Nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể thấy sự phong phú của đờisống ngôn ngữ và qua đó còn giúp ta hiểu thêm các mặt địa lý, lịch sử, vănhoá của một vùng đất cũng như tâm lý cộng đồng liê
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với đề tài “Khảo sát địa danh trong tục ngữ Việt Nam” chúng tôi mong muốn khám phá cái hay, cái đẹp của địa danh trong tục ngữ với tư cách là một tín hiệu thẩm mĩ Để thực hiện đề tài này ngòai sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS-TS Phan Mậu Cảnh cùng sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp cao học khóa 17 chuyên nghành ngôn ngữ Trường Đại Học Vinh và sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Phan Mậu Cảnh và các thầy cô giáo cùng các bạn đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Vinh Năm 2011 Tác giả
Hồ Thị Giang
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA DANH 5
1.1 Địa danh và địa danh học 5
1.1.1 Lịch sử vấn đề 5
1.1.2 Địa danh và địa danh học 7
1.2 Việt Nam và văn hóa Việt Nam 15
1.2.1 Hoàn cảnh địa lí, không gian văn hoá và các vùng văn hoá Việt Nam 15
1.3 Nhận diện tục ngữ Việt Nam 17
1.3.1 Tục ngữ là một câu- một văn bản hoàn chỉnh 17
1.3.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ 18
1.3.3 Phân biệt tục ngữ với ca dao 23
1.4 Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH TRONG TỤC NGỮ VIÊT NAM 32
2.1 Nhận xét 32
2.2 Phân loại địa danh trong tục ngữ Việt Nam 38
2.2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng phản ánh 38
2.2.2 Phân loại địa danh theo nguồn gốc ngữ nguyên 43
2.3 Cấu tạo của địa danh trong tục ngữ 44
Trang 42.5 Các phương thức định danh thường gặp trong địa danh tục ngữ 55
2.5.1 Phương thức tự tạo 55
2.5.2 Phương thức ghép 56
2.5.3 Phương thức chuyển hoá 56
2.5.4 Phương thức rút gọn 59
2.5.5 Phương thức vay mượn 60
2.6 Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM 62
3.1 Địa danh gắn liền với đặc điểm khí hậu, thời tiết 62
3.2 Địa danh là những hình ảnh, biểu tượng liên quan đến tình cảm 67
3.3 Địa danh với việc giới thiệu đặc sản, thổ sản địa phương 70
3.4 Địa danh gắn với nghề nghiệp địa phương 76
3.5 Địa danh gắn với việc giới thiệu đặc tính miền đât 80
3.6 Địa danh gắn với phong cảnh, con người địa phương 87
3.6.1 Loại địa danh gắn với việc ngợi ca con người 87
3.6.2 Địa danh gắn với sự chê bai, chỉ trích con người 91
3.7 Địa danh gắn với những tri thức lịch sử, văn hóa địa phương 94
3.8 Các ngữ cảnh xuất hiện của địa danh trong tục ngữ 98
3.9 Vai trò của địa danh trong tục ngữ 100
3.10 Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Địa danh là những từ có những đặc điểm về ngữ âm, ngữ nghĩa vàngữ pháp Nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể thấy sự phong phú của đờisống ngôn ngữ và qua đó còn giúp ta hiểu thêm các mặt địa lý, lịch sử, vănhoá của một vùng đất cũng như tâm lý cộng đồng liên quan đến việc đặt tên -địa danh
1.2 Văn hoá là tấm gương phản ánh hiện thực muôn mặt của cuộc sống.Tính chất đó không chỉ đúng với văn học viết mà còn thể hiện rõ trong vănhọc dân gian - nơi bảo lưu những yếu tố văn hoá sâu đậm nhất Trong văn họcdân gian, yếu tố địa danh xuất hiện nhiều và nhờ đó mà chúng ta có thể tìmhiểu địa phương ở nhiều góc độ (địa lý, lịch sử, văn hoá ) Địa danh trongvăn học dân gian là những cứ liệu sống, giúp người nghiên cứu xác định được
sự có mặt của nó tại một địa bàn và những đặc điểm nơi mà nó định danh
1.3 Do sự thống nhất cùng một cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung củavăn hóa Việt Nam, còn tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những bảnsắc riêng về địa danh của mỗi vùng Với vị trí địa lí giao điểm của các nềnvăn hòa, quá trình phát triển lịch sử xã hội của Việt Nam đã bị chi phối mạnh
mẽ bởi các quan hệ giao lưu văn hóa rộng rãi với Đông Nam Á Nơi đây, từbao đời đã lưu giữ được những nét văn hoá đặc sắc, độc đáo của người Việtnói riêng, của Đông Nam Á nói chung Đó là những phong tục tập quán,những tín ngưỡng dân gian, những nét ứng xử văn hoá đặc sắc trong cuộcsống thể hiện trong việc sử dụng ngôn ngữ thường ngày, trong tác phẩm vănhọc trong đó có tục ngữ, thể hiện rõ nhận thức, kinh nghiệm của con ngườiViệt Nam
Trang 6Như vậy, từ những lý do cơ bản nêu trên chúng tôi thấy việc nghiên cứuđịa danh trong tục ngữ Việt Nam là việc làm cần thiết, hữu ích.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài không phải khảo sát địa danh ở một vùng cụ thể như một sốngười đã làm, mà là nghiên cứu địa danh dưới một góc độ ngôn ngữ qua từngữ, trong đó có lớp từ chỉ địa danh đã góp phần thể hiện nếp cảm nếp nghĩ,các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tên đất, vùng miền trên đất nước ViệtNam Lớp từ địa danh trong tục ngữ rất đáng được tìm hiểu phân loại, phântích, lí giải qua đó, giúp thấy được mặt địa lí, lịch sử, văn hóa cũng như tâm lícộng đồng qua sự xuất hiện cách sử dụng các địa danh Mục đích của nó làtìm ra sự phong phú, đa dạng của địa danh trong tục ngữ Việt Nam, đồng thờicũng nhằm tìm ra những quy luật cơ bản về cấu tạo, ý nghĩa của địa danh ởcác vùng phương ngữ Trên cơ sở đó rút ra được những nét tiêu biểu, đặc sắcliên quan đến vốn từ tiếng Việt và hiểu rõ đặc trưng văn hoá của địa phương
Trong một chừng mực nhất định nào đó, luận văn đồng thời cũng khẳngđịnh vị trí, vai trò và mối quan hệ hữu cơ giữa địa danh học với từ vựng học,ngữ âm học, ngữ pháp học và các ngành khoa học có liên quan như: ngônngữ, văn hoá và tư duy - vấn đề đang được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài địa danh xuất hiện trong tục ngữViệt Nam Nhưng do khả năng và điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôichỉ khảo sát, tìm hiểu địa danh trong phạm vi những câu tục ngữ được tậphợp xuất bản trong các tuyển tập về tục ngữ Việt Nam Cụ thể là quyển tập
1 và tập 2
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápsau đây
Trang 74.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Chúng tôi khảo sát, thống kê các địa danh trong tục ngữ Sau đó tiếnhành phân loại các địa danh theo những tiêu chí nhất định
4.2 Phương pháp phân tích, lý giải
Dựa vào kết quả thống kê phân loại người nghiên cứu phân tích lí giải địadanh, tần số và số dạng xuất hiện, khả năng kết hợp, khả năng hoạt động, ngữnghĩa của địa danh trong tục ngữ
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trên những đặc điểm rút ra được về địa danh trong từng mảng, chúngtôi so sánh những câu tục ngữ có sử dung địa danh thì có vai trò như thế nào,còn những câu tục ngữ không sử dụng địa danh thì ý nghĩa của nó ra sao
4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở khảo sat, thống kê, phân loại, phân tích, lí giải, so sánh, đốichiếu, chúng tôi phân tích tổng hợp các mảng địa danh trong tục ngữ Từ đóthấy được vai trò của địa danh trong tục ngữ
Luân văn gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Trong phần nội dung có ba chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về địa danh
(Trong chương này chúng tôi trình bày lịch sử nghiên cứu, các vấn đề
lý thuyết về địa danh, và những điều cơ bản liên quan đến địa danh Việt văn hoá Việt Nam, để làm tiền đề cho việc giải quyết các chương tiếp theo)
Trang 8Nam-Chương 2: Địa danh trong tục ngữ Việt Nam
(Ở đây, chúng tôi giới thiệu sơ lược về văn học dân gian Việt Nam, sau
đó đi vào tìm hiểu địa danh trong tục ngữ Việt Nam qua việc thống kê, khảosát phân loại )
Chương 3: Đặc điểm, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh trong tục ngữViêt Nam
(Đây là chương trọng tâm, là phần quan trọng nhất của đề tài, bao gồmhai nội dung: cấu tạo và ý nghĩa địa danh)
Ngoài ra luận văn có phần phụ lục với 939 địa danh và tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA DANH
1.1 Địa danh và địa danh học
1.1.1 Lịch sử vấn đề
Dựa vào các công trình nghiên cứu về địa danh, có thể thấy rằng: Địadanh xuất hiện từ rất sớm Ngay từ buổi sơ khai của lịch sử, lúc loài ngườisáng tạo ra ngôn ngữ để làm phương tiện giao tiếp và là công cụ của tư duythì địa danh cũng xuất hiện từ đó Từ xa xưa, các bầy người nguyên thuỷcũng như các bộ lạc sống bằng săn bắn và hái lượm đã sử dụng não bộ để nhớ
