dễ mến ở Thanh Trì, sát với nội thành Hà Nội có những ñặc sản mà dân Hà Nội
rất ưa chuộng
Vải Quang, húng Láng, ngô Đầm
Cá rô ñầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
Phú Thọ, nơi ñất tổ Hùng Vương có những ñặc sản rất quý
Bưởi Chi Đán, quít Đan Hà
Cà phê Phú Hội, ñồi trà Thái Ninh
Ở miền Nam, có những quả rất ngon mà miền Bắc không có như măng
cụt, sầu riêng ở miền Nam Trung Bộ , cá, dừa và mít cũng nhiều, Quảng Nam
có sông Thu Bồn mở ra nhiều nhánh, có rất nhiều cá Ca dao ñã có câu là:
Trà Linh nước chảy ñăm ñăm
Cá ñua dưới vực, rồng nằm Đinh Ông
Thanh Hoá, Nghệ An là những nơi có rất nhiều trầu cau và rất ngon ở
Quảng Nam trầu cau cũng nổi tiếng là ngon Và ñể nói về trầu cau ñất Quảng
nhân dân ta ñã có câu ca dao
Bồng em mà bỏ vô nôi Cho mẹ ñi chợ mua vôi ăn trầu
Trang 19Không chỉ ca ngợi về ñặc sản của các ñịa phương mà ca dao còn ca ngợi
về những con người ở mỗi ñịa phương
Miền Nam là miền nhiều dừa nhất ở nước ta ở Bình Định, có thị trấn Tam
Quan thuộc huyện Hoài Nhơn, ngày xưa nhiều dừa và con gái ở ñó cũng có
tiếng là ñẹp và có lòng thuỷ chung với người mình yêu
Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái em trông chàng bấy nhiêu
Hay xứ Bắc là ñất Kinh Bắc xưa Đất Kinh Bắc xưa con gái nổi tiếng là
ñảm ñang và ñẹp , còn trai Đồng Nai thì nổi tiếng là gan dạ, anh hùng
Nồi ñồng lại úp vung ñồng Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Yên Thế là quê hương Hoàng Hoa Thám, nơi có nhiều người lỗi lạc trong
nam giới , xứng ñôi với những cô gái quê hương quan họ
Ngoài ra, ở Hưng Yên ( thuộc Hải Hưng) làng Bông tức thôn Lai Hạ
Trung cũng có nhiều con gái ñẹp, và làng Bái tức thôn Bối Khê cũng có nhiều
trai gái ñẹp, giỏi nên ca dao có câu
Gái chê chồng ñến Bông trở lại
Trai chê vợ ñến Bái trở về
Thăng Long xưa nhân dân ta gọi là Kinh kỳ “ thứ nhất Kinh kỳ thứ nhì
Phố Hiến” Phố Hiến là thị xã Hưng Yên bây giờ Ngày xưa Phố Hiến là nơi ñô
hội, người ngoại quốc ñến nước ta ñều ñi lại buôn bán ở ñó Người ñất Kinh kỳ
ngày xưa có tiếng là thanh lịch nên ca dao có câu :
Chẳng thanh cũng thể hoa mai Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh
Ngày trước, Hà Nội còn có tên là Đông Đô và Tràng An, nên cũng có câu
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không lịch sự cũng người Tràng An
Mỗi câu ca dao không chỉ giới hạn ở tên ñịa danh mà mỗi câu ñều toát lên
Trang 20nét văn hoá nổi bật của tùng vùng, ñặc biệt nó còn phản ánh sâu sắc nhiều mặt
có giá trị về lịch sử và tư tưởng Thông qua viẹc phản ánh lối sống của thời ñại,
ca dao ñã ghi nhận củng cố giữ gìn truyền bá truyền thống ñạo ñức tốt ñẹp hình
thành trong quá trình ñấu tranh thiên nhiên, sinh hoạt cộng ñồng,ñấu tranh giai
cấp và ñấu tranh dân tộc của nhân dân ta Có những câu ca dao vang lên lòng tự
hào của nhân dân ta ñối với ñất nước giàu ñẹp và con người tài hoa
Đất nước ñược giàu ñẹp là do nhân dân cả nước xây dựng từ thế hệ này
qua thế hệ khác, do trai tài gái ñảm gắng sức ñiểm tô và gìn giữ Những người
ñã có công dựng nước và giữ nước, sự nghiệp làm rạng rỡ non sông ñều ñược
nhân dân ta ghi nhớ mãi bằng ñền miếu, bằng thơ ca Các vua Hùng là tổ tiên
của dân tộc Việt Nam ñã có công dựng nước, nên nhân dân ta ñã lập ñền thờ ở
Phú Thọ Ca dao ñã có câu kêu gọi nhân dân cả nước hướng về ñất tổ
Ai về Phú Thọ cùng ta Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười
Dù ai ñi ngược về xuôi Nhớ về giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Thành Cổ Loa ở huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) là một công trình
