luận văn Khảo sát địa danh trong ca dao Việt Nam
Trang 1Khảo sát địa danh trong ca dao Việt Nam
Do địa danh có chức năng cơ bản là định danh và cá thể hoá đối tượngnên nó trở thành một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống xã hội Thửtưởng tượng nếu như một ngày bỗng dưng tất cả tên các tỉnh, thành phố trên đấtnước ta biến mất Thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ bị đe doạ, mọi hoạtđộng của các cơ quan nhà nước cũng như các ngành đều gặp khó khăn
Địa danh có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Chấtliệu tạo ra địa danh là ngôn ngữ, nên số lượng và tính chất đa dạng của địa danhcũng có thể xem là tấm gương phản ánh sự phát triển và biến đổi của ngôn ngữtiếng Việt Việc nghiên cứu địa danh còn giúp chúng ta biết nghĩa của một số từ
cổ nay không còn dùng nữa và giúp ta xác định rõ ràng hơn ý nghĩa của các từngữ địa phương
Địa danh được hình thành, tồn tại và biến đổi không chỉ do các tác độngcủa ngôn ngữ mà còn do các tác động bên ngoài ngôn ngữ (đặc điểm văn hoá, sự
di dân, tiếp xúc, vay mượn,…) Chính vì vậy mà nhiều biến cố về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, ngôn ngữ,… được lưu giữ trong địa danh Nghiên cứu địadanh sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm được một phần nào đó về một vùng đất vớinhững đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán riêng biệt của vùng…
Trang 2Với vai trò như vậy, địa danh học đang là một trong những bộ môn ngônngữ học được quan tâm chú ý hiện nay.
- Ca dao là một trong những bộ phận quan trọng trong kho tàng văn họcdân gian Việt Nam Việc nghiên cứu địa danh trong ca dao sẽ giúp chúng ta hiểuthêm được một phần nào đó về cái nội dung phong phú mà ca dao biểu đạt
Nghiên cứu các địa danh trong ca dao sẽ cho ta thấy những phong tục, tậpquán và đặc trưng riêng của từng vùng, từng địa danh trước đây được phản ánhtrong ca dao, mà những địa danh này có khi đax không còn nữa hoặc đã bị biếnđổi thành một địa danh khác do qúa trình phát triển của lịch sử
Nghiên cứu địa danh trong ca dao còn cho chúng ta thấy được một phầnnào đó về diện mạo và những đặc điểm cơ bản về cấu tạo, ý nghĩa cùng tiếntrình lịch sử của địa danh, mang lại những giá trị lí luận và thực tiễn cho việcnghiên cứu địa danh ở Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Niên luận này được viết với những mục đích sau:
- Nêu ra những lí luận cơ bản về địa danh và địa danh học để giúp chúng
ta hiểu thêm về ngành học này
- Nghiên cứu tên các địa danh Việt Nam trong các câu ca dao trên mặt đặcđiểm về cấu tạo và ý nghhĩa của địa danh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trong niên luận này là hệ thống địa danh của ViệtNam ở trong các câu ca dao, Gồm có địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và địadanh chỉ các đối tượng nhân tạo (địa danh hành chính, địa danh công trình xâydựng và địa danh vùng)
Trang 3* Nguồn tư liệu
Do mục đích của niên luận nên nguồn tư liệu mà chúng tôi thu thấp, sưutầm là những câu ca dao có liên quan đến địa danh Việt Nam trong các sách cósưu tầm về ca dao Việt Nam
* Cách xử lý tư liệu
- Từ nguồn tư liệu thu thập được chúng tôi đã tập hợp, thống kê được 498địa danh, bao gồm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên, địa danh chỉ các đơn vị hànhchính, địa danh chỉ các công trình xây dựng và địa danh chỉ vùng lãnh thổ
- Xử lý tư liệu:
Sau khi đã tập hợp, thống kê địa danh thành 4 loại trên chúng tôi tiếnhành phân loại theo mẫu, thống kê, tổng hợp biểu bảng Trên cơ sở đó rút ranhững nhận xét về đặc điểm địa danh Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trong niên luận này khi nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng phương phápquy nạp Trêm cơ sở những tư liệu được thu thập và xử lý, trên nền tảng nhữngcon số được thống kê và phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét mang tínhtổng hợp và khái quát về vấn đề được nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu mà cụ thể ở đây là nghiên cứu các địa danh ViệtNam xuất hiện trong các câu ca dao, từ đó rút ra những nhận xét mang tính tổnghợp và khái quát về vấn đề được nghiên cứu
- Miêu tả những đặc điểm về mặt cấu tạo của địa danh
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ THU THẬP ĐỊA DANH
TRONG CA DAO VIỆT NAM
I QUAN NIỆM VỀ CA DAO
Khi đưa ra quan niệm về ca dao, các nhà nghiên cứu đã có những địnhnghĩa về ca dao trong tương quan phân biệt ca dao với dân ca bởi vì trong khotàng văn học dân gian Việt Nam cũng không chỉ có ca dao mà còn có cả dân ca.Tuy nhiên, sự phân biệt ca dao và dân ca không phức tạp như sự phân biệt tụcngữ với thành ngữ
Thuật ngữ ‘ca dao’ đã xuất hiện từ khá lâu, từ khi xuất hiện các sách biênsoạn bằng Hán Nôm của các nhà Nho như Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chúgiải (chưa rõ soạn giả, năm soạn), Lý hạng ca dao (chưa rõ soạn giả, năm soạn),Nam phong giải trào (Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phu soạn từ khoảng năm1788-1789), Thanh Hoá quan phong (Vương Duy Trinh soạn năm 1903), ViệtNam phong sử (Nguyễn Văn Mại), Quốc phong thi hợp thái (chưa rõ soạn giả)
Để chỉ thuật ngữ ‘ca dao’ Trần Danh Ân và Ngô Hạo Phú đã dùng thuậtngữ ‘Nam Phong’, Vương Duy Trinh dùng ‘Quan Phong’, Nguyễn Văn Mạidùng thuật ngữ ‘phong sử’, còn soạn giả Quốc phong thi hợp thái dùng ‘QuốcPhong’
Đến đầu thế kỉ XX, sách báo chữ quốc ngữ xuất hiện rất nhiều và cũng đã
có dùng thuật ngữ ‘ca dao’ hay ‘phong dao’ như Tục ngữ phong dao (NguyễnVăn Ngọc biên soạn năm 1928), Tục ngữ ca dao (Phạm Quỳnh – 1932), Ca dao
cổ (Tạp chí Nam Phong số 167, HN, 1930), Phong dao cổ (tạp chí Nam Phong
số 179, HN, 1932), Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ (Nguyễn Tấn(Văn ?) Chiển,HN, 1936) Hai thuật ngữ ‘ca dao’ và ‘phong dao’ phạm vi ảnhhưởng của chúng có chỗ giống nhau Người xưa gọi : ‘ ca dao là phong dao vì
có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại’ (tụcngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan) Vì vậy dần dần tên gọi phong
Trang 5dao cũng ít được dùng nhường chỗ cho ‘ca dao’ (thi pháp ca dao – NguyễnXuân Kính).
