1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945

127 1,7K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 806,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và theo đó, có thể phân biệt các yếu tố này với trạng ngữ dựa vào các tiêu chí sau: - Khả năng cái biến vị trí - Ý nghĩa biểu hiện - Khả năng tham gia phân đoạn thực tại Các yếu tố liên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TIÊU THỊ THANH BÌNH

KHẢO SÁT TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ KẾT HỌC, NGHĨA HỌC, DỤNG HỌC (TRÊN CỨ LIỆU MỘT SỐ

TÁC PHẨM VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1930-1945)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Khi nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã xem xét trên rất nhiều các mặt, các khía cạnh khác nhau để thấy được mối quan hệ giữa các tín hiệu ngôn ngữ với nhau, mối quan hệ giữa tín hiệu với sự vật và mối quan hệ của tín hiệu với người dùng Hay nói cách khác, khi nghiên cứu ngôn ngữ, người ta thường nghiên cứu trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học "Ngữ dụng học được hiểu là dụng học vận dụng vào ngôn ngữ học"

Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp Câu đơn được hiểu

là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề, câu ghép thì được làm thành từ hơn một mệnh đề Và trong ngôn ngữ học, thuật ngữ “câu” vẫn được dùng với cơ sở vẫn là mệnh đề

Xưa nay, khi quan tâm tới cấu trúc câu và thành phần câu, các tác giả đều có để ý đến cái thành tố cú pháp đứng đầu câu hay là đứng trước nòng cốt câu Tuy nhiên, xét cho kĩ không phải cứ đứng đầu câu thì mọi ngữ đoạn đều giống nhau về “nghĩa” và “pháp” Do những dụng ý khác nhau nên giả thuyết về chúng cũng khác nhau [Đinh Văn Đức – Lê Xuân Thọ, Tạp chí ngôn ngữ học số 8/2005, tr 13]

Câu bao gồm các rất nhiều thành phần và việc phân tách câu không hẳn là đơn giản Câu gồm nòng cốt câu và các thành phần phụ.Trạng ngữ cũng là một thành phần phụ cần được bàn nhiều trong câu

Trang 4

Thuật ngữ “trạng ngữ” rất quen thuộc trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên, vạch rõ phạm vi của trạng ngữ cũng như nêu được những tiêu chí hình thức thể hiện nó không phải là việc dễ làm Trên thực tế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trạng ngữ, vị trí của trạng ngữ trong câu và các nghĩa biểu hiện của chúng

Vấn đề của trạng ngữ được các tác giả Việt ngữ học nghiên cứu ở các mặt sau:

- Vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu

- Các phạm vi ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị

- Ví trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức câu

- Cấu tạo hình thức của trạng ngữ

Các tác giả chỉ tạm thống nhất ý kiến với nhau ở mặt thứ 4, khi cho rằng bất kì ngữ đoạn nào, có giới từ hay không có giới từ đi kèm đều có khả năng đóng vai trò của trạng ngữ trong câu [Nguyễn Văn Hiệp - Nguyễn Minh Thuyết, 2004]

Về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu, đa số các tác giả đều cho rằng, trạng ngữ là một thành phần phụ của câu [Hoàng Tuệ - Lê Cận – Cù Đình Tú, 1962; Diệp Quang Ban, 1985, Nguyễn Kim Thản, 1964…]

Theo tác giả Cao Xuân Hạo, tổ chức cú pháp hình thức của tiếng Việt chỉ có một mô hình duy nhất là Đề - Thuyết với các biến thể của nó Đề lại gồm hai loại là: chủ đề và khung đề Theo đó, xét về hình thức, khung đề có thể một chu ngữ hay giới ngữ, tức là một ngữ đoạn có một giới từ làm trung

tâm kèm theo một danh ngữ hay một động ngữ làm bổ ngữ cho nó, không khác gì trạng ngữ

Ví dụ:

- Mai tôi đi chơi

Trang 5

- Dạonàytrời tối

Tác giả Trần Ngọc Thêm lại quan niệm, trạng ngữ có vai trò làm nòng

cốt trong kiểu câu có nòng cốt tồn tại: TR =>Vt – B

Các tác giả của Giáo trình về Việt ngữ chỉ xếp vào trạng ngữ những ngữ đoạn biểu thị ý nghĩa thời gian, không gian và cách thức kiểu như:

Ví dụ:

Hiện giờ, chị em đang rất lo lắng

Các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam dùng tên gọi “thành phần tình huống” thay cho “trạng ngữ” và quan niệm: “Thành phần tình huống có thể bổ sung ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, hay về phương tiện, mục đích, hay về cách thức, trạng thái, … nói chung là

nghĩa tình huống” [Ngữ pháp tiếng Việt, 1983]

Tác giả Diệp Quang Ban lại dùng thuật ngữ “bổ ngữ của câu” thay cho tên gọi trạng ngữ

Từ những dẫn chứng trên, ta thấy bức tranh về trạng ngữ hết sức đa dạng, thiếu nhất quán.Và vấn đề gây tranh cãi là nhận thức trạng ngữ dựa vào tiêu chí nào và phân biệt chúng ra sao với các thành phần còn lại trong câu

Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945), để làm rõ các tiêu chí nhận thức

trạng ngữ và phân biệt trạng ngữ thế nào với các thành phần còn lại trong câu Đề tài dựa theo quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết, khảo sát trạng ngữ trên các cứ liệu văn học đã chọn và phân loại chúng theo tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa

Trang 6

Khi bàn về vấn đề trạng ngữ, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, có quá nhiều quan điểm, ý kiến về trạng ngữ, vai trò và phạm vi của nó Tuy nhiên, điều đó càng cho thấy sự thiếu nhất quán trong

việc đưa ra một cái nhìn chung nhất về khái niệm này

Tuy có khá nhiều quan niệm khác nhau, song hầu hết các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc phân loại trạng ngữ, vị trí của trạng ngữ mà chưa đưa ra được tiêu chí hình thức nào cho việc nhận diện và phân biệt nó

với các thành phần còn lại của câu

Vì thế, mục đích của luận văn là đi sâu phân tích và làm rõ những đặc điểm hình thức để nhận diện và phân biệt trạng ngữ với các thành phần còn lại trong câu với tư cách là thành phần phụ của câu thông qua việc khảo sát các kiểu loại trạng ngữ trong tiếng Việt trên cứ liệu các tác phẩm văn học đã lựa chọn của đề tài Cũng từ những khảo sát đó để thấy được các kiểu loại trạng ngữ đa dạng trong tiếng Việt và phân loại chúng một cách chính xác

triệt để

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là những câu có trạng ngữ Tuy nhiên, về các câu có trạng ngữ rất phong phú và đa dạng, được sử dụng hầu hết và chiếm đại đa số trong các câu của văn bản, vì thế, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, nghiên cứu những trường hợp tiêu biểu, phổ biến, rõ nét nhất về các kiểu loại trạng ngữ khác nhau

Chúng tôi chủ trương nghiên cứu trạng ngữ trên một vài tác phẩm văn học từ thời kỳ 1930-1945 của một số tác giả: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng

học

Trang 7

Mục đích là tìm ra các kiểu loại trạng ngữ được sử dụng phổ biến nhất, chiếm đa số trong các tác phẩm văn học này và từ đó thấy được những dụng

ý nghệ thuật từ các tác phẩm ấy, ứng dụng vào việc sử dụng trong ngôn ngữ

hàng ngày

4 Phương pháp nghiên cứu

Với mong muốn có được những kết quả khả quan nhất về trạng ngữ, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả: các tư liệu thu thập được từ nhiều nguồn được thống kê đầy đủ trong phụ lục, bảng biểu và phân loại theo tiêu chí đã chọn của luận văn

