Các chiến lược QHCC mà trọng tâm là mối quan hệ giữa nhân viên QHCC – nhà báo là vấn đề đã được các học giả về truyền thông trên thế giới nghiên cứu trong nhiều năm qua và vẫn còn tiếp t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
VŨ THỊ THU HÀ
PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MỐI
QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ
NHÀ BÁO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
(Khảo sát một số trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
VŨ THỊ THU HÀ
PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MỐI
QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ NHÀ
BÁO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
(Khảo sát một số trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2010)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60 32 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Hà Nội-2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài 13
6 Tình hình nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài 14
7 Cấu trúc của luận văn 16
NỘI DUNG 17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ NHÀ BÁO 17
1.1 Khái niệm, đặc điểm, và những yếu tố ảnh hưởng đến “mối quan hệ” 17
1.1.1 Khái niệm mối quan hệ 17
1.1.2 Đặc điểm của mối quan hệ 18
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ 25
1.2 Đặc điểm của mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo 41
1.2.1 Tính phụ thuộc lẫn nhau 41
1.2.2 Tính tôn ti, thứ bậc 43
Tiểu kết chương 1 và câu hỏi nghiên cứu 45
Chương 2 HIỆN TRẠNG MỐI QUAN HỆ VÀ CÁCH THỨC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QHCC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ NHÀ BÁO 46
2.1 Quá trình thiết kế nghiên cứu 46
2.2 Hiện trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo tại Việt Nam 50
2.2.1 Mức độ nhận thức của nhân viên QHCC và nhà báo về tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ giữa họ 50
2.2.2 Mức độ hiểu biết về nhau của nhà báo và nhân viên QHCC 57
Trang 42.2.3 Mức độ thân thiết giữa nhân viên QHCC và nhà báo 60
2.3 Cách thức xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo hiện nay 64
2.3.1 Cách liên hệ và duy trì mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo 64
2.3.2 Cách thức phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo 73
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QHCC VÀ NHÀ BÁO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 80
3.1 Đánh giá, nhận xét về việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo 80
3.1.1 Về cách thức liên hệ và duy trì mối quan hệ với nhà báo 81
3.1.2 Về phương thức phát triển mối quan hệ với nhà báo 83
3.2 Giải pháp xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo 85
3.2.1 Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân viên QHCC và nhà báo 85
3.2.2 Tăng cường sự nhận thức của lãnh đạo cơ quan, doanh nghiệp 86
3.2.3 Nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động của nhân viên QHCC và nhà báo 88
3.2.4 Một số giải pháp khác 92
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Lợi ích khi doanh nghiệp xây dựng được mối quan hệ tốt với
nhà báo 51 Bảng 2.2: Lợi ích khi nhà báo xây dựng được mối quan hệ tốt với các
nhân viên QHCC 55 Bảng 2.3: Mức độ hiểu biết về nhau giữa nhà báo và nhân viên QHCC 58 Bảng2.4: Mức độ hiểu biết của nhân viên QHCC đến công việc của các
nhà báo 59 Bảng 2.5: Đánh giá về mức độ thân thiết giữa nhân viên QHCC và nhà
báo 61 Bảng 2.6: Hiện trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo 62 Bảng 2.7: Phương thức liên hệ với nhà báo của các nhân viên QHCC 65 Bảng 2.8: Mức độ thường xuyên gặp gỡ giữa nhân viên QHCC và nhà
báo 67 Bảng 2.9: Thời điểm và địa điểm gặp gỡ giữa nhà báo và nhân viên
QHCC 68 Bảng 2.10: Phương thức duy trì quan hệ với nhà báo của nhân viên
QHCC 69 Bảng 2.11: Phương thức phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo 74 Bảng 2.12: Phương thức phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo 75 Bảng 3.1: Nhận thức của lãnh đạo về việc xây dựng mối quan hệ giữa
nhân viên QHCC và nhà báo 87 Bảng 3.2: Tính trung thực của nhân viên QHCC trong mối quan hệ với
nhà báo 90
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bối cảnh toàn cầu hóa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường mang đến cho nền kinh tế Việt Nam một bộ mặt hoàn toàn mới và biến đổi theo từng ngày đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ Các doanh nghiệp đang từng bước phát triển chiếm lĩnh thị trường trong nước đồng thời vươn tầm ra khu vực và quốc tế Bối cảnh mới cũng đồng thời đặt các doanh nghiệp Việt Nam trong một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, sự cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư nhiều hơn tới việc xây dựng thương hiệu và khẳng định những giá trị khác biệt của mình Và truyền thông chính là công cụ trợ giúp đắc lực cho doanh nghiệp trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của mình
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu chú ý hơn đến việc tạo dựng thương hiệu, uy tín đối với khách hàng, đối tác thông qua các phương tiện truyền thông đại Các công ty truyền thông với nhiệm vụ
tư vấn chiến lược xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều, bên cạnh đó, trong hầu hết các tập đoàn, doanh nghiệp lớn ở Việt Nam hiện nay đều có bộ phận/ phòng/ ban quan hệ công chúng (QHCC) Bộ phận này đảm trách nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến việc xây dựng thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp và đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ với giới truyền thông (media relations) Trong nhiều công ty, doanh nghiệp lớn thậm chí còn có hẳn một bộ phận hoặc một chuyên viên truyền thông phụ trách riêng mảng xây dựng quan hệ với giới truyền thông Điều này cho thấy được các doanh nghiệp đánh giá cao tầm quan trọng của việc xây dựng quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo Truyền thông có vai trò đắc lực trong việc quảng bá hình ảnh của tổ chức, doanh nghiệp tới công chúng mục tiêu của nó Nếu không thiết lập mối quan hệ tốt, tạo dựng lòng tin với
Trang 7báo giới thì hình ảnh đẹp mà doanh nghiệp đã nỗ lực xây dựng sẽ có nguy cơ
bị ảnh hưởng nặng nề hơn khi có sự cố hoặc khủng hoảng xảy ra Theo Hunt
và Grunig – hai chuyên gia nghiên cứu về quan hệ công chúng hàng đầu thế
giới thì:“Quan hệ với giới truyền thông chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong thực
hành QHCC bởi vì giới truyền thông đóng vai trò như “những người gác cổng”, những người kiểm soát thông tin và truyền tải thông tin đi tới công chúng trong một hệ thống xã hội [24, tr.417]
Wikipedia định nghĩa: “Quan hệ với giới truyền thông đòi hỏi người thực hành QHCC (nhân viên QHCC) làm việc với các phương tiện truyền thông khác nhau nhằm mục đích thông báo cho các nhóm công chúng về sứ mệnh, chính sách, hoạt động của tổ chức một cách tích cực, kiên định và tin cậy Mục đích của quan hệ với giới truyền thông là để tối đa hóa độ bao phủ tích cực của tổ chức trên các phương tiện truyền thông đại chúng mà không phải trả các chi phí trực tiếp qua quảng cáo Đồng thời thông qua giới truyền thông, thông điệp của tổ chức sẽ tác động đến các nhóm công chúng khác một cách tích cực hơn cũng như giành được sự tin tưởng hơn từ các nhóm công chúng [34, tr.273]
Việc cạnh tranh toàn cầu, toàn cầu hóa các tập đoàn công ty liên doanh,
và sự phức tạp của các hệ thống xã hội, văn hóa, chính trị giữa các quốc gia
đã thúc đẩy nhu cầu cần thêm lý thuyết, nghiên cứu về QHCC quốc tế Các chiến lược QHCC mà trọng tâm là mối quan hệ giữa nhân viên QHCC – nhà báo là vấn đề đã được các học giả về truyền thông trên thế giới nghiên cứu trong nhiều năm qua và vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu do những biến đổi của nó theo những xu thế toàn cầu Tại mỗi quốc gia, do đặc trưng về văn hóa, môi trường truyền thông, thể chế chính trị mà mối quan hệ này có những đặc trưng riêng biệt cần được nghiên cứu Việc nghiên cứu mối quan
hệ này giúp cho doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là nhân viên QHCC trong doanh nghiệp nhận diện được hiện trạng của mối quan hệ này từ đó có những
Trang 8chiến lược xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với nhà báo cởi mở, tin tưởng và hiệu quả hơn
Nếu như trên thế giới, cũng như trong khu vực Châu Á, mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo được nghiên cứu, khảo sát qua nhiều công trình nghiên cứu tầm cỡ thì tại Việt Nam, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dựa trên hệ thống cơ sở lý luận vững chắc và hiện đại Hiện trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo tại Việt Nam vẫn chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo Bên cạnh đó lại tồn tại một cái nhìn phiến diện về mối quan hệ này, khi nhiều người cho rằng, mối quan hệ nhân viên QHCC – nhà báo được xây dựng lên thông qua sự mua chuộc, đút lót của nhân viên QHCC đối với nhà báo Không chỉ dừng lại ở đó, giữa mối quan hệ “nhân viên QHCC - nhà báo” còn tồn tại sự dè chừng, đề phòng, thiếu cởi mở, trung thực… Điều này khiến cho việc xây dựng mối quan hệ với giới truyền thông của doanh nghiệp có nhiều khó khăn ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp với đối tác cũng như khách hàng Hơn thế nữa, dù mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo đã được nghiên cứu nhiều tại các quốc gia phát triển trên thế giới nhưng do những biến đối không ngừng của kinh tế, xã hội và QHCC nên mối quan hệ này vẫn rất cần được nghiên cứu, tìm hiểu
Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Phương thức
xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo trong các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
của mình Đây là một đề tài cần thiết, góp phần đưa ra hiện trạng mối quan hệ nhân viên QHCC và nhà báo tại Việt Nam, phương thức các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng và phát triển mối quan hệ với giới báo chí, đồng thời đưa
ra những giải pháp cho chiến lược xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo trong các doanh nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
QHCC là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong nghiên cứu về truyền thông đại chúng Nghiên cứu về QHCC nói chung và quan hệ với giới
Trang 9truyền thông nói riêng giúp các tổ chức, doanh nghiệp vận dụng nó một cách
có hiệu quả trong thực tế Các doanh nghiệp không thể xây dựng thương hiệu của mình một cách thuận lợi nếu thiếu đi sự trợ giúp từ các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và các nhà báo nói riêng Trước đây, QHCC chưa chính thức có mặt tại Việt Nam nhưng những tư tưởng coi trọng việc xây dựng mối quan hệ giữa người với người – bản chất của QHCC thì đã
có từ rất lâu đời trong xã hội Việt Nam Khi xã hội phát triển, nền kinh tế thị trường khiến cho các doanh nghiệp ngày càng ý thức được vai trò to lớn của QHCC và có sự quan tâm, đầu tư đúng mực cho lĩnh vực này Điều này khiến cho ngành QHCC ở Việt Nam đang từng bước có được những bước phát triển mạnh mẽ, sôi động
- Mục đích nghiên cứu: Dựa trên hệ thống lý thuyết về QHCC hiện đại trên thế giới và thực tiễn QHCC tại Việt Nam, luận văn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo tại Việt Nam, các cách thức xây dựng, duy trì, và phát triển mối quan hệ này đang được áp dụng Từ đó, luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả của sự hợp tác giữa nhân viên quan hệ công chúng
và nhà báo
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn chỉ rõ vai trò, ảnh hưởng của mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo đối với doanh nghiệp; sự cần thiết phải xây dựng, duy trì, phát triển mối quan hệ này trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp tại Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày được thực trạng của mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo hiện nay cũng như các phương pháp cụ thể để xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ giữa doanh nghiệp thông qua các nhân viên QHCC của họ với giới báo chí
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ công việc của hai nhóm là nhân viên QHCC trong doanh nghiệp và nhà báo, những cách thức
Trang 10xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa họ nhằm đạt được hiệu quả công việc cao hơn trong hoạt động nghề nghiệp của mỗi bên
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào khảo sát hai nhóm đối tượng sau đây:
- Nhân viên QHCC làm việc trong bộ phận QHCC nội bộ của các doanh nghiệp thuộc top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo bảng xếp hạng VNR 500 năm 2010, hoặc các nhân viên QHCC làm việc trong các công
ty dịch vụ truyền thông/ QHCC có phụ trách các khách hàng là doanh nghiệp thuộc top nói trên Top VNR 500 là bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo mô hình bảng xếp hạng của tạp chí FORTUNE 500 của thế giới, dựa trên kết quả nghiên cứu và đánh giá độc lập theo chuẩn mực quốc tế của Công ty Vietnam Report, được định kỳ công bố thường niên bởi báo điện
tử Vietnamnet, với sự tư vấn của các chuyên gia trong và ngoài nước, đặc biệt gồm GS John Quelch, Phó hiệu trưởng Trường Kinh Doanh Harvard (Mỹ)
- Nhà báo Việt Nam làm việc tại các cơ quan báo in, đài phát thanh, truyền hình, báo mạng internet, thông tấn xã , có mối quan hệ với các nhân viên QHCC thuộc các doanh nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta Đồng thời, luận văn được nghiên cứu dựa trên kế thừa hệ thống lý thuyết về truyền thông, QHCC liên quan đến đề tài đã được công bố
Phương pháp cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu gồm định tính và định lượng Cụ thể, luận văn sử dụng bảng hỏi đề khảo sát hai nhóm đối tượng nghiên cứu là nhà báo và nhân viên QHCC về nhận thức, thái độ, và hành vi của họ liên quan đến mối quan hệ công việc giữa họ Sau khi thu thập được các ý kiến trả lời, tác giả xử
lý số liệu trên microsoft exel để phân tích và đánh giá kết quả Đồng thời, luận
Trang 11văn kết hợp phỏng vấn sâu một số chuyên gia về báo chí và nhân viên QHCC
để có thể mang đến kết quả nghiên cứu khách quan, đa dạng và chính xác nhất
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của đề tài: Như trên đã đề cập, mối quan hệ giữa nhà báo
và nhân viên QHCC là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong lý thuyết về QHCC và truyền thông đại chúng hiện đại Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu về truyền thông thế giới đã dày công tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra những công trình lý luận về vấn đề này
Trong những năm gần đây, QHCC (PR) đã trở thành một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm rất lớn tại Việt Nam, năm 2007, nghề QHCC được xếp hạng là
10 nghề “nóng” nhất trên thị trường [8, tr.28] Nhiều công ty liên doanh, công ty nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân cũng như các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ đã có sự quan tâm hơn đến việc phát triển các phòng, ban, bộ phận hay sử dụng dịch vụ QHCC trong tổ chức của mình Thực tế này cũng đòi hỏi những người làm trong ngành QHCC tại Việt Nam cần có những nghiên cứu sâu về lĩnh vực này để có một hệ thống lý thuyết vững chắc cho các hoạt động nghề nghiệp của mình Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu về QHCC còn rất mới mẻ
ở Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu sâu còn rất ít Luận văn là tài liệu tổng quan về mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo, về những phương thức xây dựng, duy trì, và phát triển mối quan hệ nghề nghiệp giữa hai nhóm này Với ý nghĩa đó, luận văn có thể góp phần xây dựng hệ thống lý luận về QHCC nói chung qua việc nghiên cứu cụ thể về hoạt động QHCC từ bối cảnh thực tiễn của Việt Nam Những vấn đề lý luận mà luận văn đề cập, phân tích, đúc kết sẽ giúp những người đào tạo, nghiên cứu có thêm tài liệu tham khảo
- Giá trị thực tiễn của đề tài: Luận văn là một đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng cao trong giai đoạn hiện nay Thông qua những khảo sát, đánh giá cụ thể, luận văn xây dựng một tài liệu có hệ thống về thực trạng mối quan
hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo Đồng thời, luận văn làm rõ những phương thức xây dựng, duy trì, phát triển mối quan hệ giữa họ hiện nay, cũng
Trang 12như chỉ ra những nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng mối quan hệ, đóng góp vào hiệu quả công việc của cả hai nhóm Các nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp và các nhà báo đều có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của luận văn để vận dụng trong việc xây dựng mối quan hệ phục vụ công việc của mình Bên cạnh đó, luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng dành cho những ai quan tâm đến lĩnh vực QHCC nói chung, QHCC ở Việt Nam nói riêng
6 Tình hình nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài
- Trên thế giới, mối quan hệ giữa con người nói chung, giữa nhân viên QHCC và nhà báo nói riêng đã được các nhà nghiên cứu về truyền thông, QHCC đề cập và nghiên cứu trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ cuối thế kỷ
XX với các tên tuổi như J.E.Grunig, Cutlip, Sriramesh, Dozier, Yi-Hui Huang, Samsup Jo, Yungwook Kim… Vì mối quan hệ với giới truyền thông
là một trong những trọng tâm của hoạt động QHCC, nên rất nhiều nghiên cứu trước đây đã phân tích kỹ lưỡng các khía cạnh vấn đề khác nhau thuộc đề tài này Chẳng hạn, J.E Grunig, L.A Grunig và Dozier (1995) đã khái quát mô hình các mối quan hệ giữa một tổ chức với các nhóm công chúng mục tiêu của nó; Cutlip (2000) khái quát các chiến lược khác nhau để một tổ chức tiếp cận và xây dựng, phát triển mối quan hệ với các nhóm công chúng; Sriramesh (1996) và Yi-Hui Huang đi sâu nghiên cứu các thang đo mức độ thân thiết của các mối quan hệ, và các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các bên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các yếu tố nền như bối cảnh văn hóa, chính trị,
xã hội… Samsup Jo và Yungwook Kim (2004) quan tâm đến mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo ở các nền văn hóa phương Đông
- Ở Việt Nam, một trong những nghiên cứu đầu tiên về QHCC là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2001) về “Quan hệ công chúng và báo chí ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp” Luận văn này đã bước đầu xây dựng hệ thống khái niệm về QHCC, và chỉ ra các đặc điểm trong mối quan hệ giữa QHCC và báo chí ở Việt Nam, tuy nhiên, chưa đề cập đến các phương