Trong giới nghiên cứu, trong các sách sưu tầm, so với từ ca dao, từ dân caxuất hiện muộn hơn, khoảng những năm 50 của thế kỉ XX Dân ca được chínhthức sử dụng bằng sự xuất hiện trong cuốn sách ‘ tục ngữ và dân ca Việt Nam’của Giáo sư Vũ Ngọc Phan in lần đầu tiên vào năm 1956
Sau đây là quan niệm về ca dao của một số nhà nghiên cứu :
- Trong ‘Việt Nam văn học sử yếu’ giáo sư Dương Quảng Hàm đã địnhnghĩa về ca dao như sau: Ca dao (ca : hát, dao : bài hát không có chương khúc)
là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục củangười bình dân Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong : phong tục) nữa
Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai ; chắc lúc ban đầu cũng do mộtngười vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đếnbây giờ (Dương Quảng Hàm – Việt Nam văn học sử yếu – quyển I)
- Quan niệm của giáo sư Vũ Ngọc Phan : Ca dao vốn là một thuật ngữHán Việt ‘ca dao là những bàn văn vần do nhân dân sáng tác Cũng như tục ngữ,
ca dao không rõ tác giả là ai, được lưu tuyền bằng miệng và cũng được phổ biếnrộng rãi trong nhân dân’ còn ‘dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định.Dân ca khác với ca dao là nó chỉ được hát lên trong hoàn cảnh nhất định, trongnhững nghề nhất định hay trong những địa phương nhất định (Vũ Ngọc Phan –Văn học dân gian Việt Nam)
Tuy nhiên, theo ông, nếu xét về nguồn gốc và bản chất, ca dao và dân cakhông khác nhau mấy Có những câu ca dao được phổ làm nhạc, biến thành bàidân ca và ngược lại có những bài dân ca biến thành ca dao Khi ca dao và dân cachuyển hình thức như vậy thì nội dung của nó vẫn giữ nguyên, chỉ thêm hay bớtmột số tiếng đệm và tiếng láy (Văn học dân gian – Vũ Ngọc Phan)
Giáo sư Vũ Ngọc Phan còn cho rằng, phong dao và đồng dào cũng đều là
ca dao Theo đó, phong dao là những bài ca dao nói về phong tục, tập quán nào
đó Đồng dao là những bài hát của trẻ , như những bài ‘nu na nu nống’, ‘ônggiẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,…
Trang 6- Quan niệm của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân và Lý Hữu Tấn : Theo haiông, định nghĩa về ca dao của giáo sư Dương Quảng Hàm chưa nêu được đầy đủnội dung và hình thức của ca dao Thực ra, nhân dân sáng tác ca dao là để hát và
có những bài có cả chương khúc như làn nhịp đuổi (thí dụ bài ‘tay cầm con daolàm sao cho sắc…) hoặc làn hát cách (thí dụ bài ‘làm trai quyết chí tu thân, côngdanh chớ vội nợ nần chớ lo…) Những bài dân ca đó biến thành những bài cadao và ngược lại nhiều bài ca dao thể lục bát có thể hát thành các làn điệu khácnhau và có nhạc kèm theo Như vậy, ca dao là những bài hát có hoặc không cóchương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc (thường là lục bát để miểu
tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm) Về các loại khác, cần phân biệt những bài
ca dao nói về phong tục và được truyền đi gọi là phong dao; đồng dao là nhữngbài hát của trẻ con (như bài ‘ông giẳng ông giăng’, ‘xúc xắc xúc xẻ’,…) (giáotrình lịch sử văn học Việt Nam – tập 1 – Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Nghĩa Dân,
- Quan niệm của Nguyễn Xuân Kính: Ca dao là những sáng tác vănchương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang nhữngđặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành mộtthuật ngữ dùng để chỉ thể thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát
mà còn ngâm, đọc, xem bằng mắt thường (khi ca dao đã được ghi chép, biênsoạn từ cuối thế kỉ XVIII)
- Tóm lại, có thể thấy, trong quan niệm của các nhà Nho có sưu tầm ghichép ca dao cũng như trong quan niệm của giới nghiên cứu văn học dân gian,thuật ngữ ca dao thường được hiểu theo 3 nghĩa rộng hẹp khác nhau như sau:
Trang 7Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổbiến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu.