Phương pháp phân tích dựa vào ngữ cảnh: tìm hiểu vị trí của các kiểu câu trong ngữ cảnh khác nhau để thấy được sự xuất hiện đa dạng của chúng

Phương pháp phân tích ngữ nghĩa để thấy được những đặc trưng ngữ nghĩa của trạng ngữ khi xuất hiện trong câu

Trong toàn bộ hoạt động khảo sát nghiên cứu, chúng tôi sử dụng thủ pháp tư duy khoa học diễn dịch, kết hợp với quy nạp để có thể rút ra nhận xét, kết luận trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát tư liệu mà chúng tôi có được từ những tác phẩm văn học của các tác giả có uy tín kể trên

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội

dung của luận văn gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày những vấn đề có

liên quan để làm cơ sở cho các phân tích trong những chương tiếp theo Trong chương này, vấn đề quan trọng là định nghĩa trạng ngữ với tư cách là

Trang 8

nhìn nhận khác nhau, cần làm rõ.Qua đó đưa ra các tiêu chí phân biệt trạng

ngữ với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn trong câu

Chương 2: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học

Chương này nội dung chính là nghiên cứu cấu tạo của trạng ngữ và vị trí của

nó khi xuất hiện trong mô hình cấu trúc câu

Chương 3: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ nghĩa học

Nội dung của chương này là thu thập và tìm hiểu ý nghĩa của trạng ngữ và

phân loại chúng vào theo các tiêu chí về nghĩa học

Chương 4: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ dụng học

Chương này khảo sát trạng ngữ trên bình diện dụng học, tức là sự tác động của trạng ngữ đối với việc bổ sung ý nghĩa cho câu trong giao tiếp, liên kết văn bản và hiệu quả giao tiếp

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Vấn đề trạng ngữ trong câu tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm chung

Thuật ngữ “trạng ngữ” dù quen thuộc nhưng cũng là khái niệm gây nhiều tranh cãi, đặc biệt ở các tiêu chí hình thức nhận diện trạng ngữ, cũng

như việc phân biệt nó với các thành phần khác của câu

Dù có quá nhiều công trình nghiên cứu về trạng ngữ, và cũng có không

ít các tiêu chí xác định trạng ngữ trong câu, tuy nhiên, vẫn có những trường hợp không biết nên xếp vào kiểu loại nào là hợp lý, và điều đó lại dựa vào

những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu Việt ngữ

Việc nhận diện trạng ngữ trong câu hẳn không phải là vấn đề đơn giản

Vì thế, cần xem xét trạng ngữ trên những bình diện, khía cạnh khác nhau với

tư cách là một thành phần của câu.Chính sự khảo sát trạng ngữ trên 3 bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học là một cách để giúp chúng ta có thể có cái

nhìn xác thực hơn về vấn đề còn nan giải này

Trạng ngữ là thành phần phụ trong câu, biểu thị ý nghĩa tình huống: thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, v.v Trong câu

Ngày mai tôi đi, thì “ngày mai” là trạng ngữ [Từ điển tiếng Việt, nxb Đà

Nẵng, 1313]

Trạng ngữ còn được gọi là thành phần tình huống.Dù tên gọi có khác nhau và có cả những khác biệt nào đó trong quan niệm, nhưng thành phần tình huống bao giờ cũng được quan tâm thích đáng trong các hệ thống phân tích cú pháp.Đối với ngữ pháp truyền thống, thành phần tình huống tiêu biểu

Trang 10

huống là các chu tố Đối với ngữ pháp vai và quy chiếu, thành phần tình huống là các thành tố có tính ngoại vi có quan hệ với cả nòng cốt câu Đối với ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, trong cấu trúc nghĩa biểu

hiện, các thành phần tình huống gọi chung là chu cảnh…

Về cương vị trong tổ chức cú pháp, các thành phần tình huống là thành

tố phụ, tuy nhiên trong giao tiếp hiện thực, chúng có thể mang gánh nặng thông tin hay là tiêu điểm thông báo của câu Các thành phần tình huống thường biểu thị các thông tin về thời gian, địa điểm, cách thức, nguyên nhân, mục đích v.v của sự tình được nói đến trong câu [Cú pháp tiếng Việt -

Nguyễn Văn Hiệp, 2009, 189]

Cũng theo Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn

“Thành phần câu tiếng Việt”, 2004, trạng ngữ là thành phần phụ của câu, có khả năng tham gia các cải biến vị trí: đứng trước, đứng sau nòng cốt hoặc đứng chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Trạng ngữ bổ sung ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện… cho sự tình được biểu đạt trong câu

1.1.2 Những quan điểm khác biệt của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về

trạng ngữ

Trạng ngữ là một khái niệm phức tạp lại xuất hiện thường xuyên trong câu, nên các nhà Việt ngữ học cũng rất chú trọng việc phân tích, nghiên cứu các tiêu chí nhận diện.Và trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều quan điểm

và ý kiến khác nhau, chưa nhất quán

Vấn đề của trạng ngữ được các tác giả Việt ngữ học nghiên cứu ở các

mặt sau:

- Vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu

- Các phạm vi ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị

Trang 11

- Ví trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức câu

- Cấu tạo hình thức của trạng ngữ

Các tác giả chỉ tạm thống nhất ý kiến với nhau ở mặt thứ 4, khi cho rằng bất kì ngữ đoạn nào, có giới từ hay không có giới từ đi kèm đều có khả năng đóng vai trò của trạng ngữ trong câu [Nguyễn Văn Hiệp - Nguyễn Minh Thuyết, 2004]

- Về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu

Đa số các tác giả cho rằng, trạng ngữ có thể chiếm 3 vị trí khác nhau trong mô hình cấu trúc câu: đứng đầu, đứng cuối hoặc đứng giữa câu

Theo Hoàng Tuệ, trạng ngữ có thể đứng ở cả 3 vị trí nhưng cần phải thống kê đầy đủ để xem vị trí nào chiếm ưu thế Hoàng Trọng Phiến lại quan niệm, trạng ngữ cũng có thể đứng ở cả 3 vị trí nhưng chiếm đa số vẫn là vị trí đầu câu.[Hoàng Trọng Phiến 1980, 156]

Nhưng theo tác giả Nguyễn Kim Thản, hai vị trí thường thấy của trạng ngữ là đầu và cuối câu Tác giả cho rằng, vị trí ở giữa câu của trạng ngữ chỉ thảng hoặc mới xuất hiện và đó là lối cấu tạo câu đã Âu hóa.[Nguyễn Kim Thản 1981, 182]

Theo Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt”, 2004, trạng ngữ là thành phần phụ của câu, có khả năng tham gia các cải biến vị trí: đứng trước, đứng sau nòng cốt hoặc đứng chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Trạng ngữ bổ sung ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện… cho sự tình được biểu đạt trong câu

Xét ví dụ sau:

Ðã nhiều lần Từ muốn ẵm con đi (Đời Thừa, Nam Cao,

maxreading.com)

Trang 12

Trạng ngữ “Ðã nhiều lần” này có thể đứng ở cả 3 vị trí: đầu câu, cuối

câu và xen vào nòng cốt câu Ta có thể cải biến như sau:

Từ đã nhiều lần muốn ẵm con đi

Từ muốn ẵm con đi đã nhiềulần

Tương tự có thể xét ví dụ:

Đám cưới có đi qua đây hôm nọ (Từ ngày mẹ chết, Nam Cao,

maxreading.com)

