1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

58 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 754,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tác giả Phạm Xuân Quỳnh-Đại học Luật TP.HCM,ngày Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng LỜI NÓI ĐÀU Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thưomg đãthúc đẩy nề

Trang 1

1 Www.thongtinphaDluatdansu.wordpress.com tác giả Phạm Xuân Quỳnh-Đại học Luật TP.HCM,

ngày Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

LỜI NÓI ĐÀU

Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thưomg đãthúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển không ngừng, việc mở cửa thị trường đãtạo cơ hội cho hoạt động mua bán hàng hóa được thông thương giữa nhiềuquốc gia trên thế giới, vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc chuyển giao hànghóa, đặt biệt là thanh toán tiền hàng diễn ra một cách thuận lợi khi mà các đốitác đang ở cách xa nhau về khoảng cách địa lý Và đáp ứng nhu càu thiết yếu

ấy đã ra đời nhiều phương thức thanh toán phù họp theo từng điều kiện hoàncảnh mà các bên tham gia lựa chọn cho phù họp Trong nhiều phương thứcthanh toán, thì phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng có vị trí vai trò quantrọng nhất, với những ưu điểm nối bật của mình, thanh toán bằng thư tín dụng

là phương thức thanh toán được nhiều quốc gia sử dụng trong giao dịch thươngmại quốc tế1

Mặc dù đây là phương thức thanh toán được ưa chuộng nhất, song nó vẫncòn tồn tại nhiều tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia giao dịch tíndụng thư do pháp luật quy định chưa rõ ràng, một số quy định còn hạn chế, và

do không am hiểu tường tận, áp dụng không đồng bộ thông lệ quốc tế, phápluật quốc gia Đe làm sáng tỏ tầm quan trọng của thanh toán bằng thư tín dụng,đưa ra những tranh chấp thường mắc phải và đề xuất một số kiến nghị nhằmhoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng Với suy

nghĩ như vậy người viết đã chọn đề tài “Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng”.

Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp luật điều chỉnh

và thực trạng các tranh chấp xảy ra khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ.Đối với phần pháp luật điều chỉnh và thực trạng, người viết sẽ tập trung nghiêncứu ở nhiều quốc gia khác nhau, để từ đó rút ra cái nhìn so sánh đối với phápluật và thực trạng ở Việt Nam

Sau khi trình bày khái quát phần lý luận chung để có sự nhận biết về tầmquan trọng của phương thức tín dụng chứng từ, cũng như việc áp dụng phápluật cho phương thức thanh toán này thì người viết sẽ đi sâu nghiên cứu thựctrạng các tranh chấp xảy ra và đồng thời rút ra những nguyên nhân dẫn đến

Trang 2

17/12/2007.

Trang 3

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh Từ đó rút ra những kinh nghiệm để

áp dụng cho pháp luật Việt Nam

Khi nghiên cứu một đề tài luận văn, người viết hiểu rõ đề tài phải có điểmmới so với những đề tài nghiên cứu cùng lĩnh vực, chỉ như thế người viết lẫnngười đọc mới có được cảm giác hứng thú khi tìm hiểu Ngoài việc nghiên cứu

đề tài bám sát theo UCP 600, phiên bản mới nhất được ban hành vào ngày01/7/2007, người viết sẽ đưa ra những tình huống điển hình xảy ra vào thời kỳUCP 500 có hiệu lực, sau đó người viết sẽ phân tích và rút ra so sánh với UCP

600, đồng thời người viết sẽ đi tìm hiểu thêm khía cạnh xác định luật áp dụng

và nguyên tắc xác định luật áp dụng khi có ừanh chấp xảy ra trong thanh toánbằng thư tín dụng, đây cũng là vấn đề gần như không được quan tâm khi màcác bên tham gia vào phưomg thức thanh toán