Ca dao là danh từ chỉ những tác phẩm ngôn từ (phần lời ca) của dân ca(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớttiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi…thì đều là ca dao Ca dao là những sáng tácvăn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mangnhững đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thànhmột thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian
II QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1 Lược sử nghiên cứu
Nghiên cứu địa danh đã có từ sớm trên thế giới, và địa danh học thực sựđược phát triển vào những năm 60 của thế kỉ XX Khi nghiên cứu về địa danhtrên thế giới có nhiều khuynh hướng, quan điểm không giống nhau, và ngay cả ởViệt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể : ở nước ta, cho đến nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa danh Do tính phức tạp của địa danhnên các khuynh hướng nghiên cứu cũng rất phong phú, đa dạng Có thể tóm lạihai khuynh hướng chính sau đây:
Thứ nhất, có nhiều công trình tập hợp, khảo sát nghiên cứu địa danh mangtính chất sưu tầm, lý giải dưới góc độ địa lý, lịch sử , văn hoá Tiêu biểu chocách tiếp cận phi ngôn ngữ học này có thể kể đến đó là Nguyễn Văn Âu (2000)với ‘Một số vấn đề địa danh học Việt Nam’; hay cuốn sổ tay địa danh Việt Namcủa Đinh Xuân Vịnh
Thứ hai, đó là cách tiếp cận ngôn ngữ học được khơi dòng bởi bài viết củatác giả Hoàng Thị Châu ‘Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam á qua mộtvài tên sông’ (1964) Trên cơ sở nền tảng ban đầu này, một loạt các công trìnhnghiên cứu một cách công phu, hệ thống về địa danh được các tác giả khác lầnlượt công bố: Lê Trung Hoa với ‘địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh’ (1991),Nguyễn Kiên Trường với ‘Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng’(1996), và gần đây là Từ Thu Mai với “nghiên cứu địa danh Quảng Trị” Có thể
Trang 8nói, những công trình này đã đưa ra những vấn đề căn bản của lý thuyết địadanh cũng như cung cấp những nguồn tư liệu rất có giá trị, góp phần định hướngcho những người nghiên cứu về sau Ngoài ra, không thể không kể đến một sốbài viết theo hướng so sánh-lịch sử, hướng ngôn ngữ -văn hoá của một số tác giảkhác như Trần Trí Dõi : “Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trongvùng Hà Nội xưa”(2000), “tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa địa danh CổLoa” (2005); hay Nguyễn Văn Hiệu “những địa danh gốc Hán ở một số vùngdân tộc Mông Dao ở Việt Nam” (2005) Những bài viết này có tác dụng nghiêncứu địa danh ở bề sâu, cung cấp cho ta một cái nhìn khoa học và đa chiều về địadanh.
Chính sự đa dạng trong khuynh hướng tiếp cận đa thể hiện tính chất liênngành của chuyên ngành ngôn ngữ học còn nhiều điều cần khám phá này
Còn địa danh trong tục ngữ ca dao thì hiện nay cũng đã có một số ngườiquan tâm chú ý đến, và đã có một số bài viết hay khoá luận tốt nghiệp làm về địadanh trong tục ngữ ca dao Việt Nam Trong niên luận này chúng tôi tập trungnghiên cứu địa danh Việt Nam trong ca dao
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Quan niệm về địa danh và địa danh học
Trước khi đi vào nghiên cứu “địa danh Việt Nam trong ca dao” chúng tacần tìm hiểu khái niệm địa danh và ngành học này Bởi vì, như đã nói ở trên khinghiên cứu địa danh ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay có nhiều quanđiểm không thống nhất, hoặc nặng về hình thức từ nguyên học hoặc nặng về tênriêng, dẫn đến những kết quả khác nhau Vậy địa danh học là gì ?
Địa danh, tiếng khoa học là TOPONYMIE có hai phần : TOPO là địađiểm, NYMIE là tên gọi TOPO là gốc ả rập, NYMIE là gố tiếng La tinh, gọitheo tiếng Hán Việt là địa danh Bản thân địa danh là ngành khoa học, nó cónhiệm vụ, đối tượng và chức năng rõ ràng Trong quá trình nghiên cứu địa danh
đã có những quan điểm khác nhau :
Có luận điểm cho rằng : Địa danh học là một ngành khoa học chuyênnghiên cứu về từ nguyên của tên đất một vùng hay một dân tộc Đại diện cho
Trang 9quan điểm này là Oviveric, tác giả cuốn từ điển “địa danh nước ý” xuất bản tạiROMA năm 1981.