Trang 13thức cụ thể để xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và các nhà báo Năm 2009, Nguyễn Thị Thanh Huyền tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu đồng định hướng (co-orientation study) về mối quan hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo ở Việt Nam thông qua luận án tiến sĩ bảo vệ tại Hàn Quốc (Huyen, 2009) Trong luận án đó, ngoài các nội dung nghiên cứu khác, tác giả đã sử dụng các thang đo mối quan hệ của Yi-Hui Huang (2001) và mô hình nghiên cứu của Sriramesh (1986) để đánh giá mức độ hiểu biết, tin tưởng, hài lòng,
và cam kết hợp tác giữa nhân viên QHCC và nhà báo ở Việt Nam Luận án là một tài liệu tham khảo rất cơ bản cho luận văn này về một số khung lý thuyết
và cách thức khảo sát thực tế Tuy nhiên, một lần nữa, những chiến lược, chiến thuật cụ thể để xây dựng, duy trì, và phát triển mối quan hệ giữa hai nhóm nghề nghiệp là nhân viên QHCC và nhà báo vẫn chưa được tập trung nghiên cứu sâu
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và báo chí cũng đã bắt đầu được đề cập rải rác thông qua một số công trình nghiên cứu về QHCC của Đinh Thị Thúy Hằng trong cuốn “PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” (2007),
“Ngành PR tại Việt Nam” (2010), “PR lý luận và ứng dụng” (2010) Trong các cuốn sách đó, tác giả đã giải quyết rất nhiều vấn đề chung của QHCC, nên mối quan hệ với giới truyền thông đã được đề cập, phân tích, nhưng chưa đi sâu nhận diện hiện trạng “sức khỏe” của mối quan hệ, cũng như chưa chỉ ra được những phương thức cụ thể để xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo hiện nay
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập đến một vài khía cạnh liên quan đến đề tài của luận văn này Có thể kể đến luận các văn như: “Tác động của báo chí với doanh nghiệp” (Nguyễn Thanh Hương, luận văn thạc
sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, năm 2010), “Hiện trạng và giải pháp về
hoạt động quan hệ công chúng trong các ngân hàng tại Việt Nam” (Đặng Thị Châu Giang, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, năm 2006),
“Vai trò của báo chí trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu doanh
Trang 14nghiệp hiện nay, khảo sát trên báo Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Lao Động và Diễn đàn Doanh nghiệp năm 2008 – 2010” (Trần Thị Tú Mai, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, năm 2010), “Mối quan hệ giữa
PR và báo chí” (khảo sát một số doanh nghiệp và cơ quan báo chí giai đoạn 2006-2008, Nguyễn Thị Nhuận, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học KHXH &
NV, năm 2008), “Vai trò của báo chí trong việc phát triển thương hiệu” (Đỗ Thị Hoa Quỳnh, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, năm 2009)… Các luận văn nói trên đã đem đến nhiều góc nhìn sinh động về thực trạng mối quan hệ giữa doanh nghiệp và báo chí, nhưng đều chưa lý giải được mối quan hệ đó từ góc nhìn lý luận QHCC, và trong một số trường hợp còn tỏ ra lầm lẫn về quan niệm QHCC như một chức năng quản trị thương hiệu tổ chức/ doanh nghiệp thay vì chỉ là công cụ đánh bóng tên tuổi của tổ chức/ doanh nghiệp trên báo chí mà thôi
Từ việc phân tích lịch sử nghiên cứu đề tài nói trên, có thể thấy rằng đề tài luận văn là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam, và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa
nhân viên QHCC và nhà báo Chương 2: Hiện trạng mối quan hệ và cách thức xây dựng, phát triển
mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân
viên QHCC trong các doanh nghiệp Việt Nam và nhà báo
Trang 15NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
VÀ NHÀ BÁO
Mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo đã được đề cập nghiên cứu từ nhiều góc độ như truyền thông, QHCC, văn hóa, quản trị doanh nghiệp… và đã tạo được một hệ thống cơ sở lý luận khá vững chắc Trong đó, các nghiên cứu đã chỉ rõ những vấn đề lý luận cơ bản như xác định được định nghĩa về “mối quan hệ”, đưa ra các thang đo mức độ bền vững và gắn kết của mối quan hệ, và đặc biệt là đã xác định được tương đối cơ bản những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng, duy trì, và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo Những khái niệm cơ bản và quy luật chi phối việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo sẽ được phân tích kỹ trong chương này
1.1 Khái niệm, đặc điểm, và những yếu tố ảnh hưởng đến “mối quan hệ”
1.1.1 Khái niệm mối quan hệ
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (17, tr.799) thì: “Quan
hệ là sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có sự biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự sự vật kia” Định nghĩa này đề cập đến sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các bên trong mối quan hệ, nhưng lại chỉ nhấn mạnh mối quan hệ của các “sự vật”, mà không đề cập đến mối quan hệ giữa con người với nhau
Trong lĩnh vực quan hệ công chúng, rất nhiều chuyên gia cho rằng, việc
xây dựng, duy trì, phát triển mối quan hệ (relationship) là một trong những
chức năng chính của nghề nghiệp, và đồng thời đối tượng nghiên cứu chính của các học giả QHCC Ferguson (1984) là học giả đầu tiên trong lĩnh vực
Trang 16QHCC kêu gọi việc coi mối quan hệ là đơn vị nghiên cứu trọng tâm của lĩnh vực QHCC Khảo sát 171 bản tóm tắt và các nghiên cứu toàn văn trên tạp chí khoa học “Public Relations Review” từ năm 1975 đến năm 1984, Ferguson đã
đề nghị phải có một định nghĩa thống nhất về mối quan hệ, và gợi ý có thể phân tích một mối quan hệ dựa trên các yếu tố như: động/ tĩnh, mở/ đóng, hài lòng/ không hài lòng… (Huyen, 2009)
Hưởng ứng lời kêu gọi của Ferguson, hàng loạt các nhà khoa học về QHCC đã bắt tay tìm kiếm các định nghĩa về mối quan hệ - đơn vị nghiên cứu được coi là quan trọng nhất của lĩnh vực QHCC Có rất nhiều góc độ tiếp cận khác nhau được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành Chẳng hạn, tiếp cận
từ góc độ ảnh hưởng của mối quan hệ, Ledingham and Bruning (1998) định nghĩa mối quan hệ là “tình trạng tồn tại giữa một tổ chức và các nhóm công chúng chủ yếu của nó trong đó hành động của mỗi bên đều ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, chính trị, và/ hoặc đời sống văn hóa của bên kia” Trong khi
đó, từ góc độ đặc điểm của mối quan hệ, Huang (1998) thì cho rằng mối quan
hệ là “mức độ mà một tổ chức và công chúng của nó tin tưởng lẫn nhau, chấp
nhận việc bên nào có quyền gây ảnh hưởng đến bên kia nhiều hơn, mức độ hài lòng về nhau, và cam kết hợp tác với nhau” (Huyen, 2009) Định nghĩa
này đã chỉ rất rõ các yếu tố cấu thành của một mối quan hệ, và đặc biệt quan trọng là những yếu tố này đã được Huang (1998) xác định thang đo lường, đánh giá mức độ cụ thể Định nghĩa này cũng được giới nghiên cứu đánh giá rất cao và liên tục sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu QHCC về sau Chính vì thế, trong luận văn này, tác giả cũng sẽ sử dụng định nghĩa nói trên của Huang (1998) để làm công cụ nghiên cứu, khảo sát thực tế
1.1.2 Đặc điểm của mối quan hệ
Mối quan hệ nhà báo – nhân viên QHCC được hình thành qua quá trình hợp tác, làm việc cùng nhau Cả hai bên, đặc biệt là nhân viên QHCC luôn muốn xây dựng mối quan hệ này theo hướng hợp tác, cởi mở, bình đẳng, hai bên cùng có lợi Trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ nói chung, mối
Trang 17quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo nói riêng, bốn góc độ của mối quan
hệ theo các nghiên cứu của phương Tây đóng vai trò như cấu trúc cơ bản Bốn góc độ này là: tin tưởng, sự kiểm soát lẫn nhau, sự hài lòng và cam kết với nhau trong mối quan hệ Chúng ta có thể tìm thấy 4 góc độ này được trình bày rất rõ trong nghiên cứu của J E Grunig & Huang (2000) Bên cạnh đó, những đặc điểm liên quan này xuất hiện thường xuyên và thống nhất trong các nghiên cứu về các mối quan hệ giữa người với người và mối quan hệ giữa các
tổ chức: tin tưởng (L A Grunig, J E Grunig, & Ehling, 1992; Stafford & Canary, 1991), kiểm soát lẫn nhau (Burgoon & Hale, 1984, 1987; Canary & Spitzberg, 1989; Canary & Stafford, 1992; Ferguson, 1984; Stafford & Canary, 1991), cam kết, trách nhiệm với nhau (Aldrich, 1975, 1979; Burgoon
& Hale, 1984, 1987; Canary & Spitzberg, 1989; Canary & Stafford, 1992), và
sự hài lòng (Ferguson, 1984; L A Grunig et al., 1992) Ngoài ra, từ những nghiên cứu của Bond & Hwang (1986) Hwang, (1987) Yang (1981) về mối quan hệ trong xã hội Trung Hoa, Huang (2001) đã khái quát lại những đặc điểm của mối quan hệ thành 5 đặc điểm cơ bản sau đây:
1.1.2.1 Mức độ kiểm soát lẫn nhau
Hai nhà nghiên cứu Stafford và Canary (1991) đã định nghĩa sự kiểm soát lẫn nhau trong mối quan hệ giữa con người hoặc giữa các nhóm người
là mức độ mà người ta thỏa thuận xem ai là người nên quyết định các mục tiêu của mối quan hệ và phép ứng xử Khái niệm kiểm soát lẫn nhau cũng tương tự như các khái niệm khác được đánh giá là rất quan trọng trong giao tiếp như khái niệm “có đi có lại” trong nghiên cứu của Aldrich (1975, 1979),
“sự phân chia quyền lực trong mối quan hệ” của Ferguson’s (1984), và “sự trao quyền” trong khái niệm của Moore (1986) Hon và J E Grunig (1999) xác định sự kiểm soát lẫn nhau là “mức độ mà các bên đồng ý về (những) người có quyền lực hợp pháp để ảnh hưởng đến ngưới khác” Về bản chất, ý thức kiểm soát lẫn nhau giữa các bên đối lập nhau trong một mối quan hệ là rất quan trọng đối với tính phụ thuộc và tính ổn định trong mối quan hệ
Trang 18(Stafford & Canary, 1991) Hơn nữa, khái niệm về sự kiểm soát lẫn nhau là