Để có một đề tài thu hút người đọc nhưng thiếu phương pháp nghiên cứuthì bài viết sẽ trở nên nhạt nhẽo, thiếu tính chặt chẽ và thực tế Do đó lựa chọnphương pháp nghiên cứu cũng khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu đềtài Để viết được đề tài này, người viết đã sử dụng ba phương pháp nghiên cứu.Phương pháp đầu tiên là phương pháp tổng họp tài liệu và chọn lọc tài liệu, vớiphương pháp này người viết phải tập họp tất cả các tài liệu liên quan đến đề tài,sau đó phân loại cho từng chương vì đây là phương pháp áp dụng chung cho cảhai chương Phương pháp thứ hai là phương pháp phỏng vấn, người viết dùngphương pháp này để tìm hiểu thực tế phương thức thanh toán bằng thư tín dụngđược sử dụng như thế nào sau khi người viết đã tham khảo nhiều tài liệu có liênquan Đối với chương hai, người viết sử dụng phương pháp phân tích thực tiễnnhằm làm rõ các tranh chấp thường gặp phải trong phương thức tín dụng chứng

từ, để từ đó rút ra được nguyên nhân cũng như những kiến nghị góp phần hoànthiện pháp luật thanh toán bằng thư tín dụng

Ngoài lời mở đầu và kết luận thì luận văn được kết cấu thành hai chương.Chương 1: Là những vấn đề lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng

từ, bao gồm khái niệm, nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia,đồng thời nêu ra vấn đề xác định luật áp dụng và nguyên tắc xác định luật ápdụng

Trang 4

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiệnpháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng

Trong thời gian thực hiện đề tài này, người viết cũng gặp những khó khănnhất định, nhưng người viết vô cùng cảm om giáo viên hướng dẫn đã giúp đỡcho việc định hướng đề tài và sửa chữa những nội dung còn quá sơ sài để ngườiviết có thể hoàn thành luận văn Với đề tài nghiên cứu này, người viết hy vọngquý thày cô và các bạn sinh viên có quan tâm sẽ đóng góp ý kiến đối với nhữngphần mà người viết còn thiếu sót trong thời gian nghiên cứu Chân thành cảmơn!

SINH VIÊN THỰC HÀNH MAI KIM THUẬN

Trang 5

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẮN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG

THU TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm chung thanh toán bằng thư tín dụng

l.l LKhái quát chung về thư tín dụng

1.1.1.1 Khải niệm và những đặc trưng cơ bản của thư tin dụng (Letter of credit- L/C)

Theo điều khoản 2 UCP 600 (Uniíbrm Custorms Practice 600) thì “Thư tin dụng (Letter of credit) còn gọi tắt là L/C là bất cứ sự thỏa thuận nào dù được gọi hoặc được mô tả như thể nào mà theo đó không thể hủy ngang và trở thành một cam kết của ngân hàng phát hành Thư tin dụng về việc thanh toán khỉ chứng từ xuất trình hợp lệ ”.

Trước đây UCP 500 định nghĩa “Thư tin dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khấu (người xỉn mở L/C) cam kết trả tiền cho người xuất khau (người thụ hưởngỉhưởng lợi) một so tiền nhất định với điểu kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện quy định trong lá thư đó ”.

Trong hàng loạt các cuộc thương lượng, đàm phán giữa hai bên mua bántrong quan hệ thương mại, mặc dù Tín dụng thư là khâu cuối cùng được thựchiện nhưng lại mang tính chất quyết định Bởi vì, tất cả các giao dịch như sảnxuất, thu mua hàng hóa, kiếm nghiệm, vận chuyến, tiêu thụ nguyên liệu, sảnxuất thành phẩm, dự trữ, ký kết bán hàng chỉ có giá trị thực tế khi Tín dụngthư được phát hành Người bán chỉ có thể khẳng định họp đồng được thực hiệnkhi nhận được Tín dụng thư Người mua chỉ thể hiện được ý chí, khả năng muahàng khi được ngân hàng phát hành Tín dụng thư theo ý chí của họ Như vậyTín dụng thư còn là vật bảo đảm cho việc thực hiện họp đồng thương mại.Chính vì vậy, do tính chất quan trọng của nó mà theo cách hiểu L/C trong UCP

500 thì Tín dụng thư được hiếu là một cam kết thanh toán, hoặc một chấp nhậnthanh toán được thể hiện bằng văn bản cho người hưởng khi chứng từ theo quyđịnh xuất trình họp lệ

