1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát địa danh trong tác phẩm “thượng kinh ký sự” của hải thượng lãn ông

109 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 237,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, việc khảo sát địa danh trong các tác phẩm văn học, các sách báo, các văn bản hành chính đó, “không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm, những quy luật nội bộ của địa danh, góp ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ THỊ THỦY

KHẢO SÁT ĐỊA DANH TRONG TÁC PHẨM

“THƯỢNG KINH KÝ SỰ” CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ THỊ THỦY

KHẢO SÁT ĐỊA DANH TRONG TÁC PHẨM

“THƯỢNG KINH KÝ SỰ” CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Hồng Hạnh

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện đề tài này, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS TSTrần Thị Hồng Hạnh Cô đã luôn theo sát hướng dẫn, chỉ bảo, động viên,cung cấp nhiều tài liệu quý giá trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thànhbản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học, cácthầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học cũng như toàn thể các thầy cô đã tận tìnhdạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô ở thư viện Đại họcQuốc gia Hà Nội, thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,thư viện Khoa Ngôn ngữ học, thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Lưutrữ Quốc gia 1, Viện nghiên cứu Hán Nôm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi chotôi trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,những người đã cùng chia sẻ, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuậnlợi để cho tôi hoàn thành luân văn này

Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị, đa dạng, phongphú và cũng rất khó khăn Trong thời gian ngắn, cùng với những kiến thứccòn rất hạn chế của mình, nên không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mongnhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của quý thầy cô để luận văn đượchoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2019

Người thực hiện

Đỗ Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Lịch sử nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Cơ sở lý luận về địa danh 11

1.1.1 Định nghĩa về địa danh 11

1.1.2 Phân loại địa danh 14

1.1.3 Các phương thức đặt địa danh 19

1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 21

1.2 Một số vấn đề về lịch sử tiếng Việt 22

1.2.1 Một số vấn đề về lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 22

1.2.2 Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 24 1.2.3 Một số vấn đề về từ mượn Hán trong tiếng Việt 25

1.3 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm 26

1.3.1 Về tác giả Hải Thượng Lãn Ông 26

1.3.2 Về tác phẩm Thượng Kinh ký sự 28

1.3.3 Về bản dịch Thượng Kinh ký sự của Phan Võ 29

1.4 Tiểu kết 30

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA DANH TRONG TÁC PHẨM HƯỢNG KINH KÝ SỰ 31

2.1 Phân loại địa danh 31

Trang 5

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của các địa danh 33

2.2.1 Phân loại theo tiêu chí số lượng âm tiết của địa danh 33

2.2.2 Đặc điểm cấu tạo của địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự 38

2.2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự 43

2.3 Tiểu kết 52

CHƯƠNG 3 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC ĐỊA DANH TRONG TÁC PHẨM THƯỢNG KINH KÝ SỰ 54

3.1 Dẫn nhập 54

3.2 Giới thiệu về các văn bản 55

3.2.1 Về văn bản Đồng Khánh địa dư chí 55

3.2.2 Về văn bản Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc - Kỳ 57

3.3 Sự thay đổi giữa các văn bản 58

3.3.1 Sự thay đổi giữa bản dịch và văn bản gốc 58

3.3.2 Đối chiếu địa danh trong bản dịch của Phan Võ với ĐKĐDC và TGLXBK 63

3.4 Một vài nhận xét 69

3.4.1 Tên gọi của địa danh gắn liền với ấn tượng dân gian, tri thức dân gian 69 3.4.2 Sự thay đổi của địa danh là kết quả của quá trình phân chia, sát nhập .70 3.4.3 Sự mất đi của các địa danh 71

3.4.4 Sự kiêng húy 73

3.5 Tiểu kết 77

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 87

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng phân loại và số liệu thống kê địa danh trong tác phẩm ThượngKinh ký sự 32Bảng 2.2.Bảng thống kê số lượng âm tiết cấu thành các thành tố chung trongcác địa danh 34Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng âm tiết cấu thành các thành tố riêng trongcác địa danh 36Bảng 2.4 Bảng mô hình tổng quát phức thể địa danh trong tác phẩm ThượngKinh ký sự 38Bảng 2.5 Bảng phân loại và thống kê đặc điểm cấu tạo thành tố chung củađịa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự: 39Bảng 2.6 Bảng phân loại và thống kê đặc điểm cấu tạo thành tố riêng của địadanh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự 40Bảng 2.7 Bảng khái quát đặc điểm cấu tạo địa danh trong tác phẩm ThượngKinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông 42Bảng 3.1: Bảng mô hình khái quát trật tự từ của địa danh trong tác phẩmThượng Kinh ký sự 62

Trang 7

Không những vậy, địa danh đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứuquan trọng của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác như sử học, địa

lý học, văn hóa học và dân tộc học… bởi ngoài chức năng định danh, địadanh còn giúp chúng ta bổ sung thêm hiểu biết về đặc điểm lịch sử, văn hóacủa vùng đất ấy Các kết quả nghiên cứu về địa danh từ các cách tiếp cận khácnhau góp phần bổ sung lẫn nhau, giúp chúng ta có được những hiểu biết sâusắc và đầy đủ về vùng đất ấy Có thể nói, địa danh phản ánh nhiều mặt củađời sống xã hội, thậm chí phản ánh tư duy của con người

Trong nghiên cứu địa danh, các văn bản thành văn là một trong nhữngnguồn tài liệu quan trọng Nguồn tài liệu này bao gồm các tài liệu sách, báo,các văn bản hành chính đã được lưu lại Sự quan trọng đó là vì địa danh cóchức năng để định danh một đơn vị địa lý nào đó nhưng đơn vị địa lý thìthường là tĩnh tại, cố định trong khi đó đơn vị để định danh nó lại không phảilúc nào cũng mang tính ổn định Cùng một địa điểm nhưng theo thời gian cóthể có rất nhiều thay đổi về tên gọi của địa danh Vì vậy, muốn có một cái

Trang 8

nhìn về địa danh đầy đủ, nhất là muốn nhìn được quá trình phát triển và biếnđổi của địa danh thì các văn bản là nguồn tư liệu có thể được xem là mộtnguồn tư liệu đáng tin cậy

Bên cạnh đó, việc khảo sát địa danh trong các tác phẩm văn học, các

sách báo, các văn bản hành chính đó, “không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm, những quy luật nội bộ của địa danh, góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ một vùng miền, một đất nước Mà còn có ý nghĩa liên quan đến một số vấn đề khác, đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.” [3,

tr 9]

Mặc dù đã xác định được vai trò quan trong của nghiên cứu địa danhtrong khoa học cũng như trong thực tiễn nhưng việc nghiên cứu địa danh hiệnnay về cơ bản vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục khai thác Đó là việc nghiêncứu địa danh trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là các văn bản văn học cổhiện vẫn còn ít người chọn để nghiên cứu

Chính vì vậy, luận văn chúng tôi lựa chọn các địa danh trong tác phẩm

Thượng Kinh ký sự của tác giả Hải Thượng Lãn Ông, qua bản dịch của tác giả

Phan Võ có đối chiếu với văn bản gốc để làm đối tượng để khảo sát Đây làmột tác phẩm theo chúng tôi là phù hợp cho việc nghiên cứu địa danh, mộttác phẩm ký sự do Hải Thượng Lãn Ông ghi chép lại về tất cả những sự vật,

sự việc và đặc biệt là những nơi mà Ông đi qua từ Hương Sơn – Hà Tĩnh đếnKinh thành một cách cẩn thận, rõ ràng

Với những lý do như vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Khảo sát địa danh trong tác phẩm “Thượng Kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông làm đề

tài cho luận văn này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các địa danh trong tác

phẩm “Thượng Kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác, theo

Trang 9

bản dịch của tác giả Phan Võ Đó là toàn bộ các địa danh tự nhiên như tênsông, tên hồ, tên núi…; địa danh phi tự nhiên như địa danh chỉ các công trìnhxây dựng thiên về không gian hai chiều như đường, phố, cầu, cống, chợ…; vàđịa danh chỉ các đơn vị hành chính như tên các xã, phường, huyện, thị…

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ địa danh trong tác phẩm

Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông, trong đó văn bản dịch của tác

giả Phan Võ là văn bản chính và văn bản gốc bằng chữ Hán sẽ được chúng tôi

sử dụng để đối chiếu trong các trường hợp cần thiết

Ký sự này được viết vào thập niên 80 của thế kỷ XVIII, khi mà nước tađang trải qua một giai đoạn lịch sử dân tộc, lịch sử ngôn ngữ quan trọng.Trong giai đoạn này, các tác phẩm văn học được sáng tác bằng cả cả chữ Hán

và chữ Nôm Tác phẩm Thượng Kinh ký sự được Hải Thượng Lãn Ông viết

bằng chữ Hán Tác phẩm này đã có một số bản dịch của các tác giả khácnhau Đó là các bản dịch của dịch giả Ưng Nhạc Vũ Văn Đình, bản dịch củadịch giả Nguyễn Trọng Thuật, và bản dịch của dịch giả Phan Võ Trong đó,bản dịch của tác giả Phan Võ về cơ bản được đánh giá là gần với văn bản gốchơn cả Cho nên, trong luận văn này, các địa danh được thu thập và khảo sát

từ bản dịch của tác giả Phan Võ, đồng thời có đối chiếu và kiểm chứng vớivăn bản gốc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu địa danh trong tác phẩm nhằm chỉ racác đặc điểm ngôn ngữ, bao gồm đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các địadanh, từ đó chỉ ra các đặc điểm văn hóa được phản ánh thông qua các địadanh đó Từ đó, làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ với các yếu tố địa lý, lịch

sử, văn hóa của dân tộc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

Với mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thống kê, lập danh sách các địa danh trong văn bản dịch, có so sánh với vănbản gốc