sự phù hợp trong việc thực hiện các mối quan hệ nằm trong QHCC, đặc biệt trong việc xây dựng quan hệ với giới truyền thông hoặc đạo đức nghề nghiệp của nhân viên QHCC
Nghiên cứu của Huang (1999) đã chỉ ra rằng sự kiểm soát lẫn nhau là một trong hai yếu tố chính tác động gián tiếp đến QHCC trong chiến lược giải quyết xung đột (yếu tố chính khác là sự tin tưởng) Cụ thể hơn, Huang đã chứng minh rằng việc sử dụng truyền thông hai chiều cân xứng (two-ways symmetrical communication) có thể tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau một cách hiệu quả trong các mối quan hệ Sự kiểm soát lẫn nhau có thể tạo cảm hứng cho công chúng đối lập tìm kiếm các giải pháp sáng tạo và cùng có lợi hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên thứ ba để giải quyết cuộc xung đột Tóm lại, để một mối quan hệ ổn định, tích cực, việc kiểm soát lẫn nhau giữa các bên nên tồn tại ở một mức độ nào đó
1.1.2.2 Sự tin tưởng lẫn nhau
Khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC, Canary
và Cupach (1988) đã quan niệm sự tin tưởng như là “một sự sẵn sàng thử thách bản thân mình bởi vì các đối tác quan hệ được coi là nhân từ và trung thực” Còn Morgan và Hunt (1994) lại xác định sự tin tưởng là “hiện tại, khi một bên có sự tự tin về độ đáng tin cậy và tính toàn vẹn của đối tác trao đổi” Tổng hợp lại, trong mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC, sự tin tưởng thể hiện ra ở sự tự tin và sự sẵn sàng mở rộng chính mình để giao tiếp một cách công bằng và thẳng thắn với bên kia Vì vậy, Hon và J E Grunig (1999) xác định sự tin tưởng là “mức độ tự tin và sẵn sàng của một bên để cởi
mở bản thân mình với bên kia”
Niềm tin luôn là một cấu trúc quan trọng trong lĩnh vực QHCC Bruning và Ledingham (1999) đã khái quát sự tin tưởng như là 1 trong 9 khía cạnh trong hoạt động QHCC trong tổ chức, doanh nghiệp (Organizational Public Relations – OPR) Tương tự như vậy, L A Grunig, J E Grunig và
Trang 19Ehling (1992) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tin tưởng và sự tín nhiệm, bởi vì chính sự tin tưởng từ công chúng cho phép một tổ chức tồn tại
Sự tin tưởng cũng là một khái niệm quan trọng trong mối quan hệ giữa các cá nhân (Canary & Cupach, 1988) và giữa các tổ chức Một vài nghiên cứu đã xem xét sự tin tưởng và thiếu tin tưởng trong các mối quan hệ Nghiên cứu cửa Huang (1999) đã chứng minh rằng ngoài sự kiểm soát lẫn nhau, sự tin tưởng là yếu tố quan trọng thứ hai trong OPRA (Đánh giá QHCC trong tổ chức, doanh nghiệp): Niềm tin giữa một tổ chức và công chúng của tổ chức ấy
có thể gián tiếp điều chỉnh hiệu quả của các chiến lược giải quyết xung đột trong QHCC Để cụ thể hơn, các dữ liệu thực nghiệm đã cho thấy rằng việc sử dụng truyền thông hai chiều cân xứng kể trên có thể tạo nên và củng cố sự tin tưởng trong OPR
1.1.2.3 Mức độ hài lòng trong mối quan hệ
Không giống như sự kiểm soát lẫn nhau và sự tin tưởng vốn xuất phát
từ nhận thức của con người, sự hài lòng về mối quan hệ (relational satisfaction) trong mối quan hệ giữa con người nói chung, giữa nhà báo và nhân viên QHCC nói riêng gắn với tình cảm và cảm xúc Hon và J E Grunig (1999) đã định nghĩa sự hài lòng của các mối quan hệ là “mức độ mà một bên cảm thấy thỏa mãn với các bên khác do sự kỳ vọng theo hướng tích cực về mối quan hệ được tăng cường” Tương tự như vậy, Hecht (1978) quan niệm sự hài lòng cũng giống như sự phản ứng của tình cảm một cách thuận lợi để làm tăng cường những mong muốn, suy nghĩ tích cực trong một hoàn cảnh thực tế nhất định Họ cũng chỉ ra rằng việc nhận thức được sự duy trì cách cư xử của các đối tác làm tăng sự hài lòng của người đó với mối quan hệ, và do đó, họ kết luận sự hài lòng trong quan hệ có thể là dấu hiệu duy trì quan hệ hiệu quả
Tầm quan trọng của sự hài lòng trong mối quan hệ nói chung và mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC nói riêng là một đặc tính quan trọng quyết định đến tính thân mật, gắn kết của mối mối quan hệ, điều này đã
Trang 20được thừa nhận rộng rãi (Ferguson, 1984; Millar & Rogers, 1976; Stafford & Canary, 1991) Theo đề nghị của Hendrick (1988), sự hài lòng của các mối quan hệ là một trong những lĩnh vực chính của việc đánh giá mối quan hệ, với nhiều biện pháp để đánh giá cảm xúc, suy nghĩ, hoặc hành vi trong các mối quan hệ thân tình
1.1.2.4 Mức độ cam kết hợp tác trong mối quan hệ
Quan hệ cam kết (Relational commitment) trong mối quan hệ nhà báo
và nhân viên QHCC được Hon và J E Grunig (1999) định nghĩa là “mức độ
mà một bên tin tưởng và cảm thấy rằng mối quan hệ là xứng đáng để để duy trì và thúc đẩy” Trong nghiên cứu này, hai khía cạnh của sự cam kết cho một OPR đã được nhấn mạnh: cam kết tình cảm và cam kết duy trì Morgan và Hunt (1994) định nghĩa sự cam kết trong quan hệ là một đối tác trao đổi tin rằng một mối quan hệ đang diễn ra với người khác là rất quan trọng để đảm bảo những nỗ lực tối đa trong việc duy trì nó, có nghĩa là các bên cam kết tin rằng mối quan hệ đó đáng để thúc đẩy và giữ gìn để đảm bảo rằng nó tồn tại lâu dài Họ cũng trích dẫn Moorman, Zaltman, và Deshpande (1992), nhấn mạnh rằng sự cam kết cho một mối quan hệ là “một mong muốn lâu dài để duy trì một mối quan hệ có giá trị”, và kết luận rằng sự cam kết là trung tâm đối với mối quan hệ tổ chức và các đối tác khác nhau của nó
Tương tự, sự cam kết được xem xét như là một chỉ số hiệu quả của các mối quan hệ nội bộ trong việc thiết lập các mối quan hệ Ví dụ, sự cam kết lúc nào cũng gắn chặt với công dân có tính tổ chức cao, việc tuyển dụng và tiến hành đào tạo và việc hỗ trợ tổ chức (Morgan & Hunt, 1994) Trong các mối quan hệ dịch vụ, Berry và Parasuraman (1991) đã khẳng định rằng các mối quan hệ được xây dựng trên nền tảng là sự cam kết lẫn nhau Morgan và Hunt quan niệm về lòng trung thành với thương hiệu như là một hình thức cam kết
1.1.2.5 Giữ thể diện cho nhau
Đặc điểm thứ 5 phản ánh mức độ gắn kết, thân thiết trong mối quan hệ giữa giữa tổ chức và các nhóm công chúng của nó nói chung, giữa nhân viên
Trang 21QHCC của doanh nghiệp và nhà báo nói riêng là việc giữ gìn thể diện hoặc sĩ diện, danh dự cho nhau Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ trong không gian văn hóa phương Đông Như trên đã đề cập, Huang (2001) đã khái quát lên đặc điểm thứ 5 này thông qua các công trình nghiên cứu của Bond và Hwang (1986), Hwang (1987), Yang (1981) về mối quan hệ trong xã hội Trung Hoa, cũng từ đó Huang khẳng định rằng những đặc trưng về quan hệ
xã hội của các nền văn hóa nói chung, của nền văn hóa phương Đông nói riêng
có ảnh hưởng đến tính chất của các mối quan hệ ít nhiều Những kết luận đó được minh chứng qua các nghiên cứu về quan hệ xã hội trong nền văn minh Trung Hoa, một trong những nền văn minh có ảnh hưởng lớn trong khu vực châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng
Cụ thể, qua phân tích tâm lý xã hội của người dân Trung Hoa, Bond và Hwang đã nhận thấy ảnh hưởng từ các yếu tố, giáo lý của Nho giáo trong các mối quan hệ xã hội cũng như trong suy nghĩ, lối sống và tâm lý của người Trung Hoa Họ nhận thấy rằng trong xã hội Trung Hoa, con người tồn tại thông qua và được xác định bởi các quan hệ của họ với những người khác Những mối quan hệ này được cấu trúc một cách có thứ bậc, tôn ti, và trật tự
xã hội được đảm bảo thông qua những yêu cầu về sự tôn trọng vai trò của mỗi bên trong các mối quan hệ Bond và Hwang kết luận rằng “guanxi” (các quan
hệ xã hội) là một thuật ngữ được sử dụng để biểu thị một mối quan hệ cụ thể
ở Trung Hoa và là khái niệm quan trọng để phân tích và hiểu về hành động cũng như tâm lý của người Trung Hoa trong các mối quan hệ xã hội của họ Bên cạnh đó, sự điều khiển, gây tác động qua các mối quan hệ cá nhân từ lâu
đã là chiến lược để đạt được một vị trí cao nhất trong xã hội Trung Hoa (Chiao, 1981) Có được vị trí tốt thì sẽ ảnh hưởng tốt hơn đối với các mối quan
hệ của cá nhân, tổ chức, bởi tính tôn ti, thứ bậc trong quan hệ xã hội “Renqing”
là khái niệm bao hàm các chuẩn mực xã hội mà người ta phải tuân thủ để hòa hợp với người khác trong xã hội Trung Quốc Hwang (1987) chỉ ra rằng chỉ tiêu của “renqing” bao gồm 2 loại cơ bản của hành vi xã hội: “(a) Thông
Trang 22thường, một người nên giữ liên lạc với người quen thông qua mạng xã hội, việc trao tặng quà, những lời chúc hoặc viếng thăm họ thường xuyên, và (b) khi một thành viên trong nhóm của họ gặp rắc rối hoặc phải đối mặt với một hoàn cảnh khó khăn, họ nên tình nguyện, nhiệt tình giúp đỡ cho người đó” (p 954) Từ những nghiên cứu trên cho thấy, việc gặp gỡ, duy trì mối quan hệ là rất quan trọng trong xã hội Trung Quốc Nhìn chung, việc duy trì sự sự gặp gỡ người khác là rất quan trọng trong việc tương tác, đặc biệt là việc xây dựng các mối quan hệ trong xã hội
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hwang cũng chỉ ra rằng: trong xã hội Trung Quốc, “renqing” (ân tình) và “mianzi” – (sĩ diện) được coi là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực giao tiếp xã hội Nói theo cách khác, thể diện và thiện ý - “face and favor” có thể sử dụng như một phương tiện giao tiếp xã hội (Hwang, 1987) Hwang cũng giải thích thêm rằng trong xã hội Trung Quốc, khi một người có sự kiện vui vẻ hoặc khó khăn, những người quen của
họ sẽ phải tặng quà hoặc đề nghị được giúp đỡ Hwang đã giữ quan niệm rằng renqing chiếm vị trí giống như “love” - tình yêu Tức là một người có xu hướng sẽ chỉ trao đổi “renqing” với những người nhất định trong mạng lưới quan hệ của mình Trái lại, “renqing” được đặt gần trung tâm của khía cạnh