Trong ví dụ trên trạng ngữ “hôm nọ” đứng ở cuối câu nhưng hoàn toàn

có thể cải biến, để chúng lên đầu câu hoặc xen vào giữa nòng cốt câu

Chẳng hạn:

Hôm nọ, đám cưới có đi qua đây

Đám cưới hôm nọ có đi qua đây

Từ ví dụ này ta có thể thấy rằng, trạng ngữ có thể đứng ở cả 3 vị trí và trong trường hợp này, nếu xét về loại nghĩa biểu hiện hay nghĩa miêu tả, nghĩa của câu không hề thay đổi Tuy nhiên việc nhận diện trạng ngữ không phải là vấn đề dễ và có một vài trường hợp rất khó để nhận ra, dễ nhầm lẫn trạng ngữ với các thành phần khác của câu

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát trạngngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học(trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945), để làm rõ các tiêu chí nhận biết

trạng ngữ và phân biệt trạng ngữ thế nào với các thành phần còn lại trong câu trên cả tiêu chí hình thức và ý nghĩa

Trang 13

1.2 Phân biệt trạng ngữ với một số thành tố khác dễ nhầm lẫn trong

câu

Lâu nay, việc nhận diện một số thành phần câu trong tiếng Việt, nhất là thành phần trạng ngữ với người sử dụngcòn có nhiều vướng mắc Không ít trường hợp, người ta băn khoăn không biết xếp chúng vào thành phần gì Trạng ngữ hay vế của câu ghép tỉnh lược? Trạng ngữ hay vị ngữ phụ? Trạng ngữ hay bổ ngữ, định ngữ? Trạng ngữ hay vị ngữ chỉ quan hệ? Trạng ngữ hay quan hệ từ, hay các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản Do đó, việc đưa ra các tiêu chí phân biệt trạng ngữ với các thành phần đó trong câu là điều hết sức cần thiết

1.2.1 Phân biệt trạng ngữ với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu

Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân biệt trạng ngữ với

các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu

Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt”, 2004 Và theo đó, có thể phân biệt các yếu tố này với trạng ngữ dựa vào các tiêu chí sau:

- Khả năng cái biến vị trí

- Ý nghĩa biểu hiện

- Khả năng tham gia phân đoạn thực tại

Các yếu tố liên kết bậc trên câu cũng có thể có khả năng cái biến vị trí, tuy nhiên chúng chỉ có thể đứng đầu hoặc đứng sau chủ ngữ, không thể đứng sau nòng cốt như chủ ngữ được.[Nguyễn Văn Hiệp – Nguyễn Minh Thuyết,

2004, tr 348]

Trang 14

- Về khả năng cải biến vị trí và ý nghĩa biểu hiện của trạng ngữ:

Như đã đề cập ở trên, trạng ngữ có khả năng đứng ở cả ba vị trí: đầu câu, cuối câu và xen vào giữa nòng cốt câu Cũng nhờ tiêu chí này mà người

ta có thể nhận diện được đâu là trạng ngữ, và phân biệt chúng với các thành phần khác trong câu

Các trạng ngữ trong các ví dụ trên đều có khả năng cải biến vị trí, tức

là ngoài vị trí đầu câu, chúng có thể xuất hiện ở giữa câu hoặc xen vào nòng cốt câu

Chẳng hạn ta có thể cải biến vị trí của trạng ngữ trong ví dụ: Từ

nãy,Pha trống ngực đập thình thình (Bước đường cùng, NCH, 10) như sau:

Pha, từ nãy, trống ngực đập thình thình

Pha trống ngực đập thình thình từ nãy

Tương tự với hai ví dụ còn lại cũng có thể cải biến vị trí của trạng ngữ

mà không hề thay đổi nội dung ý nghĩa của câu

Hồi bu mới chết, thằng Đật khóc suốt ngày

 Thằng Đật hồi bu mới chết khóc suốt ngày

 Thằng Đật khóc suốt ngày hồi bu mới chết

Trang 15

Hay: Mỗi khi trời mưa rét Ninh lại nhớ đến bu (Từ ngày mẹ chết,

Nam Cao, maxreading.com)

 Ninh lại nhớ đến bu mỗi khi trời mưa rét

 Ninh mỗi khi trời mưa rét lại nhớ đến bu

Qua phân tích những ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy vị trí linh hoạt của trạng ngữ trong câu cũng như khả năng cải biến của chúng mà không hề làm thay đổi ý nghĩa, nội dung truyền đạt trong câu Chúng bổ sung thông tin về mặt thời gian cho toàn bộ câu, để người đọc hiểu được sự việc xảy ra khi nào , trong khoảng thời gian nào, bao lâu

- Về khả năng cải biến vị trí và ý nghĩa biểu hiện của các yếu tố liên

kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu:

Trang 16

 Phathế là phải viết nhà, viết ruộng cho ông ấy

 * Pha phải viết nhà, viết ruộng cho ông ấythế là

Về ý nghĩa biểu hiện, “thế là” biểu hiện mối quan hệ nối tiếp về thời gian, sự việc sau nối tiếp sự việc trước đó.Khôi phục câu này trong văn cảnh

để thấy rõ

 Ông Nghị đến đòi lợ, Pha ra vái chào Thế là,Pha phải viết nhà,

viết ruộng cho ông ấy

Hay xét ví dụ tiếp theo: Cho nên, vợ Pha có dám nói gì đâu (Bước

đường cùng, NCH, 156)

 Vợ Phacho nên có dám nói gì đâu

 * Vợ Pha có dám nói gì đâu cho nên

Về ý nghĩa biểu hiện, “cho nên” biểu hiện quan hệ nhân quả, câu sau là kết quả của sự việc xảy ra trước đó.Vì có sự việc đó nên dẫn tới kết quả là

“vợ Pha có dám nói gì đâu”

Tương tự ví dụ còn lại: Thế mà nó lại lần sang nhà bác Vụ (Từ ngày

mẹ chết, Nam Cao, maxreading.com) cũng biểu hiện mối quan hệ ấy (quan

Trang 17

 Lại còn cái ông Đật nữa, đã bảo ở nhà Nó thế màlại lẩn sang nhà

bác Vụ

Rõ ràng là các yếu tố liên kết văn bản thuộc cấu trúc bậc trên câu không thể đảo vị trí xuống cuối câu được Và so sánh với trạng ngữ ở phái trên, chúng tôi nhận thấy, trạng ngữ có thể cải biến theo những vị trí linh hoạt, ở đầu câu, cuối nòng cốt hoặc ở giữa chủ ngữ và vị ngữ Còn các yếu tố liên kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu, không thể đứng sau nòng cốt câu như trạng ngữ

Về mặt ngữ nghĩa, như đã nói, trạng ngữ bổ sung cho câu những thông tin về tình huống (thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, cách thức, mục đích, phương tiện…), trong khi đó các yếu tố liên kết văn bản chỉ biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ lôgic – ngữ nghĩa) giữa câu chứa nó với các câu

khác trong văn bản, chẳng hạn, chúng biểu thị quan hệ về thời gian (rồi, và, thế rồi…), quan hệ nhân quả (vậy, vậy thì, vậy nên…), quan hệ tương đồng (hơn nữa, ngoài ra, vả lại…), quan hệ tương phản (nhưng, song, tuy nhiên, có điều…) v.v [Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, 2009, tr 211]

1.2.1.2 Khả năng phân đoạn thực tại

Vì những lý do ngữ nghĩa trên mà trạng ngữ có thể tham gia vào cấu trúc phân đoạn thực tại, còn các yếu tố liên kết văn bản thuộc cấu trúc bậc trên câu chỉ có thể có tác dụng đánh dấu câu có thông báo “gộp” hoặc đánh dấu cho phần báo [Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt 2009, tr 211]