- Miêu tả đặc điểm ngôn ngữ (đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh )của các địa danh

- Phân tích các đặc điểm văn hoá hàm chứa trong các địa danh

- So sánh văn bản gốc với văn bản dịch nhằm chỉ ra một số thay đổi về cấutrúc nội tại của địa danh cũng như những thay đổi mang tính lịch sử, văn hoádân tộc

- Đối chiếu, so sánh giữa văn bản dịch của Phan Võ qua các văn bản về địadanh và cho đến ngày nay (tính đến năm 2016) để thấy được sự thay đổi vềđịa danh và địa giới qua các thời kỳ lịch sử

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp miêu tả, so sánh lịch đại kết hợp vớithủ pháp thống kê, phân tích và xử lý tư liệu

- Thống kê là công việc đầu tiên của người nghiên cứu địa danh Thủ pháp

này cho phép luận văn thu thập các địa danh có trong tác phẩm Thượng Kinh

ký sự

- Phương pháp phân tích và miêu tả: Từ những nguồn tư liệu về địa danh đãđược thu thập trong tác phẩm, chúng tôi tiến hành phân tích, miêu tả về cácđặc điểm cấu tạo, phương thức định danh địa danh

- Trên sơ sở đó, tiến hành các thao tác so sánh lịch đại địa danh trong các vănbản

5 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu địa danh học là một vấn đề đã và đang được quan tâmkhông chỉ ở trong nước mà trên thế giới vấn đề này cũng đã được quan tâmkhá sớm

5.1 Lịch sử nghiên cứu địa danh trên thế giới

Trang 11

Nghiên cứu địa danh ở giai đoạn phôi thai có thể kể đến là ở TrungQuốc, địa danh học được quan tâm, được sưu tập trong các sách địa chí, lịch

sử vào những năm đầu Công nguyên Chẳng hạn, ở thời kỳ nhà Đông Hán (25

– 220) trong những năm 32 – 92, “Ban Cố đã ghi chép trên 4000 địa danh trong Hậu Hán Thư, trong đó, có một số được giải thích tên gọi, quá trình diễn biến; trong Thủy Kinh Chú, Lệ Đạo Nguyên ở đời Bắc Ngụy (466? – 527) có ghi chép hơn hai vạn địa danh, số được giải thích là 2.300” [16] Ở

các nước phương Tây, tình hình nghiên cứu địa danh cũng diễn ra tương tự

Có thể coi giai đoạn hình thành ngành nghiên cứu địa danh trên thế giới

là giai đoạn được khởi đầu bằng hàng loạt các từ điển địa danh và các sách

nghiên cứu địa danh đã được xuất bản từ hàng trăm năm qua “Về từ điển, có thể kể các công trình tiêu biểu sau đây: Poyares, Dicionario de nomes proprios (Ý, 1667); Dictionaire géographique –historisque de l’Empire de Russie (Nga, 1923); Longnom, Les noms de lieux de France (Pháp, 1929); Trung Quốc kim cổ địa danh địa từ điển (Đài Bắc, 1931)… Về sách nghiên cứu địa danh ta có thể nêu lên một số tác phẩm sau đây: J.J Egli, Địa danh học (Thụy Sĩ, 1872); J.W.Nagl, Địa danh học (Áo, 1903); A Dauzat, Nguồn gốc và sự phát triển địa danh (Pháp, 1926) và Địa danh học Pháp (1948)…”

[16] Như vậy, Ở Phương Tây, nghiên cứu địa danh học chính thức được bắtđầu vào cuối thế kỷ XIX Những tác phẩm nghiên cứu địa danh trên bước đầumới chỉ chú trọng vào việc khảo chứng nguồn gốc của địa danh

Để ghi dấu ấn cho sự phát triển mạnh mẽ của địa danh học thế giới,trong số nhiều tác phẩm viết về địa danh, cũng đã có hàng loạt các công trìnhnghiên cứu một cách bài bản và chi tiết hơn theo định hướng ngôn ngữ học.Các nhà nghiên cứu về địa danh không chỉ thuần túy đi tìm hiểu về nguồn gốccủa địa danh mà còn tìm hiểu mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, địa lý,ngôn ngữ, văn hóa… Trong các công trình nghiên cứu đó, có thể kể đến cuốn

Átlat ngôn ngữ Pháp của J.Gllie’non, đó là cách tiếp cận nghiên cứu địa danh

theo hướng địa lý học Tiếp đến, năm 1962, A.Dauzat (người Pháp) đã đề

Trang 12

xuất phương pháp văn hóa địa lý học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa

danh qua cuốn Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh

Ở Liên Xô, các tác phẩm tiêu biểu như: “Những nguyên tắc của địa danh học (1964) (Prinsipy toponimiki – Những nguyên tắc của địa danh học, Moskva, Nauka, 1964) và Địa danh học là gì? (1985) [Superanskaja, A.V,

Chto takoe topominika? – Địa danh học là gì? Moskva, Nauka, 1985.]” [16].Những tác phẩm này đã bổ sung nguồn tư liệu quan trọng khi đi sâu nghiêncứu về bản chất bên trong của địa danh

Như vậy, có thể nói, địa danh học đã được các nước trên thế giới quantâm từ rất sớm Mới đầu chỉ là sự quan tâm đến các địa danh được ghi chéptrong các sách lịch sử, địa chí, về sau, địa danh học được quan tâm một cáchchi tiết hơn được thể hiện qua các sách, các từ điển do các nhà địa danh họcbiên soạn Và sau đó, sự phát triển của ngành địa danh học thế giới đã đượcđánh dấu bằng các tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngành địa danhhọc nói chung và ngành địa danh học Việt Nam nói riêng

5.2 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Nếu như địa danh học trên thế giới được quan tâm từ rất sớm, từ nhữngnăm đầu Công nguyên thì địa danh học Việt Nam ra đời muộn hơn Sự ra đờicủa ngành địa danh học Việt Nam được đánh dấu bằng các bộ sách sử, địa chí

như Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380 – 14442), Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (thế kỷ XV), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782 -1840), Gia Định thành thông chí (1765 – 1825), Đại Nam nhất thống chí

(cuối thế kỉ XIX) Trong các công trình này, tuy chưa được quan tâm một cáchđúng mức nhưng bước đầu các địa danh được quan tâm bằng cách ghi chép vàcũng đã có ít nhiều những phần chú giải, giải thích ý nghĩa, lý do đặt tên

Khi mà sự phát triển của địa danh học thế giới đang có những bướcchuyển mình, thì địa danh học Việt Nam mới dần bước vào một giai đoạn mớicủa công cuộc nghiên cứu địa danh

Trang 13

Mở đầu cho sự hình thành địa danh học Việt Nam phải kể đến tác giả

Hoàng Thị Châu với bài viết “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” (1962) Nối tiếp cho các tác phẩm nghiên cứu ở giai đoạn này là tác phẩm của tác giả Trần Thanh Tâm (1976) trong bài “Thử bàn

về địa danh Việt Nam” đã nêu lên được một số vấn đề cơ bản về địa danh và

địa danh học Việt Nam

Tuy đã có một vài tác phẩm nghiên cứu về địa danh đã được ra đờinhưng để nói về giai đoạn hình thành của Địa danh học Việt Nam thì phải kểđến luận án Phó Tiến sĩ của tác giả Lê Trung Hoa vào năm 1990 với tiêu đề

“Những đặc điểm chính của địa danh thành phổ Hồ Chí Minh” Luận án đã

có một giá trị không hề nhỏ cho sự ra đời của ngành địa danh học, bởi vì địadanh học đã bước đầu được nghiên cứu theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học

Và về sau luận án này đã được in thành sách “Địa danh thành phố Hồ Chí Minh” năm 1991 Tiếp theo, có thể kể đến là luận án “Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác)” của Nguyễn

Kiên Trường, công trình này đã bổ sung được một số vấn đề lý thuyết nghiêncứu địa danh mà Lê Trung Hoa dẫn ra trước đó về đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa,nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh Hải Phòng, bước đầu có sự so sánh vớimột số địa danh trên ở các vùng khác Tiếp đến là luận án Tiến sĩ của Từ Thu

Mai (2003) “Nghiên cứu địa danh Quảng Trị” và luận án của Trần Văn Dũng (2005) “Những đặc điểm chính của địa danh Dak Lăk”…

Bên cạnh các luận án nghiên cứu địa danh như trên, còn phải kể đếncác luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về địa danh như luận văn Thạc sĩ của Phạm

Thị Thu Trang với “Khảo sát địa danh quận Ba Đình – Hà Nội” (2008), luận văn của Nguyễn Thị Kim Phượng trong “Nghiên cứu địa danh ở tỉnh Bến Tre” (2009), luận văn “Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình” (2014) của Phạm Thị Hồng Nhung, “Khảo sát mối quan hệ giữa tên Nôm và tên Hán Việt tương ứng của các làng trên một vài địa bàn ở Hà Nội” (2015) của Trương Nhật Vinh, luận văn “Khảo sát địa danh tỉnh Lào Cai trên bản đồ

Trang 14

Bonne (so sánh với bản đồ quốc gia cùng tỉ lệ 1/100.000) (2017) của Đặng

Văn Thịnh… Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu, báo, tạp chí… nghiêncứu về địa danh đã được công bố

Bên cạnh các luận văn, luận án, các bài nghiên cứu khoa học, bài báo,tạp chí… nghiên cứu về địa danh, thì nhiều cuốn sách, từ điển… ghi chép mộtcách chi tiết, tỉ mỉ, khái quát được các đặc điểm của địa danh Việt Nam cũng

đã góp phần đáng kể trong nghiên cứu địa danh học ở nước ta Trong đó phải

kể đến cuốn Địa danh Việt Nam (1993), sau này tái bản đổi tên thành Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, (2000) của Nguyễn Văn Âu; đồng tác giả Nguyễn Văn Âu cũng có cuốn Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, xuất bản năm 2008; cuốn Địa danh Việt Nam của tác giả Lê Trung Hoa (2010)…

Bên cạnh những cuốn sách về địa danh là những cuốn từ điển địa danh đáng

được chú ý như: Sổ tay địa danh Việt Nam (1995) của tác giả Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của tác giả Nguyễn Dược – Trung Hải, một cuốn từ điển do Ngô Đăng Lợi chủ biên là Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng và một cuốn từ điển có thể được coi là khá mới của tác giả

Lê Trung Hoa (chủ biên) đã được Nguyễn Đình Tư xuất bản là cuốn Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh (2003).