về các hang đá, quả đồi, hay các khe nước làm nơi cơ trú và kiếm sống Dùmới ở dạng rất manh nha song ta có thể khẳng định địa danh xuất hiện từbuổi bình minh của lịch sử loài người
So với địa danh trong ngôn ngữ thông thường thì địa danh học ra đờimuộn hơn nhiều, và nó cũng muộn hơn một số chuyên ngành ngôn ngữ khác,nhưng chúng lại có những đóng góp rất quan trọng trong việc làm sáng tỏnhững vấn đề về ngôn ngữ học, địa lý học, lịch sử học và văn hoá học Tuynhiên, việc nghiên cứu địa danh ở từng khu vực, từng quốc gia lại có nhữngmức độ và khả năng không như nhau
1.1.1.1 Trên thế giới, việc nghiên cứu địa danh đã có từ lâu đời:
Ở Phương Đông đại diện là Trung Quốc người ta đã nghiên cứu địadanh học sớm Ngay từ đời Đông Hán (25 - 220) Ban cố trong “Hán Thư”đãghi chép hơn 4000 địa danh (Một số được giải thích rõ ý nghĩa và nguồn gốc
cụ thể) Đến thời Bắc Nguỵ (439 - 535) Lê Đại Nguyên trong “Thuỷ KinhChú”có chép hơn 20.000 địa danh trong đó trên 2.300 địa danh được giảithích ý nghĩa)
Ở Phương Tây, theo các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc thì địa danhhọc chính thức ra đời từ cuối thế kỷ XIX Cụ thể có các công trình như: Năm
Trang 101872 J.T.Egli (Thụy Sỹ) viết “Địa danh học"; năm 1903, J.W.Nagl (áo) cũng có
“Địa danh học" Và các Uỷ ban địa danh cũng lần lượt ra đời ; Năm 1890 thànhlập uỷ ban địa danh nước Mỹ (BGN), năm 1902 thành lập Uỷ ban địa danh ThuỵĐiển, và năm 1919 thành lập Uỷ ban địa danh Anh (PCGN)
Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển liên tục từ đó đến nay ởnhiều khu vực khác nhau Ở thời kỳ đầu, các tác giả địa danh học chỉ khảo sátnguồn gốc địa danh Nhưng từ thế kỷ XX, bước sang giai đoạn nghiên cứutổng hợp về địa danh, đã có tác giả xúc tiến việc nghiên cứu tổng hợp về địadanh theo hướng phát triển địa lý học (Chẳng hạn như: J.Gillienon với “Atlatngôn ngữ Pháp”(1902 - 1910) ; hoặc có tác giả lại đề xuất văn hoá học đểnghiên cứu các niên đại địa danh (Như A Đanzat với “Nguồn gốc và pháttriển địa danh “năm 1926
Đi đầu trong việc xây dựng hệ thống lý luận là các nhà địa danh học XôViết vào đầu những năm sáu mươi của htể kỷ XX
Đến nay, đã có địa danh học phổ thông nghiên cứu tổng hợp cácnguyên lý cơ bản về địa danh: địa danh học khu vực nghiên cứu hệ thống địadanh phản ánh điều kiện lịch sử - địa lý trong khu vực; địa danh địa chỉ họcnghiên cứu từng địa danh về âm đọc, cách viết, cách dịch tiêu chuẩn hoá cótừng mục đích thực hiện
1.1.1.2 ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh cũng đã có từ lâu nhưng
trước đây chỉ ở góc độ địa lý - lịch sử, nhằm tìm hiểu đất nước - con người.Mãi đến năm 1960 trở lại đây, các vấn đề liên quan đến địa danh và lý luận vềđịa danh mới được quan tâm
Với “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tênsông “[8], Hoàng Thị Châu là người đầu tiên nghiên cứu địa danh trên bìnhdiện ngôn ngữ học Những công trình kế tiếp theo của bà cũng nghiên cứuhướng này, nhưng đi sâu vào phương ngữ nhiều hơn [9], [10]
Trang 11Đến nay, có các công trình chuyên sâu về địa danh như: “Những đặcđiểm chính của địa danh ở Thành Phố Hồ Chí Minh”[22] và “Những đặcđiểm địa danh Hải Phòng (Sơ bộ so sánh với địa danh một số vùngkhác)”[37] Đây là hai luận án phó tiến sỹ chuyên ngành ngôn ngữ học,nghiên cứu địa danh trên bình diện ngôn ngữ, chuyên biệt về địa phương, đãtìm hiểu tương đối cặn kẽ về lý luận địa danh và địa danh học.
Địa danh được tìm hiểu từ nhiều góc độ một vùng đất được chia ra cácvùng miền rõ ràng sẽ có nét văn hóa đặc sắc riêng nên việc nghiên cứu, cóchăng chỉ dưới dạng địa chí, đề cập chung dưới dạng tên đất, tên làng Chẳng hạn: “Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh”của Nguyễn Đổng Chí[13], hoặc nhiều cuốn sách xã chí, huyện chí, lịch sử địa phương ra đời
Nhưng năm gần đây, việc xem xét địa danh Việt Nam dưới góc độngôn ngữ được khá nhiều người quan tâm, nghiên cứu, đặc biệt là nhóm luậnvăn thạc sỹ chuyên ngành lý luận ngôn ngữ, trường Đại Học vinh Chẳnghạn:”Địa danh Thành phố Vinh” của Nguyễn Hồng Minh năm 1998; “Bướcđầu khảo sát đặc điểm địa danh huyện Yên Thành”của Nguyễn Hữu Dị, năm
1998, “Những đặc điểm chính của địa danh Nghi Lộc, Cửa Lò tỉnh NghệAn”của Trần Văn Phương, năm 1998: “Địa danh Can Lộc”của Bùi ĐứcHạnh năm 1998 Đây là những công trình nghiên cứu khá sâu địa danh củamột số vùng cụ thể và vẫn chưa có cái nhìn bao quát, tổng thể về địa ViệtNam nói chung
1.1.2 Địa danh và địa danh học
1.1.2.1 Cũng như vốn từ của bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới, vốn
từ Tiếng Việt bao giờ cũng có một bộ phận tên riêng gồm tên người(Nhân danh), tên đất (Địa danh) Theo từ điển Hán Việt của Đào DuyAnh [1]: “Địa danh là tên gọi các miền đất" Thế nhưng, với khái niệm
Trang 12tương đối đơn giản đó, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu vđưa ra nhiềucách kiến giải khác nhau:
* Theo Nguyễn Văn Âu [3]: "Địa danh là tên đất gồm: Sông, núi, làngmạc hay là tên đất các địa phương, các dân tộc"
* Theo Lê Trung Hoa [21] “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố địnhđược dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các công trình xâydựng, các đơn vị hành chính và các vùng lãnh thổ"
* Theo Nguyễn Kiên Trường [37]: Địa danh là tên riêng chỉ các đốitượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất"
Hầu hết những cách định nghĩa trên đều đã nêu được tính chất cơ bảncủa địa danh:"Là tên đất”(Nguyễn Văn Âu), "Là tên riêng ”(Lê Trung Hoa,Nguyễn Kiên Trường)
Định nghĩa của Nguyễn Văn Âu còn quá chung chung, chưa đề cập đếnnhững đối tượng do con người kiến tạo nên như: đền, chùa, cầu, cống Địnhnghĩa của Lê Trung Hoa thì cho rằng: "Địa danh là những từ ngữ cố định" Song trong thực tế, sự cố định của địa danh chỉ mang tính tương đối Có rấtnhiều địa danh bị biến đổi do nguyên nhân bên trong và bên ngoài ngôn ngữ,ngoài cả ý muốn của chủ thể đặt tên
Định nghĩa của Nguyễn Kiên Trường đòi hỏi các đối tượng địa lí củađịa danh phải "có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" Theo chúng tôi, cáchđịnh nghĩa như vậy là quá gò bó theo nghĩa đen Địa danh tuy là tên đấtnhưng còn hàm nghĩa nơi chốn Nơi chốn ấy không chỉ xác định trên bề mặttrái đất mà trong tương lai còn có thể được xác định trên cả Mặt trăng và saohoả với đà phát triển như vũ bão của khoa học hiện nay
Do vậy, địa danh được hiểu: địa danh là những từ hoặc ngữ được chọn
dùng làm tên riêng để gọi những đối tượng địa lý tự nhiên hoặc nhân văn (do con người kiến tạo).
Trang 131.1.2.2 Tuỳ theo mục đích và phương diện nghiên cứu mà có sự
phân loại địa danh khác nhau Các nhà địa danh học phương Tây và XôViết phân loại địa danh theo hai tiêu chí: theo nguồn gốc ngữ nguyên cấuthành địa danh và theo đối tượng mà địa danh phản ánh Có tác giả chiađịa danh thành 4 loại:
1 Phương danh (tên các địa phương)
2 Sơn danh (tên núi, đồi, gò )
3 Thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao, vũng )
4 Phố danh (tên các đối tượng thành trong phố)
(Tiêu biểu là G.P.Smolienaza và M.V Gorbanevsky) Hoặc A.V.Superanskaya lại chia địa danh ra 7 loại:
1 Phương danh (tên các địa phương)
2 Phố danh (tên các đối tượng thành trong phố)
3 Sơn danh (tên núi, đồi)
4 Thuỷ danh (tên các dòng chảy)
5 Viên danh (tên quảng trường)
6 Lộ danh (tên đường phố)
7 Đạo danh (tên các loại đường giao thông trên đất, dưới đất, dướinước, trên không [ 35]
Hai cách phân loại trên tương đối đầy đủ, chi tiết nhưng hầu như khôngchú ý đến những công trình xây dựng mang tính phục vụ công ích như: cầu,cống, đập
Ở Việt Nam, việc phân loại địa danh cũng đã được nhiều người nghiêncứu Tác giả Trần Thanh Tâm trong "Thử bàn về địa danh Việt Nam”[32] đãchia địa danh ra làm 6 loại:
* Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
* Loại đặt theo tên người, tôn giáo, lịch sử
Trang 14* Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu.
* Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
* Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Tác giả Lê Trung Hoa trong “Những đặc điểm chính của địa danhThành phố Hồ Chí Minh”[22] đã phân loại địa danh theo hai tiêu chíkhác nhau:
* Dựa vào thuộc tính của đối tượng riêng chia địa danh thành hai nhóm:
- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên (ví dụ: Núi, đồi, sông, rạch )
- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo (gồm ba nhóm nhỏ: địa danh chỉcông trình xây dựng, địa danh hành chính, địa danh vùng )
Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, ông chia địa danh thành 3 nhóm:Địa danh thuần Việt
Địa danh không thuần Việt (trong đó bao gồm 3 nhóm nhỏ: địa danhHán Việt, địa danh gốc Khơ Me, địa danh gốc Pháp)
Tác giả Nguyễn Kiên Trường trong “Đặc điểm địa danh thành phố HảiPhòng”[37] lại đưa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh
* Địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên (gồm hai nhóm)
Nhóm đất liền
Nhóm vùng biển giáp ranh
* Địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn (gồm 2 nhóm)
Địa danh cư trú hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của conngười, do con người tạo nên: ấp, bộ, châu, di chỉ, di tích, khu tập thể, trại,trang, trấn, xã, xóm, vạn, xứ đạo
Địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng
Địa danh đường phố: Đường, ngã tư, ngõ
Địa danh chỉ công trình xây dựng: bể bơi, bến, cảng, chợ, chùa,nhà thờ
Trang 15* Theo nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng ra làmcác loại.
Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
Địa danh có nguồn gốc từa Tiếng Pháp
Địa danh có nguồn gốc khác như Tày - Thái, Việt - Mường, Chàm,Môn - Khơme, Mã Lai
Địa danh chưa xác định nguồn gốc
* Dựa vào chức năng giao tiếp, ông chia ra:
Tên gọi chính thức: do nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính.Tên gọi dân gian: Tên quen gọi trong dân gian
Tên cổ, tên cũ
Tên khác
Nhìn chung, cách phân loại của hai tác giả Lê Trung Hoa và NguyễnKiên Trường là hợp lý Song, dường như mọi sự phân loại cũng chỉ mang tínhtương đối: tương đối giữa các nhóm với nhau và đồng thời tương đối trong cảcác nhóm nhỏ chúng có sự "giao thoa”lẫn nhau
1.1.2.3 Ngày nay, từ vựng học bao gồm cả môn danh học - môn học
“nghiên cứu những nguyên tắc và quy luật của việc biểu thị các đối tượng,khái niệm bằng phương tiện từ vựng của các ngôn ngữ”[20] Nêu “Ngữ nghĩahọc nghiên cứu tính chất của khái niệm mối quan hệ của khái niệm với cácbiểu hiện thực tế”thì danh họ “nghiên cứu các khái niệm về mặt biểuhiện”[37] Danh học bao gồm
a Nhân danh học: nghiên cứu lịch sử, cấu tạo tên người (học tên, bídanh, biệt hiệu )
b Địa danh học nghiên cứu nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và sự biến đổicủa địa lý
Trang 16c Với danh học nghiên cứu rộng các đối tượng khác chẳng những thuộc
về trái đất mà còn nằm ngoài trái đất
Địa danh được tạo nên từ chất liệu ngôn ngữ, từ vỏ âm thanh đến nộidung ý nghĩa được xác định bởi quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố cấu tạocho nên nó mang đầy đủ đặc điểm, tính chất của ngôn ngữ Do đó, địa danhhọc có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháphọc Tuy nhiên, địa danh gắn với một địa bàn cụ thể, xác định nên nó cũng làđối tượng khảo sát của phương ngữ học Nhìn chung, địa danh là tên riêng,nằm trong hệ thống tên gọi (chung) của mọi đối tượng mà đơn vị từ vựngphải ánh cho nên địa danh thuộc về từ vựng học
1.1.2.4 Địa danh học là một môn học của từ vựng học nói riêng và của
ngành ngôn ngữ học nói chung Địa danh học nghiên cứu sự hình thành, biếnđổi và vận hành của tên đối tượng địa lý tự nhiên và xã hội
Hiện nay, địa danh học được nhìn nhận từ nhiều góc độ và nảy sinh ranhiều bộ môn chuyên nghiên cứu các đối tượng hay nhóm đối tượng địa lýtrên trái đất Chẳng hạn:
a Thuỷ danh học: Nghiên cứu các đối tượng sông nước (ao, hồ, đập )
b Sơn danh học: Nghiên cứu tên đồi, núi, rừng
c Phương danh học: Nghiên cứu tên các địa bàn, địa điểm cư trú củacon người (làng, xã, xóm, thôn )
d Phố danh nghiên cứu tên đường phố
Trên thực tế, còn có một số bộ môn nghiên cứu với các tên gọi khác vềcác đối tượng địa lý khác tuỳ theo mục đích, điều kiện và hoàn cảnh địa lýcủa mỗi địa bàn, dân tộc, quốc gia
Tuy nhiên, việc nghiên cứu nghĩa của địa danh vẫn là vấn đề được đặtlên hàng đầu Song để tiếp cận điều đó không còn là việc làm dễ Trước đây,lúc chưa có phương pháp ngôn ngữ học và địa danh học theo lý thuyết,
Trang 17thường nhiều tác giả sa vào lối “từ nguyên học dân gian”- giải nghĩa theo kiểu
tự biện, suy đoán mà thiếu cứ liệu cụ thể
“Việc nghiên cứu nghĩa thực chất là nghiên cứu cách đặt tên, phươngthức địa danh để qua đó tìm hiểu văn hoá của dân tộc hay tộc người nào đó
Vì đặt tên là một mặt quan trọng của mọi nền văn hoá nhân loại”[37]
Nhưng địa danh không phải là bất biến, cố định mà nó có thể nhưnhững hoá thạch bị bào mòn theo năm tháng, cả âm lẫn nghĩa, bởi nhiều lí dokhác nhau (có thể do điều kiện lịch sử, xã hội ) Cho nên, sự biến đổi giữađịa danh, dù dưới hình thức nào, với nguyên nhân nào thì cũng cần có mộtphương pháp, một cách lí giải thoả đáng, ở dưới góc độ ngôn ngữ (đơn vị nềntảng tạo nên địa danh) và ngoài ngôn ngữ (sự biến động của lịch sử văn hoádân tộc ) Như vậy mới có cái nhìn thấu đáo về vấn đề này
1.1.2.5 Nghiên cứu vấn đề địa danh phải xây dựng được phương pháp
phù hợp, mới có thể đem lại hiệu quả như mong muốn Từ lâu nay, nhiều nhàđịa danh học Xô Viết và phương Tây đã cho rằng: “Cần phải nghiên cứu địadanh bằng phương pháp tổng hợp, lấy phương pháp ngôn ngữ học là chính,vận dụng các phương pháp bổ trợ của lịch sử học, địa lý học, khảo cổ học,nhân chủng học và dân tộc học ”[37]
Theo Nguyễn Kiên Trường, khi nghiên cứu địa danh đồng thời lưu ýhai nguyên tắc chính:
a Dựa vào thư tịch cũng như các phương pháp nghiên cứu của sử học,địa lý học, nhân chủng học, dân tộc học và khảo cổ học
b Trong thao tác phân tích địa danh, phải thận trọng khi vận dụngphương pháp thành tố
Nghiên cứu địa danh phải bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đóphương pháp ngôn ngữ học là quan trọng nhất “Thiếu các phương pháp củangôn ngữ học, chúng ta không thể hiểu ngay cả vai trò của các yếu tố trong
Trang 18việc hình thành các địa danh vốn được hình thành từ xa xưa, khi nắm vững cácquy luật đó, mới có thể (và cần phải) so sánh, đối chiếu các địa danh, điều nàycho phép cách giải thích chúng từ góc độ hình thái học và ngữ nghĩa học”[37].
Muốn nghiên cứu địa danh một cách cặn kẽ, thấu đáo thì ngoài phươngpháp ngôn ngữ học chúng ta còn đồng thời phải dựa vào nghiên cứu lịch sử vàđịa lý Sở dĩ như vậy bởi hai lí do cơ bản
Một là, địa danh ra đời vào những thời kỳ , thời điểm xã hội nhất định,chúng chịu sự tác động của những biến cố lịch sử cụ thể, về nhiều mặt (chiếntranh, di dân, tiếp xúc, giao lưu văn hoá, ngôn ngữ giữa các tộc người) khi
đó địa danh như một chứng tích, dấu ấn lịch sử Vì thế, địa danh học như làmột bộ môn của lịch sử học, trong đó có lịch sử - địa lý học
Hai là, ở những mức độ nhất định, địa danh phản ánh đặc thù địa lý củamột địa phương, một dân tộc Vì khi định danh sự vật, chủ thể hay gắn thuộctính ngoại hình, đặc điểm tự nhiên của đối tượng vào tên gọi thường danh
từ chung phản ánh tính chất địa lý của đối tượng, giúp các nhà địa lý nắmbắt được các đối tượng của địa lý tự nhiên gắn với hoạt động của conngười, ở diện đồng đại hoặc lịch đại, phân bố trên các vùng lãnh thổ
Như vậy, việc nghiên cứu địa danh không chỉ sử dụng đơn thuần mộtphương pháp nghiên cứu nào đó mà là sự tổng hợp liên ngành
Trên đây là vấn đề lý thuyết chung của quy trình thực hiện một đề tàinghiên cứu Song cũng tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, đặc trưng củatừng đề tài cụ thể mà vận dụng nó Với luận văn này, chúng tôi nghiên cứuđịa danh xuất hiện trong tục ngữ Do vậy, việc khảo sát, thống kê tư liệudựa trên cơ sở những tư liệu cụ thể, có sẵn Đồng thời khi xét cấu tạo, ýnghĩa cũng cần phải làm rõ đặc trưng văn hoá trong cách đặt tên - địnhdanh tục ngữ Việt Nam
Trang 191.2 Việt Nam và văn hóa Việt Nam
1.2.1 Hoàn cảnh địa lí, không gian văn hoá và các vùng văn hoá Việt Nam
1.2.1.1 Văn hoá chịu sự chi phối đáng kể của hoàn cảnh - địa lí - khí
hậu Hoàn cảnh địa lí - khí hậu Việt Nam có ba đặc điểm cơ bản: Thứ nhất,
đây là sứ nóng Nóng lắm sinh ra mưa nhiều Việt Nam là nơi có lượng mưa
trung bình trong năm khoảng trên 2.000mm (cá biệt có nơi như vườn quốc giaBạch Mã (Thừa thiên) đạt tới 7.977mm), vào loại cao nhất thế giới (x biểu
đồ so sánh ở hình 1.2) Hiện tượng này dẫn đến đặc điểm thứ hai: Đây là một
vùng sông nước Sông nước đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần
văn hoá khu vực này Đây là một hằng số địa lí quan trọng, chính nó tạo nênnét độc đáo của nền văn hoá nông nghệp lúa nước Đặc điểm quan trọng thứ
ba: Nơi đây là giao điểm (“ngã tư đường”) của các nền văn hoá, văn minh.