Ví dụ về trạng ngữ:

Bên trong, vợ anh nghiến răng, vừa thở hổn hển vừa kêu ngắc từng

tiếng (Bước Đường Cùng, NCH, 10)

Trang 18

Trạng ngữ “bên trong” trong ví dụ trên tham gia vào cấu trúc phân đoạn thực tại, đứng ở vị trí đầu câu và bổ sung thông tin về không gian, nơi

chốn cho toàn bộ câu trên

Xét các ví dụ về yếu tố liên kết văn bản thuộc cấu trúc bậc trên câu:

Thành thửPha còn có hăm tám đồng (Bước đường cùng, NCH, 154) Trái lại, ông ta còn xử tàn nhẫn với chúng ta, chỉ rình dịp để cướp

ruộng của chúng ta (Bước đường cùng, NCH, 275)

Những từ bôi đậm, in nghiêng trên là các yếu tố liên kết thuộc cấu trúc bậc trên câu và có tác dụng liên kết câu sau với các câu trước đó của văn bản,

có tác dụng đánh dấu câu có thông báo “gộp”

Ta có thể khôi phục văn cảnh của hai ví dụ này để thấy rõ được câu sau

có liên hệ với câu trước một cách rất rõ ràng

Thành thửPha còn có hăm tám đồng (Bước đường cùng, NCH, 154)

 Nợ ba mươi đồng, lý trưởng lấy hai đồng tiền áp triện, thành thử

Pha còn có hăm tám đồng

Hoặc: Trái lại, ông ta còn xử tàn nhẫn với chúng ta, chỉ rình dịp để

cướp ruộng của chúng ta (Bước đường cùng, NCH, 275)

 Vậy chính chúng ta là người có công nhất làm cho ông ấy giàu mà

ông ấy đền cho ta cái gì? Chẳng đền gì cả Trái lại, ông ta còn xử

tàn nhẫn với chúng ta, chỉ rình dịp để cướp ruộng của chúng ta

Dĩ nhiên, trong nhiều trường hợp, trạng ngữ cũng có thể đảm nhiệm chức năng liên kết văn bản nhờ vào những đặc điểm nào đó trong nội dung ngữ nghĩa mà chúng biểu thị [Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, 2009]

Trang 19

1.2.2 Phân biệt trạng ngữ với các thành tố chỉ phụ thuộc vào một từ (thành tố của cấu trúc bậc dưới câu)

Cũng có nhiều ý kiến trái chiều về việc phân biệt trạng ngữ với các thành tố phụ của các tổ động từ, tính từ làm vị ngữ trong câu (nhiều tác giả gọi tên các thành tố này là trạng tố, bổ tố…) Tác giả Nguyễn Văn Hiệp gọi thành tố của cấu trúc bậc dưới câu này là bổ tố, và cũng theotác giả, trong cuốn “Cú pháp tiếng Việt”, 2009, tác giả cho rằng, cần đưa ra tiêu chí chính xác để phân định rạch ròi các thành phần này và giúp nhận diện trạng ngữ

một cách dễ dàng Tác giả dựa trên hai tiêu chí:

- Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu

- Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành

tố còn lại trong câu

Xét ví dụ này để thấy được tiêu chí phân biệt trên:

Lan học ngoại ngữ để đi du học

Lan học ngoại ngữ không nghỉ

- Xét về quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu:

Ta có thể chen vàomột thành phần có quan hệ đẳng lập để so sánh, chẳng

hạn từ ví dụ trên: Lan học ngoại ngữ để đi du học, ta xen vào thành phần

đồng vị như sau:

(1): Lan học ngoại ngữ vì muốn nâng cao trình độ và để đi du học

(1‟): Lan học ngoại ngữ để đi du học và vì muốn nâng cao trình độ

(2): *Lan học ngoại ngữ vì muốn nâng cao trình độ và không nghỉ

(2‟): *Lan học ngoại ngữ không nghỉ và vì muốn nâng cao trình độ

Theo phân tích trên ta nhận thấy, trạng ngữ có quan hệ phụ thuộc vào nòng cốt câu, nên khi xen vào thành phần đồng vị, ý nghĩa của câu không

Trang 20

câu, khi xen vào thành phần đồng vị, ý nghĩa thay đổi, thậm chí phần thêm

vào không liên quan về mặt lôgic

- Xét về khả năng cải biến vị trí trong câu:

+ Đối với trạng ngữ:

Xét ví dụ:

Lan học ngoại ngữ để đi du học

Ta có thể cải biến vị trí ở trạng ngữ “để đi du học” như sau:

Lan, để đi du học, học ngoại ngữ

Để đi du học, Lan học ngoại ngữ

Rõ ràng dù cải biến vị trí lên đầu và ở giữa nòng cốt câu, ý nghĩa của câu vẫn không hề thay đổi

+ Đối với các thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của các từ tổ vị từ làm vị ngữ:

Xét ví dụ:

Lan học ngoại ngữ không nghỉ

* Không nghỉ, Lan học ngoại ngữ

* Lan không nghỉ học ngoại ngữ

Ở ví dụ đầu tiên, khi chưa cải biến cụm “không nghỉ”, thì câu mang ý nghĩa biểu hiện sự chăm chỉ cần cù, chịu khó học ngoại ngữ của chủ thể Lan Nhưng trong các ví dụ tiếp theo, khi cụm “không nghỉ” được cải biến lên vị trí đầu và giữa, câu đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp Và cụm “không nghỉ” này cũng không còn mang nét nghĩa ban đầu nữa Điều đó cho thấy, trạng ngữ có khả năng cải biến vị trí trong câu, có thể xuất hiện ở cả

ba vị trí: đầu câu, cuối câu và giữa nòng cốt câu Còn các thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của các từ tổ vị từ làm vị ngữ không có khả năng cải biến này vì sẽ làm ý nghĩa của câu và tổ hợp từ, cụm từ thay đổi hoàn toàn

Trang 21

1.2.3 Phân biệt trạng ngữ với chủ ngữ

Vấn đề xác định chủ ngữ và trạng ngữ cũng gây tranh cãi trong các nhà Việt ngữ học.Trước đây, một số nhà Hán ngữ học lấy vị trí đứng đầu câu làm tiêu chí nhận diện chủ ngữ.Nhưng điều này hoàn toàn không xác thực khi áp dụng vào tiếng Việt.Bởi trạng ngữ cũng thường xuyên xuất hiện ở đầu câu.Và vì thế, việc phân biệt trạng ngữ và chủ ngữ còn nhiều ý kiến trái chiều

Với những tổ hợp từ đứng đầu câu, có khi về nội dung ý nghĩa lại giống với trạng ngữ nhưng về hình thức lại không có giới từ đứng trước, khó được coi là trạng ngữ.Cũng có trường hợp ngược lại, về hình thức có yếu tố

để đánh dấu trạng ngữ nhưng nội dung lại không thể hiện đó là trạng ngữ mà lại xác định đó là chủ ngữ của câu

Ví dụ kiểu câu: “Trên đồn im như tờ” Về hình thức, nếu dựa theo tiêu

chí có giới từ và danh từ/cụm danh từ thì nhiều người sẽ cho đây là trạng ngữ Nhưng trên thực tế không phải vậy, vì có nhiều quan điểm cho ràng,

“trên đồn” chính là chủ ngữ

Vì thế, theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, 2009, có hai

kiểu câu cần giải quyết khi phân biệt trạng ngữ và chủ ngữ là kiểu câu: “Trên đồn im như tờ”, “Các nhà đã đóng cửa”… và kiểu câu tồn tại: “Trên bàn có

Trang 22

Trên đồn im như tờ

 * Im như tờ

Hay: Ở nhà vẫn tốt

 * Vẫn tốt

 làm mất đi hoàn toàn ý nghĩa của câu

Ta có thể đặt ra những câu hỏi cho phần bị tỉnh lược như: Ở đâu im như tờ?/ Cái gì im như tờ? Hay:Cái gì vẫn tốt/ Ai vẫn tốt?