Ngoài các công trình nghiên cứu địa danh được thực hiện dưới góc độngôn ngữ học thì việc nghiên cứu địa danh học còn được các nhà dân tộc học,lịch sử học, văn hóa học quan tâm Đáng chú ý là các bài nghiên cứu như:

Thử bàn về địa danh Việt Nam của Trần Thanh Tâm trong nghiên cứu lịch sử (số 168, 3.1976); tác giả Thái Hoàng cũng có bài Bàn về tên làng ở Việt Nam (1982) được đăng trên tạp chí dân tộc số 1/ 1982; Địa danh – một phần diện mạo văn hóa (1996) của Mai Thanh Hải được đăng trên Báo Thanh Niên

ngày 26/01…

Như vậy, ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh cũng đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, với nhiều cách tiếp cận nghiên cứu địa danh rấtphong phú và đa dạng Quan trọng hơn là công việc nghiên cứu địa danh

Trang 15

không chỉ được thực hiện bởi các nhà ngôn ngữ học mà còn có sự tham giacủa các nhà dân tộc học, lịch sử học, văn hóa học… Đó là cách tiếp cận liênngành, nhằm mục đích mang đến cho chúng ta cách nhìn nhận địa danh ở cáckhía cạnh khác nhau.

5.3 Nghiên cứu địa danh trong các tác phẩm văn học

Nghiên cứu địa danh học là một ngành khoa học đã nhận được rấtnhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và được tiếp cận nghiên cứu từnhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau Từ những hướng tiếp cận nghiên cứu địadanh khác nhau đó, việc sử dụng nguồn tư liệu nghiên cứu cũng có nhữngđiểm khác nhau

Để thực hiện một công trình nghiên cứu, các tác giả thường phải sửdụng đến nhiều nguồn tư liệu khác nhau như: các sách báo (cũ và mới), cáctập bản đồ, điền dã… Và một nguồn tài liệu không thể không kể đến với mộtvai trò rất quan trọng là các sách báo, các văn bản hành chính, các tác phẩmvăn học cổ Bởi vì, qua những nguồn tài liệu này, việc nghiên cứu địa danh cóthể đạt được một kết quả tốt nhất khi xác định được nguồn gốc, ý nghĩa và sựchuyển biến thay đổi của các địa danh Tuy nhiên, việc sử dụng các sách báo,văn bản hành chính cổ, mà tiêu biểu là các tác phẩm văn học cổ được sử dụngvới tư cách là nguồn tài liệu chính trong nghiên cứu thì vẫn còn là một mảnhđất cần tiếp tục khai phá

Tóm lại, vấn đề nghiên cứu địa danh học trên thế giới được thực hiệnrất sớm, đi tới trình độ phát triển cho riêng mình Trong khi đó, địa danh họcViệt Nam cũng đã có những bước chuyển mình để phù hợp với nhu cầu pháttriển đó đã cung cấp được những nguồn tư liệu lý luận trong việc nghiên cứuđịa danh, mang lại cái nhìn tổng quan trong công việc nghiên cứu địa danhvới hướng tiếp cận liên ngành địa danh – lịch sử - văn hóa – địa lý nhưng địadanh học Việt Nam vẫn cần thêm sự quan tâm hơn nữa Và với hướng tiếpcận nghiên cứu địa danh bằng việc sử dụng nguồn tư liệu chính là tác phẩm

Trang 16

văn học Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông qua bản dịch của dịch

giả Phan Võ Từ góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi muốn góp một phần củamình vào việc ngày càng hoàn thiện lý luận nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn đã mô tả một cách khái quát về đặc điểm cấu tạo địa danhtrong tác phẩm văn học, sự thay đổi tên gọi cũng như sự thay đổi đơn vị hànhchính của địa danh từ thế kỷ XVIII đến nay

Hiện nay, có rất nhiều địa danh hoặc là có sự thay đổi về tên gọi hoặc

đã bị mất đi Luận văn sẽ giúp cho chúng ta tìm hiểu thêm về quá trình biếnđổi của một số địa danh, chỉ ra được sự tác động cũng như ảnh hưởng của cácyếu tố bên trong ngôn ngữ và bên ngoài ngôn ngữ đến cách thức cấu tạo cũngnhư sự thay đổi của địa danh

Luận văn áp dụng các lý thuyết về địa danh học, về lịch sử tiếng Việt

nhằm mục đích khảo sát các địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự của

Hải Thượng Lãn Ông qua bản dịch của dịch giả Phan Võ, góp phần vào việccung cấp thêm nguồn tư liệu quan trọng cho ngành Địa danh học hiện nay; bổsung nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và khẳng định thêmvai trò của các nguồn tài liệu là các tác phẩm văn học đối với công việcnghiên cứu ngôn ngữ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phầnnội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận – Trình bày các vấn đề lý thuyết có liên quanđến đề tài

Chương 2: Đặc điểm của địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự

-Trong chương này, luận văn chủ yếu phân tích các đặc điểm cấu tạo và ngữ

nghĩa của các địa danh có trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự.

Chương 3: Sự biến đổi của địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự

- Nội dung của chương này tập trung vào việc so sánh và phân tích sự biến

Trang 17

đổi của các địa danh, từ đó góp phần chỉ ra các đặc điểm văn hóa, lịch sử củaphản ánh thông qua các địa danh ấy

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cơ sở lý luận về địa danh

1.1.1 Định nghĩa về địa danh

Địa danh học là một ngành khoa học đã và đang nhận được nhiều sựquan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các khu vực khác nhau, thuộc các lĩnhvực khác nhau Mỗi tác giả, từ các cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các kháiniệm, các quan điểm của từng tác giả về địa danh

Địa danh theo quan điểm của nhóm chuyên gia Liên hợp quốc (UnitedNations Group of Experts on Geographical Names – UNGEGN) được hiểu

như sau: “Địa danh là tên gọi của một đối tượng trên mặt đất Về mặt nguyên tắc, địa danh là tên riêng (gồm 1 từ, nhiều từ hoặc ngữ) được dùng một cách nhất quán trong ngôn ngữ để chỉ một địa điểm, một đối tượng hoặc một vùng

cụ thể có vị trí có thể nhận biết được trên trái đất Các đối tượng có thể là các điểm dân cư (ví dụ thành phố, thị trấn, làng), các đơn vị hành chính lãnh thổ (ví dụ bang, tỉnh, huyện), các đối tượng tự nhiên (ví dụ sông, núi, mũi đất,

hồ, biển), các đối tượng xây dựng (ví dụ đập, sân bay, đường xá), các địa điểm hay vùng có ranh giới không xác định (ví dụ cánh rừng, ngư trường)”

[5, tr.10 -11]

Theo tác giả Nga A.V Superanskyja “Địa danh là tên gọi các đặc điểm được biểu thị bằng những tên riêng Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponimia” (Dẫn theo [24, tr.20]).

Theo G.M.Kert (2002) thì “địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là một phần không thể thiếu

Trang 18

được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị, xã hội ở nơi đó”

(Dẫn theo [45, tr.19])

Đó là quan niệm của các nhà địa danh học trên thế giới, còn ở ViệtNam, mối quan tâm về địa danh học cũng có những hướng đi khác nhau Mỗihướng tiếp cận đó lại mang lại những quan điểm khác nhau về địa danh

Trên quan điểm tiếp cận nghiên cứu địa danh theo hướng tiếp cận của

các nhà văn học học – địa lý học, thì “Địa danh là một phạm trù văn hóa Nó xuất hiện và tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm Đó là những tấm bia lịch sử bằng ngôn ngữ Nó góp phần soi sáng một mảng lịch sử của một vùng đất, một khu vực hay một quốc gia” [33, tr 45] Theo quan niệm này, địa danh là

một bộ phận của văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Văn Âu, “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng, hay tên các địa phương, các dân tộc… [2, tr.5] Đồng thời, vào năm

2008 trong cuốn sách Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, tác giả cũng

đã cho biết thuật ngữ “địa danh” xuất phát từ tiếng Hy Lạp: Topos (là địa

phương) và Onoma (là tên gọi) Dó đó có thể định nghĩa chung hơn là: “Địa danh học (Toponymie) là một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa

lý các địa phương” [3, tr 5] Đó là cách tiếp cận nghiên cứu địa địa danh theo

hướng địa lý – văn hóa

Trong các cuốn từ điển, các tác giả cũng đã đưa ra những quan niệmcủa mình về địa danh Trong cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cho

rằng địa danh là “tên các miền đất” [1, tr 268] Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp, các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh các quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [43, tr.780].