1.3.1.2 Không gian văn hoá có phần phức tạp hơn: Bởi lẽ văn hoá có
tính lịch sử (yếu tố thời gian), cho nên không gian văn hoá liên quan đến
lãnh thổ nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ Nó bao quát tất
thảy những vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại Do vậy,không gian văn hoá bao giờ cũng rộng hơn không gian lãnh thổ; không gianvăn hoá của hai dân tộc ở cạnh nhau thường có phần chồng lên nhau, có miềngiáp ranh
Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của văn Hoá Việt Nam nằm trong
khu vực cư trú của người Bách Việt Có thể hình dung nó như một hình tam
giác với cạnh đáy ở sông Dương Tử, và đỉnh là vùng bắc Trung Bộ Việt Nam.Đây là cái nôi của nghề nông nghiệp lúa nước, của nghệ thuật đúc đồng vớinhững trống đồng Đông Sơn nổi tiếng Đây cũng là bờ cõi đất nước của họHồng Bàng theo truyền thống (Xem 3.1.2)
Ở một phạm vi rộng hơn, không gian văn hoá Việt Nam nằm trong khu
vực cư trú của người Indonésien lục địa Có thể hình dung nó như một hình
Trang 20tam giác với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử ở phía Bắc, còn đỉnh là vùngđồng bằng sông Mê Kông ở phía Nam Đây là khu vực được tạo nên bởi haicon sông lớn được bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng: Dương Tử Giang và
Mê Kông Nơi này phần lớn tên sông và địa danh liên quan đến sông đềuvốn là biến âm của cùng một từ gốc Nam - Á cổ đại với nghĩa là sông
nước: giang (Dương Tử Giang, Việt Giang, Chiết Giang, Linh Giang, Tam
Giang, Tiền Giang…); kiang; kung; khung (khung Giang, khung Bích –
Thái Tây Bắc; Mèkhủng – Lào); Kong, (Mê kong); krong, krông (Tây Nguyên: krông Púc, krông Pacô…) Sông (Việt; sung (Sung Lung, Sung
Vang – phụ lưu sông Đà, sông Cả)…
Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam vốn được định
hình trên nền của không gian văn hoá khu vực Đông Nam Á Ta có thể hình
dung không gian văn hoá khu vực Đông Nam Á này như một hình tròn baoquát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo Từ sau côngnguyên, khu vực Đông Nam Á có phần thu hẹp lại do vùng phía Nam sôngDương Tử đã bị chính sách bành trướng và đồng hoá của Trung Hoa dần dầnthâu tóm Mặc dù vậy, cho đến giờ ngay cả vùng này cũng hãy còn giữ đượckhông ít nét trong số hàng loạt những đặc điểm chung của khu vực văn hoáĐông Nam Á mà G Coedès (1948) đã liệt kê như sau “Về phương diện vậtchất: làm ruộng cấy lúa, nuôi trâu bò, dùng đồ kim khí thô sơ, giỏi bơi thuyền
Về phương diện xã hội: địa vị quan trọng của phụ nữ, huyết tộc mẫu hệ tổchức xã hội theo nhu cầu tưới nước ruộng Về phương diện tôn giáo: thuyếtvạn vật hữu linh, thờ phụng tổ tiên và thờ thần đất, đặt đến thờ ở những chỗcao, chôn người chết trong các chum vại hay các trác thạch Về phương diệnthần thoại: đối lập vũ trụ giữa núi và biển, giữa loài phi cầm với loài thuỷ tộc,giữa người thượng du với người hạ bạn Về phương diện ngôn ngữ: dùng
những ngôn ngữ đơn âm với năng lực dồi dào về phát triển từ”Đây là địa
Trang 21bàn cư trú của người Inđonésien cổ đại nói chung Chính mối liên hệ này đã
tạo nên sự thống nhất cao độ của vùng văn hoá Đông Nam á mà ở trên đã
nói Hơn thế nữa, do vị trí đặc biệt của mình Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độđầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hoá khu vực; không phải vô cớ mà các nhà
Đông Nam Á học đã nói một cách hình ảnh rằng Việt Nam là một Đông Nam
Á thu nhỏ.
1.3 Nhận diện tục ngữ Việt Nam
1.3.1 Tục ngữ là một câu- một văn bản hoàn chỉnh
Cùng quan điểm với M.A.K Halliday và Ruqaiya Hasan, O.Ducrot,
T.Todorov trong Từ điển bách khoa các khoa học ngôn ngữ cho rằng: văn
bản có thể trùng hợp với một câu cũng như với cả một cuốn sách, nó được xác lập bởi tính tự lập, sự đóng kín của nó; nó thiết lập một hệ thống [30,47].
Như vậy, một đơn vị được gọi là văn bản không phụ thuộc vào sự dài ngắn về
mặt số lượng mà yếu tố quyết định chất văn bản của nó chính là tính hệ
thống, tính tự lập Nghĩa là nó phải tạo ra được một hệ thống và hệ thống này
có tính chất độc lập trong tương quan với những hệ thống khác D Nunan dựavào mặt ý nghĩa để xác định văn bản và ông cho rằng một đơn vị có tư cách là
văn bản khi và chỉ khi phải tạo nên một tổng thể có nghĩa, tức phải truyền
đạt một thông điệp hoàn chỉnh [9,22].
Chiếu vào tục ngữ, quả thật tục ngữ đáp ứng được những điều kiện trên.Mỗi một tục ngữ thể hiện một nội dung thông báo trọn vẹn, truyền đạt mộtthông điệp mạch lạc hơn thành từ một tổng thể có nghĩa nên có thể nói tụcngữ là một văn bản hoàn chỉnh
Vậy tục ngữ với tư cách văn bản đã thiết lập hệ thống của mình như thếnào, nói cách khác những yếu tố nào tham gia cấu thành nên hệ thống trongtục ngữ? Theo chúng tôi, đó chính là hệ thống những yếu tố ngôn ngữ (cơcấu ngôn ngữ) bao gồm các yếu tố ngữ âm , từ vựng, ngữ pháp Tuy nhiên,
Trang 22tực ngữ lại là đơn vị được mã hoá theo nguyên lý xây dựng thơ ca, được biểuđạt dưới hình thức nghệ thuật bằng những hình ảnh và những mối liên hệtương đồng, bằng cách kết cấu ở dạng tiềm năng như một văn bản thơ Hơnnữa tục ngữ khi sử dụng cũng đạt được một hiệu quả thẩm mỹ, một sức mạnhthẩm mỹ như khi một văn bản thơ được hành chức Do đó, trong tục ngữngoài hệ thống những yếu tố ngôn ngữ còn có hệ thống những yếu tố văn học(cơ cấu văn học) bao gồm các yếu tố: chủ đề, hình hảnh, kết cấu, tất cả nhữngyếu tố trong hai tiểu hệ thống này hợp thành hệ thống những yếu tố có tư cáchtín hiệu thẩm mỹ Những tín hiệu thẩm mỹ này khi được vận dụng vào nhữnghoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì có khả năng tạo ra những giá trị khác nhau, tạo
ra những lại hàm ý khác nhau Do vậy cũng có thể nói tục ngữ là loại phátngôn được hiện thực hoá qua ngữ cảnh, nói cách khác, ngữ cảnh có vai trò rấtlớn đối với dự hoạt động của tục ngữ Nói như O.Ducrot, T.Todorov: “Cácphương diện ngữ nghĩa và ngôn ngữ vủa một văn bản đặt ra những vấn đề màchúng ta phải ngiên cứu trong ngữ cảnh riêng của chúng”[ 30, 48]
1.3.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ
Tục ngữ và thành ngữ có nhiều điểm giống nhau cả về hình thái cấutrúc lẫn khả năng biểu hiện trong giao tiếp: Chúng đều là những đơn vị cósẵn, có tính ổn định, bền vững về thành phần từ vựng và cấu trúc, giàu sắcthái biểu cảm khi đi vào hoạt động giao tiếp Chính vì vậy việc xác định ranhgiới giữa hai đơn vị này không mấy dễ dàng
Trước hết cần xác lập một hệ tiêu chí để biệt loại Ở đây, chúng tôi dựavào tiêu chí hình thái cấu trúc và chức năng - ngữ nghĩa, trong đó tiêu trí chứcnăng - ngữ nghĩa là tiêu chí cơ bản quyết định bản chất của hai đơn vị này
Xét về mặt hình thái cấu trúc thì sự khác biệt giữa tục ngữ và thành ngữ
là sự khác biệt về cấp độ Tục ngữ thuộc một cấp độ cao hơn cấp độ mà thànhngữ thuộc vào Trường hợp tục ngữ bao chứa trong nó những thành ngữ mà
Trang 23không có hiện tượng ngược lại chứng minh cho điều này: Già đời còn mangtơi chữa cháy ; Thà chết sông, chết suối còn hơn chết đuối đọi đèn; Đẹp nhưtiên lo phiền cũng xấu; Có vay có trả mới thoả lòng nhau; Cơm hàng cháo chợ
ai lỡ thì ăn; Cầy sâu, cuốc bẫm thóc đầy lẫm, khoai đầy bồ Hầu hết thành ngữ
có cấu trúc là những ngữ, có thể là ngữ danh từ (hai bàn tay trắng, mèo mả gàđồng, sư tử Hà Đông, nước mắt cá sấu,), ngữ động từ (Cầm đèn chạy trước ô
- tô; hứa hưu, hứa vượn; vạch áo cho người xem lưng, gửi chứng cho ác,),ngữ tính từ (đẹp như tiên, xấu như ma lem, dốt đặc cán mai) Còn hầu hết tụcngữ có cấu trúc là câu, có thể là câu đơn phần: Nhút Thanh Chương, tươngNam Đàn; Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm, cá rô Đầm sét, sâm cầm Hồ Tâyhay câu phức hợp: Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa; Con hư tại mẹ,cháu hư tại bà; Mẹ ăn con giả
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở tiêu chí cấu trúc thì giải quyết như thếnào đối với thành ngữ có cấu tạo tương đương với câu như: Cá nằm trên thớt;chuột sa chĩnh gạo; mèo mù vớ cá rán; trâu lội ngược, bò lội xuô;…Hay tụcngữ có cấu tạo tương đương với ngữ: Dưa la, cà Láng, nem Bâng, tương Bần,nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm sét; gan sặt, mặt Báng, dáng Phù Lưa Do đó,phải bố sung đến tiêu chí khác: tiêu chí chức năng – ngữ nghĩa
Nguyễn Thiện Giáp trong: Từ và nhận diện từ tiếng Việt [11,174] đã
chứng minh được tính hoàn chỉnh về nghĩa là đặc trưng quan trọng nhất đểphân biệt đơn vị từ vựng với các đơn vị ngôn ngữ khác Thành ngữ là đơn vị