Một quan điểm khác khẳng định : “ ý định của tôi khi viết cuốn từ điểnnày là hạn chế các tên gọi địa danh vào phạm vi các dân tộc quen thuộc, không
đi vào lịch sử của nó, tức là đi vào những nét cơ bản của địa danh”, người tiêubiểu cho quan điểm này là Lorique, viết trong cuốn “Dictionnaire etymologiquedesnoms de pays et de peuples” xuất bản tại Pari năm 1971
Có quan điểm cho rằng : Đối tượng nghiên cứu của địa danh học là giảithích cách đọc của địa danh, không phải giải thích sự hình thành địa điểm củađịa danh đó mà giải thích quá trình lịch sử của tên địa danh đó và tất cả mọi sựphức tạp của nó về mặt ngôn ngữ.Đại diện cho quan điểm này là hai giáo sư củađại học Sorboune : Blok và Variary
Ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm khác nhau, gần đây trong cuốn “Đạibách khoa toàn thư” do Brunot xuất bản có tiến bộ hơn nhiều trong các quanđiểm Tác giả cho rằng đối tượng nghiên cứu của địa danh học là nghiên cứu tênriêng dưới góc độ ngôn ngữ học Môn học này là một ngành khoa học tên riêng,
nó được phân chia ra hai ngành : địa danh và nhân danh Về sau tác giả còn nói
rõ thêm: người ta tìm tháy cơ man những điều hỗn độn trong các ngành nghiêncứu địa danh, thế nhưng không có gì vô ích, nguy hiểm hơn khi nghiên cứu từnguyên của nó
Nhìn chung các nhà nghiên cứu trên khi định nghĩa về địa danh có nhiềuchỗ chưa thống nhất và phiến diện Vì tên địa danh chứa đựng trong nó một nộidung tư tưởng xã hội của con người nên ta phải thấy được tính kế thừa, tính pháttriển, tính xã hội khi nghiên cứu nó Đó là mặt chủ yếu của địa danh mà cácquan điểm trên ít đề cập đến
Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hìnhthiên nhiên(núi, đèo, cao nguyên, thung lũng ,sông, hồ, biển), các đơn vị hànhchính(làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các vùng lãnh thổ (vùng nông nghiệp,khu công nghiệp…) và các công trình xây dựng (cầu đường,chợ,cống…) Trướcđịa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó: Sông Hương,
Trang 10huyện Mộ Đức, vùng Ba vì, đường Nguyễn Trãi…
Vậy,địa danh học là gì? Địa danh học là một ngành khoa học chuyênnghiên cứu sự hình thành, phát triển nội dung ý nghĩa,tên các địa danh của mộtdân tộc, một quốc gia, một vùng nhất định qua hình thức cấu thành và phát triểncủa ngôn ngữ địa danh
Như vậy, ta đi sâu vào nội dung địa danh tức là nghiên cứu sự hình thành
và phát triển của địa danh đó Nhưng nếu bỏ cái vỏ ngôn ngữ ấy thì không thểđược Để đi vào nội dung ý nghĩa thì chỉ có một con đường là thông qua cái cầungôn từ Địa danh học không dừng ở mặt từ nguyên học, ở khoa học tên riêng
mà qua ngôn ngữ địa danh Địa danh học đi xa hơn vào sự phát triển của mộtvùng,một địa phương Để đi sâu vào đối tượng nghiên cứu chính đó,cái vỏ củangôn ngữ địa danh không phải chính nhưng rất quan trọng,vì không có nó thìkhông có gì để nghiên cứu Vả lại,nó phản ánh ý thức của con ngườcuwtieeu
2.2 Phân loại địa danh
Phân loại địa danh là một vấn đề khá phức tạp Sự phức tạp này nằm ngaytrong đối tượng được phân loại cũng như phương pháp phân loại Bản thân địadanh là một tập hợp phong phú, đa dạng, nó có thể được phân tách thành cáctiểu loại khác nhau tuỳ theo mục đích và phương diên nghiên cứu
Mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu mìnhlựa chọn đã đưa ra những cách phân loại thích hợp
Các nhà địa danh học Xô Viết chia địa danh theo đối tượng mà địa danhbiểu thị, tức là dựa vào nôI dung của nó
Trong cuốn Toponimijc Moskoy, G.L.Smolisnaja và M.V.Gorbaneveskiji đãchia địa danh làm 4 loại : phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi,đồi, gò…), thuỷ danh (tên các dòng sông, hồ, vũng…), phố danh (tên các đốitượng trong thành phố)
A.V.Superauskaja, trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7 loại :phương danh, thuỷ danh, sơn danh, phố danh, viên danh (tên các quảng trường,công viên), lộ danh (tên các đường phố), đại danh (tên các đương giao thôngtrên đất, dưới đất, trên nước, trên không)
Trang 11ở Việt Nam, mỗi tác giả nghiên cứu về địa danh đưa ra những cách phânloại khác nhau.
Nguyễn Văn Âu dưới góc độ địa lý - lịch sử - văn hoá đã phân loại theophương pháp “địa lý tổng hợp”, tức là sắp xếp địa danh thành các kiểu khácnhau theo các đối tượng địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội trong một hệ thốngphân loại nhất định Hệ thống này bao gồm ba cấp từ trên xuống dưới : loại địadanh (2 loại: địa danh tự nhiên và địa danh xã hội), kiểu địa danh (7 kiểu: thuỷdanh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh thành phố, quốc gia), dạng địadanh (12 dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng núi, truông trảng, làng
xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh thành phố, quốc gia)
Dưới góc độ ngôn ngữ học, Lê Trung Hoa và Từ Thu Mai lại đưa ra 2 tiêuchí khi phân loại địa danh thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Trị: căn cứvào thuộc tính của các loại đối tượng địa lý (tự nhiên- không tự nhiên) và nguồngốc ngôn ngữ (thuần Việt- không thuần Việt) Nguyễn Kiên Trường lại áp dụngthêm một tiêu chí khác khi tiến hành phân loại Hải Phòng: dựa vào chức nănggiao tiếp, có thể chia thành các loại tên chính thức, tên cũ, cổ và các loại tênkhác
Như vậy, sự phân loại địa danh bao giờ cũng phụ thuộc vào mục đích vàphương pháp tiếp cận của nhà nghiên cứu Đứng dưới góc độ ngôn ngữ học,chúng tôI áp dụng cách phân loại theo tiêu chí đặc tính tự nhiên- không tự nhiêncủa đối tượng địa lý Dựa trên đặc tính này chúng tôi phân loại địa danh ra nhưsau : địa danh chỉ địa hình tự nhiên (gọi tắt địa danh chỉ địa hình), địa danh chỉcác công trình xây dựng (địa danh công trình xây dựng), địa danh chỉ các đơn vịhành chính (địa danh hành chính), địa danh chỉ vùng(địa danh vùng)
Địa danh vùng
Trang 12Mặt khác, theo ngữ nguyên ta có thể chia địa danh Việt Nam thành 4nhóm lớn : địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, đia danh bằng các ngôn ngữdân tộc thiểu số, địa danh bằng các ngoại ngữ.