Trang 19

Tác giả Hoàng Thị Châu (2007), cho rằng “Địa danh hay là tên địa lý (topponym, geographical names), là tên vùng hay tên sông, tên núi, tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… do con người đặt ra Qua những thông tin đó có thể nhận ra được những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị”.[12, tr.10]

Với tác giả Hoàng Tất Thắng, “Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó”, có nghĩa là “xét về bản chất cấu tạo, là một đơn vị từ ngữ, có chức năng định danh sự vật, do đó, địa danh là một bộ phận của từ vựng” và “Địa danh không chỉ là đối tượng của từ vựng học mà còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ

âm học Bởi địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm” [28] Với quan niệm này thì tác giả quan tâm

đến tính chất định danh của đối tượng mà mình gọi tên

Cũng đi theo hướng tiếp cận nghiên cứu địa danh của ngôn ngữ học, LêTrung Hoa đã căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên đưa ra định

nghĩa “Địa danh là từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng của địa hình tự nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [16, tr 21].

Ngoài các sách, tạp chí cũng như từ điển, trong các luận án, luận vănnghiên cứu ngôn ngữ học, các tác giả cũng đã đưa ra được những quan niệmcho riêng mình về địa danh.Với tác giả Nguyễn Phương Thảo (1985) thì địa

danh “là những từ ngữ, những mẩu ngôn ngữ nhất định của một dân tộc để chỉ đất đai, sông núi, làng xóm nơi con người cư trú” [tr.163] Ở đây, tác giả

quan niệm, địa danh là cách đặt tên của một dân tộc, một vùng đất nào đó nơi

có con người đang sinh sống

Theo tác giả Nguyễn Kiên Trường (1996), “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [34, tr 16].

Trang 20

Trong luận văn Khảo sát địa danh tỉnh Lào Cai trên bản đồ Bone (so sánh với bản đồ quốc gia cùng tỉ lệ 1/100000 của tác giả Đặng Văn Thịnh (2017) thì địa danh được định nghĩa là “là tên riêng được dùng để ghi trên bản

đồ theo nguyên tắc nhất định, dùng để chỉ địa hình tự nhiên và các đơn vị dân

cư khác nhau Trước địa danh là một thành tố chung chỉ loại địa danh ấy”.

Như vậy, qua kết quả tổng hợp để hiểu về khái niệm địa danh, có thểthấy được với mỗi một khu vực, mỗi tác giả, mỗi cách tiếp cận khác nhau lạimang đến một cách hiểu, cách lý giải khác nhau về địa danh Và để làm cơ sởcăn cứ xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu luận văn, theo quan điểm củatôi, khái niệm địa danh có thể hiểu là tên riêng, tên gọi được đặt cho các đốitượng địa lý có thể là từ hoặc ngữ cố định Các đối tượng đó gồm các địa hình

tự nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính và các vùng lãnhthổ Địa danh ngoài chức năng định danh còn có hàm chứa các thông tin liênquan đặc điểm văn hóa, lịch sử của đối tượng địa lý đó

1.1.2 Phân loại địa danh

Từ các quan niệm khác nhau về địa danh, mỗi nhà nghiên cứu lại cócách phân loại địa danh khác nhau Sự khác nhau dựa trên cách tiếp cận cũngnhư mục đích nghiên cứu khác nhau, từ đó các tác giả đã đưa ra các cáchphân loại địa danh như sau:

1.1.2.1 Phân loại địa danh trên thế giới

Trên thế giới, các nhà nghiên cứu địa danh chủ yếu phân loại dựa trêntiêu chí nguồn gốc và đối tượng của địa danh

Trước tiên, phải kể đến cách phân loại của tác giả người Pháp A Dauzat

trong La toponymie Francaise (1948) đã dựa vào nguồn gốc của địa danh và

chia làm bốn phần:

(1) Vấn đề những cơ sở tiền Ấn – Âu

(2) Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học

(3) Các từ nguyên Gô Loa – La Mã

Trang 21

(4) Địa danh học Gô Loa – La Mã của vùng Auvergne

(Dẫn theo[13, tr 17])Tiếp đến là cách phân loại của tác giả CH Rostaing, tác giả cũng đãphân loại dựa theo nguồn gốc và đối tượng của địa danh và đã chia ra thànhmười một chương:

(1) Những cơ sở tiền Ấn – Âu

(2) Các lớp tiền Xêntich

(3) Lớp Gô – Loa

(4) Những phạm vi Gô Loa – La Mã

(5) Các sự hình thành La Mã

(6) Những đóng góp của tiếng Giéc – Manh

(7) Các hình thức của thời phong kiến

(8) Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo

(9) Những hình thái hiện đại

(10) Các địa danh và tên đường phố

(11) Tên sông và núi

(Dẫn theo[13, tr 17])Thêm một cách phân loại chuyên sâu hơn, đó là cách phân loại dựa vàonội dung của địa danh, có nghĩa là phân loại địa danh theo đối tượng mà địadanh biểu thị

A.V Superanskaija chia địa danh thành tám loại:

Địa danh Matxcơva đã chia địa danh thành bốn loại:

(1) Phương danh (tên gọi các điểm dân cư)

(2) Thủy danh

(3) Sơn danh

Trang 22

(4) Phố danh (tên gọi các đối tượng trong thành phố).

(Dẫn theo [37, tr.3])

1.1.2.2 Phân loại địa danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, người đầu tiên đặt nền móng đề cập đến vấn đề này mộtcách chính thức vào năm 1967 của các giả Hoàng Thị Châu trong tác phẩm

Nghiên cứu lịch sử Tác giả đã phân loại địa danh dựa theo đối tượng địa danh

thành hai hệ thống nhỏ hơn là tiểu địa danh (gồm thôn, xóm, gò, đồi, khe,suối, đầm, hồ…) và đại địa danh (gồm lục địa, đại dương, vùng, thủ đô, thànhphố, sông, biển…)

Tiếp theo là việc phân loại địa danh của các tác giả như Trần Thanh

Tâm và Nguyễn Văn Âu (trong hai tác phẩm Địa danh Việt Nam và Một số vấn đề về địa danh Việt Nam) Trong đó, Trần Thanh Tâm đã chia địa danh

thành sáu loại:

(1) Loại đặt theo địa hình và địa điểm

(2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian

(3) Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử

(4) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu

(5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và hình thức kinh tế

(6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội

Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo đối tượng địa lý tự nhiên vàkinh tế - xã hội Tác giả đã chia địa danh thành 2 loại, 7 kiểu và 12 dạng địadanh Cụ thể là, hai loại địa danh gồm có loại thứ nhất là địa danh tự nhiênnhư sông Hồng, Trường Sơn, Côn Đảo… và loại thứ hai là địa danh kinh tế -

xã hội như làng Cát Thượng, huyện Sa Pa… Việc phân chia ra 7 kiểu địadanh cụ thể như sau:

(1) Sơn danh

(2) Lâm danh

(5) Huyện(6) Thị xã

Trang 23

Như vậy, với cách phân loại kiểu, dạng địa danh của các tác giả trênvẫn còn một số hạn chế, chẳng hạn như không thể tránh khỏi việc chưa baoquát được hết các địa danh và còn có sự trùng lặp đối tượng địa danh trongcác kiểu loại Có nghĩa là việc phân chia đó vừa thiếu lại vừa thừa Trong cáccông trình nghiên cứu của tác giả Lê Trung Hoa ra đời, thì việc phân chia địadanh có thể nói là hệ thống hơn Trong các công trình nghiên cứu của mình,

Lê Trung Hoa đã phân loại địa danh căn cứ vào thuộc tính các đối tượng địa

lý (tự nhiên- không tự nhiên) Trong đó, loại địa danh tự nhiên là địa danh gọitên các đối tượng địa hình thiên nhiên, còn địa danh không tự nhiên bao gồmđịa danh gọi tên các công trình xây dựng, địa danh gọi tên các đơn vị hànhchính và các địa danh gọi tên vùng Bên cạnh đó, tác giả còn phân loại địadanh dựa theo ngữ nguyên – nguồn gốc ngôn ngữ, tác giả chia địa danh thànhbốn nhóm:

(1) Địa danh thuần Việt

(2) Địa danh Hán – Việt

(3) Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

(4) Địa danh bằng các ngoại ngữ

Với cách phân loại địa danh như vậy của tác giả Lê Trung Hoa đã đượcNguyễn Kiên Trường đánh giá là “hợp lý”, đồng thời, Nguyễn Kiên Trườngcũng thêm một tiêu chí nữa là chức năng giao tiếp của địa danh (các lớp tên gọi

và cách gọi tên) dựa trên sự quy chiếu theo không gian và thời gian, quan sát

Trang 24

nhiều chiều về hệ thống địa danh Vì vậy, có thể phân loại địa danh thành cácloại: tên gọi chính thức, tên gọi dân gian, tên cổ, tên cũ và các tên khác [33].