Rõ ràng là không thể trả lời cho các câu hỏi trên nếu phần đầu bị tỉnh lược đi Do đó, khi tỉnh lược thành phần đứng ở đầu câu “trên đồn” và “ở nhà”, người nghe không hiểu câu mang ý nghĩa gì, ám chỉ điều gì hay muốn

đề cập tới vấn đề gì nếu như không đặt chúng trong một văn cảnh cụ thể Điều này chứng tỏ rằng, các phần bị tỉnh lược đi chính là chủ ngữ, đóng vai trò chính trong nòng cốt câu và không thể bị tỉnh lược

và nôi dung của câu hoàn toàn không thay đổi

- Về khả năng cải biến vị trí trong câu:

Trang 23

+ Đối với trạng ngữ:

Xét tiếp các ví dụ ở trên:

Trên đồn, hoa ban nở trắng

 Hoa ban trên đồn nở trắng

 Hoa ban nở trắng trên đồn

Về hình thức, chúng ta có thể thấy rõ ràng “trên đồn” bao gồm giới từ

“trên” và danh từ “đồn” Ngoài ra, cụm từ này có thể cải biến vị trí một cách linh hoạt trong câu, có thể đứng đầu, đứng cuối hoặc xen vào giữa nòng cốt câu như đã phân tích.Ngoài các tiêu chí về hình thức như có các giới từ cộng với danh từ/cụm danh từ tạo thành trạng ngữ, chúng còn có khả năng cải biến

vị trí trong câu và bổ sung thêm thông tin về không gian, nơi chốn cho sự tình được diễn đạt trong câu.Vì vậy, đây chính là trạng ngữ của câu

1.2.3.2 Đối với kiểu câu tồn tại

Đối với kiểu câu tồn tại, việc xác định cương vị của ngữ đoạn chỉ địa điểm của câu là vấn đề gây tranh cãi.Theo nhiều nhà nghiên cứu, vị từ trong khuôn hình câu tồn tại chỉ có thể là:

+ Các từ có ý nghĩa tồn tại: có, còn, hết, là…, các từ chỉ lượng như: nhiều, ít, đông, đầy…

+ Các từ tượng hình hay tượng thanh có nghĩa tồn tại như: lấp lánh, chồm hỗm, lù lù, rì rào…

+ Một số vị từ chỉ hành động vốn có tính chất ngoại động “thỏa mãn

được cái điều kiện sau đây:

(1) Những động từ này phải là những động từ chứa sẵn mối liên hệ với tham biến không gian trong nội dung ý nghĩa của mình

Trang 24

(2) Những động từ này phải là những động từ lưu kết quả, vì đó là cơ

sở cần thiết để tạo ra ý nghĩa về một trạng thái tĩnh tại” [Diệp

Quang Ban, 1980, 163]

Ví dụ về các câu tồn tại:

Trong túi có tiền

Trên bàn có hoa

Ở túi áo có chiếc kẹp đắt tiền

Ý nghĩa chung của câu tồn tại là ở một không gian nào đó tồn tại (hoặc không tồn tại) các đối tượng của một lớp nào đó Theo khuôn hình của câu tồn tại, có 3 thành phần cơ bản

+ Một thành phần chỉ rõ khu vực của sự tồn tại (trong không gian, có thể mở rộng ra trong thời gian nếu đối tượng là sự kiện)

+ Một thành phần chỉ cách thức tồn tại của sự vật (hay sự kiện)

+ Một thành phần chỉ rõ đối tượng tồn tại trong khu vực này

Thành phần chỉ rõ khu vực của sự tồn tại thường được xem là trạng ngữ.[Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu tiếng Việt,

có tính chất chuyên dùng cho kiểu câu tồn tại Trong lúc đó, phần phụ trạng ngữ không phải là một bộ phận thiết yếu đến như vậy: nói chung, câu vẫn có thể đứng vững được khi không có nó.” [Diệp Quang Ban, 1980, tr.144]

Trang 25

Trần Ngọc Thêm thì lại cho rằng, trạng ngữ là “thành phần nòng cốt riêng” trong kiểu câu có nòng cốt tồn tại (Tr – Vt – B) và thể hiện phần Đề [Trần Ngọc Thêm, 1985, tr.60]

Từ những quan điểm trên, ta thấy rằng, có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề xác định tính cần thiết của thành tố chỉ vị trí trong câu được gọi là “câu tồn tại” này hết sức phức tạp, cần có sự phân tích cụ thể với từng trường hợp để nhận diện chúng là trạng ngữ hay chủ ngữ Tùy vào từng trường hợp mà thành phần này được xem là trạng ngữ hay là chủ ngữ của câu

1.2.4 Phân biệt trạng ngữ với một vế của câu có nòng cốt ghép

- Đối với một vế của câu có nòng cốt ghép

Cũng có một vài quan điểm khác nhau về vấn đề này Trong phần này,

có thể phân tích ví dụ:

Đến trụ sở thì một cán bộ ra tiếp

Tới cổng phủ, các quần áo ướt vừa khô [Diệp Quang Ban, 1987]

Theo quan điểm của Diệp Quang Ban, đây chính là trạng ngữ, mà tác giả gọi là bổ ngữ tình huống – sự kiện

Nhưng theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, 2009, đây thực chất là một câu ghép có một vế bị tỉnh lược, không thể xem chúng là trạng ngữ được bởi nguyên do:

- Không thể cải biến vị trí

- Biểu thị những hành động, trạng thái, đặc điểm… có chủ thể khác với

chủ thể của vế câu còn lại Mà chủ thể bị tỉnh lược có thể khôi phục dựa vào văn cảnh

Trang 26

Xét hai ví dụ trên ta thấy rằng, thành phần đứng đầu câu, in nghiêng, bôi đậm không thể là trạng ngữ của câu

+ Thứ nhất, chúngta không thể cải biến các câu trên đây thành:

- * Một cán bộ ra tiếp, đến trụ sở

- * Một cán bộ, đến trụ sở, ra tiếp

- * Các quần áo ướt vừa khô, tới cổng phủ

- * Các quần áo ướt, tới cổng phủ, vừa khô

+ Thứ hai, chúng biểu thị những hành động, trạng thái, đặc điểm… có chủ thể khác với chủ thể của câu còn lại, chỉ là một chủ thể đã bị tỉnh lược đi Và căn cứ vào văn cảnh, ta hoàn toàn có thể phục hồi được chủ thể đã tỉnh lược

+ Về quan hệ ngữ nghĩa: hai vế của câu trên có quan hệ bộ phận –

chỉnh thể: chân – chị Vị ngữ của chủ thể “chị” và toàn bộ kết cấu C –V của

vế bộ phận có quan hệ hành động – trạng thái, tư thế - cách thức Tức là, chị trở về với tư thế “chân nọ đá chân kia”

+ Về khả năng cả biến vị trí: Trong ví dụ trên, ta có thể cải biến cụm

“chân nọ đã chân kia” vào hai vị trí còn lại là ở cuối câu và xen vào giữa nòng cốt câu mà ý nghĩa của câu vẫn không hề thay đổi

Chẳng hạn:

Chân nọ đá chân kia, chị lại trở về ngồi ở đầu phản

Trang 27

 Chịchân nọ đá chân kialại trở về ngồi ở đầu phản

 Chị lại trở về ngồi ở đầu phản, chân nọ đá chân kia

Cụm “chân nọ đã chân kia”có thể linh hoạt đứng ở cả ba vị trí trong câu, chỉ mối quan hệ hành động – tư thế, cách thứ với chủ thể chính là “chị”

Vì thế đây chính là trạng ngữ chỉ cách thức của câu

Nhận xét: Như vậy chúng tôi thấy rằng, việc phân biệt một vế của câu

có nòng cốt ghép với trạng ngữ không phải là vấn đề đơn giản Tuy nhiên, cần giữa vào các tiêu chí để nhận diện chúng Trong các ví dụ trên, chúng tôi

đã dựa vào tiêu chí: khả năng cải biến vị trí và việc khôi phục lại thành phần của câu để phân biệt được đâu là trạng ngữ, đâu là một vế của câu có nòng cốt ghép Trạng ngữ luôn xuất hiện được cả 3 vị trí: đầu câu, cuối câu và giữa nòng cốt câu, còn một vế của câu có nòng cốt ghép hoàn toàn có thể phục hồi phần chủ thể bị tỉnh lược

1.2.5 Phân biệt trạng ngữ với một vế của câu song phần phức hợp

Vấn đề phân biệt trạng ngữ với một vế của câu song phần phức hợp cũng tương đối phức tạp và được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác

nhau

- Đối với một vế của câu song phần phức hợp:

Xét ví dụ sau:

(1)Vì ông không thuộc bài, ông bị thầy giáo mắng nhiếc (Bước Đường

Cùng, Nguyễn Công Hoan, 41)

(2)Vì ở xã hội sớm, nên ông sớm học được đủ các ngón, mà ngón nào

cũng tinh (Bước Đường Cùng, Nguyễn Công Hoan, 42)

Phân tích:

Ở ví dụ thứ nhất, ta dễ dàng nhận ra đây chính là câu song phần phức

Trang 28

là “ông”.Nguyên nhân vì “ông không thuộc bài” nên dẫn tới kết quả là “ông

bị thầy giáo mắng nhiếc”

Ví dụ thứ hai là ví dụ có gây tranh cãi.Nhiều người cho đây là câu có trạng ngữ, nhưng cũng nhiều quan điểm cho rằng đó là một vế của câu ghép chính phụ, bị tỉnh lược chủ ngữ của vế chỉ nguyên nhân “vì ở xã hội sớm”

Phân tích ví dụ (2) chúng tôi thấy, đây chính là một vế của câu ghép chính phụ

Thứ nhất, về mặt hình thức: câu được đánh dấu bằng cặp liên từ hô

ứng: vì – nên, thường xuyên xuất hiện trong các câu ghép chính phụ Về mặt

ý nghĩa,

Thứ hai, về mặt nghĩa: câu biểu hiện hai sự tình, sự tình thứ nhất được

biểu thị bằng cụm từ “ở xã hội”, sự tình thứ hai biểu thị bằng cụm “ông sớm học được đủ các ngón”

Hai sự tình này cùng chung một chủ thể là “ông” Vì vậy trong câu, có thể tỉnh lược một chủ thể ở một vế mà người nghe, người đọc vẫn có thể hiểu được nội dung, ý nghĩa của câu và dụng ý của người nói, người viết.Hoặc cũng có thể tách mỗi vế thành một câu độc lập Chẳng hạn:

(2‟)Ông ở xã hội sớm.Nên ông sớm học được đủ các ngón, mà ngón

nào cũng tinh

(1‟) Ông không thuộc bài.Nên ông bị thầy giáo mắng nhiếc

Xét về khả năng phân đoạn thực tại, khi được tách ra như vậy, câu thứ

hai trong chuỗi câu sẽ là câu có thông báo “gộp”, tức là chỉ có phần báo

Hai ví dụ trên được gọi là câu song phần phức hợp.Các tác giả khác gọi là câu ghép qua lại hoặc câu ghép chính phụ.Chúng có đầy đủ thông tin, một vế chính và một vế phụ.Tuy có nhiều câu không đầy đủ như vậy nhưng

ta có thể khôi phục lại thành phần tỉnh lược mà không làm thay đổi kết cấu và

ý nghĩa của chúng

Trang 29

- Đố với trạng ngữ

Trong những câu tương tự, trạng ngữ có thể được nhận diện bằng 3

tiêu chí sau:

+ Về cương vị chúng không phải là thành phần bắt buộc của câu

+ Về cấu tạo, chúng là cụm danh từ

+ Về khả năng cải biến vị trí, chúng có khả năng chiếm giữ các vị trí trước nòng cốt câu, sau nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ

Xét ví dụ:

(3)Vì ngày giỗ ông năm ấy, hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non

trưa cho đến tối (Từ ngày mẹ chết, Nam Cao, maxreading.com)

Theo các tiêu chí trên, chúng tôi nhận thấy, phần “vì ngày giỗ ông năm ấy” không phải là thành phần bắt buộc của câu, ta hoàn toàn có thể tỉnh lược

đi thành:

 Hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non trưa cho đến tối

Về cấu tạo: đây là một cụm danh từ “ngày giỗ ông năm ấy”

Về khả năng cải biến vị trí, cụm danh từ này có thể xuất hiện ở cả 3 vị trí trong câu:

Vì ngày giỗ ông năm ấy, hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non trưa

cho đến tối

 Hai mẹ con vì ngày giỗ ông năm ấy đã khóc lóc với nhau từ non

trưa cho đến tối

 Hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non trưa cho đến tối vì ngày

giỗ ông năm ấy

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, việc phân định rạch ròi trạng ngữ

và một vế của câu song phần phức hợp cũng là một chuyện tương đối phức tạp.Cần dựa vào các tiêu chí nhận diện và phân tích một cách tỉ mỉ mới tránh được nhầm lẫn

Trang 30

1.2.6 Phân biệt trạng ngữ với vị ngữ phụ

Tổng hợp các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ,

ta thấy được rằng, trạng ngữ và vị ngữ phụ giống nhau ở các điểm sau:

- Là thành phần phụ - ngoài nòng cốt của câu

- Dùng để bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt câu

- Có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính trọn vẹn của câu

Vì vậy, cùng với ba tiêu chí trên, rất khó để nhận diện đâu là trạng ngữ, đâu là vị ngữ phụ trong cùng một câu Trong trường hợp này, tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết đồng ý với ý kiến của các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt về việc có thể dùng tiêu chí về khả năng kết hợp với chủ ngữ tạo nên câu trọn vẹn để phân biệt trạng ngữ với vị ngữ đồng chức

- Đối với vị ngữ phụ:

Xét các ví dụ sau:

(5) Vội vàng,Sơn ra chợ tìm cái Hiên (Hai đứa trẻ, Thạch Lam)

Ta có thể cải biến vị trí của từ “vội vàng” như sau:

 Sơn vội vàng ra chợ tìm cái Hiên

 Sơn ra chợ tìm cái Hiên, vội vàng

Hay ví dụ:

(6)Hốt hoảng, bà lão Vối xách cái chày đi không ra vườn (Tô Hoài)

Ta cũng có thể cải biến được vị trí của từ “hốt hoảng” như sau:

 Bà lão Vối, hốt hoảng, xách cái chày đi không ra vườn

 Bà lão Vối xách cái chày đi không ra vườn, hốt hoảng

Xét ví dụ (5): Vội vàng, Sơn ra chợ tìm cái Hiên

Theo tiêu chí này, ta có thể thấy từ “vội vàng” có khả năng kết hợp với chủ ngữ tạo thành câu hoàn chỉnh, trọn vẹn như sau:

 Sơn vội vàng

Trang 31

Tương tự như ví dụ trên ta thấy: “hốt hoảng” trong ví dụ (6) cũng có thể kết hợp với chủ ngữ để tạo thành câu hoàn chỉnh

(6) Hốt hoảng, bà lão Vối xách cái chày đi không ra vườn

=>Bà lão Vối hốt hoảng

Đây rõ ràng vẫn là một câu hoàn chỉnh, gồm cả đề và thuyết Vì vậy, những cụm in nghiêng, bôi đậm như “vội vàng”, “hốt hoảng” chính là vị ngữ phụ của câu mà không phải trạng ngữ

Vì muốn yên ủi Từ và cứu lấy danh dự của Từ, Hộ đã chính thức nhận Từ làm

vợ (Đời Thừa, Nam Cao, maxreading.com)

 *Hộ vì muốn yên ủi Từ và cứu lấy danh dự của Từ

Từ việc phân tích các ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy rằng, việc dựa vào tiêu chí khả năng kết hợp với chủ ngữ để tạo thành câu hoàn chỉnh chính

là cách giúp chúng ta phân biệt, nhận diện trạng ngữ và vị ngữ phụ của câu

Trang 32

Tiểu kết:

Trên đây là cơ sở lý thuyết cho những khảo sát và phân tích của luận văn Chúng tôi đã tìm hiểu thế nào là trạng ngữ Vốn là khái niệm quen thuộc trong ngôn ngữ học nên được nhiều tác giả quan tâm, và có những quan điểm khác nhau Tuy vậy, chúng tôi đã chọn ra một quan điểm thống nhất để tiến hành nghiên cứu theo đó

Về vấn đề trạng ngữ, chúng tôi chọn quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Hiệp làm cơ sở Theo Nguyễn Văn Hiệp, trong cuốn Cú pháp tiếng Việt

2009, trạng ngữ là thành phần phụ của câu, có khả năng tham gia các cải biến

vị trí: đứng trước, đứng sau nòng cốt hoặc đứng chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ Trạng ngữ bổ sung ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện… cho sự tình được biểu đạt trong câu

Về vấn đề phân biệt trạng ngữ với các thành phần khác dễ nhầm lẫn trong câu, cũng theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Hiệp, chúng tôi đã đưa ra được những tiêu chí nhất định cho việc nhận diện trạng ngữ này:

+ Phân biệt trạng ngữ với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu Có thể phân biệt các yếu tố này với trạng ngữ dựa vào các tiêu chí sau:

- Khả năng cái biến vị trí

- Ý nghĩa biểu hiện

- Khả năng tham gia phân đoạn thực tại

+ Phân biệt trạng ngữ với các thành tố chỉ phụ thuộc vào một từ (thành tố của cấu trúc bậc dưới câu) Tác giả Nguyễn Văn Hiệp dựa trên hai tiêu chí sau:

- Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu

Trang 33

- Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành

tố còn lại trong câu

+ Phân biệt trạng ngữ với chủ ngữ: Không khó để nhận diện trạng ngữ và chủ ngữ với những câu có cấu trúc thông thường, đơn giản Tuy nhiên, có một số trường hợp phức tạp, nên việc phần định này còn khó khăn Có nhiều quan điểm khác nhau nên tùy từng trường hợp và văn cảnh, ta có thể xác định đó là trạng ngữ hay chủ ngữ

+ Phân biệt trạng ngữ với một vế của câu có nòng cốt ghép: dựa vào khả năng cải biến vị trí của trạng ngữ để nhận diện

+ Phân biệt trạng ngữ với một vế của câu song phần phức hợp: có thể nhận diện chúng bằng 3 tiêu chí sau:

- Về cương vị chúng không phải là thành phần bắt buộc của câu

- Về cấu tạo, chúng là cụm danh từ

- Về khả năng cải biến vị trí, chúng có khả năng chiếm giữ các vị trí trước nòng cốt câu, sau nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ

+ Phân biệt trạng ngữ với vị ngữ phụ: dùng tiêu chí về khả năng kết hợp với

chủ ngữ tạo nên câu trọn vẹn để phân biệt trạng ngữ với vị ngữ đồng chức

Trang 34

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT TỪ

GÓC ĐỘ KẾT HỌC

Theo ngữ pháp chức năng, với tư cách là một hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ có thể được nghiên cứu trên 3 bình diện Kết học, Nghĩa học, Dụng học Trong đó, chức năng của bình diện kết học là nghiên cứu ngôn ngữ từ phương diện hình thức Vì vậy, trên bình diện này, luận văn tập trung phân

tích trạng ngữ ở hai khía cạnh:

- Đặc điểm cấu tạo của trạng ngữ

- Ví trí của trạng ngữ trong mô hình cấu trúc câu

2.1 Cấu tạo của trạng ngữ

2.1.1 Cấu tạo hình thức của trạng ngữ

Ở khía cạnh này, chúng tôi khảo sát trạng ngữ trên tiêu chí hình thức (trạng ngữ có giới từ và trạng ngữ không có giới từ) Phần này, theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết trong “Thành phần câu tiếng Việt”,

2004, hai tác giả phân biệt: trạng ngữ được đánh dấu (trạng ngữ có giới từ) và trạng ngữ không được đánh dấu (trạng ngữ không có giới từ)

2.1.1.1 Trạng ngữ được đánh dấu bằng giới từ

Xét các ví dụ:

Trong buồng, vợ anh vừa nghiến răng, vừa thở hổn hển vừa kêu ngắc

từng tiếng (Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan, 10)

Trên cái thúng, tùm hum manh chiếu rách che hàng cho đỡ nắng (Hai

thằng khốn nạn, Nguyễn Công Hoan, Maxreading.com)

Sau hàng rào, bà trưởng Bạt đứng lấp ló nhìn qua lớp lá dâm bụt

(Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan, 31)

Trang 35

Trong hiệu, một thiếu nữ đẹp đang mặc cả (Đời Thừa, Nam Cao,

Trên, trong, ngoài, sau, trước, ở, bên cạnh, cạnh… Nhờ chúng, việc nhận

diện trạng ngữ nói chung và trạng ngữ chỉ không gian, nơi chốn trở nên dễ dàng

Những câu có cụm từ in nghiêng, bôi đậm được cho là trạng ngữ như bởi chúng có khả năng cải biến vị trí mà không ảnh hưởng tới hình thức, cấu trúc của câu Hơn nữa, những cụm từ này cũng góp phần thông báo, bổ sung thêm thông tin mà có thể tỉnh lược đi, câu vẫn không thay đổi

Xét ví dụ:

Trong buồng, vợ anh vừa nghiến răng, vừa thở hổn hển vừa kêu ngắc

từng tiếng (Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan, 10)

Ở ví dụ này, trạng ngữ đứng đầu câu, ta có thể cải biến vị trí như sau:

 Vợ anh trong buồng vừa nghiền răng, vừa thở hổn hển, vừa kêu

ngắc từng tiếng

 Vợ anh vừa nghiền răng, vừa thở hổn hển, vừa kêu ngắc từng tiếng

trong buồng

Trang 36

Các cụm từ: Trong buồng, sau hàng rào, trên cái thúng, trong hiệu, …

đều là những trạng ngữ được đánh dấu, bao gồm giới từ và danh từ và đều có khả năng cải biến tương tự như ví dụ trên:

Trong hiệu, một thiếu nữ đẹp đang mặc cả

 Một thiếu nữ đẹp đang mặc cả trong hiệu

 Một thiếu nữ đẹp trong hiệu đang mặc cả

Tương tự, xét một vài ví dụ sau:

Hắn giật mình quay lạibởi một bàn tay đập mạnh vào vai (Đời

Thừa, Nam Cao, maxreading.com)

Nó ra nông nỗi này cũngbởi chủ nhà (Cái chết của con Mực Nam

Cao, Maxreading.com)

Từ đã yêu hắn bằng cả tấm lòng yêu lúc ban đầu (Đời Thừa, Nam

Cao, maxreading.com)

Những ví dụ trên cũng giúp chúng ta không khó để nhận ra đây là

trạng ngữ, và cụ thể hơn là trạng ngữ chỉ phương thức thông qua giới từ: bởi, bằng

Rõ ràng ta thấy, vị trí của cụm từ này rất linh hoạt, vì vậy đây chính là trạng ngữ và có thể xuất hiện ở cả ba vị trí trong câu là đầu câu, sau câu và xen vào giữa chủ - vị Và trong cả ba trường hợp này, trạng ngữ đều có thể kết hợp với giới từ

2.1.1.2 Trạng ngữ không được đánh dấu bằng giới từ

Xét các ví dụ sau:

Chiều nay Nghị lại ra đường chơi mát (Bước đường cùng, Nguyễn

Công Hoan, 61)

Trang 37

Mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu,Pha lại nhăn nhớ mặt theo, tưởng chừng

như chính mình đau vậy (Bước Đường Cùng, Nguyễn Công Hoan, 11)

Ấy thế mà hắn đã phụ từmột cách hèn nhát và khốn nạn (Đời Thừa,

Nam Cao, maxreading.com)

Những cụm in nghiêng bôi đậm chính là trạng ngữ nhưng không được đánh dấu bằng giới từ.Trường hợp này khó nhận diện hơn các trạng ngữ có giới từ đi kèm với các danh từ, động từ, tính từ hoặc là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ.Tuy nhiên, có thể dựa vào các tiêu chí về nhận diện trạng ngữ để nhận diện chúng.Ví dụ như dựa vào ý nghĩa (trong ví dụ này là những từ chỉ thời gian), vị trí của trạng ngữ có thể cải biến

Phân tích 2 ví dụ dưới đây:

Chiều nay Nghị lại ra đường chơi mát (Bước đường cùng, Nguyễn

Công Hoan, 61)

Mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu,Pha lại nhăn nhớ mặt theo, tưởng chừng

như chính mình đau vậy (Bước Đường Cùng, Nguyễn Công Hoan, 11)

Rõ ràng hai trạng ngữ: chiều nay,mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu là hai

trạng ngữ, xuất hiện ở vị trí đầu câu, trước nòng cốt câu Điều này không khó

để nhận diện đây là trạng ngữ Mặt khác, ta có thể dựa vào các tiêu chí nhận diện trạng ngữ để xác định chúng: khả năng cả biến vị trí trong câu Tức là nó

có thể đứng ở cả 3 vị trí trong câu

Chẳng hạn:

Chiều nay Nghị lại ra đường chơi mát

 Nghị chiều nay lại ra đường chơi mát

 Nghị lại ra đường chơi mát chiều nay

Trang 38

Hay:

Mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu,Pha lại nhăn nhớ mặt theo, tưởng chừng

như chính mình đau vậy

=> Pha mỗi lần thấy vợ mếu máo kêulại nhăn nhớ mặt theo, tưởng

chừng như chính mình đau vậy

=> Pha lại nhăn nhớ mặt theo, tưởng chừng như chính mình đau vậy

mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu

Tiêu chí cải biến vị trí trong câu luôn là tiêu chí quan trọng để nhận diện trạng ngữ.Tất nhiên, trong nhiều trường hợp, cũng không phải dễ dàng nhận diện trạng ngữ khi chúng không có giới từ đi kèm, hoặc có khi là giới từ những chưa chắc đã là trạng ngữ.Trong một vài trường hợp, việc phân biệt này là khó có thể rạch ròi.Và việc xác định chúng lại phải dựa vào các tiêu chí khác nhau và tùy thuộc và từng văn cảnh khác nhau

2.1.2 Cấu tạo bên trongcủa trạng ngữ

2.1.2.1 Trạng ngữ là một danh từ/ cụm danh từ

Xét các ví dụ:

Hôm nay, anh cố sức để nghe ngóng và chờ đợi.(Bước Đường Cùng,

Nguyễn Công Hoan, 5)

Chiều nayNghị lại ra đường chơi mát (Bước Đường Cùng, Nguyễn

Công Hoan, 61)

Vợ Phangày hôm nay trông thật khác lạ (Bước Đường Cùng, Nguyễn

Công Hoan, 60)

Bữa cơm hôm ấy, Huệ cùng ngồi ăn với chúng tôi (Người vợ lẽ bạn

tôi, Nguyễn Công Hoan, Maxreading.com)

Trang 39

Chiều hôm qua con người phóng đãng ấy đã khệ nệ xách cái vali rất

nặng bước vào sân, miệng mỉm cười và mặt đỏ (Cái chết của con mực, Nam Cao, Maxreading.com)

Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như

để rồi xếp bát (Cái chết của con mực, Nam Cao, Maxreading.com)

Các từ, cụm từ in nghiêng bôi đậm trên đây chính là trạng ngữ.Trạng ngữ này là một danh từ chỉ thời gian

Có trường hợp trạng ngữ là một giới từ và một danh từ hoặc cụm danh

từ

Ví dụ:

Trong nhà, vợ Pha đã chuẩn bị mọi thứ tươm tất ((Bước Đường

Cùng, Nguyễn Công Hoan, 35)

Dưới gầm bàn, bát đĩa chất đầy (Bước Đường Cùng, Nguyễn Công

Cầm cập, hai hàm răng hắn đập vào nhau lia lịa (Bước Đường Cùng,

Nguyễn Công Hoan, 45)

Trang 40

Trung cau mày nhìn Hộ một cách kinh ngạc và khinh bỉ (Đời Thừa,

Nam Cao, maxreading.com)

Ấy thế mà hắn đã phụ từ, phụ một cách hèn nhát và khốn nạn.(Đời

Thừa, Nam Cao, maxreading.com)

Các từ, cụm từ in nghiêng, bôi đậm trên là tính từ, cụm tính từ đảm nhận vai trò là trạng ngữ Thông thường những từ, cụm từ này biểu thị trạng ngữ chỉ phương thức (biểu thị cách thức, cung cách diễn biến của sự tình hoặc phương tiện mà chủ thể dùng để thực hiện hành động)

2.1.2.3 Trạng ngữ là một động từ/ cụm động từ

Xét các ví dụ:

Pha nằm lặng trên phản để nghe (NCH.10)

Chàng đưa chân chạm khẽ vào con chó để tỏ tình thương (Cái chết

của con mực, Nam Cao, Maxreading.com)

Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc (Đời Thừa, Nam

Cao, maxreading.com)

Mỗi lần thấy vợ mếu máo kêu, Pha lại nhăn nhớ mặt theo, tưởng

chừng như chính mình đau vậy (NCH.11)

Ninh ngơ ngẩn như mất vía (Từ ngày mẹ chết, Nam Cao,

maxreading.com)

Ninh khóc ằng ặc như nuốt phải ngụm gì đắng quá, nó quánh vào cổ

họng (Từ ngày mẹ chết, Nam Cao, maxreading.com)

Phần in nghiêng, bôi đậm là trạng ngữ mà bản thân nó là một động từ hoặc cụm động từ.Nhìn vào những ví dụ này ta có thể dễ dàng nhận ra điều

đó

2.1.2.4 Trạng ngữ là một kết cấu C- V

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w