cụ thể Tức là như một nguồn để trao đổi, “renqing” không chỉ chứa có thể chứa những yếu tố vật chất chính như tiền bạc, mà còn là những thứ trừu tượng cấu thành nên chữ “tình” Đó là lý do tại sao “renqing” khó mà có thể tính toán được và tại sao người ta lại không bao giờ có thể trả hết món nợ
“renqing” cho người khác được Nghiên cứu này của Hwang cũng cho thấy rằng, muốn xây dựng mối quan hệ với người khác thì tình cảm là thứ cần được cho đi, và một trong những điều quan trọng nhất của việc giữ gìn và phát triển mối quan hệ đó là giữ thể diện, danh dự cho đối tác Đó là những điểm mấu chốt để tạo dựng một mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội Trung Quốc nói riêng, cũng như một số nước phương Đông nói chung, trong đó có Việt
Nam chúng ta
Trang 231.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ
Có rất nhiều yếu tố khác nhau gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa các nhóm người trong xã hội Từ góc nhìn lý luận về QHCC, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố cơ bản có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ giữa tổ chức và các nhóm công chúng của nó Cụ thể là các yếu tố văn hóa, chính trị, xã hội, môi trường truyền thông, cấu trúc của tổ chức (organizational structure)… QHCC là một bộ phận không thể tách rời và đồng thời cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng, tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và đặc biệt là văn hóa Hoạt động truyền thông của các doanh nghiệp, tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài chính vì vậy việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo cũng chịu tác động lớn bởi các yếu tố này Các yếu tố này có tác động gián tiếp đến việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC trong doanh nghiệp và nhà báo Nó có thể thúc đẩy hay kìm hãm việc xây dựng, phát triển mối quan hệ này Trong phần tiếp theo, luận văn sẽ lần lượt phân tích một cách sơ lược
về các yếu tố nói trên
1.1.3.1 Yếu tố văn hóa
Mọi mối quan hệ của con người trong xã hội đều bị chi phối bởi các đặc trưng văn hóa trong xã hội mà con người ta đang sống Vì vậy, muốn tìm hiểu
về mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo thì không thể bỏ qua những đặc trưng văn hóa ảnh hưởng đến mối quan hệ này, hay nói một cách khác hơn thì mối quan hệ này cần được nghiên cứu, tìm hiểu dưới góc nhìn văn hóa
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm các kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, phong tục và các năng lực, thói quen mà một con người tạo ra trong xã hội ” [31, p.1] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản cuốn
Trang 24sách “Culture a critical review of concepts and definitions” Trong đó hai tác giả đã trích dẫn ra khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa
ra ở nhiều nước khác nhau, từ đó có thể nhận thấy “văn hóa” là một khái niệm rất phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau Trong cuốn sách này, A.L Kroeber và Kluckhohn cũng đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng,
là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả của một hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” [26]
Tại Việt Nam, văn hóa cũng được nhiều học giả định nghĩa rất khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [18, tr.21] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Còn
cố chủ tịch Phạm Văn Đồng thì cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [18, tr.22] Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của
Trang 25một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”, [ơcòn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” [18, tr.22]
Sở dĩ văn hóa có nhiều cách hiểu và được nhiều học giả nghiên cứu đến vậy bởi những ảnh hưởng to lớn của nó đến mọi mặt trong đời sống xã hội của con người, trong cách ăn, mặc, ở, đi lại, đối xử, giao tiếp Mọi mối quan hệ trong xã hội của con người đều cần được nhìn dưới góc nhìn văn hóa, truyền thống để thấy rõ được những đặc trưng, ảnh hưởng đến mối quan
hệ đó và mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC trong doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) đã khẳng định: “Văn hóa là một biến số quan trọng trong nghiên cứu về quan
hệ công chúng” [38, tr.157]
Mối quan hệ nhân viên QHCC – nhà báo là một vấn đề rất được quan tâm trong lĩnh vực QHCC nói chung và khi nghiên cứu về quan hệ truyền thông nói riêng nó trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều học giả truyền thông nổi tiếng thế giới như: J.E.Grunig, Cutlip, Dozier, Hunt, Curtin, Yi-Hui Huang, Samsup Jo Trong những công trình nghiên cứu của mình, các học giả này đã chỉ ra được bản chất, những đặc trưng, đặc điểm cũng như phương thức xây dựng lên mối quan hệ nhân viên QHCC – nhà báo Tuy nhiên, do những ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, chính trị nên các đặc trưng, đặc điểm và phương thức xây dựng quan hệ nhà báo – nhân viên QHCC tại các quốc gia được nghiên cứu cũng có những điểm khác biệt Ví dụ như ở Hoa
Kỳ cũng như các nước phương Tây, mối quan hệ giữa các nhà báo và nhân viên QHCC được coi là không tốt, thiếu sự tin tưởng và thậm chí là coi thường nhau Ở một mức độ nhất định có khoảng cách xã hội tồn tại giữa hai nhóm này [20, p.431] Tuy nhiên ở các nước phương Đông, mối quan hệ này
Trang 26lại có nhiều khác biệt do bối cảnh của văn hóa Tại Việt Nam và một số nước khác trong khu vực (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…), hiện trạng mối quan hệ nhà báo – nhân viên QHCC có những đặc trưng riêng do bối cảnh xuất hiện của ngành QHCC, môi trường truyền thông và đặc trưng của văn hóa bản địa Ở Hàn Quốc, có một đặc trưng trong văn hóa được gọi là
“Cheong” (tương tự chữ “tình” trong tiếng Việt) đã tạo nên một đặc điểm chung của mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC Mối quan hệ tình cảm này nảy sinh khi có sự tiếp xúc, gặp gỡ thường xuyên giữa nhân viên QHCC và nhà báo Nó làm cho mối quan hệ trở nên thân thiết hơn, tạo nên những thuận lợi trong công việc của cả hai nhóm và đặc biệt nó không hề làm ảnh hưởng đến sự chuyên nghiệp trong công việc của hai nhóm đối tượng này Ở Trung Quốc, trong các mối quan hệ, việc giữ thể diện cho nhau rất được coi trọng bởi đặc trưng văn hóa của người Trung Quốc luôn trong danh
dự, giữ gìn danh tiếng cho người đối thoại hoặc bên liên quan Đặc biệt, tại Trung Quốc nghệ thuật của việc xây dựng mối quan hệ là những hành động khéo léo đầy thiện chí như việc tặng quà trước để báo đáp những gì người khác sắp làm cho mình, coi đó như một hành động có đi có lại nhằm mục đích duy trì mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài [19] Tuy nhiên những hành động này có thể dẫn đến những hệ lụy không hay, những hành vi thiếu đạo đức và thậm chí vi phạm pháp luật như hối lộ, đút lót, tham nhũng [19]
Giữa xã hội phương Đông và phương Tây còn có sự khác biệt về các nhìn nhận vai trò của cá nhân trong xã hội Phương Đông coi trọng vai trò của cộng đồng, phương Tây coi trọng vai trò của cá nhân Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa gốc nông nghiệp, xã hội Việt Nam hàng ngàn năm nay là một xã hội nông nghiệp Vì thế, căn tính nông dân và văn hóa tiểu nông đã ăn sâu trong đời sống, tiềm thức, lối sinh hoạt và ứng xử của con người Việt Nam, trong đó, các giá trị gia đình và cộng đồng luôn được đặt lên trên các giá trị cá nhân Một trong những đặc trưng văn hóa của người Việt Nam đó là văn hóa
“duy tình” (Trần Quốc Vượng, 2005) Nó được thể hiện qua tâm lý coi trọng
Trang 27tình cảm, qua hành vi, qua cách ứng xử của người Việt trong tất cả các mối quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội trong đó có quan hệ ứng
xử giữa người với người Đó là lối sống, là cách ứng xử, giao tiếp thiên về khuynh hướng tình cảm, thân mật Bên cạnh đó là tính cộng đồng, trọng nghĩa, trọng tình, giữ thể diện cho nhau Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước
và giữ nước của dân tộc ta cũng ghi nhận lối sống, cách cư xử khéo léo, hòa hảo trong ngoại giao với các nước láng giềng đặc biệt là sự khoan dung, cách giữ thể diện của người Việt ngay cả đối với kẻ thù đã bị thua trận Trong cuốn
“Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Con người vừa là chủ thể nhưng vừa là khách thể của văn hóa Có nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể thống nhất, chúng ta mới lý giải được mối quan hệ hữu cơ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên ” Như vậy, các mối quan hệ của con người trong xã hội trong đó có QHCC đều bị chi phối, ảnh hưởng bởi văn hóa
Phải đến cuối thế kỷ XX, QHCC chuyên nghiệp mới chính thức có mặt tại Việt Nam, nhưng những hoạt động cơ bản của QHCC đã được hiện hữu trong đời sống của cha ông ta từ xa xưa, đặc biệt là trong văn hóa giao tiếp của người Việt [38] Cha ông ta đã ý thức được tác dụng thay đổi nhận thức của con người thông qua giao tiếp, và đã được đúc kết thành các câu thành ngữ như: “nói ngọt lọt đến xương”, “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay” Rõ ràng, văn hóa ngàn đời nay của người Việt Nam luôn coi trong việc giao tiếp, ứng xử một cách khéo léo để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, xây dựng một mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, sự gắn kết giữa một cộng đồng hòa thuận Trong các mối quan hệ xã hội của mình, người Việt Nam thường “nhìn trước ngó sau”, “ăn ở như bát nước đầy” Đồng thời, người Việt Nam sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng Chính tính cộng đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao
Trang 28tiếp Sự giao tiếp tạo ra mối quan hệ: “Dao năng liếc năng sắc, người năng chào năng quen” (tục ngữ) Sự giao tiếp củng cố tình thân: “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân” (tục ngữ)
Bên cạnh đó, người Việt Nam có tính thích thăm viếng Đã là những người có mối quan hệ thân thiết thì cho dù hàng ngày có gặp nhau ở đâu, bao nhiêu lần đi nữa, những lúc rảnh rỗi, họ vẫn tới thăm nhau Thăm viếng nhau đây không còn là nhu cầu công việc mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa,
có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ Điều này rất khác so với văn hóa của người phương Tây, họ thường chỉ đi thăm viếng những người mà bình thường mình ít có điều kiện gặp gỡ Bên cạnh đó, người Việt Nam cũng có tính hiếu khách Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu, cũng cố gắng tiếp đón một cách chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, các đồ ăn ngon nhất:“Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi”, bởi lẽ “đói năm, không ai đói bữa” (tục ngữ) Cũng xuất phát từ văn hóa gốc nông nghiệp với đặc điểm “trọng tình” [16, tr.23] đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm, lấy sự yêu sự ghét làm nguyên tắc ứng xử trong giao tiếp, từ đó người Việt dễ dàng dựa trên tình cảm mà bỏ qua
cho nhau những lỗi lầm hay những bất đồng trong cuộc sống:“Yêu nhau chín
bỏ làm mười”, “Yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo” hay
“Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”, “Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”, “Yêu nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” Người Việt Nam sống có lý
có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn Người Việt ứng xử trong các mối quan
hệ xã hội của mình bằng cái tình, khi cần cân nhắc giữa tình với lý thì tình
được đặt cao hơn lý: “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”
Trong truyền thống của người Việt Nam, thể diện, danh dự là điều vô cùng quan trọng Tâm lý trọng danh dự đã ăn sâu vào trong suy nghĩ, lối sống
của dân tộc ta: “Tốt danh hơn lành áo”, “Đói cho sạch, rách cho thơm”,
“Trâu chết để da, người ta chết để tiếng” Chính vì quá coi trọng danh dự mà
Trang 29người Việt mắc bệnh sĩ diện Ở thôn làng, thói sĩ diễn thể hiện càng rõ ràng,
trầm trọng, nhất là tục chia phần “một miếng giữa làng bằng một sàng xó
trọng và cần được gìn giữ nếu như muốn được người khác tôn trọng, kính nể Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến cách người Việt cư xử trong các mối quan
hệ xã hội của mình Chính vì vậy, trong mọi mối quan hệ xã hội, đặc biệt là những mối quan hệ thân thiết, gần gũi thì việc gìn giữ được danh dự, thể diện cho nhau là điều tối quan trọng để duy trì mối quan hệ
Người Việt Nam cũng có tính thích được tặng quà và nhận quà Tặng quà cho mọi người vào dịp lễ, tết được coi như một nét đẹp trong văn hóa của người Việt, Chúng ta thường tặng quà cho ông bà, cha mẹ, chị em, bạn bè, đối tác… Tặng quà ngày tết đem lại niềm vui cho cả người tặng và người nhận Trong việc thể hiện tình cảm giữa người với người, việc trao tặng quà đã từ lâu trở thành một nét việc làm hết sức cần thiết Người ta tặng quà cho nhau nhân ngày sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, tặng dịp lễ tết, tặng nhân ngày tân gia, mừng cấp trên thăng chức, tặng quà lưu niệm giữa các đối tác… Việc tặng quà chỉ đơn thuần là giúp gắn kết tình cảm giữa người với người
Từ những đặc trưng trong văn hóa và tính cách của người Việt đã có những ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ truyền thông tại Việt Nam nói chung và quan hệ giữa nhà báo – nhân viên QHCC nói riêng Khi xây dựng được một mối quan hệ thân thiết, bền chặt với nhà báo, yếu tố tình cảm của mối quan hệ này sẽ giúp cho công việc của cả nhân viên QHCC và nhà báo gặp nhiều thuận lợi hơn Nhà báo có thể vì cái tình với nhân viên QHCC mà cố tình nhắc đến tên doanh nghiệp trong những tin bài của mình hay cố tình bỏ qua, làm ngơ hoặc “giơ cao đánh khẽ” đối với những vụ bê bối, khủng hoảng hay những vấn đề khúc mắc mà doanh nghiệp đang gặp phải Và cũng vì cái tình của mối quan hệ, vì muốn giữ thể diện cho nhau nên nhà báo đi dự họp báo của doanh nghiệp, tham gia các hoạt động khai trương, động thổ, các ngày kỷ niệm quan trọng của doanh nghiệp và đưa tin, bài Có thể nói, tại mỗi quốc
Trang 30gia, vùng miền với môi trường văn hóa, xã hội đặc trưng thì lại có những đặc trưng riêng để xây dựng các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ nhà báo
và nhân viên QHCC Các nước phương Tây, với đặc trưng văn hóa “duy lý” các mối quan hệ nhà báo và nhân viên QHCC được xây dựng dựa trên sự tin tưởng, hài lòng, cam kết, kiểm soát lẫn nhau Tuy nhiên tại các nước phương Đông, thì ngoài những yếu tố trên, việc giữ thể diện, danh dự, uy tín cho nhau,
và đặc biệt là tình cảm với nhau lại là yếu tố quan trọng có tính quyết định đến việc xây dựng và phát triển các mối quan hệ, trong đó có quan hệ nhà báo và nhân viên QHCC Hơn thế nữa, trong mỗi một quốc gia với những đặc trưng văn hóa và môi trường xã hội khác nhau thì việc xây dựng mối quan hệ lại có những sự khác biệt riêng đòi hỏi những người làm việc trong ngành QHCC phải am hiểu về văn hóa và xã hội để có thể xây dựng, duy trì và phát triển tốt
đẹp các mối quan hệ
1.1.3.2 Yếu tố chính trị, xã hội, truyền thông
Với bất kỳ lĩnh vực nào, môi trường chính trị, xã hội cũng có một tác động không nhỏ Đối với lĩnh vực QHCC mà một trong những hạt nhân của
nó là việc xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ cũng vậy Sriramesh (1992, 1999) cũng đã nhấn mạnh yếu tố chính trị, xã hội là yếu tố thượng tầng quan trọng của QHCC và là biến số không thể bỏ qua khi phân tích sự phát triển và tính chất của lĩnh vực QHCC ở mỗi quốc gia Trong nghiên cứu của mình, Sriramesh đã chỉ ra rằng đối với các quốc gia có nền chính trị coi trọng sự dân chủ, tự do trong thể hiện tư tưởng, chính kiến, ngôn luận, hội họp, vận động xã hội… thì QHCC có nhiều cơ hội để phát triển hơn
là những quốc gia bảo thủ, kiềm chế sự tự do tư tưởng của người dân Đối với Việt Nam, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong từng ngành, từng lĩnh vực cũng tác động đến hoạt động QHCC của các tổ chức trong ngành, lĩnh vực đó Trong bối cảnh xã hội Việt Nam, hoạt động QHCC của các tổ chức bị ảnh hưởng ít nhiều bởi một hệ thống pháp luật liên quan còn thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ Trên thực tế, hệ thống pháp luật tại Việt
Trang 31Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Trong lĩnh vực QHCC nói chung, liên quan đến mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo nói riêng, ở Việt Nam chưa có những quy định pháp luật cụ thể, chưa xác định được những nguyên tắc đạo đức cơ bản, khiến cho mối quan hệ này tại Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh
Mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo là mối quan hệ xã hội được xây dựng qua quá trình truyền thông, vì vậy mối quan hệ luôn luôn chịu
sự tác động của các yếu tố trong quá trình truyền thông “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo
sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [13,tr.13] Hoạt động truyền thông gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người, xã hội phát triển nhờ có sự giao lưu truyền thông giữa con người với con người, truyền thông chính là điều kiện để tạo nên các mối quan hệ xã hội giữa người với người Truyền thông hiệu quả làm cho con người hiểu nhau hơn, xóa nhòa đi những khoảng cách về kinh tế xã hội cũng như những khoảng cách về địa lý từ đó dẫn tới những thay đổi trong hành vi và nhận thức của con người Mọi mối quan hệ trong xã hội đều có được do quá trình truyền thông, hiểu biết lẫn nhau, chính vì vậy khi nghiên cứu về bất kỳ một mối quan
hệ nào thì truyền thông luôn là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn
Truyền thông là một quá trình và trong quá trình ấy thì nguồn phát và nguồn nhận thông điệp là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của quá trình truyền thông Trong việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo thì nguồn phát đi thông điệp chính là các nhân viên QHCC và người nhận chính là các nhà báo và ngược lại Trước tiên cần phải nói đến nhân viên QHCC Nhân viên QHCC là người giữ vai trò then chốt, chủ động của một tổ chức trong việc xây dựng và phát triển mối quan hệ với giới báo chí mà cụ thể là các nhà báo Nếu nhân viên QHCC là người có trình
độ, có mối quan hệ rộng rãi và am tường về công việc của các nhà báo thì việc xây dựng mối quan hệ này sẽ rất thuận lợi Bên cạnh đó nhân viên
Trang 32QHCC cũng cần có một chiến lược xây dựng mối quan hệ với nhà báo một cách rõ ràng, hiệu quả Việc xây dựng mối quan hệ đã khó việc gìn giữ và phát triển để mối quan hệ ấy trở nên tốt đẹp hơn lại càng khó khăn hơn nhiều, đòi hỏi người làm QHCC cần có sự hiểu biết về nghề nghiệp của đối tác, có nghệ thuật giao tiếp, ứng xử khéo léo, có đầu óc nhanh nhạy, thông minh và phải trung thực, chân thành trong mối quan hệ này