tiêu biểu ý thức bảo vệ ñất nước, chống ngoại xâm ñầu tiên của nhân dân ta- Trải
qua hàng nghìn năm thành ñất vẫn còn
Ai về ñến huyện Đông Anh Ghé xem phong cảnh Loa thành thục vương
Cổ Loa hình ốc khác thường Trải bao năm tháng nẻo ñường còn ñây
Ai ñã từng qua sông Bạch Đằng, ñều thấy có 2 dòng nước : 1 dòng trong
xanh và một dòng ñỏ vì phù sa Theo nhân dân thời xưa thì dòng ñỏ là máu quân
giặc, ñến nay vẫn còn làm vẩn dòng sông
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc ñến ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra
Trang 21Về công lao của Lê Lợi ca dao còn có câu
Ai lên Biện Thượng Lam Sơn
Nhớ Lê Thái Tổ chặn ñường quân Minh
Ở miền Nam, Nguyễn Huệ phá quân Xiêm trong trận Rạch Gầm vào cuối
thế kỉ XVIII Nhân dân miền Bắc truyền tụng câu ca dao
Bần Gie ñốm ñậu sáng ngời Rạch Gầm soi dấu muôn ñời oai danh
Có thể dẫn nhiều ví dụ khác nữa tương tự như những ví dụ trên ñây trong
bộ phận những câu ca dao mà chúng ta thường nói về ñặc ñiểm ñịa danh
Như vậy những câu ca dao nói về ñịa danh Việt Nam bắt nguồn từ cách
quan sát trực tiếp những hiện tượng cụ thể, tai nghe mắt thấy Chính cách quan
sát này ñã là nguồn gốc chủ yếu của cái mà chúng ta vẫn quen gọi là tính hình
tượng hay cách nói cụ thể, gợi cảm của ca dao
Chúng ta có thể hiểu ca dao về ñịa danh là những câu ca dao chỉ ñịa danh
của từng vùng ñất cụ thể trong ñó bao hàm các yếu tố về phong tục, tập quán
hay là sự miêu tả của nhân dân ta xưa về vẻ ñẹp của mỗi ñịa phương và con
người trong các ñịa phương ấy
IV KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TRONG CA DAO
1 Kết quả thu thập ñịa danh trong ca dao
Qua khảo sát 273 bài ca dao chúng tôi ñã thu thập ñược 498 ñịa danh
Bảng kết quả thu thập ñịa danh trong ca dao
1 Địa danh chỉ các ñối tượng tụ nhiên 113 22,6
2 Địa danh chỉ các ñối tượng nhân tạo 385 77,4
2 Kết quả phân loại ñịa danh trong ca dao
Theo ñối tượng căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên Chúng tôi
chia ñịa danh thành 2 nhóm lớn:
Địa danh chỉ các ñối tượng tự nhiên: Tổng số ñịa danh ñịa hình tự nhiên là
Trang 22113 trường hợp, chiếm 22,6% Trong ñó, sơn danh gồm 60 ñịa danh (chiếm 12%
trên tổng số ñịa danh chỉ ñịa hình tự nhiên), thuỷ danh gồm 53 ñịa danh (chiếm
10,6% trên tổng số ñịa danh chỉ ñịa hình tự nhiên)
Ví dụ: Về sơn danh: núi Lam Sơn, núi Cõi, Gò Ngũ Nhạc, non Côi, Hòn
Chống,…
Về thuỷ danh: sông Bạch Đằng, hồ Hoàn Kiếm, hồ Ba Bể, sông Lô, sông
Tuần, ñầm Thị Nại,……
Địa danh chỉ các ñối tượng nhân tạo : tổng số ñịa danh chỉ các ñối tượng
nhân tạo là 385 trường hợp, chiếm 77,4% Trong ñó, chúng tôi chia ra : ñịa danh
chỉ các công trình xây dựng gồm 89 ñịa danh (chiếm 17,8% trên tổng số ñịa
danh chỉ các ñối tượng nhân tạo); ñịa danh chỉ các ñơn vị hành chính gồm 292
ñịa danh (chiếm 58,8% trên tổng số ñịa danh chỉ các ñối tượng nhân tạo); ñịa
danh chỉ các vùng lãnh thổ gồm 4 ñịa danh (chiếm 0,8% trên tổng số ñịa danh
chỉ các ñối tượng nhân tạo)
Ví dụ: Địa danh chỉ các ñơn vị hành chính : tỉnh Phú Thọ, Đông Anh, Sa
Nam, làng Trần Phương, phố Lai, phố Nhổn,……
Địa danh chỉ các công trình xây dựng : thành Cổ Loa, chợ Già, cầu Thê
Húc, chùa Ngọc Sơn, giếng Vàng, bến Văn Lâu,…
Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ : vùng Bưởi, vùng Đông Yên,…
Kết quả thống kê và phân loại ñịa danh trong ca dao ñược thể hiện ở bảng sau:
Tiêu chí Loại hình ñịa danh Số lượng Tỉ lệ %
Quy ước : TN :tự nhiên
ĐD :ñịa danh Ngoài phân loại theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên ñịa danh còn ñược