từ vựng và như tất cả các loại đơn vị các loại đơn vị từ vựng khác, đặc trưngnổi bật của thành ngữ là tính hoàn chỉnh về nghĩa Tính hoàn chỉnh về nghĩacủa thành ngữ biểu hiện ở chỗ nó biểu thị những khái niệm dựa trên nhữnghình ảnh, những biểu tượng cụ thể và do đó cũng có thể nói nghĩa của thànhngữ Vì thế thành ngữ có giá trị gợi tả và đến lượt nó, giá trị gợi tả làm nêntính hình tượng của thành ngữ Do thành ngữ có tính hình tượng nên ý nghĩa
Trang 24của thành ngữ luôn luôn có tính cụ thể Khác với các đơn vị định danh khác,thành ngữ không có khă năng diễn đạt đồng thời quan hệ chủng và loại,
không biểu hiện diện chung và diện riêng của ý nghĩa Ví dụ: “con bò”là đơn
vị định danh, vừa có thể biểu thị một vài con bò cụ thể (diện riêng của nghĩa)vừa có thể biểu thị tổng loại bò nói chung (diện chung của nghĩa) vừa có thể
biểu thị một vài con bò cụ thể (diện riêng của nghĩa) Còn thành ngữ “rách
như xơ mướp”không biểu thị khái niệm rách nói chung mà biểu thị một kiểu
rách, một lối rách khác với “rách như tổ đỉa”, “rách như bị ăn mày”…
Tục ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa bởi lẽ nội dung ngữ nghĩa của tụcngữ bao giờ cũng là những phán đoán Quá trình hình thành phán đoán xẩy rađồng thời với quá trình hình thành câu Người ta thông báo bằng phán đoánchứ không phải bằng từ và chỉ có phán đoán mới có giá trị đúng - sai, chânthực - giả dối Do vậy, tục ngữ - câu là đơn vị thông báo còn thành ngữ - đơn
vị từ vựng là đơn vị định danh Tục ngữ thông báo một nhận định, một kếtluận về phương diện nào đó của thế giới khách quan Nội dung của tục ngữthường nghiêng về cái có tính bản chất, khái quát còn nội dung của thành ngữthường nghiêng về những hiện tượng có tính chất riêng lẻ
Ví dụ: Thành ngữ “mèo mù vớ cá rán”tuy có cấu trúc là một câu
nhưng không phải biểu thị một phán đoán hay nói cách khác là không có cáigọi là xác định giá trị chân lý ở đây Thành ngữ này tương đương với khái
niệm: Sự may mắn Thành ngữ “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “trâu
lội ngược, bò lội xuôi”có hình thức cấu tạo là câu phức hợp nhung chỉ mang
ý nghĩa định danh về một trạng thái của sự vật, ở đây là sự không phù hợp,
sự chuệch choạc
Còn nghĩa của tục ngữ “Dưa la, cà Láng, nem Bảng, tương Bần, nước
mắm Vạn Vân, cá rô Đầm sét”có cấu tạo là những ngữ danh từ nhưng không
thể lấy cách lý giải của thành ngữ áp dụng vào trường hợp này Bởi câu tục
Trang 25ngữ này thể hiện một nhận định mang tính khái quát về những đặc sản: dưa,
cà, nem, tương, nước mắm, cá rô gắn với những địa phương như: La, Láng,Bảng, Bần, Vạn Vân, Đầm Sét, những đặc sản này ngon nhất ở địa phương
này Tương tự câu “Chim gà, cá nhệch, cảnh cau”được hiểu là: Nếu nuôi
chim (cầm) thì nuôi gà (gia cầm) là có lợi nhất, nếu ăn cá thì cá nhệch là ngonnhất, nếu trồng cây thì trồng cau là tốt nhất Như vậy, những trường hợp màtiêu trí cấu trúc không phải thích nổi thì tiêu chí chức năng - ngữ nghĩa đã giảiquyết được Đến đây lại nảy sinh vấn đề: Tại sao lại cần thiết đặt tục ngữtrong những quan hệ thì mới rõ nghĩa trong khi bản thân chúng bề ngoàichẳng có dấu hiệu gì là biểu thị quan hệ cả ? Lý giải được điều này sẽ có ýnghĩa rất lớn đối với sự phân biệt thành ngữ, tục ngữ về mựt ngữ nghĩa
Xét thành ngữ “đầu tắt, mặt tối”- Nghĩa của thành ngữ này được hình thành nhờ kiến trúc sóng đôi: đầu tắt / mặt tối “Đầu”, “mặt”chỉ bộ phận con người, là hai bộ phận chịu nhiều tác động của môi trường, thời tiết; “tắt”,
“tối”biểu thị quảng thời gian tận cùng của ngày Như vậy nghĩa của thành
ngữ này là sự vất vả Nghĩa của thành ngữ “trên đe, dưới búa”cũng được tạo thành nhờ quan hệ đối ứng, ở đây có sự đối ứng cả lời và ý: “trên, dưới”, “đe
- búa”là những khái niệm thuộc về một phạm trù, “trên”, “dưới”thuộc phạm
trù không gian, “đe”, “búa”là những vật dụng dùng trong nghề rèn “Trên
đe, dưới búa”biểu thị tình trạng bị o ép, bị khống chế.
Xét các tục ngữ: “Gần lửa rát mặt”, “Ôm rơm nặng bụng”, “Ăn ráy
ngứa miệng”; cả 3 tục ngữ này đều biểu thị tình huống: làm một việc gì thì
phải chịu hậu quả do việc đó gây ra Tuy hình ảnh biểu hiện khác nhau, hoàncảnh xẩy ra sự việc khác nhau, nhưng cả ba câu đều có một ý nghĩa: biểu thịquan hệ nhân quả giữa sự việc và hậu quả khi tiến hành sự việc Nghĩa của tụcngữ này được hình thành dựa vào quan hệ đó
Trang 26Từ sự phân tích trên có thể rút ra kết luận: nghĩa của thành ngữ đượchình thành qua nghĩa của cụm từ, nói cách khác là các từ trong cụm tươnghợp về mặt ngữ nghĩa tạo thành một khối có tính hoàn chỉnh về nghĩa Cònnghĩa của tục ngữ hình thành qua nghĩa của một câu mà mỗi câu tục ngữ lạibiểu thị một quan hệ nào đó nên có thể nói nghĩa của tục ngữ là nghĩa biểu thịqua quan hệ Đây chính là nét khác biệt quan trọng trong con đường tạo nghĩacủa thành ngữ và tục ngữ Những câu tục ngữ có cấu tạo là ngữ chẳng qua làbiểu thị quan hệ ngầm ẩn và quan hệ này được soi sáng khi tục ngữ được hànhchức Còn những thành ngữ có cấu tạo là câu nhưng các từ ngữ trong đókhông biểu thị một quan hệ nào cả mà chỉ nhằm định danh một sự vật, quátrình, trạng thái, tính chất,…
Đến đây có thể giải quyết thêm trường hợp khá thú vị: Con đường đểmột thành ngữ trở thành tục ngữ hay nói cách khác, quá trình tục ngữ làmcông việc chuyển hoá thành ngữ trở thành một bộ phận của mình
Trong tục ngữ: “Chưa khỏi vòng đã cong đuôi”có chứa thành ngữ:
“Khỏi vòng cong đuôi” Từ thành ngữ muốn trở thành tục ngữ phải có thêm
cặp từ quan hệ: “chưa…đã” cặp “chưa…đã”đã biến thành ngữ “khỏi vòng
cong đuôi”từ cấu trúc một ngữ với cái nghĩa hoàn chỉnh được suy ra từ toàn
khối là sự bội bạc trở thành tục ngữ với hai vế nêu quan hệ giữa hai đốitượng: A = chưa khỏi vòng, B = đã cong đuôi, A chưa chuyển trạng thái và B
đã chuyển trạng thái Như vậy quan hệ giữa hai vế trong tục ngữ này là quan
hệ nghịch nhân quả biểu thị quan hệ bất bình thường về nghĩa giữa hai thành
phần của câu Nghĩa của câu này cũng tương tự nghĩa của câu: “Chưa đỗ ông
nghè đã đe hàng tổng”: chưa làm xong một việc gì đó mà đã vội sử dụng kết
quả của việc đó
Từ thành ngữ “người yêu kẻ ghét”với nghĩa chỉ sự thường tình trong cuộc sống muốn trở thành tục ngữ “Lắm người yêu hơn nhiều kẻ ghét”với cái
Trang 27nghĩa khuyên răn con người nên ăn ở đức độ phải trải qua một quan hệ so
sánh được biểu thị qua từ so sánh “hơn” Câu tục ngữ đã biến thành ngữ trở
thành một bộ phận của mình bằng cách đặt thành ngữ trong quan hệ so sánh,lợi dụng kiến trúc sóng đôi của thành ngữ, thêm từ so sánh và phạm trù sốlượng dùng trong quan hệ so sánh để tách thành hai vế có quan hệ khác hẳnvới tính chất của nó khi còn là hai vế của thành ngữ
Trng tục ngữ “Có vay có trả mới thoả lòng nhau “thì thành ngữ “có
vay có trả”chiếm hẳn một vế của tục ngữ này Tại sao nếu để nguyên “có vay
có trả”thì không thành được tục ngữ mà thêm “mới thoả lòng nhau”thì
đương nhiên là tục ngữ không cần phải bàn cãi Thành ngữ “có vay có
trả”biểu thị một tình trạng cụ thể, nghĩa của nó là sự sòng phẳng còn nghĩa
của tục ngữ “có vay có trả mới thoả lòng nhau”là một kinh nghiệm sống có
tính chân lý, khái quát: có sòng phẳng thì mới tốt đẹp Câu tục ngữ này biểu
thị quan hệ điều kiện và thành ngữ “có vay có trả”chỉ còn là phương tiện để
tục ngữ hoàn thành việc tạo lập quan hệ của mình
Như vậy, không phải thành ngữ nào muốn trở thành tục ngữ cũng được
mà tục ngữ chỉ chấp nhận những thành ngữ tiềm chứa khả năng tạo quan hệ.Tục ngữ muốn biến thành ngữ trở thành một bộ phận của mình thì phải đặtthành ngữ trong một quan hệ nhất định và quan hệ này phải tạo ra nghĩa kháiquát, nghĩa phổ biến của tục ngữ
1.3.3 Phân biệt tục ngữ với ca dao
Cả tục ngữ và ca dao đều “giành”về cho mình những câu như:
- Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng
- Thâm đông hồng tây dựng may
Ai ơi đợi đến ba ngày hẵng đi
- Phải duyên thì dính như keo
Trang 28Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh
- Chốn ước mơ lất lơ mà hỏng
Nơi tình cờ mà đóng nhân duyên
- Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời gì ghẻ mà thương con chồng
Nói cách khác, nhiều người làm công tác nghiên cứu, sưu tầm, biênsoạn tục ngữ hay ca dao đã lấy những câu trên làm đối tượng cho công việc
nghiên cứu của mình Tại sao lại có sự “nhập nhằng”như vậy trong khi nhà
nghiên cứu nào cũng có ý thức rõ về ranh giới thực tế giữa tục ngữ và cadao ? Phải chăng giữa hai đơn vị này có một điểm gặp gỡ, giao thoa nào đó và
chính điểm này là đầu mối của những “nhầm lẫn”trên kia?