Nhân viên QHCC đôi khi chính là người đề ra chiến lược xây dựng mối quan hệ với nhà báo nhưng đôi khi có thể họ chỉ là người thực hiện chiến lược
đã được ban lãnh đạo đề ra Nhưng dù ở vị trí nào thì người nhân viên QHCC cũng cần có những kỹ năng và hiểu biết để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
Có thể nói nhiệm vụ xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với giới truyền thông chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhân viên QHCC làm việc trong
bộ phận QHCC của doanh nghiệp Để thành công trong mối quan hệ này, nhân viên QHCC ngoài việc cần nhận được sự hậu thuẫn từ ban lãnh đạo doanh nghiệp thì họ cần có đầy đủ những tố chất cần có cho nghề QHCC
Hai nhà nghiên cứu Broom và Dozier cho rằng: “Trước khi diễn ra bất
kỳ hoạt động giao tiếp/truyền thông nào, cả hai bên (bên phát và bên nhận) cần có điểm chung để có thể bắt đầu hiểu nhau Ít nhất, bên nhận cũng phải ý thức được rằng bên phát đang cố gắng tìm cách thu hút sự chú ý của mình” [9, tr.15] Suy rộng ra trong việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo thì các nhà báo cần biết và hiểu được mục đích của nhân viên QHCC
và sẵn sàng hợp tác để xây dựng lên một mối quan hệ tốt đẹp giữa mình và nhân viên QHCC, đây là một trong những yếu tố quyết định thành công của mối quan hệ này
Để xây dựng thành công mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC thì nhà báo cũng cần là người am hiểu về công việc của nhân viên QHCC, về những lợi ích cho cơ quan báo chí của mình và cho các doanh nghiệp khi xây dựng và duy trì được mối quan hệ tốt với doanh nghiệp thông qua nhân viên QHCC Bên cạnh đó, nhà báo cũng cần phải có thiện chí, tôn trọng nhân viên
Trang 33QHCC như những đối tác hoặc nguồn tin chuyên nghiệp của nền công nghiệp báo chí Thiện chí đó có thể là việc sẵn sàng tiếp nhận và chuyển tải trên báo chí của mình các thông điệp được các nhân viên QHCC gửi đến Thiện chí và
sự tôn trọng của nhà báo ở đây cũng đồng thời có thể là việc sẵn sàng trả lời cuộc gọi điện, email, làm việc một cách trung thực, nhanh chóng, hiệu quả, cởi mở, hoặc sẵn sàng nhận lời tham dự các hoạt động cung cấp thông tin của doanh nghiệp như: họp báo, viếng thăm vào các dịp lễ lạt, kỷ niệm, hoặc tìm hiểu hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp Như vậy, cả nhân viên QHCC và nhà báo trong hoạt động giao tiếp giữa họ, lúc này hay lúc khác đổi vai trò cho nhau như người phát hoặc người nhận thông điệp Hiệu quả truyền thông ở chỗ họ luôn lắng nghe, thấu hiểu, tôn trọng lẫn nhau với tư cách là những con người làm việc và phụng sự các giá trị của tổ chức của mình, và rộng ra là phục vụ tất cả các nhóm công chúng nói chung
Các kênh truyền thông khác nhau có thể đem đến những hình thức chuyển tải thông điệp đa dạng và những hiệu quả khác nhau đối với một nhóm công chúng cụ thể Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, sự phát triển bùng nổ của internet đã và đang có tác động lớn tới các hoạt động QHCC Hoạt động QHCC có nhiều hơn các kênh để tiếp cận với công chúng của mình, trong đó có giới báo chí Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và internet, nhân viên QHCC cũng có thêm các công cụ hỗ trợ cho việc xây dựng quan hệ với nhà báo, đó là điện thoại, e-mail, mạng xã hội, blog, chat Nhân viên QHCC nhiều con đường, phương tiện để tiếp xúc với nhà báo, đây cũng
là những phương tiện hữu hiệu giúp nhân viên QHCC duy trì và phát triển mối quan hệ bền vững với các nhà báo
Ngoài những yếu tố trên còn có những yếu tố khác của quá trình truyền thông có ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC như: “nhiễu” và “phản hồi” “Nhiễu” luôn luôn tồn tại trong quá trình truyền thông, là hiện tượng thông tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của tự nhiên và xã hội, phương tiện kỹ thuật gây ra
Trang 34những ảnh hưởng cho quá trình chuyển tải thông điệp Trên thực tế, trong việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo thì những yếu tố gây nhiễu về mặt kỹ thuật còn có các yếu tố khác như nhiễu về mặt văn hóa, giới tính, lứa tuổi, học vấn, tôn giáo Bên cạnh đó, yếu tố “phản hồi” trong chu trình truyền thông của nhà báo và nhân viên QHCC cũng luôn cần được lưu ý Phản hồi giúp cho sự giao tiếp giữa hai nhóm này được diễn ra liên tục, suôn
sẻ, và giúp hai bên ngày càng gắn bó, hiểu biết nhau hơn Những nghiên cứu của các học giả đã đề cập ở các phần trước cũng đã chỉ ra rằng phản hồi giúp cho các chu trình truyền thông được diễn ra hai chiều và cân xứng hơn, và làm tăng hiệu quả hợp tác của các mối quan hệ giữa tổ chức và các nhóm công chúng của nó hơn Việc lưu ý đến yếu tố phản hồi giúp các nhân viên QHCC giữ được vị trí trong các mối quan tâm của các nhà báo, đồng thời, giúp nhà báo có cơ sở để hiểu biết và tôn trọng nhân viên QHCC hơn
Ngoài các yếu tố chính trị, xã hội, truyền thông nêu trên, một yếu tố cũng có ảnh hưởng nhất định đến mối quan hệ giữa tổ chức và các nhóm công chúng nữa là yếu tố kinh tế Công cuộc đổi mới cùng với nền kinh tế thị trường cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp cần đến các hoạt động truyền thông và QHCC để xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nhóm công chúng của mình – điều mà trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp không tỏ ra cần thiết Công tác truyền thông được quan tâm, đầu tư hơn do sự lớn mạnh về quy mô cũng như tiềm lực kinh tế của các tổ chức, doanh nghiệp Trong mỗi doanh nghiệp, các bộ phận phục vụ công tác truyền thông được xây dựng, mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh
tế Do sự hội nhập của kinh tế, hoạt động truyền thông của tổ chức, doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, miền, quốc gia mà đã vươn
ra phạm vi toàn cầu Sự hội nhập và phát triển mạnh mẽ này của kinh tế đã khiến cho hoạt động truyền thông của các doanh nghiệp cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Doanh nghiệp đã chủ động đầu tư cho công tác truyền thông, cho các nhân viên QHCC để họ có điều kiện chú trọng xây dựng mối
Trang 35quan hệ với các nhóm công chúng khác nhau, trong đó có báo giới Có thể nói
sự phát triển của kinh tế chính là đòn bẩy cho hoạt động QHCC nói chung và việc xây dựng các mối quan hệ với giới báo chí nói riêng
1.1.3.3 Yếu tố loại hình tổ chức
Theo tác giả Đinh Thúy Hằng, công tác truyền thông của một tổ chức/doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lởn bởi loại hình truyền thông được áp dụng trong tổ chức/doanh nghiệp đó [8, tr.113] Theo lý thuyết, hệ thống tổ chức có thể được chia làm hai loại: Tổ chức mở và tổ chức đóng Hoạt động truyền thông trong mô hình tổ chức đóng được đánh giá bằng khối lượng sản phẩm truyền thông được tạo ra (output) hơn là bằng hiệu quả truyền thông (outcome) Ví dụ, các thông cáo báo chí được đánh giá dựa trên số tờ thông cáo được phát đi và số bài báo được xuất bản, chứ không phải dựa trên tính phù hợp hoặc hiệu quả của số lượng sản phẩm truyền thông được tạo ra Hoạt động truyền thông ở các hệ thống đóng thường hạn chế với những đối tượng công chúng có quan hệ rõ ràng với tổ chức, và điểm mạnh của những hoạt động này thường là tìm kiếm phương pháp để công chúng nắm được thông tin về các quyết định đã được đưa ra Việc tìm kiếm phản hồi ít được quan tâm và chỉ tập trung vào việc tìm kiếm những biện pháp kỹ thuật giúp cho họ có điều kiện tăng cường hiệu quả truyền thông Trong các hệ thống đóng, các chuyên gia truyền thông thường không thuộc về liên minh có ảnh hưởng lớn và có trách nhiệm trong việc truyền tải các quyết định Họ không đóng vai trò quyết định, thậm chí là vai trò tư vấn trong mối quan hệ với môi trường Vì thế họ có rất ít điều đề nói về điều được nói, họ thường chỉ quan tâm đến việc được nói như thế nào Hướng tiếp cận này cho rằng, mục đích của truyền thông hạn chế gây ảnh hưởng đến môi trường và sai lầm hơn, tổ chức có quyền lực thay đổi môi trường và do đó hạn chế nhu cầu thay đổi chính bản thân nó.[8,tr.115]
Ngược lại, truyền thông đón đầu thường gắn liền với cách tiếp cận hệ thống tổ chức mở, và vai trò của nó liên quan đến việc thay đổi và gây ảnh hưởng đến môi trường, từ đó làm thay đổi cả tổ chức Sự nhấn mạnh ở đây
Trang 36được đặt vào tính tương hỗ - việc truyền thông/giao tiếp với tổ chức được thể hiện dưới dạng một cuộc đối thoại thực sự và tổ chức cũng có khả năng thay đổi dưới ảnh hưởng của quá trình trao đổi thông tin
Mục đích của cách tiếp cận này là giành được sự chấp nhận và ủng hộ của tổ chức cũng như công chúng của tổ chức với những mục tiêu do tổ chức
đề ra Khi có sự khác biệt về quan điểm, người ta có thể đưa ra những thay đổi trước khi các vấn đề thực sự nảy sinh Quan điểm đón đầu này rất quan trọng với việc đưa ra quyết định của tổ chức và chính bởi lý do này mà những người làm truyền thông hoạt động theo phương thức đón đầu thường thuộc về liên minh thống trị trong tổ chức Đặc điểm của truyền thông đón đầu là sự tham gia của nhiều đối tượng công chúng trong quá trình truyền thông và cán
bộ truyền thông chính là những người tham gia vào quá trình ra quyết định – điều này trái ngược với việc chỉ tập trung vào việc tuyên truyền về kết quả của quá trình ra quyết định [8,tr.116]
Dựa vào đặc điểm loại hình của tổ chức/doanh nghiệp mà hoạt động truyền thông trong mỗi doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt Người nhân viên QHCC làm việc trong loại hình tổ chức nào sẽ có cách thức làm việc cũng như thiết lập các mối quan hệ trong công việc mang đặc trưng riêng của loại hình tổ chức đó