phân loại theo nguồn gốc của các yếu tố Địa danh Việt Nam trong ca dao ñược
Trang 23phân loại theo nguồn gốc:
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt ;
Cầu Bạch Hổ : Đền Hùng Vương : Hương Canh : Phú Thọ : Sơn Tây:
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt : phố Mía, phố Cát, làng Chanh, làng
Nhót, chợ Già, chùa Ông, sông Trước, sông Sau,…
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp : Đồng tháp mười, cầu Đông Ba,…
Qua ñây ta thấy ñịa danh Việt Nam ñược cấu tạo từ các yếu tố có nguồn
gốc khác nhau Đó có thể là các yếu tố Hán Việt, yếu tố thuần Việt, hoặc có thể
là sự kết hợp giữa các yếu tố Hán Việt với các yếu tố thuần Việt hay các yếu tố
của ngôn ngữ dân tộc
V TIỂU KẾT
Địa danh là một mảnh ñất mới ñầy hấp dẫn ñối với những ai ưa tìm tòi,
khám phá Tuy nhiên, muốn nghiên cứu ñịa danh một cách khoa học thì phải dựa
trên cơ sở lý thuyết chắc chắn Điều ñó ñòi hỏi người nghiên cứu phải nắm vững
phương pháp và các tiêu chí phân loại ñịa danh cho phù hợp với ñối tượng và
mục ñích nghiên cứu, ñồng thời phải có một cách tiếp cận ña chiều, một cách
phân tích lý giải tổng hợp trên cơ sở của nhiều ngành học có liên quan
Địa danh Việt Nam trong ca dao là một mảng tương ñối trong nội dung
của ca dao Việc nghiên cứu nó sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm về ñất nước, con
người Việt Nam Giúp hiểu biết về các ñịa danh trên ñất nước Việt Nam về
nguồn gốc và ý nghĩa
Tính chất ña dạng và phức tạpcủa ñịa danh trong ca dao ñòi hỏi phải có
những phương pháp phân loại và nghiên cứu , trình bày cho phù hợp
Khi tiến hành khảo sát ñịa danh ở một vùng lãnh thổ, các nàh nghiên cứu
thường phân loại ñịa danh theo các tiêu chí khác nhau Theo tính chất của ñối
tượng nghiên cứu , theo nguồn gốc ngữ nguyên hay theo chức năng giao tiếp của
Trang 24ñịa danh,… Về thực chất, ñó là những quan sát ñịa danh từ các góc ñộ khác
nhau Trong niên luận này, chúng tôi chọn cho mình cách phân loại theo tiêu chí:
ñặc tính tự nhiên- không tự nhiên của các ñối tượng ñịa lý và kết hợp với tiêu
chí nguồn gốc ngôn ngữ
Trang 25ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH VIỆT NAM THÔNG QUA CÁC
ĐỊA DANH XUẤT HIỆN TRONG CÁC BÀI CA DAO
I MÔ HÌNH CẤU TRÚC ĐỊA DANH
Khi xem xét vấn ñề cấu tạo ñịa danh, các nhà nghiên cứu ñều thống nhất
cho rằng: cần phân biệt một phức thể ñịa danh gồm hai bộ phận Bộ phận ñứng
trước là danh từ hoặc danh ngữ dùng ñể chỉ loại hình của ñối tượng ñịa lý Tuỳ
theo từng tác giả mà có những tên gọi khác nhau cho bộ phận này : tên chung,
danh từ chung, thành tố chung,… ở ñây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “thành tố
chung” Còn bộ phận thứ hai gọi là ñịa danh, có tính chất khu biệt ñối tượng ñịa
lý này với ñối tượng ñịa lý khác Ví dụ : như trong phức thể ñịa danh “chùa
Ngọc Sơn”, “núi Lam Sơn”, “hồ Hoàn Gươm” thì thành tố chung là chùa, núi,
hồ, còn các ñịa danh - tên gọi khu biệt ñối tượng là “Ngọc Sơn”, “Lam Sơn”,
“Hoàn Gươm”
Dựa trên các kết quả thu thập ñược từ quá trình thống kê, miêu tả tư liệu
trong 498 ñịa danh trong các bài ca dao, chúng tôi ñã khái quát hoâ thành mô
hình cấu trúc ñịa danh sau:
Mô hình này ñược xây dựng trên cơ sở quan niệm về ñộ dài lớn nhất của
một phức thể ñịa danh tồn tại trong ca dao với 3 yếu tố trong tên gọi khu biệt ñối
tượng Tuy nhiên không phải mọi trường hợp ñịa danh ñều mang ñầy ñủ những
yếu tố như vậy, nhưng ñây là mô hình mang tính tổng quát nhất về cấu trúc ñịa
danh trong ca dao Việt Nam mà chúng tôi thu thập ñược