Theo chúng tôi, giải quyết những thắc mắc trên sẽ làm sáng tỏ đượcmột nét mới trong đặc trung bản chất của tục ngữ Từ đó có thể lý giải đượchai trường hợp:
- Trường hợp câu tục ngữ là một bộ phận cấu thành nên ca dao, nóicách khác, ca dao lấy tục ngữ làm phần gợi tứ
- Trường hợp ca dao và tục ngữ thể hiện cùng một nội dung ý nghĩa
Cả tiêu chí hình thái cấu trúc lẫn tiêu trí chức năng - ngữ nghĩa đềukhông thể giải quyết triệt để các trường hợp trên Nếu lấy tiêu chí hình tháicấu trúc làm cơ sở để phân biệt thì lại phải loay hoay trong những điều đãbiết: tục ngữ nhiều khi muốn thể hiện một nội dung thông báo trọn vẹn phảimượn hình thức dài hơi hơn và không ai có thể nghi nghờ những câu nàykhông phải là tục ngữ: Đánh giặc thì đánh giữa sông, đừng đánh chỗ cạn mắcchông mà chìm; Nhà giàu chồng lau ra mía, nhà khó chồng củ tía ra củ nâu;
Đồ mặc thì đến phó may, bao nhiêu đồ sắt đến tay thợ rèn; …hơn nữa, lục bátkhông phải là hình thức độc quyền của ca dao Còn nếu dựa vào nội dung ngữnghĩa thì sẽ chẳng đưa sự phân biệt đi đến đâu bởi tục ngữ và ca dao đều lànhững đơn vị thông báo, trong tục ngữ và ca dao đều có những chủ đề như:
Trang 29lao động, hôn nhân, vợ chồng, nhận xét về sự vật, về con người, phê phán vàrăn bảo,…
Bởi vậy, một cách làm hợp lý nhất là xem những trường hợp trên kia lànhững đơn vị trung gia giữa ca dao và tục ngữ Trong thực tế sáng tạo, kể cảnhững sáng tạo dân gian lẫn sáng tạo bác học đều có hiện tượng pha trộn giữacác đơn vị, giữa các thể loại Ca dao và tục ngữ được sáng tác và hành chứctrong môi trường folklore nên có sự pha trộn là tất yếu Có thể tạm gọi mộtcái tên cho những trường hợp này: đó là ca dao được tục ngữ hoá hay tục ngữ
mô phỏng ca dao Nừu có người đòi hỏi nghiêm ngặt hơn nữa trong sự phânđịnh ranh giới thể loại thì có thể giải quyết theo cách sau: tìm xem đâu là tínhtrội thuộc về ca dao hay tục ngữ, trên cơ sở đó tiến hành quy loại Nếu câunào chứa nội dung thiên về lý trí khuyên răn, nêu lên những hiện tượng phổbiến mang tính quy luật trội hơn thì đó là tục ngữ
Ví dụ:
- Thâm đông hồng tây dựng may
Ai ơi đợi đến ba ngày hẵng đi
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm
- Nuôi lợn thì phải vớt bèo Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng
Những câu không đơn thuần nhằm vào những nội dung khuyên răn haynêu những hiện tượng mang tính quy luật mà chủ yếu lấy những nội dung đólàm điểm tựa cho cảm xúc thì đó là ca dao
- Phải duyên thì dính như keo Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh
- Yêu nhau yêu cả đường đi Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng
- Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Trang 30Ở mục (1) chúng tôi đã làm rõ tục ngữ với tư cách là câu mang một ýthông báo trọn vẹn Mục (2) này khi chỉ ra các hiện tượng trung gian giữa cadao và tục ngữ thì cũng đồng thời khơi lên một nét nữa trong đặc trưng bảnchất của tục ngữ: tục ngữ là một văn bản Ca dao là một văn bản, lại là mộtvăn bản thơ và người ta nhầm lẫn tục ngữ với ca dao Vậy phải chăng tục ngữcũng là một văn bản có cùng một hướng đích nghệ thuật như ca dao ?
Theo M.A.K Halliday và Ruqaiya Hasan thì “Từ văn bản được dùng
trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó được nói ra hay viết ra, có độ dài bất kỳ, tạo lập được một tổng thể hợp nhất”[Dẫn theo 1,30] Theo hai ông, cái
“tổng thể hợp nhất”này làm nên “chất văn bản”và “chất văn bản”lại là “sự liên kết đặc thù bên trong văn bản , nó không giống với cấu trúc của câu”.
Cũng theo M.A.K Halliday và Ruqaiya Hasan: “Một văn bản có thể được nói
ra hay là được viết ra, là văn xuôi hay là thơ, là một đối thoại hay là một đơn thoại Nó có thể là một cái gì đó từ một câu tục ngữ đơn lẻ cho đến cả một vở kịch trọn vẹn, từ một tiếng kêu cứu nhất thời cho đến một cuộc thảo luận suốt ngày ở uỷ ban”[1,31]
Xét câu tục ngữ “Thợ sơn bôi bác thợ bạc lọc lừa”có một sự song hành
cú pháp và song hành ngữ nghĩa: thợ sơn bôi bác thợ bạc lọc lừa và chínhtính chất song hành trong sự bố trí ngữ đoạn có tác dụng liên kết các vế của
câu tục ngữ với nhau Mặt liên kết là yêu cầu đầu tiên để một đơn vị có “chất
văn bản” Nó tạo nên sự thống nhất về chủ đề và đây cũng là yêu cầu quan
trọng để tạo nên “Chất văn bản” Câu tục ngữ này thể hiện nhận xét: tính
cách con người gắn với nghề nghiệp của họ (những người làm nghề sơn thìthường cẩu thả, bôi bác và những người làm nghề bạc thì thường gian trá, lọclừa) Nhưng điều phát hiện này mới đưa lại một hứng thú bất ngờ: có một sự
Trang 31chơi chữ dựa trên sự tương đồng giữa tên gọi nghề nghiệp với tính cách conngười: sơn - bôi bác.
Bạc – lọc lừa
Đây là một hứng thú thẩm mỹ mà chỉ có ngôn ngữ nghệ thuật mới đưalại được Hơn hết tục ngữ trong kho tàng tục ngữ Việt Nam đều đem đến chongười nghe một sự tiếp nhận chọn vẹn cả về nội dung thông báo lẫn khoáicảm thẩm mỹ
Như vậy có thể xem tục ngữ là một văn bản hay nói đúng hơn có thểđứng ở góc độ văn bản để soi xét tục ngữ Hơn nữa, tục ngữ lại có tư cách
“thông điệp nghệ thuật”(Hoàng Văn Hoành), “một tổng thể thi ca nhỏ nhất”(R.Jakobson), “cấu trúc mang tính thơ của ngôn ngữ từ”(Hoàng Trinh),
“lời nói có tính chất thơ”(V.V.Vinogradov).