Ta có sơ đồ :
2.3 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học được chia làm 3 ngành chính : ngữ âm học, từ vựng học vàngữ pháp học Trong từ vựng học có một bộ môn gọi là danh xưng học chuyênnghiên cứu tên riêng Danh xưng học lại gồm 3 ngành nhỏ hơn : nhân danh học,địa danh học và hiệu danh học Nghiên cứu lịch sử cấu tạo tên người (họ, tênchính, tên đệm, tự, hiệu, bút danh) là công việc của nhân danh học; nghiên cứu
về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và sự biến đổi của các tên gọi địa lý là nhiệm vụcủa địa danh học; còn nghiên cứu tên gọi của các sự vật,hiện tượng không phải
là người cũng không phảI là các đối tượng địa lý (như các thiên thể) lại là lĩnhvực của hiệu danh học
Trong đó, địa danh học lại được chia làm nhiều ngành nhỏ hơn chuyênnghiên cứu các đối tượng hay nhóm đối tượng địa lý trên bề mặt trái đất Cácngành chỉ nghiên cứu tên sông, rạch (thuỷ danh) và tên đồi núi,…gọi là thuỷdanh và sơn danh học Ngành chuyên nghiên cứu tên của các địa điểm quần cư
Địa danh ở Việt Nam
Địa danh thuần Việt
Địa danh Hán Việt
Địa danh các ngôn ngữ dân tộc
Địa danh ngoại ngữ
Trang 13làng xã, thôn,…(phương danh) được gọi là phương danh học Còn ngành chỉnghiên cứu các đối tượng ở trong thành phố (phố danh) như tên đường, tên phố,tên các quảng trường,… gọi là phố danh học.
Ta có thể lập sơ đồ sau đây:
2.4 Chức năng của địa danh và ích lợi của việc nghiên cứu địa danh 2.4.1 Chức năng của địa danh
Khi giao tiếp, dù nghi thức hay không nghi thức thật khiếm nhã biết baonếu viết hoặc nói không đúng tên người Với địa danh cũng thế Địa danh khôngchỉ đơn thuần là cái tên được đặt ra để chúng ta gọi về một vùng đất Mỗi địadanh thường phản ánh một đặc điểm nào đó về địa bàn, lịch sử, xã hội, ngônngữ Tên của những người thân quen có khả năng gợi cho chúng ta những tìnhcảm thân thiết, ngọt ngào hay những kỉ niệm về những tháng ngày gắn bó Địadanh, không chỉ như vậy mà còn mang ý nghĩa khái quát hơn, thiêng liêng hơn.Nguyễn Khoa Điềm đã nói về tình cảm của những người đi khai phá vùng đấtmới đối với địa danh, quê hương mình qua câu thơ sau : họ gánh theo tên xã, tênlàng trong mỗi chuyến di dân
Phương danh học
Phố danh học
Trang 14Khi đi vào thi ca địa danh được coi như là ‘ma thuật của âm thanh’ Địadanh có thể thay đổi và mỗi cái tên đều gợi cho ta về một thời điểm nào đấy củalịch sử Địa danh không chỉ có ý nghĩa đối với những ai sinh ra trên mảnh đất Những cái tên như :Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Gia Định, Sài Gòn, thànhphố Hồ Chí Minh là một minh chứng.
Địa danh là tên gọi của một địa hình tự nhiên, một công trình xây dựng,một đơn vị hành chính hay một vùng lãnh thổ Như mọi danh từ, danh ngữchung, địa danh có chức năng định danh sự vật Nhưng địa danh còn có mộtchức năng là danh từ, danh ngữ chung không có đó là cá thể hoá đối tượng.Chính nhờ các chức năng này, địa danh trở thành một bộ phận không thể táchrời của cuộc sống xã hội Mỗi địa danh ra đời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch
sử nhất định, cụ thể Do đó, nó phản ánh nhiều mặt khung cảnh chung quanh nó.Các địa danh như khu Đầm Sen (thành phố Hồ Chí Minh), khu Đồng Ông Cộ(khu vực bên này cầu Bình Lợi-thành phố Hồ Chí Minh),nay bao gồm cácphường 11, 12, 13, quận Bình Thạnh Xưa vùng này là đồng hoang, sình lầy, rấtkhó đi lại.Một phú ông tổ chức “cộ” thuê người và hàng hoá trên những tấmbằng tre đan do hai người khoẻ mạnh khiêng Từ đó có địa danh Đồng ÔngCộ, cho ta biết địa hình nơi nó chào đời Các địa danh khu Ông Tạ, xóm BàNăm Chanh, bến đò Cây Bàng, rạch Cá Trê (thành phố Hồ Chí Minh) thôngbáo cho chúng ta những con người, cây cỏ, cầm thú đã sinh sống hoạt động trêncác vùng đất ấy Các công trình xây dựng của đất nước đã được các địa danh ghilại : ngã ba Thành (thành Diên Khánh), tỉnh Khánh Hoà, huyện sông Cầu (PhúYên), vùng Chợ Lớn,
Các địa danh còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của người dânđịa phương : các địa danh Hán Việt mang các yếu tố An, Bình, Phú, Long,Mỹ nói lên được ước mơ sống thanh bình, giàu có, tốt đẹp của người Việt.Các địa danh phố Quang Trung, thành phố Hồ Chí Minh, đường Điện Biên Phủ,sân vận động Thống Nhất biểu thị niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Đó là đứng trên quan điểm đồng đại Nếu đứng trên quan điểm lịch đại,địa danh có chức năng bảo tồn.Rất nhiều biến cố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
Trang 15hội, ngôn ngữ được lưu giữ trong địa danh Hầu hết tên làng xã ở Nam Bộ nóiriêng và cả nước nói chung, dưới triều Nguyễn đều được Hán Việt hoá vì triềuđại này rất sùng mộ Hán học Hay sau khi thua trận ở Điện Biên Phủ, thực dânPháp rút khỏi Việt Nam, phần lớn tên đường phố ở Sài gòn không còn mang tênngười Pháp mà mang tên người Việt Nam (từ năm 1955) Chính vì thế, việcnghiên cứu địa danh mang lại nhiều ích lợi cho các ngành khác như sử học, địa
lý học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, kinh tế học
2.4.2 ích lợi của việc nghiên cứu địa danh