Tiếp thu những ý kiến của các tác giả đi trước, Từ Thu Mai trongnghiên cứu của mình về các địa danh tỉnh Quảng Trị đã phân loại địa danhnhư sau:

Nhóm địa danh dựa theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên, chia địadanh ra làm 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên Địa danh tựnhiên gồm: sơn danh, thủy danh, vùng đất nhỏ Địa danh không tự nhiên gồm:đơn vị dân cư (địa danh do chính quyền hành chính đặt và địa danh có từ thờiphong kiến) và các công trình nhân tạo (có các công trình giao thông, côngtrình xây dựng)

Khi phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ, tác giả đã phânchia địa danh làm 4 loại: Địa danh thuần Việt , địa danh Hán - Việt, địa danhkết hợp các yếu tố thuần Việt và Hán – Việt, địa danh thuộc các ngôn ngữ dântộc thiểu số

Như vậy, việc phân loại địa danh cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau.Khi phân loại, mỗi tác giả tùy theo mục đích, cách tiếp cận lại đặt ra nhữngtiêu chí khác nhau Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng vẫn có thể nhận ranhững đặc điểm chung trong các tiêu chí phân loại đó

Trong luận văn của mình, dựa vào cách phân loại của các tác giả đitrước và căn cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu, khi phân loại địa danh chúng tôichủ yếu tiến hành phân loại tư liệu theo tiêu chí dựa vào đối tượng và chủ yếuchia thành hai nhóm địa danh như sau:

- Địa danh tự nhiên (gồm có sơn danh như núi Hương Sơn, động Giải Oan…; thủy danh như khe Lãnh Thủy…)

Trang 25

- Địa danh phi tự nhiên (gồm có địa danh chỉ các đơn vị hành chính như xã Tình Diễm, phủ Duy Tiên…; địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều như chợ Thổ Sơn, chùa Huê Cầu…).

1.1.3 Các phương thức đặt địa danh

Địa danh chính là tên gọi của địa hình tự nhiên, các công trình xâydựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ… và theo tác giả Lê Trung

Hoa trong tác phẩm Địa danh Việt Nam, để có địa danh, nhân dân Việt Nam

từ xưa đến nay đã sử dụng hai phương thức sau đây:

- Phương thức tự tạo: Đây là phương thức cơ bản để tạo ra địa danh.Phương thức này gồm 5 cách sau đây:

(1) Dựa vào các đặc điểm của chính bản thân đối tượng để đặt tên:

Cách này thường áp dụng cho hai loại địa danh chỉ địa hình từ nhiên vàcác công trình xây dựng, ít áp dụng cho các loại địa danh hành chính và địadanh vùng Trong phương thức này được chia ra các địa danh: Gọi theo hìnhdáng của đối tượng (cầu Mống, cầu Hang…); Gọi theo kích thước của đốitượng (cầu Lớn, cầu Nhỏ…); Gọi theo tính chất của đối tượng (chợ Cũ, chợMới…); Gọi theo màu sắc của đối tượng (cầu Đen, cầu Trắng…); Gọi theovật liệu xây dựng của đối tượng (cầu Sắt, cầu Dừa…); Gọi theo kiến trúc vàcấu trúc của đối tượng (cầu Đúc, cầu Xây…)

(2) Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng để gọi nhưsau: gọi theo tên một đối tượng cùng loại, gần gũi về hình thức (sông Mương,rạch Kinh…); theo vị trí của đối tượng so với đối tượng khác (ấp Đông, ấpThượng ); theo tên sản phẩm bán trên hoặc cạnh đối tượng (chợ Đêm, chợVải…); theo tên người nổi tiếng trong vùng (ngã ba ông Tạ, cầu ÔngThìn…); theo tên cây cỏ mọc hoặc trồng nhiều ở đó (gò Cây Mai ); theo têncầm thú sống hoặc nuôi ở đó (cầu Sấu, cầu Cá Trê ); theo tên vât thể có

Trang 26

nhiều ở nơi đó (bến Đá, bến Cát…); theo tên công trình xây dựng ở đó: khuLăng Ông, khu Lăng Cha Cả…); theo biến cố lịch sử hay nhân danh có liên

hệ trực tiếp đến đối tượng (đường Ba Mươi Tháng Tư…); theo nguồn gốc củađối tượng (cách này thường áp dụng để gọi tên các công trình xây dựng, nhất

là chợ và cầu: gọi theo tên người làm ra; gọi theo tên quốc gia của người xâydựng; gọi theo tên tổ chức giúp tiền xây dựng)

(3) Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên

Cách này thường được dùng để đặt tên các đơn vị hành chính, nhất làtên xã, thôn Hầu hết mang ý nghĩa tốt đẹp như: Tân, An, Bình, phú… Một sốyếu tố Hán Việt đặt ở cuối địa danh có mục đích phân biệt: Thượng – Trung –

Hạ Đông – Tây – Nam - Bắc, Nhất – Nhì – Tam – Tứ

(4) Dùng chữ số hoặc chữ cái để đặt tên

Cách này thường áp dụng cho các địa danh hành chính, một số tên kinhđào (quận 3, kinh B…)

(5) Cách (3) và cách (4) phái sinh hoặc hỗn hợp

Từ Hán Việt + số đếm: ấp Nhị Tân 1, ấp Mĩ Hòa 2…

Từ Hán Việt + Chữ cái A, B, C: ấp Mỹ Khánh A…

Số đếm+ chữ cái A, B, C: ấp 5A…

 Trong năm cách đặt tên địa danh trên, hai cách đầu nhân dân lao độngthường dùng và ba cách sau nhà nước thường sử dụng

- Phương thức chuyển hóa

Chuyển hóa là phương thức biến một địa danh này thành một hoặcnhiều địa danh khác Trong quá trình chuyển hóa, địa danh mới có thể giữnguyên dạng của địa danh cũ hoặc thêm một yếu tố mới Sau khi chuyển hóa,địa danh cũ có thể mất đi hoặc cùng tồn tại với địa danh với Sự chuyển hóa

có thể xảy ra trong nội bộ một loại địa danh hay từ một loại địa danh này sangnhiều loại địa danh khác

Trang 27

Cũng có thể xếp vào phương thức này những địa danh vốn có nguồngốc nhân danh hay địa danh ở vùng khác, được mang về đặt cho địa danh ởthành phố.

Trang 28

1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học

Trong từ vựng học có một ngành nhỏ là danh xưng học

(onomasiologie/ onomastique), chuyên nghiên cứu tên riêng Trong danh

xưng học lại được chia thành ba ngành nhỏ hơn: nhân danh học, địa danh học

và hiệu danh học Nhân danh học (anthroponymie) chuyên nghiên cứu tên riêng của người Địa danh học (toponymie) nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa

và cả những chuyển biến của địa danh Và hiệu danh học, chuyên nghiên cứutên riêng của các thiên thể, các nhãn hiệu sản phẩm, các biển hiệu…

Địa danh học được chia ra thành nhiều ngành nhỏ hơn như: sơn danh

học (oronymie) chuyên nghiên cứu tên gọi các đồi núi; thủy danh học (hydronymie) chuyên nghiên cứu tên sông ngòi kênh rạch; phương danh học (ojkonimika) chuyên nghiên cứu các điểm quần cư và phố danh học (urbanomika) nghiên cứu các đối tượng trong thành phố như tên đường, tên

phố, tên các quảng trường… [16, tr 19 -20]

Vì vậy, muốn nghiên cứu địa danh bên cạnh các kiến thức về địa lý,lịch sử, văn hóa, dân tộc, xã hội… không thể không có kiến thức về ngôn ngữ,hay nói khác hơn là tri thức ngôn ngữ học Hai tác giả Smolisnaja và

Gobanevskij đã tuyên bố: “Tri thức về các quy luật ngôn ngữ học rất cần thiết với nhà địa danh học, nếu muốn thoát khỏi giai đoạn sưu tầm và thích thú” Cụ thể là kiến thức về ngữ âm học lịch sử và phương ngữ học là rất cần thiết trong nghiên cứu địa danh Cho nên, Kapenko cho rằng: “Việc nghiên cứu địa danh không thể không là công việc của ngôn ngữ học” [16, tr 14]

Để khái quát được một cách hệ thống vị trí của địa danh học trong ngônngữ học, các nhà nghiên cứu đã mô hình hóa trong mô hình 1.1

Trang 29

Mô hình 1.1 Mô hình vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học

HIỆU DANH HỌC

SƠN DANH

HỌC

THỦY DANH HỌC

PHƯƠNG DANH HỌC

PHỐ DANH HỌC

1.2 Một số vấn đề về lịch sử tiếng Việt

1.2.1 Một số vấn đề về lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Việt Nam là một quốc gia có lịch sử văn hóa rất lâu đời, kéo dài từ thời

kỳ dựng nước đến giữ nước, giành được độc lập, chủ quyền dân tộc Quá trình

đó đã tạo nên một nền tảng văn minh, văn hóa cùng với chiều dài của lịch sửdân tộc

Trong thời kỳ dựng nước, Việt Nam đã trải qua các nền văn minh, vănhóa tiêu biểu như nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Văn Lang – Âu Lạc đã làm

nên “một nền văn minh có thời tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á” [27, tr.394].