Điều này chúng tôi sẽ làm rõ trong quá trình lý giải trường hợp câu tụcngữ là một bộ phận cấu thành ca dao
Trong câu ca dao:
Ra đường nhặt cánh hoa rơi Hai tay bưng lấy, cũ người mới ta
Có chứa một vế nguyên là tục ngữ: cũ người, mới ta Tục ngữ “cũ
người mới ta”có nghĩa là: thứ người ta đã dùng rồi đến tay mình vẫn thấy là
tốt Tục ngữ này vẫn giữ được ý trên nhưng khi trở thành một vế của ca daothì vai trò của nó đã đổi khác và nội dung ngữ nghĩa đã mang một sắc thái
mới: “cũ người mới ta”trở thành một điểm nhấn ngữ nghĩa, cùng với hành động “hai tay bưng lấy”thể hiện một cách ứng xử đầy nhân văn của con người trước những “cánh hoa rơi”bẽ bàng, xấu số “cũ người mới ta”đã mất
đi tính lý trí của nó mà chỉ còn lại âm vang của cảm xúc, sự khái quát: cũ mới, ta - người đã nhường chỗ cho một sự rung động rất cụ thể: đó là một lời
-tự an ủi, hay là một lời thách thức, hay là một sự vỗ về ,…Như thế, tục ngữ
Trang 32khi vào ca dao đã thoát khỏi cái vỏ lý trí, suy biện của nó trở thành nơi chứađựng những rung cảm và chính sự quyện hoà ca dao - tục ngữ đã đem lại giátrị cho cả hai thể loại.
Khi câu tục ngữ “có lá lốt tình phụ xương sông”đi vào câu ca dao:
“có lá lốt tình phụ xương sông
Có chùa bên bắc miếu bên đông để tàn”
Thì tục ngữ kia chỉ còn là phương tiện để ca dao cất lên tiếng nói chữ tìnhcủa mình Và cái mô hình khái quát của tục ngữ: có…tình phụ (có trăng phụ đèn,
có bát sứ tình phụ bát đàn, có oản phụ xôi) trở thành điểm tựa để phát triển: “Có
chùa bên bắc miếu bên đông để tàn”nói về sự bạc bẽo của con người trong quan
hệ với cái mới có được và cái cũ đã gắn bó với mình Người ta tiếp nhậ câu tụcngữ này với một ấn tượng nghệ thuật giống như khi tiếp nhận một bài thơ
Có khi ca dao lấy tục ngữ làm phần gợi tứ:
“Thứ nhất vợ dại trong nhà Thứ nhì nhà dột, thứ ba rựa cùn
- Vợ dại thì đẻ con khôn Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm”
Ở đây đã thấp thoáng một hình thức đối thoại trong văn bản ca dao màchỉ ca dao với hình thức đối đáp trong môi trường diễn xướng mới có được.Câu ca dao đã vặn trở ý tứ của câu tục ngữ và biến nó thành cơ sở cho sự suy
lý không còn mang bản chất tục ngữ nữa mà đã thể hiện rõ đặc trưng ca dao.Tục ngữ thường diễn tả những hiện tượng , sự việc mang tính quy luật chonên những chân lý nêu lên thường được thể hiện dưới dạng xuôi, người nghe
tiếp nhận một chiều, còn ở đây ca dao đã mượn tục ngữ để “tranh luận”, lấy
những hiện tượng mang tính khái quát được đúc kết một cách chắc chắn “Thứ
nhất, thứ nhì, thứ ba”để bảo vệ cho sự “ngược đời”muôn màu muôn vẻ chỉ có
ở ca dao - một văn bản thơ thực sự
Trang 33Như vậy, trường hợp tục ngữ là một bộ phận cấu thành ca dao thì một
sự chuyển hoá xảy ra: Ca dao cấp cho tục ngữ một nội dung cảm xúc và tụcngữ trở thành một điểm nhấn ngữ nghĩa quan trọng trong môi trường cảm xúccủa ca dao Sự chuyển hoá này rất tinh tế và nó liên quan đến cách sử dụnghình thể từ ngữ của tục ngữ và cao dao
Xét hai câu tục ngữ và hai câu ca dao:
Mẹ chồng mà ghét giết trâu ăn mừng.
Rất dễ nhận thấy hai điểm giống nhau: Giống nhau ở sự bố trí ngữđoạn song hành về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa (mỗi câu tục ngữ chiathành hai vế, mỗi vế diễn đạt trọn vẹn và có quan hệ đẳng lập với vế kia,quan hệ giữa câu lục và câu bát trong hai câu ca dao trên cũng tương tự),giống nhau về nội dung ý nghĩa: Cùng thể hiện ứng xử của người vợ trongquan hệ tay ba: Chồng – Vợ – Mẹ chồng Tuy nhiên cảm thức ngôn ngữcủa người Việt lập tức nhận ra câu nào là cao dao, câu nào là tục ngữ và ởđây chính phương thức thể hiện liên quan đến đặc trưng thể loại giúp tanhận biết tục ngữ và cao dao
Ý nghĩa toát lên qua hai câu tục ngữ là chân lý khái quát, có thể áp dụngvào bất cứ ai có hoàn cảnh tương tự Nó là hiện tượng phổ biến gắn với sự phứctạp trong quan hệ gia đình của xã hội Việt Nam Và cách ứng sử này cũng làcách ứng xử số đông người Việt, thể hiện văn hoá gia đình mang bản sắc Việt
Trang 34Nam rất rõ ậ hai câu ca dao, nhân vật “em”đã trở thành chủ thể trữ tình
“chồng”, “mẹ chồng”trở thành đối tượng để “em”bộc lộ cách ứng xử của mình.
Có thể thấy rất rõ ánh cảm xúc lấp lánh qua từng câu chữ với thủ pháp cườngđiệu hoá: Mổ bò ăn khao, giết trâu ăn mừng Cái quan hệ tay ba kia trở nên rất
cự thể chứ không còn mang tính khái quát nữa, bởi vì “em”là cụ thể, “chồng”,
“me chồng”trở thành “chồng em”, “mẹ chồng em” Nếu tục ngữ sử dụng một
thứ ngôn ngữ hoàn toàn khách quan, phản ánh thông tin sự kiện thì ca dao là thứngôn ngữ nghĩa nhưng chất liệu ngôn ngữ được sử dụng ở ca dao và tục ngữ
khác nhau Đó chính là “lớp nghĩa thể loại”hay lớp nghĩa gắn với chất liệu riêng
về mặt thể loại, giúp cho việc nhận biết ranh giưói thể loại nên dễ dàng
Còn có thể dẫn ra nhiều thí dụ minh chứng cho điều này:
Tục ngữ
- Áo năng may cũng mới, người năng tới năng thân.
Ca dao
- Năng mưa thì giếng năng đầy
Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương
Trang 35Như vậy, qua sự phân biệt tục ngữ với ca dao, một nét nữa trong đặctrưng bản chất của tục ngữ được hiển lộ: Tục ngữ tồn tại dưới hình thức mộtcâu nhưng đồng thời nó cũng có tư cách một văn bản mang tính nghệ thuật.
Tục ngữ và thành ngữ có nhiều điểm giống nhau cả về hình thái cấu trúclãn khả năng biểu hiện trong giao tiếp Trước hết, về thành phần từ vựng và cấutrúc cú pháp, chúng đều là những đơn vị có sẵn, có tính ổn định và bền vững.Còn khi đi vào hoạt động giao tiếp, chúng đều mang sắc thái biểu cảm cao Do
đó, việc minh định được ranh giới rõ ràng giữa hai đơn vị này là cả một vấn đềkhó khăn, phức tạp, trong luận văn này, chung tôi xin đưa ra một hệ tiêu chí đểphân biệt tục ngữ với thành ngữ: hình thức, cấu trúc, chức năng, ngữ nghĩa
Tiêu chí hình thức biểu hiện rõ nhất ở số lượng âm tiết “tục ngữ có sốlượng chủ yếu là sáu âm tiết, loại nhiều nhất là hai ba âm tiết Thành ngữ có
cả ba âm tiết nhưng chủ yếu là bốn âm tiết
Việt Nam là đất nước có nền VHDG phát triển và phong phú vào bậcnhất so với nhiều nước trên thế giới Đây là nơi truyền thống văn hoá lâu đời
và giàu bản sắc Mỗi bản nhạc, lời ca, mỗi câu chuyện đều thể hiện cáiriêng biệt độc đáo của người dân Việt Nam Đã bao đời rồi cái gia tài vô giá -VHDG Việt Nam - đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con người nơi đây vàđồng thời cũng làm cho nền văn học dân tộc thêm giàu hương sắc
1.4 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 luận văn đã trình bày một số nội dung, khái niệm cóliên quan đến đề tài gồm: vấn đề địa danh, Văn hóa Việt, khái niệm tục ngữ,nhận diện tục ngữ trong mối quan hệ so sánh với thành ngữ và ca dao Nhữngkhái niệm và giới thuyết này có liên quan đến những nội dung sẽ trình bàytrong các chương 2 và chương 3 tiếp theo của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH
TRONG TỤC NGỮ VIÊT NAM
2.1 Nhận xét
2.1.1 Các loại nội dung đề tài thể hiện trong tục ngữ Việt Nam là vô
cùng phong phú Nó bao gồm các câu tục ngữ khác nhau về đề tài nội dungnhư: Tục ngữ về đất nước lịch sử, về quan hệ gia đình xã hội, các hiện tượng
tự nhiên thời tiết, lao động nghề nghiệp, đời sống vật chất của con người,phong tục, giáo dục, chữa bệnh, chống giặc cướp và áp bức, tệ nạn xã hội.Phê phán thói hư tật xấu Mỗi thể loại có những đặc trưng nhất định Tuynhiên điều đáng nói ở đây là trong tục ngữ Việt Nam địa danh xuất hiện rấtnhiều Ở bất cứ thể loại nào ta cũng có thể tìm thấy những tên làng, tên đất,tên sông, tên núi cụ thể Điều này khá dễ hiểu, bởi văn học luôn phản ánh hiệnthực cuộc sống mà “hiện thực là cái có thật, cái tồn tại trong thực tế”(Từ điểnTiếng Việt, 1992 trang 39) Địa danh cũng là đơn vị ngôn ngữ có thật gắn vớiđời sống hàng ngày của con người cho nên nó được đưa vào trong tục ngữcũng là hiển nhiên