Việc nghiên cứu địa danh giúp chúng ta xác định thế nào là một địa danh,
có bao nhiêu loại địa danh ở Việt Nam, người Việt có mấy phương thức đặt địadanh, cấu tạo của địa danh Việt Nam như thế nào, các nguyên tắc và phươngpháp nghiên cứu địa danh là gì, những nguyên nhân nào khiến một địa danh rađời và mất đi, giải quyết những trường hợp nhập nhằng về cách viết hoa địadanh, soi sáng nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều địa danh Từ đó, chúng ta có thểkhẳng định những đặc điểm có tính truyền thống của địa danh Việt Nam, vạch ranhững tiêu chuẩn để đặt tên địa danh mới,
Về mặt ngôn ngữ học, việc nghiên cứu địa danh cung cấp những tư liệuquý để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt nói chhng, từ vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ(trước hết là tiếp xúc Việt Hán, một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài vàquan trọng đối với tiếng Việt), đến những vấn đề ngữ âm lịch sử, xu hướng biếnđổi từ vựng, ngữ pháp Việc nghiên cứu địa danh đã giúp ta biết một số từ cổnay không còn nữa, đồng thời nó cũng giúp ta xác định rõ ràng hơn ý nghĩa củacác từ ngữ địa phương Ngoài ra, cũng qua nghiên cứu địa danh ta có thể khẳngđịnh ý nghĩa của một số từ thường xuất hiện trong địa danh
Mặt khác, địa danh là một phạm trù lịch sử mang những dấu vết của thờiđiểm mà nó chào đời Vì thế, nó được xem là một đài kỉ niệm hay tấm bia bằngngôn ngữ độc đáo về thời đại của mình Nó phản ánh những sự kiện lịch sử diễn
ra trong đời sống của cộng đồng : di dân, chiến tranh, trao đổi văn hoá, kinh tế,ngôn ngữ, Khi đó, đia danh như một bộ môn của lịch sử học, nhất là địa lý lịch
sử, và khi đó , các nhà nghiên cứu lịch sử đã làm giàu thêm cho địa danh những
Trang 16phương pháp nghiên cứu.
ở mức độ nhất định, địa danh phản ánh phong cảnh thiên nhiên, sự giàu có
đa dạng của thiên nhiên cùng với những đặc điểm địa lý lãnh thổ khác, Vì địadanh thường đặt theo bản chất của đối tượng địa lý Chính danh từ chung thểhiện tính chất địa lý của đối tượng đã góp phần quan trọng trong việc xác định ýnghĩa của địa danh.Nhờ biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh, ta càngyêu mến quê hương, đất nước mình Vì vậy, ta có thể sử dụng những thành quảcủa việc nghiên cứu địa danh vào những bài giáo dục lòng yêu nước cho thế hệtrẻ-nhất là học sinh trong các trường phổ thông Việc hiểu đúng ý nghĩa của cácthành tố trong địa danh cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà địa lý trong việcnắm bắt các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người, sự phân bố dân cưtheo lãnh thổ và ngay cả việc xây dựng bản đồ
Như vậy, địa danh phát triển trên nền tảng của 3 khoa học cơ bản : ngônngữ học, lịch sử, địa lý, ngoài ra địa danh học còn có mối liên hệ chặt chẽ vớikhảo cổ học, nhân chủng học, văn hoá học, Chính tính chất liên ngành của địadanh học đã góp phần khẳng định giá trị và vị thế của một ngành khoa học mớiphát triển
III CA DAO VỀ ĐỊA DANH
Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưutruyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Chính vì ca dao donhân dân sáng tác nên nôI dung của nó rất phong phú Ca dao biểu hiện tình yêucủa nhân dân lao động về nhiều mặt : tình yêu giữa đôi bên nam nữ, yêu giađình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp,yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhândân trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca daocòn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử Như vậy,ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca daocòn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân và tình hình xã hội thờixưa về các mặt kinh tế và chính trị
Địa danh Việt Nam xuất hiện trong ca dao chủ yếu là ở trong các lĩnh vực
Trang 17về tình yêu đất nước và con người.
Có những câu ca dao về tình yêu nam nữ nhưng nhân dân ta đã lồng thêmvào đó những địa danh để nói lên tình yêu của mình với người mình yêu:
Bốn mùa xuân hạ thu đông
Thiếp ngồi dệt vải những trông bóng chàng
Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu
Hay có những câu ca dao nói về những cảnh đẹp của quê hương đất nước
Ví dụ như đèo Hải Vân xưa nay vẫn được coi là một cảnh thiên nhiên hùng vĩcủa đất nước ta Do ở gần biển nên đèo Hải Vân càng thêm bát ngát
Hải Vân bát ngát ngàn trùng,
Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn
Xưa nay qua đấy còn truyền
Lối đi lô gián thẳng miền ra khơi
Quảng Nam có Cửa Đại cũng bát ngát và đẹp Nhân dân có kinh nghiệm :
hễ buổi chiều thấy mây đen phủ trên bán đảo Sơn Trà và sóng nổi lên dồn vàoCửa Đại thì trời sắp mưa Để nói về hiện tượng thiên nhiên ấy nhân dân có câu:
Chiều chiều mây phủ Sơn Trà
Sóng xô cửa Đại trời đà chuyển mưa
Hà Nội, kinh đô xưa của nước ta, nay là thủ đô của nước Cộng hoà Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam, được nhân dân ta coi là một đô thành không những đẹp màcòn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của tổ quốc