Bên cạnh đó, lịch sử Việt Nam thời trung - cổ đại còn có sự hội nhập củanhững nền văn minh như văn hóa Sa Huỳnh, vương quốc Champa Do ảnhhưởng của lịch sử và địa lý, những cư dân này tiếp thu ảnh hưởng của vănminh Ấn Độ khá đậm nét Dần dần theo tiến trình của lịch sử, cư dân của cả

Trang 30

ba trung tâm Bắc, Trung, Nam hòa chung thành một dòng chảy duy nhất vàothế kỷ XVIII

Từ giữa thế kỳ X đến cuối thế kỷ XIV, Việt Nam trải qua vương triềuNgô – Đinh – Lê (907 – 1009); Triều Lý (1009 – 1225), quyết định quantrọng đầu tiên của nhà Lý (Lý Công Uẩn) là dời Kinh đô từ vùng núi Hoa Lưchật hẹp về Thăng Long (tên gọi mới của thành Tống Bình – Đại La thời Bắcthuộc) Và Vương Triều Trần tồn tại được 174 năm (1226 – 1400)

Vào thế kỉ XV, sau khi nhà Hồ sụp đổ do cuộc xâm lược của nhà Minh,Đại Việt đã rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong hai thập kỷ(1407 -1427) Sau khởi nghĩa Lam Sơn thành công, Lê Lợi chính thức lênngôi hoàng đế (tức Lê Thái Tổ), lập ra triều Lê (Hậu Lê), đặt quốc hiệu là ĐạiViệt Triều Hậu Lê kéo dài 361 năm (1428 – 1789), được chia làm 2 thời kỳ

Lê Sơ và Lê Trung Hưng Thế kỷ XVI – XVIII là một giai đoạn diễn ra nhiềubiến đổi trong kinh tế - xã hội và đời sống chính trị Từ giữa thế kỷ XVIII đếngiữa thế kỷ XIX, đặc điểm lịch sử nổi bật trong giai đoạn này đó là sự khủnghoảng ở Đàng Ngoài Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Ngoài lâm vào tình trạngkhủng hoảng trầm trọng Liên tục có các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra Cóthể thấy được đến năm 1770 các cuộc khởi nghĩa nông dân hầu như bị dập tắt,tuy nhiên nó cũng làm rung chuyển cả Đàng Ngoài Cũng giống như ở ĐàngNgoài, đến nhũng năm 70, Đàng Trong đã ở vào đêm trước của một cơngiông bão lớn Đó chính là phong trào nông dân quật khởi dấy lên từ đất TâySơn Sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã giành được thắng lợi vàonăm 1802, lập ra triều Nguyễn Cho đến năm 1858, khởi đầu cho một quátrình xâm lược mà kết quả là sự thất bại thảm hại của triều Nguyễn, mộtvương triều đặt lợi ích cai trị của dòng họ lên trên quyền lợi thiêng liêng củadân tộc Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Việt Nam trở thànhthuộc địa của Pháp

Trang 31

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, miền Bắc được giải phóng,bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Từ năm 1954 - 1975, nhândân ta lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước,vượt qua vô vàn những khó khăn Thắng lợi năm 1975 đã mở ra một thời kỳmới: Đất nước hòa bình, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Năm 1976, nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời.

1.2.2 Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Nói đến chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, trước hết phải kể đến cônglao của các vị Vua khai quốc thời Lý – Trần Khi đất nước giành được quyềnđộc lập, định hướng cơ bản về ngôn ngữ văn tự là: tiếp tục dùng tiếng Hán,chữ Hán, coi đó là nền văn tự, ngôn ngữ chính thức của nhà nước

Nhà Trần và các triều đại tiếp theo vẫn tiếp tục sự nghiệp của nhà Lý,cũng tổ chức học hành thi cử bằng chữ Hán, cũng sáng tác bằng chữ Hán.Thực tiễn lịch sử chứng tỏ rằng, định hướng ngôn ngữ văn tự của các triều đạiViệt Nam đã khiến cho sự tiếp xúc văn hóa – ngôn ngữ Việt – Hán phát triển

Hệ quả là:

- Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói của mình

- Tiếng Việt đã tiếp thu các yếu tố Hán Việt và các yếu tố Hán Việt Việt hóalàm phong phú kho từ vựng của mình

- Hình thức cách đọc Hán Việt, một cách đọc chữ Hán của người Việt Nam

[10, tr.1- 2].Khi hệ thống văn tự chữ Nôm được hình thành và việc sáng tác tác thơvăn bằng chữ Nôm đã trở thành phong trào thi, chủ trương nâng cao vị thếcủa ngôn ngữ dân tộc đã xuất hiện Tương truyền, Hồ Quý Ly đã dịch KinhThi, Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy cho các cung nữ Điều này chứng tỏ HồQuý Ly đã có chủ trương đưa chữ Nôm vào lãnh vực giáo dục Trong thời cậnđại, triều đại Tây Sơn của Nguyễn Huệ đã chủ trương dùng tiếng Việt và chữ

Trang 32

Nôm trong hành chính (giấy tờ của nhà nước), trong giáo dục, thi cử và trong

tế lễ thiêng liêng [10, tr 2]

1.2.3 Một số vấn đề về từ mượn Hán trong tiếng Việt

Theo Nguyễn Văn Khang trong cuốn Từ ngoại lai trong tiếng Việt, các

từ mượn Hán hoạt động trong tiếng Việt ở tất cả các cấp độ của hệ thống từvựng tiếng Việt, tham gia vào các phong cách chức năng giao tiếp tiếng Việt.Trong quá trình sử dụng, tiếng Hán được coi như là một biến thể Sự tiếp xúcngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt sẽ xảy ra hai trường hợp, đó là sự tiếpxúc song ngữ Hán – Việt và những từ ngữ Hán nhập vào tiếng Việt trở thànhmột bộ phận của tiêng Việt – chúng ta gọi là từ Hán Việt

Sự tiếp xúc này xảy ra do sự tác động của các nhân tố, bao gồm cácnhân tố xã hội và các nhân tố ngôn ngữ Nhìn một cách tổng quát, các nhân tố

xã hội ngôn ngữ có tác động mạnh mẽ đến cuộc tiếp xúc này, dẫn đến sự dunhập của một số lượng lớn các từ Hán vào tiếng Việt

Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến quá trình tiếp xúc song ngữ Hán –Việt là những nhân tố vô cùng quan trọng Trước hết là về vị trí địa lý, ViệtNam và Trung Quốc là hai quốc gia gần nhau về địa lý, với đường biên giớitiếp giáp nhau hàng nghìn ki – lô – mét Đây là điều kiện thuận lợi cho cácquan hệ giao lưu, tiếp xúc giữa người dân hai nước trong đó có ngôn ngữ.Thứ hai, về mặt chính trị - quân sự, Việt Nam và Trung Quốc trong quá khứcủa lịch sử cũng như hiện tại luôn có mối quan hệ với nhau cho dù là dướigóc độ chính trị khác nhau và có những thăng trầm theo các giai đoạn lịch sử.Thứ ba, về mặt kinh tế, hai nước luôn có quan hệ với nhau Giao lưu kinh tế

từ chính ngạch đến tiểu ngạch liên tục diễn ra với các mặt hàng Trung Quốcluôn có mặt ở Việt Nam Thứ tư, về mặt văn hóa – xã hội, Việt Nam cũnggiống như các nước ở phương Đông, đã chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ củanền văn minh Trung Hoa, đồng thời cũng tiếp thu nền văn hóa văn minh khác(không phải Trung Hoa như của Phương tây, của Phật Giáo…) qua tiếng Hán

Trang 33

Vì thế lớp từ mượn Hán về văn hóa chiếm một vị trí quan trọng trong lớp từchung văn hóa của tiếng Việt.

Đó là những nhân tố xã hội chủ yếu tác động đến quá trình tiếp xúc vàvay mượn Hán – Việt, bên cạnh đó còn có các nhân tố khác, chẳng hạn nhưvấn đề di dân của người Trung Quốc vào Việt Nam

Có thể nói rằng, không một nhân tố xã hội nào mà không tác động đếntiếp xúc song ngữ Hán – Việt Tuy nhiên, ở mỗi một giai đoạn các nhân tố xãhội lại tác động với mức độ khác nhau

1.3 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

1.3.1 Về tác giả Hải Thượng Lãn Ông

Hải Thượng Lãn Ông - “Ông già lười Hải Thượng” là biệt hiệu củadanh y Lê Hữu Trác Ông là con thứ bảy của tiến sĩ Lê Hữu Mưu và bà BùiThị Thưởng, là một đại danh y tài năng xuất chúng, nhà tư tưởng lớn, nhà vănnổi tiếng Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm Canh Tí (1720) tại thôn Văn Xá, xãLiêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xãLiêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) Cuộc đời Lê Hữu Trác phần nhiềugắn bó với quê mẹ ở thôn Bầu Thượng, xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn,phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh

Hà Tĩnh), từ năm 26 tuổi đến lúc mất

Vốn đã mang bệnh trong người từ khi còn trong quân đội, thêm vào đó,sau khi giải ngũ lại phải ghánh vác công việc vất vả, sơm hôm đèn sáchkhông chịu nghỉ ngơi Cho nên, 2 năm sau đó Lê Hữu Trác mắc bệnh cảmnặng, chữa mãi không khỏi Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An làbậc lão nho, nhiệt tình chữa khỏi Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh

cũng là thời gian rảnh rỗi của ông, ông thường đọc Phùng thi cẩm nang và

hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc Lê Hữu Trác đã được ông Trần Độcđem hết những hiểu biết về y học truyền cho Về Hương Sơn, ông làm nhàcạnh rừng đặt tên hiệu là “Hải Thượng Lãn Ông” Biệt hiệu “Hải Thượng” là

Trang 34

viết tắt hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha vàcũng là xã Bầu Thượng quê mẹ “Lãn Ông” nghĩa là “Ông lười”, ngụ ý lườibiếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danhlợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học và thực hiện chí hướng mình yêuthích gắn bó Đến năm 1764, tiếng tăm của ông đã nổi khắp vùng Hoan Châu.Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiêncứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Tam kinh,Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu về nên y học cổ truyền của dân tộc; kết hợpvới thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lýluận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổđiển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y hoc cổ truyền của dân tộc Sauhơn chục năm viết lên bộ Y tôn tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủcác mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng.

Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782), Lê Hữu Trác nhậnđược lệnh chúa Trịnh Sâm triệu về kinh Lúc này ông đã 62 tuổi, sức yếu lạiquyết chí xa lánh công danh nhưng do theo đuổi nghề y đã mấy chục năm mà

bộ Tâm lĩnh chưa in được, “không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem racông bố cho mọi người cùng biết, ông hy vọng lần đi ra Kinh đô có thể thựchiện việc in bộ sách Vì vậy, ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, rời HươngSơn lên đường Do nóng lòng trở về Hương Sơn, nhân có người tiến cử mộtlương y mới, Lê Hữu Trác liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh, ông rất vuimừng Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn Ông về đến Hương Sơn

Là một danh y nhưng cũng là một nhà văn nổi tiếng nên sau khi được

trở về quê hương, Lê Hữu Trác đã viết lên tập Thượng Kinh ký sự Tập ký

được hoàn thành vào năm 1783, trong tập ký ông đã mô tả quang cảnh ở Kinh

đô, về cuộc sống cũng như uy quyền trong phủ chúa Trịnh Đó là những điều

mà Lê Hữu Trác mắt thấy, tai nghe trong chuyến đi đó Tập ký ấy là một tácphẩm văn học vô cùng quý giá Mặc dù tuổi già, công việc lại nhiều: chữa

Trang 35

bệnh, dạy học nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân

khí bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ Hải Thượng Y tôn Tâm lĩnh Ông

qua đời vào ngày rằm tháng 1 năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là

xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi Hiện nay, mộcủa ông nằm ở khe nước cạnh chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyệnHương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc ViệtNam Các bài viết của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị vănhọc, lịch sử, triết học

1.3.2 Về tác phẩm Thượng Kinh ký sự

Thượng Kinh ký sự là tập ký sự bằng chữ Hán của nhà y hoc và nhà văn

Lê Hữu Trác (biệt hiệu: Hải Thượng Lãn Ông) Cuốn Thượng Kinh ký sự

được viết vào thập niên 80 của thế kỷ XVIII (1781), một thời kỳ rối loạn củatriều đình phong kiến Lê Trịnh – một giai đoạn chính trị khủng hoảng trầmtrọng trước khi Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà

Thượng Kinh ký sự kể chuyện một năm Lê Hữu Trác “thượng Kinh”,

đáng chú ý là những trang mô tả cảnh kinh kỳ Có thể nói đây là những hìnhảnh rất sống động mà ở thời kỳ ông sống chưa có nhà văn nào thực hiện được

Đó là ký sự đặc sắc và những sử liệu chính xác về sự xa hoa của phủ ChúaTrịnh Tác phẩm được tác giả viết theo thể nhật ký, không chia chương mục.Tuy nhiên, sau khi được dịch giả Phan Võ dịch, đã được phân chia và đặt tên

thành 10 tiểu mục: Giã nhà lên kinh; Vào Trịnh phủ; Nhớ quê nhà; Làm thuốc và làm thơ; Đi lại với các công khanh; Tình cờ gặp người cũ; Ngâm thơ, thưởng nguyệt; Về thăm cố hương; Vào phủ Chúa chữa bệnh; Trở về quê

cũ Người đọc thời nay có thể đi theo Lê Hữu Trác trên từng trang viết để

được như là “tai nghe mắt thấy” rất nhiều chuyện, tiếp xúc với rất nhiềungười, ở nhiều nơi của xã hội Việt Nam vào thời kỳ giữa thế kỷ XVIII, thời

kỳ có rất nhiều biến động lịch sử… Chỉ nhìn vào những trang “ghi chép người

Trang 36

thật, việc thật” trong Thượng Kinh ký sự, ta đã thấy đó là một cây bút “hiện

thực” đặc sắc Song, với Lê Hữu Trác, một nhà thơ có tấm lòng ưu thời mẫn

thế, có tâm hồn đa cảm thì thiên Thượng Kinh ký sự không chỉ là “hiện thực

sinh động” mà hòa vào từng chi tiết hiện thực ta đều thấy tâm tư sâu lắng, tìnhcảm tinh tế mà chan chứa, thiết tha của một nhân cách lớn

Với một tâp ký sự như vậy, nó không chỉ có giá trị văn học mà trong nócòn thể hiện sâu sắc giá trị lịch sử văn hóa Chẳng hạn như khi khảo sát, tìm

hiểu địa danh chùa Quán Sứ, ở đây không chỉ đơn thuần là một cái chùa mà

đằng sau nó là cả một dấu ấn lịch sử Theo Hoàng Lê nhất thống chí, vào đờivua Lê Thế Tông các nước Chiêm Thành, Ai Lao thường gửi sứ giả sang triềucống Việt Nam Nhà vua dựng cho một tòa nhà gọi là Quán sứ để đón các Sứthần đến Thăng Long Vì các Sứ thần đều sùng đạo nên cho dựng thêm mộtngôi chùa nằm trong khuôn viên Quán sứ

1.3.3 Về bản dịch Thượng Kinh ký sự của Phan Võ

Thượng Kinh ký sự không chỉ là một trong tập ký sự có giá trị về mặt

văn học mà còn có giá trị vô cùng quan trọng về mặt lịch sử, văn hóa… Chonên, đã có không ít các dịch giả khác nhau đã đi vào biên dịch cho tập ký này.Trong đó phải kể đến 3 dịch giả lớn, đó là vào năm 1924, Nguyễn Trọng

Thuật dịch Thượng Kinh ký sự và cho đăng lên Nam Phong tạp chí Năm

1974, Ứng Nhạc Vũ Văn Đình cho ra mắt bản dịch thứ hai in trong Tập san

Sử Địa ở Sài Gòn Gần 20 năm sau (1993), Nhà xuất bản Văn học (Hà Nội)cho in lại bản dịch đó Năm 1989, Nhà xuất bản Thông tin cho in Thượng Kinh ký sự do Phan Võ dịch, Bùi Kỷ duyệt lại.

Một điều mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong cùng mộttác phẩm vào 3 giai đoạn khác nhau lại cho ra những bản dịch khác nhau củacác tác giả khác nhau Trong đó bản dịch của dịch giả Phan Võ có thể coi làđáng chú ý hơn cả Tuy bản dịch của Phan Võ không nói rõ thời gian dịch màchỉ nói đến thời gian được in ấn phát hành nhưng qua tìm hiểu phân tích nội

Trang 37

dung trong tác phẩm, chúng tôi nhận thấy văn bản gốc Thượng Kinh ký sự của

tác giả Hải Thượng Lãn Ông và bản dịch của dịch giả Phan Võ có những mốiliên hệ về mặt ngôn ngữ Điều đó giúp người nghiên cứu dễ dàng tiếp cận vớivăn bản gốc hơn

Vì 2 văn bản này có sự khác nhau về mặt ngôn ngữ cũng như loại hìnhgiữa một bên là ngôn ngữ tiếng Hán với một bên là ngôn ngữ tiếng Việt Điềunày cũng đã tạo nên những đặc trưng phân tích, so sánh ngôn ngữ giữa hai

văn bản và cụ thể là các địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự.

1.4 Tiểu kết

Chương 1 của luận văn đã nêu một cách khái quát những vấn đề lý luậnliên quan đến địa danh nói chung và tiến trình lịch sử ngôn ngữ nói riêng Địadanh trên thế giới nói chung và địa danh ở Việt Nam nói riêng là một trongnhững vấn đề nghiên cứu luôn được quan tâm Nó phản ánh tiến trình lịch sửcủa một dân tộc cũng như tiến trình phát triển của một ngôn ngữ Vì vậy, khinghiên cứu địa danh không thể tách ra khỏi các nhân tố về lịch sử, ngôn ngữ,văn hóa, địa lý… Đã có rất nhiều các quan niệm khác nhau khi đi nghiên cứuđịa danh, cũng như là cách phân loại địa danh Và theo ý kiến của chúng tôi,địa danh là tên riêng, tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý có thể là từhoặc ngữ cố định Các đối tượng đó gồm các địa hình tự nhiên, các công trìnhxây dựng, các đơn vị hành chính và các vùng lãnh thổ Ngoài chức năng địnhdanh, các địa danh còn có chức năng phản ánh các đặc điểm văn hóa, lịch sửcủa vùng đất và con người nơi đó

Sự biến đổi của các địa danh do vậy không phải chỉ đơn thuần là sựbiến đổi nội tại của các nhân tố bên trong ngôn ngữ như (ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp…) mà còn chịu tác động của các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ (chínhsách ngôn ngữ, lịch sử của các triều đại, nhân tố chính trị - xã hội…)

Trên cơ sở các lý luận về địa danh học và các vấn đề lý luận liên quanđến đối tượng nghiên cứu, các đặc điểm cấu tạo cũng như ngữ nghĩa của địa

Trang 38

danh cũng như những biến đổi lịch sử - văn hoá thông qua sự biến đổi địadanh sẽ được phân tích chi tiết hơn ở các chương tiếp theo của luận văn.