Như đã nói trong tục ngữ Việt Nam phong phú về thể loại song ở đâychúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu địa danh trong những loại hình khá tiêu biểu(Tục ngữ về đất nước lịch sử, hiện tượng thời tiết, tự nhiên, tình yêu lứa đôi,con người, thổ sản, đặc sản, nghề nghiệp, đặc tính miền đất, những tri thứclịch sử, giới thiệu địa phương) để từ đó có những khái quát cụ thể về cácmảng ngôn ngữ quan trọng này ở các vùng phương ngữ và qua đó giúp chúng
ta hiểu sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam
Trang 372.1.2 Nhận xét địa danh trong tục ngữ Việt nam
Ngọn nguồn của từng bài tục ngữ có thể khác nhau song tất cả các bàitục ngữ lưu truyền trên đất nước Việt Nam đều mang hơi thở và phong cáchcủa con người đất Việt Rất nhiều mảng đề tài được đề cập đến trong tục ngữ:
Đề tài tình yêu nam nữ, đề tài tình yêu quê hương đất nước, đề tài đấu tranhgiai cấp chống giặc ngoại xâm mỗi loại đề tài này đều mang những đặctrưng riêng song lại góp phần làm nên cái độc đáo, riêng biệt của một vùngphương ngữ văn hoá
Có thể nói văn học dân gian nói chung tục ngữ nói riêng, tục ngữ nóichung là hơi thở, là máu thịt của quần chúng nhân dân Bao vận mạng, baonỗi niềm, bao hi vọng, bao kiếp sống
Trong tục ngữ Việt Nam địa danh xuất hiện dày đặc Mỗi tên gọi, mỗiđịa danh ấy đều mang những nét đặc trưng riêng của từng miền quê cụ thể.Qua thống kê của chúng tôi trong hai tập "Tuyển tập tục ngữ Việt Nam”(NinhViết Giao - 1996) thì có đến 951 lượt địa danh xuất hiện Đây quả là con sốchiếm một tỉ lệ lớn trong tục ngữ nói riêng, ngôn ngữ văn học nói chung.Điều nay cũng khẳng định rằng về ngôn ngữ địa danh có tầm quan trọng lớntrong việc sáng tác văn học
Trong tổng số 951 địa danh ấy cũng có nhiều địa danh được lặp đi lặplại: có thể lặp trong cùng 1 bài, thậm chí trong cùng một câu
Ví dụ:
Phủ Quỳ là đất Phủ Quỳ
Cũng có khi địa danh được lặp lại giữa các bài Ví dụ: địa danh núiHồng (Hồng Lĩnh) có đến 17 câu tục ngữ viết về nó: địa danh sông Lam (LamGiang) có đến 11 câu, địa danh Kim Liên có 6 câu, địa danh Vũ Thư có 12câu, địa danh Lục Ngạn cú 10 câu, địa danh Đông Thành có 4 câu
Trang 38Đến với tục ngữ Việt Nam ta không chỉ biết đến những tên gọi khácnhau mà còn được chứng kiến nhiều địa danh phong phú Và chính các loạihình ấy đã minh chứng cho địa hình tự nhiên đa dạng của đất nước Việt Nam:
Có đồi nú, có sông suối, có đồng bằng
Để tiện cho việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, chúng tôi cũng thống kêđịa danh xuất hiện trong tục ngữ Việt Nam bằng bảng số liệu sau
2.1.3 Các số liệu thống kê về địa danh trong tục ngữ Việt Nam
- Qua việc thống kê khá chi tiết và cụ thể trên chúng ta thấy địa danh
trong tục ngữ Việt Nam có tần số cao (Con số 951 lượt địa danh xuất hiện
trong tục ngữ đã chứng minh điều đó) Nhiều khi trong một câu tục ngữ,
nhưng có hàng loạt địa danh xuất hiện.
Ví dụ: “Đông Cồn Quay, Cồn Bẹ, Tây núi Lẹ, Thần Phù, Bắc tiếp giápĐại Hà, Nam quán vu hải thập bát xích thủy thâm”
Câu này nói về địa giới xã Quần Anh khi mới sáng lập Cồn Quay nay
là xã Hải Đông; cả hai xã thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Núi Lẹ vàcửa Thần Phù thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình và tịnh thanh Hóa Đại Hà tứcsông Ninh Cơ Phía Nam tới biển 18 sải nước là nơi dân thả rùng đánh cá Địagiới xã Quần Anh rộng như vậy là vì trước kia vùng này chỉ là một bãi bồi,bốn bề sông biển, lô nhô cồn bãi chưa có nhiều làng mạc như sau này
Hoặc:
Đầu Bần, thân Mao, máu đào Thụ Phúc
Bần: Bần Yên Nhân, nay là thị trấn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.Mao: Hồng Mao, sau đổi là phượng Mao, nay thuộc xã Phượng Mao, huyệnQuế Võ, tỉnh Bắc Ninh Thụ Phúc: còn gọi là Thụ Chiền, nay thuộc xã cảnhHưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Thì "Đầu Bần", "Mao", "Thụ Phúc”đều là những tên địa danh cụ thể
Rõ ràng địa danh chiếm phần quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ nói chung
Trang 39và trong tục ngữ nói riêng Nó cũng sẽ là nguồn cứ liệu quan trọng giúpchúng ta tìm hiểu các vùng phương ngữ - văn hoá đặc sắc.
Hoặc
Để nhớ cho Sơn Tây, để gầy cho xứ Quảng
Đô vật ở Liễu Đôi (Hà Nam) đã từng lên thi đấu trong các hội ở SơnTây nay thuộc xã Hà Tây, ở Quảng Yên nay thuộc Quảng Ninh
- Địa danh trong tục ngữ Việt Nam là những địa danh có thật tồn tạitrên mảnh đất này Song có điều, không phải cứ địa danh nào tồn tại trên đấtnước Việt Nam cũng đi vào tục ngữ mà nó còn là những địa danh tiêu biểuhoặc nó phải có gằn với một ngữ cảnh, hoàn cảnh nhất định
Chẳng hạn: địa danh Kim Liên (Nam Đàn) - quê hương của Bác Hồkính yêu và là nơi hội tụ của nhiều danh nhân lỗi lạc trong tục ngữ, là địadanh thường xuyên diễn ra những cuộc ví phường vải rạo rực, ân tình nên đãđược tục ngữ nhắc đến nhiều lần:
Ví dụ: “Kim Liên gió trong Tràng Cát, chớp ngoài Chung Sơn"
Hay "Nhất vui là cảnh Kim Liên nhì vui chùa nhờ tượng, tốt sen nhờ hồ"
Hoặc như vùng đất Đông Thành (huyện Yên Thành ngày nay), trướcđây là nơi đất đai màu mỡ, trù phú, giống như “Miền đất hứa”của nhiều địaphương khác trong những tháng ngày đói kém, mất mùa nên được tục ngữ
đề cập đến nhiều
Ví dụ:
Đông Thành là mẹ là cha Đói cơm rách áo ra Đông Thành
Có khi những địa danh, những miền đất khắc nghiệt khủng khiếp cũngđược tục ngữ nói đến nhiều bởi nó liên quan đến cuộc sống, đến miếng ăn cáimặc của con người dân nhiều vùng khác nhau Chẳng hạn, miền đất Phủ Quỳ,vùng Hiếu (Nghĩa Đàn) là nơi rừng thiêng nước độc nhưng lại lắm cái ăn, lắm
Trang 40rau củ Vào tháng năm mất mùa, đói kém nhân dân miền xuôi thường lên đótìm rau củ để sống qua ngày đoạn tháng, song nhiều khi bỏ xác nơi này.
Mặt khác, sự xuất hiện của các loại địa danh trong tục ngữ Việt Namkhông như nhau: có loại ít, loại nhiều Loại ít thường là những loại chỉ tiêubiểu cho một khu vực,một miền đất nào đấy chứ không cả vùng (Chẳng hạncác loai địa danh như: eo, thung, dốc, hốc là những loại chỉ đặc trưng chođịa hình miền núi nên nó xuất hiện ít) Còn lại nhiều thường là những loạitiêu biểu cho cả vùng đất, là những nơi gắn bó, liên quan mật thiết đến đờisống thường nhật của con người Chẳng hạn: địa danh chợ xuất hiện nhiềutrong tục ngữ bởi trên đất nước Việt Nam này đâu đâu cũng có chợ, từnhững miền quê hẻo lánh đến những trung tâm đô thị, sầm uất Hơn nữa
“Chợ là nơi công cộng, đồng thời đến đó để mua bán, trao đổi hànghoá”(Hoàng Phê - H.1992) nên đi chợ trở thành một nhu cầu thiết yếu trongcuộc sống Và mỗi buổi chợ, mỗi phiên chợ đều có thể đi vào tục ngữ mộtcách tự nhiên, sống động
Hoặc những loại địa danh cư trú hành chính của con người cũng đượctục ngữ thường xuyên đề cập đến như: Làng, kẻ, kỵ Bởi những loại nàyluôn liên quan mật thiết đến cuộc sống con người - ai sinh ra lại chẳng gắnvới một miền quê, một địa danh cụ thể Do vậy, người ta đưa địa danh đó vàotục ngữ càng nhiều cũng là điều dễ hiểu
- Đến với địa danh trong tục ngữ Việt Nam, chúng ta được tiếp xúc vớinhiều tên gọi, nhiều miền đất khác nhau Mỗi tên gọi đều thể hiện đặc trưngvăn hoá của mỗi vùng phương ngữ trên đất nước Việt Nam Chẳng hạn,những tên gọi mang sắc thái địa phương như: Chợ Mọ, chợ Vũu, chợ Chia,chợ Trôi, chợ Nê, chợ Viềng, chợ Ninh, chợ Hoàng, chợ Đồng, chợ Trâu, chợTrù, chợ Đụm, rú Gám có tính mộc mạc, giản dị cũng như đặc tính conngười nơi đây