Thăng Long, Hà Nội, đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh hoạ đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây
Những câu ca dao về địa danh không chỉ nói đến địa danh của một vùng
mà nó còn nói đến phong tục, tập quán, nét văn hoá, đặc điểm của từng vùng đất
ấy ở trên khắp các miền đất nước, gần như vùng nào cũng đều có những món ănnổi tiếng được ca dao ghi lại như là những đặc điểm địa phương, tô điểm cho
Trang 18bức tranh thị hiếu và tập quán ăn uống của nhân dân ta những màu sắc vô cùng
Diên Hoà có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, điện bàn Tây Ninh
Ở Hà Nội có nhiều đặc sản và mỗi địa phương trong Hà Nội lại có nhữngđặc sản riêng tạo nên đặc trưng của mình
Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây
Hàng Đào tơ lụa làm say lòng người
Như vậy thời xưa, về cả ăn lẫn mặc, Hà Nội có nhiều cái làm cho người ta
dễ mến ở Thanh Trì, sát với nội thành Hà Nội có những đặc sản mà dân Hà Nộirất ưa chuộng
Vải Quang, húng Láng, ngô Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
Phú Thọ, nơi đất tổ Hùng Vương có những đặc sản rất quý
Bưởi Chi Đán, quít Đan Hà
Cà phê Phú Hội, đồi trà Thái Ninh
Ở miền Nam, có những quả rất ngon mà miền Bắc không có như măngcụt, sầu riêng ở miền Nam Trung Bộ , cá, dừa và mít cũng nhiều, Quảng Nam
có sông Thu Bồn mở ra nhiều nhánh, có rất nhiều cá Ca dao đã có câu là:
Trà Linh nước chảy đăm đăm
Cá đua dưới vực, rồng nằm Đinh Ông
Thanh Hoá, Nghệ An là những nơi có rất nhiều trầu cau và rất ngon ở Quảng Nam trầu cau cũng nổi tiếng là ngon Và để nói về trầu cau đất Quảngnhân dân ta đã có câu ca dao
Trang 19Bồng em mà bỏ vô nôi Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu Mua vôi chợ Quán chợ Cầu Mua cau Bát Nhị mua trầu Hội An
Không chỉ ca ngợi về đặc sản của các địa phương mà ca dao còn ca ngợi
về những con người ở mỗi địa phương
Miền Nam là miền nhiều dừa nhất ở nước ta ở Bình Định, có thị trấnTam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn, ngày xưa nhiều dừa và con gái ở đó cũng cótiếng là đẹp và có lòng thuỷ chung với người mình yêu
Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái em trông chàng bấy nhiêu
Hay xứ Bắc là đất Kinh Bắc xưa Đất Kinh Bắc xưa con gái nổi tiếng làđảm đang và đẹp , còn trai Đồng Nai thì nổi tiếng là gan dạ, anh hùng
Nồi đồng lại úp vung đồng Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Yên Thế là quê hương Hoàng Hoa Thám, nơi có nhiều người lỗi lạc trongnam giới , xứng đôi với những cô gái quê hương quan họ
Ngoài ra, ở Hưng Yên ( thuộc Hải Hưng) làng Bông tức thôn Lai HạTrung cũng có nhiều con gái đẹp, và làng Bái tức thôn Bối Khê cũng có nhiềutrai gái đẹp, giỏi nên ca dao có câu
Gái chê chồng đến Bông trở lại
Trai chê vợ đến Bái trở về
Thăng Long xưa nhân dân ta gọi là Kinh kỳ “ thứ nhất Kinh kỳ thứ nhìPhố Hiến” Phố Hiến là thị xã Hưng Yên bây giờ Ngày xưa Phố Hiến là nơi đôhội, người ngoại quốc đến nước ta đều đi lại buôn bán ở đó Người đất Kinh kỳngày xưa có tiếng là thanh lịch nên ca dao có câu :
Chẳng thanh cũng thể hoa mai Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh
Ngày trước, Hà Nội còn có tên là Đông Đô và Tràng An, nên cũng có câu
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Trang 20Dẫu không lịch sự cũng người Tràng An
Mỗi câu ca dao không chỉ giới hạn ở tên địa danh mà mỗi câu đều toát lênnét văn hoá nổi bật của tùng vùng, đặc biệt nó còn phản ánh sâu sắc nhiều mặt
có giá trị về lịch sử và tư tưởng Thông qua viẹc phản ánh lối sống của thời đại,
ca dao đã ghi nhận củng cố giữ gìn truyền bá truyền thống đạo đức tốt đẹp hìnhthành trong quá trình đấu tranh thiên nhiên, sinh hoạt cộng đồng,đấu tranh giaicấp và đấu tranh dân tộc của nhân dân ta Có những câu ca dao vang lên lòng tựhào của nhân dân ta đối với đất nước giàu đẹp và con người tài hoa
Đất nước được giàu đẹp là do nhân dân cả nước xây dựng từ thế hệ nàyqua thế hệ khác, do trai tài gái đảm gắng sức điểm tô và gìn giữ Những người
đã có công dựng nước và giữ nước, sự nghiệp làm rạng rỡ non sông đều đượcnhân dân ta ghi nhớ mãi bằng đền miếu, bằng thơ ca Các vua Hùng là tổ tiêncủa dân tộc Việt Nam đã có công dựng nước, nên nhân dân ta đã lập đền thờ ởPhú Thọ Ca dao đã có câu kêu gọi nhân dân cả nước hướng về đất tổ
Ai về Phú Thọ cùng ta Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ về giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Thành Cổ Loa ở huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) là một công trìnhtiêu biểu ý thức bảo vệ đất nước, chống ngoại xâm đầu tiên của nhân dân ta-Trải qua hàng nghìn năm thành đất vẫn còn
Ai về đến huyện Đông Anh Ghé xem phong cảnh Loa thành thục vương
Cổ Loa hình ốc khác thường Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây
Ai đã từng qua sông Bạch Đằng, đều thấy có 2 dòng nước : 1 dòng trongxanh và một dòng đỏ vì phù sa Theo nhân dân thời xưa thì dòng đỏ là máu quângiặc, đến nay vẫn còn làm vẩn dòng sông
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