Mỗi tổ chức/doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau lại
có mức độ ưu tiên, đầu tư cho QHCC một cách khác nhau Thực tế hoạt động QHCC đã cho thấy, các doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng muốn bán được nhiều sản phẩm cần tạo dựng được niềm tin và sự yêu mến của khách hàng, từ đó tên của thương hiệu sản phẩm luôn nằm trong tâm trí của khách hàng và trở thành mục tiêu chọn lựa khi họ có nhu cầu tiêu dùng, mua sắm, chính vì vậy, các doanh nghiệp hàng tiêu dùng luôn có mức độ tập trung, ưu tiên lớn cho các hoạt động QHCC và đương nhiên họ cũng đầu tư hơn cho quan hệ với báo giới Từ đó, nhân viên QHCC làm việc trong các doanh nghiệp hàng tiêu dùng cũng có những chiến lược ưu
Trang 37tiên nhất định cho việc xây dựng mối quan hệ với nhà báo dưới sự đầu tư, hậu thuẫn lớn từ phía lãnh đạo phòng, ban, doanh nghiệp mình Ngược lại, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng, bất động sản thường có sự đầu tư ít hơn cho hoạt động QHCC
Trên thực tế trong hoạt động QHCC của nhiều doanh nghiệp bộ phận QHCC thường được ghép vào một bộ phận khác như Marketing hay kinh doanh, hoặc được coi là một phần công việc của một cá nhân Tầm hoạt động của nhân viên QHCC có thể bị hạn chế do đó việc xây dựng các mối quan hệ trong công việc nói chung và với báo giới nói riêng của nhân viên QHCC thường bị hạn chế Thậm chí công tác QHCC ở những tổ chức này còn có thể được giao cho một cá nhân bên ngoài hoặc bộ phận tư vấn (thuê người ngoài hoặc thuê Agency - công ty tư vấn) Ngược lại, tại một số doanh nghiệp lớn, thường có sự đầu tư chuyên nghiệp, bài bản và có những bộ phận QHCC lớn hơn Tại đây, hoạt động QHCC sẽ được chia thành các đơn vị hoặc các bộ phận chức năng, có các chuyên gia đảm nhận những vai trò chuyên biệt Nhân viên QHCC thường được giao chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng mối quan hệ với giới truyền thông không chỉ có một nhiệm vụ chuyên biệt,
mà họ còn được doanh nghiệp mình tạo điều kiện tối ưu cho việc xây dựng mối quan hệ này
1.1.3.4 Yếu tố nghề nghiệp
Trong quá trình làm việc, giữa nhà báo và nhân viên QHCC làm việc trong doanh nghiệp có những yếu tố nghề nghiệp tương đồng nhau, họ đều chịu trách nhiệm về thông tin của doanh nghiệp và tòa soạn Nếu như nhân viên QHCC là người “canh gác” cho thông tin của doanh nghiệp, làm việc
vì lợi ích của doanh nghiệp thì các nhà báo lại là người “canh gác” thông tin cho toàn xã hội, vì lợi ích chung của xã hội, chính vì vậy các nhà báo luôn cần những thông tin mới mẻ, cập nhật, chính xác, trong khi các nhân viên QHCC luôn muốn cung cấp thông tin có lợi cho doanh nghiệp Điều này làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa nhân viên QHCC và nhà báo khi
Trang 38họ cung cấp thông tin cho nhau Hơn thế nữa, một nhà báo phụ trách mảng kinh tế, thông tin doanh nghiệp của cơ quan báo chí thường theo dõi nhiều doanh nghiệp lớn cùng lúc, các doanh nghiệp này có thể là đối thủ của nhau, việc nhà báo đưa thông tin có lợi cho doanh nghiệp này lại gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp kia Chính vì vậy, những yếu tố đặc thù trong nghề nghiệp của hai nhóm đối tượng này cũng ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa họ
Bối cảnh toàn cầu hóa khiến cho các doanh nghiệp ý thức hơn tới việc xây dựng hình ảnh của mình trong con mắt khách hàng, đối tác, nhà quản lý và bộ phận QHCC nội bộ trong doanh nghiệp được hình thành để giữ vai trò, nhiệm vụ đưa hình ảnh, thông tin của doanh nghiệp ra bên ngoài Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư cho hoạt động QHCC, một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu Mỗi nhân viên QHCC trong bộ phận QHCC của doanh nghiệp đều hiểu rằng báo chí chính là cầu nối giúp đưa hình ảnh và thông tin của doanh nghiệp mình ra bên ngoài Chính vì vậy, mỗi nhân viên QHCC nói riêng, bộ phận QHCC nội bộ của doanh nghiệp nói chung đều muốn xây dựng một mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với báo giới và nhiệm vụ của các nhân viên QHCC trong doanh nghiệp là đưa ra được những phương thức xây dựng mối quan hệ với nhà báo một cách hiệu quả nhất
Mối quan hệ giữa nhân viên QHCC – nhà báo là vấn đề đã được các học giả về truyền thông trên thế giới nghiên cứu trong nhiều năm qua và vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu do những biến đổi của nó theo những xu thế mới Tại mỗi quốc gia, do đặc trưng về văn hóa, môi trường truyền thông, thể chế chính trị mà mối quan hệ này có những đặc trưng riêng biệt cần được nghiên cứu Tại Việt Nam, mối quan hệ truyền thông giữa nhân viên QHCC
và nhà báo hiện nay đã bắt đầu được các doanh nghiệp quan tâm chú trọng, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng hẳn một bộ phận phụ trách vấn đề xây dựng quan hệ với báo giới Tuy nhiên, việc xây dựng mối quan hệ này vẫn còn diễn
Trang 39ra thực trạng “mạnh ai nấy làm” bởi mối quan hệ này vẫn chưa được nghiên cứu dưới sự ứng dụng của hệ thống lý thuyết về truyền thông trên thế giới Chính vì vây, hiện trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo trong các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu Đó là việc nghiên cứu về thực trạng mối quan hệ này hiện nay đang diễn ra như thế nào, các nhân viên QHCC có những phương thức gì để xây dựng cũng như duy trì và phát triển mối quan hệ với các nhà báo hay những tác động của mối quan hệ này đến hoạt động truyền thông cũng như sự phát triển chung của doanh nghiệp Đó là những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo rất cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ Việc nghiên cứu mối quan hệ này giúp cho doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là nhân viên QHCC trong doanh nghiệp nhận diện được hiện trạng của mối quan hệ này từ đó có những chiến lược xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với nhà báo cởi mở, tin tưởng và hiệu quả hơn
1.2 Đặc điểm của mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo
Trên thế giới, mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo đã được quan tâm nghiên cứu nhiều trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước Các nhà nghiên cứu đã mổ xẻ khá nhiều phương diện khác nhau của mối quan hệ này Tựu chung lại, các kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm phổ quát nhất của mối quan hệ giữa hai nhóm này là tính phụ thuộc, hỗ trợ lẫn nhau Trong đó, nhà báo vẫn chiếm quyền kiểm soát nhiều hơn, nên mối quan hệ này còn có một thuộc tính quan trọng nữa là tính tôn ti, thứ bậc Sau đây, tác giả sẽ đi sâu phân tích kỹ hai thuộc tính cơ bản đó của mối quan hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo
1.2.1 Tính phụ thuộc lẫn nhau
Trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi ngày, các nhà báo cần có một lượng thông tin khổng lồ để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Những thông tin đó lấy từ đâu ra? Bên cạnh các nguồn tin khác nhau, một trong những nguồn cung cấp thông tin chuyên nghiệp, quan trọng nhất của
Trang 40nhà báo chính là các nhân viên QHCC Một nghiên cứu trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã chỉ ra rằng có đến hơn 70% tin tức của hãng thông tấn xã Đức phát đi là lấy từ các thông cáo báo chí do các nhân viên QHCC gửi đến, và có gần 90% các tin tức đó chỉ bị chỉnh sửa đôi chút so với bản thông cáo báo chí gửi từ doanh nghiệp [43] Như vậy, trong mối quan hệ với nhà báo, nhân viên QHCC là những nguồn tin phong phú, dồi dào, và đáng tin cậy
Ngược lại, với các nhân viên QHCC, các nhà báo là những “nhịp cầu”
để chuyển thông tin của doanh nghiệp, tổ chức họ đến với các nhóm công chúng mục tiêu khác nhau “Công chúng nhìn chúng ta như thế nào là tất cả những việc chúng ta cần phải làm Điều đó lại phụ thuộc rất nhiều vào việc báo chí nói về chúng ta như thế nào” J.M.Kaul, một nhà nghiên cứu QHCC
đã nói như vậy trong cuốn “QHCC ở Ấn Độ” [38] Do vậy, trong mọi hoàn cảnh, nhóm công chúng mục tiêu số một của các nhân viên QHCC luôn là các nhà báo Nhân viên QHCC cần sự hợp tác của nhà báo, bởi chính các nhà báo, thông qua các kênh thông tin của họ, khiến cho công chúng của doanh nghiệp, tổ chức tăng cường sự hiểu biết đúng đắn và có thái độ, hành
vi có lợi cho tổ chức
Tuy nhiên, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nói trên cũng có sự biến đổi cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Nếu trước đây, doanh nghiệp dường như chỉ có báo chí là kênh thông tin đại chúng duy nhất chuyển thông điệp của doanh nghiệp đến đại chúng, thì hiện nay, doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp tự tiếp cận các nhóm công chúng của mình thông qua các mạng xã hội, hoặc website của doanh nghiệp Các tổ chức, doanh nghiệp ngày càng có thể giao tiếp trực tiếp hơn với các công chúng của mình một cách nhanh nhất, nhiều nhất, chủ động nhất mà không còn hoàn toàn phụ thuộc vào giới nhà báo nữa Ngược lại, các nhà báo, thông qua các kênh truyền thông internet của doanh nghiệp, cũng dễ dàng nắm bắt được nhiều thông tin một cách đa chiều, phong phú, đáng tin cậy để phục vụ công việc chuyên môn của họ Vì thế, nhân viên QHCC và nhà báo ngày càng có mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng nghề nghiệp của nhau hơn