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA DANH TRONG TÁC PHẨM THƯỢNG KINH KÝ SỰ

2.1 Phân loại địa danh

Thống kê địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự, chúng tôi thu

được kết quả gồm 103 địa danh Các địa danh rất đa dạng Dựa theo tiêu chíphân loại địa danh như đã trình bày trong chương 1, cụ thể là dựa vào tiêu chí

tự nhiên và địa danh phi tự nhiên của địa danh, chúng tôi chia ra:

Địa danh tự nhiên là những địa danh chỉ các sự vật, đối tượng lõm

xuống bề mặt hay còn gọi là thủy danh như sông, hồ, đầm… (ví dụ như: sông Cấm, khe Nước Lạnh…) và địa danh chỉ các sự vật, đối tượng nổi trên bề mặt hay còn gọi là sơn danh như núi, hang, động… (ví dụ: núi Hương Sơn, động Giải Oan…)

Địa danh phi tự nhiên, trong đó được chia ra: địa danh chỉ các đơn vịdân cư hay còn gọi là địa danh hành chính như trấn, phủ, huyện, tổng, xã,

làng… (ví dụ: thự trấn Hưng Hóa, phủ Tiên Hưng, xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, làng Kinh Kỵ…) và địa danh chỉ các đối tượng địa lý thiên về không gian hai chiều như đường xá, cầu cống, đình, chùa, miếu…(ví dụ: đường Hoàng Mai, đình Tối quảng…).

Từ đó chúng tôi xin đưa ra bảng phân loại địa danh có trong tác phẩm

Thượng Kinh ký sự như sau:

Trang 39

Bảng 2.1 Bảng phân loại và số liệu thống kê địa danh trong tác phẩm

Thượng Kinh ký sự

Sơn danh Thủy danh

Địa danh chỉ các đơn vị hành chính

Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều

103 (100%)Qua bảng tổng hợp và phân loại trên, chúng tôi thấy được số lượng địadanh trong từng nhóm có sự khác nhau Sự khác nhau này phản ánh đặc điểmđịa hình và dân cư trong tác phẩm Địa danh phi tự nhiên chiếm tỉ lệ rất lớnvới 88 địa danh chiếm 85,44% trên tổng số địa danh được khảo sát trong tácphẩm Trong đó, địa danh chỉ đơn vị hành chính chiếm tỉ lệ nhiều hơn với 46

địa danh, chiếm 44,66% trên tổng số địa danh (ví dụ như: huyện Hương Sơn, huyện La Sơn, làng Nhân Mục, phủ Duy Tiên, thự trấn Quảng Yên…); địa

danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều chiếm sốlượng lớn thứ 2 trong các tiểu loại được phân ra với 42 địa danh được đề cập

đến, chiếm 40,78% (ví dụ như: cầu Thịnh Liệt, cầu Kim Lan, chợ Vân Sàng…) Các địa danh tự nhiên cũng được nhắc đến trong tác phẩm, đó là các

địa hình tự nhiên mà Hải Thượng Lãn Ông đi qua trong quá trình di chuyển từHương Sơn ra Kinh đô, loại địa danh này được nhắc đến trong tác phẩm với

15 địa danh chiếm 14,56% Tuy nhiên, trong 2 tiểu loại địa danh được chia ratrong địa danh tự nhiên, thì thủy danh chiếm một tỉ lệ rất ít, chỉ có 5 địa danh

được nhắc đến, chiếm 4,85% (ví dụ như: sông Cấm, khe Nước Lạnh…), còn

sơn danh chiếm số lượng nhiều hơn với 10 địa danh, chiếm 9,71% (ví dụ như:

động Tuyết Sơn, động Hương Đài, núi Hương Sơn…)

Trang 40

Tình hình sử dụng và tần số xuất hiện của các địa danh trong tác phẩm

Thượng Kinh ký sự phản ánh đặc điểm địa hình mà Hải Thượng Lãn Ông đã

đi qua Quá trình di chuyển từ Hương Sơn ra Kinh đô chủ yếu là di chuyểnbằng đường bộ, cũng có chỗ di chuyển bằng đường thủy nhưng không đáng

kể Với địa hình đất nước Việt Nam với ¾ diện tích là đồi núi, cho nên, cácđịa danh chỉ Sơn danh chiếm tỉ lệ nhiều hơn số lượng các địa danh thủy danh

Ngoài ra, trong các địa danh phi tự nhiên chiếm tỉ lệ lớn Những nơi màHải Thượng Lãn Ông đi qua cũng chính là các thôn, làng, xã, huyện… chiếm tỉ

lệ nhiều bởi vào thời kỳ này, việc hành chính hoá các đơn vị hành chính đãđược triều đình phong kiến tiến hành tương đối toàn diện và quy củ Cho nên,

số lượng địa danh chỉ các đơn vị hành chính chiếm số lượng nhiều nhất với 46địa danh (chiếm 44,66%) trong tổng số 103 địa danh, số lượng địa danh chỉ cáccông trình xây dựng thiên về không gian hai chiều chiếm tỉ lệ lớn thứ 2 trongtổng số 103 được khảo sát trong tác phẩm với 42 địa danh (chiếm 40,78%).Điều này một lần nữa củng cố nhận định mà chúng tôi đã nêu ở trên Một trongnhững lý do quan trọng khiến các địa danh phi tự nhiên (các địa danh hànhchính và các địa danh thiên về không gian hai chiều) chiếm tỉ lệ lớn trong tácphẩm vì tác phẩm được ông Lê Hữu Trác viết vào cuối thế kỷ XVIII – thời kỳ

Lê – Trịnh, lúc bấy giờ bộ máy hành chính đã hoàn thiện và ổn định nên cácđơn vị hành chính cũng sẽ ổn định và đầy đủ hơn

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của các địa danh

2.2.1 Phân loại theo tiêu chí số lượng âm tiết của địa danh

Về mặt hình thức, bất kỳ một địa danh nào cũng bao gồm hai bộ phận,được thể hiện về mặt chữ viết như sau: bộ phận được viết hoa và bộ phậnđược viết thường Bộ phận viết thường là danh từ chung, thường đứng trướctên riêng, danh từ riêng hay đứng trước bộ phận được viết hoa Thành tố

chung là những từ chỉ loại hình địa lý như sông, làng, xã, huyện… (sông Cấm, làng Nhân Mục, huyện Đường Hào…)

Bộ phận được viết hoa là tên riêng, dùng để gọi tên một địa danh cụthể, đó là thành tố riêng Thành tố riêng là những từ mang tính chất khu biệt

Ngày đăng: 07/12/2019, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Âu (1993), Địa danh Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
3. Nguyễn Văn Âu (2008), Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
4. Nguyễn Tài Cẩn, Tóm lược về các vết tích kị húy Lê Trịnh hiện còn sót lại trong các văn bản Kiều Nôm thế kỷ 19, tạp chí Khoa hoc ĐHSP TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược về các vết tích kị húy Lê Trịnh hiện còn sót lạitrong các văn bản Kiều Nôm thế kỷ 19
5. Trịnh Anh Cơ, Kim Quang Minh (2003), Địa danh và chủ quyền lãnh thổ, NXB Tài nguyên môi trường và bản đồ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh và chủ quyền lãnh thổ
Tác giả: Trịnh Anh Cơ, Kim Quang Minh
Nhà XB: NXB Tài nguyên môi trường và bản đồ Việt Nam
Năm: 2003
6. Hoàng Cao Cương (2000), Sự phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ đã phát triển: Trường hợp tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ, số 1, tr.36 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ đã pháttriển: Trường hợp tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Cao Cương
Năm: 2000
7. Trần Trí Dõi (2011), Giáo trình Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Giáo Dục ViệtNam
Năm: 2011
8. Nguyễn Dược, Trung Hải (2001), Sổ tay địa danh Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Dược, Trung Hải
Nhà XB: NXB GiáoDục
Năm: 2001
9. Đinh Văn Đức (chủ biên) (2015), Tiếng Việt lịch sử trước thế kỷ XX – Những vấn đề quan yếu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lịch sử trước thế kỷ XX –Những vấn đề quan yếu
Tác giả: Đinh Văn Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
10.Nguyễn Thiện Giáp (2006), Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, Tạp chí ngôn ngữ, số 1, tr. 1 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thờikỳ lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2006
11.Trung Hải (2014), Sổ tay địa danh hành chính, văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh hành chính, văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trung Hải
Nhà XB: NXBGiáo dục Việt Nam
Năm: 2014
12.Trần Thị Hạnh (2009), Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đức trong các văn bản tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương thức thể hiện địa danh tiếng Đứctrong các văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Năm: 2009
13.Lê Trung Hoa (1991), Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã hội
Năm: 1991
14.Lê Trung Hoa (2002), Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, tr.8 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địadanh
Tác giả: Lê Trung Hoa
Năm: 2002
15.Lê Trung Hoa (2002), Địa danh hành chính ở Việt Nam, tạp chí xưa và nay, số 120, tr.11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Lê Trung Hoa
Năm: 2002
16.Lê Trung Hoa (2010), Địa danh Việt Nam, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam, Hội văn nghệ dân gian ViệtNam
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2010
17.Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Trung bộ (quyển 1&2), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển địa danh Trung bộ (quyển 1&2
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXBKhoa học Xã hội
Năm: 2015
18.Lê Trung Hoa (2016), Từ điển địa danh Bắc Bộ (quyển 1&2), NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển địa danh Bắc Bộ (quyển 1&2)
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Hộinhà văn
Năm: 2016
19.Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Trung bộ (quyển 1&2), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển địa danh Trung bộ (quyển 1&2
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXBKhoa học Xã hội
Năm: 2015
20.Nguyễn Văn Hiệu (2007), Địa danh gốc Hán Quan Thoại tây nam – Một tiểu loại địa danh trong hệ thống địa danh ở Việt Nam, Tạp chí địa chính, số 2, tr.49 -52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh gốc Hán Quan Thoại tây nam – Mộttiểu loại địa danh trong hệ thống địa danh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 2007
21.Nguyễn Phạm Hùng (1999), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) – Dùng cho khoa du lịch và các khoa không chuyên ngành ngữ văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)– Dùng cho khoa du lịch và các khoa không chuyên ngành ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: NXBĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w