Trang 21Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra
Về công lao của Lê Lợi ca dao còn có câu
Ai lên Biện Thượng Lam Sơn
Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh
Ở miền Nam, Nguyễn Huệ phá quân Xiêm trong trận Rạch Gầm vào cuốithế kỉ XVIII Nhân dân miền Bắc truyền tụng câu ca dao
Bần Gie đốm đậu sáng ngời Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai danh
Có thể dẫn nhiều ví dụ khác nữa tương tự như những ví dụ trên đây trong
bộ phận những câu ca dao mà chúng ta thường nói về đặc điểm địa danh
Như vậy những câu ca dao nói về địa danh Việt Nam bắt nguồn từ cáchquan sát trực tiếp những hiện tượng cụ thể, tai nghe mắt thấy Chính cách quansát này đã là nguồn gốc chủ yếu của cái mà chúng ta vẫn quen gọi là tính hìnhtượng hay cách nói cụ thể, gợi cảm của ca dao
Chúng ta có thể hiểu ca dao về địa danh là những câu ca dao chỉ địa danhcủa từng vùng đất cụ thể trong đó bao hàm các yếu tố về phong tục, tập quánhay là sự miêu tả của nhân dân ta xưa về vẻ đẹp của mỗi địa phương và conngười trong các địa phương ấy
IV KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TRONG CA DAO
1 Kết quả thu thập địa danh trong ca dao
Qua khảo sát 273 bài ca dao chúng tôi đã thu thập được 498 địa danh
Bảng kết quả thu thập địa danh trong ca dao
2 Kết quả phân loại địa danh trong ca dao
Trang 22Theo đối tượng căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên Chúng tôichia địa danh thành 2 nhóm lớn:
Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên: Tổng số địa danh địa hình tự nhiên
là 113 trường hợp, chiếm 22,6% Trong đó, sơn danh gồm 60 địa danh (chiếm12% trên tổng số địa danh chỉ địa hình tự nhiên), thuỷ danh gồm 53 địa danh(chiếm 10,6% trên tổng số địa danh chỉ địa hình tự nhiên)
Ví dụ: Về sơn danh: núi Lam Sơn, núi Cõi, Gò Ngũ Nhạc, non Côi, HònChống,…
Về thuỷ danh: sông Bạch Đằng, hồ Hoàn Kiếm, hồ Ba Bể, sông Lô, sôngTuần, đầm Thị Nại,……
Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo : tổng số địa danh chỉ các đối tượngnhân tạo là 385 trường hợp, chiếm 77,4% Trong đó, chúng tôi chia ra : địa danhchỉ các công trình xây dựng gồm 89 địa danh (chiếm 17,8% trên tổng số địadanh chỉ các đối tượng nhân tạo); địa danh chỉ các đơn vị hành chính gồm 292địa danh (chiếm 58,8% trên tổng số địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo); địadanh chỉ các vùng lãnh thổ gồm 4 địa danh (chiếm 0,8% trên tổng số địa danhchỉ các đối tượng nhân tạo)
Ví dụ: Địa danh chỉ các đơn vị hành chính : tỉnh Phú Thọ, Đông Anh, SaNam, làng Trần Phương, phố Lai, phố Nhổn,……
Địa danh chỉ các công trình xây dựng : thành Cổ Loa, chợ Già, cầu ThêHúc, chùa Ngọc Sơn, giếng Vàng, bến Văn Lâu,…
Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ : vùng Bưởi, vùng Đông Yên,…
Kết quả thống kê và phân loại địa danh trong ca dao được thể hiện ở bảng sau:
Trang 23Ngoài phân loại theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên địa danh còn đượcphân loại theo nguồn gốc của các yếu tố Địa danh Việt Nam trong ca dao đượcphân loại theo nguồn gốc:
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt ;
Cầu Bạch Hổ : Đền Hùng Vương :Hương Canh :Phú Thọ : Sơn Tây:
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt : phố Mía, phố Cát, làng Chanh, làngNhót, chợ Già, chùa Ông, sông Trước, sông Sau,…
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp : Đồng tháp mười, cầu Đông Ba,…
Qua đây ta thấy địa danh Việt Nam được cấu tạo từ các yếu tố có nguồngốc khác nhau Đó có thể là các yếu tố Hán Việt, yếu tố thuần Việt, hoặc có thể
là sự kết hợp giữa các yếu tố Hán Việt với các yếu tố thuần Việt hay các yếu tốcủa ngôn ngữ dân tộc
V TIỂU KẾT
Địa danh là một mảnh đất mới đầy hấp dẫn đối với những ai ưa tìm tòi,khám phá Tuy nhiên, muốn nghiên cứu địa danh một cách khoa học thì phảidựa trên cơ sở lý thuyết chắc chắn Điều đó đòi hỏi người nghiên cứu phải nắmvững phương pháp và các tiêu chí phân loại địa danh cho phù hợp với đối tượng
và mục đích nghiên cứu, đồng thời phải có một cách tiếp cận đa chiều, một cáchphân tích lý giải tổng hợp trên cơ sở của nhiều ngành học có liên quan
Địa danh Việt Nam trong ca dao là một mảng tương đối trong nội dungcủa ca dao Việc nghiên cứu nó sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm về đất nước, conngười Việt Nam Giúp hiểu biết về các địa danh trên đất nước Việt Nam vềnguồn gốc và ý nghĩa
Tính chất đa dạng và phức tạpcủa địa danh trong ca dao đòi hỏi phải cónhững phương pháp phân loại và nghiên cứu , trình bày cho phù hợp
Khi tiến hành khảo sát địa danh ở một vùng lãnh thổ, các nàh nghiên cứu
Trang 24thường phân loại địa danh theo các tiêu chí khác nhau Theo tính chất của đốitượng nghiên cứu , theo nguồn gốc ngữ nguyên hay theo chức năng giao tiếp củađịa danh,… Về thực chất, đó là những quan sát địa danh từ các góc độ khácnhau Trong niên luận này, chúng tôi chọn cho mình cách phân loại theo tiêuchí: đặc tính tự nhiên- không tự nhiên của các đối tượng địa lý và kết hợp vớitiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