Thực chất theo định nghĩa của UCP 600 nghĩa vụ của các bên tham gia

Trang 6

2 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn

tr.75

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

khác so với định nghĩa theo UCP 500, nhưng có một điểm khác đó là thêm vàoUCP 600 một nguyên tắc cơ bản của L/C đó là tất cả các L/C đều không hủyngang Phần này của định nghĩa loại bỏ điều 6 UCP 500, loại bỏ luôn khái niệmL/C có thể hủy ngang Như vậy từ nay trong giao dịch tín dụng chứng từ, tất cảcác L/C đều không hủy ngang, dù có tiêu đề tên gọi như thế nào, trừ khi cácbên muốn nó là L/C có thế hủy ngang thì phải thỏa thuận và ghi rõ trong L/C

Đe tìm hiểu sâu hom về L/C không hủy ngang, cũng như là ý đồ mà nhữngngười soạn thảo muốn đưa quy tắc này vào UCP 600, phần này người viết sẽtrình bày kỹ hơn ở phần phân loại Thư tín dụng

Mặt khác tùy theo thông lệ quốc tế hay thói quen từng nước mà tín dụngthư được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, DoccumentCredit tương tự ở Việt Nam ta cũng có thể gọi là Tín dụng thư, Thư tín dụng,tín dụng chứng từ, L/C Nhưng ừong giao dịch tên được gọi thông dụng nhất

là tín dụng chứng từ vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tin dụng kèm chứng từ2

Đăc trưns cơ bản của thư tín duns (L/C)

Theo mục a khoản 4 UCP 600 nêu rõ:

“Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch riêng biệt đối với một hợp đồng mua bản, hoặc một hợp đông khác, mà chỉnh hợp đong đó là cơ sở cho ra đời Thư tín dụng Các ngân hàng không hề có liên quan gì đến, hay không hề

bị ràng buộc bởi hợp đong đó, thậm chi ngay cả khi có bất kì điều dẫn chiếu nào đến hợp đong đó được ghi trong Thư tín dụng”.

Thư tín dụng là cơ sở pháp lý chính cho việc thanh toán, nó ràng buộc tất

cả các bên hữu quan tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từnhư: nhà nhập khẩu, ngân hàng bên nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng chiếtkhấu còn họp đồng mua bán ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc vềquyền lợi và nghĩa cụ của hai bên xuất khẩu và nhập khẩu

Do tính chất độc lập của L/C đối với họp đồng nên trách nhiệm của ngânhàng phát hành hoàn toàn không ảnh hưởng gì bởi khiếu nại của người mở thưtín dụng xuất phát từ mối quan hệ làm ăn với người thụ hưởng/ hưởng lợi.Ngay khi quan hệ giữa người xin mở Thư tín dụng và ngân hàng phát hành có

Trang 7

3 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn

tr.107

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

cả trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng, điều này được quy định trongđiểm a khoản 4 UCP 600:

“Sự cam kết của một ngân hàng trả tiền chấp nhận và trả tiền các hối phiếu, hoặc chiết khẩu và/ hoặc hoàn thành bẩt kì nghĩa vụ nào theo đó tín dụng thư không phụ thuộc vào yêu sách hay biện bạch của người yêu cầu nhờ

có mối quan hệ với ngân hàng mở, hoặc người hưởng lợi”.

UCP 600 đưa thêm nội dung mới thể hiện qua mục b khoản 4 mà UCP 500không có:

“Ngân hàng phát hành nên ngăn chăn khuynh hướng của người xin mở Thư tín dụng muốn quy định các bản sao của hợp đồng, hóa đon báo giá làm

cơ sở để mở Thư tín dụng, hoặc tương tự như vậy là một phần không thể thiếu của Thư tín dụng”

Tại sao UCP 600 lại có thêm quy định này? Thật ra đây không phải là sựcấm đoán của ICC trong phương thức thanh toán này mà chỉ là lời khuyênnhằm ngăn cản người mở L/C đưa thêm quá nhiều chi tiết vào L/C Lý do màngười mở yêu cầu như vậy bởi vì “người mở tin tưởng một cách sai lầm là họ

có thế bảo vệ được chính mình bằng cách làm đó” Thực ra hiếm khi được nhưvậy (ngân hàng chỉ có thể thanh toán hoặc chấp nhận hoặc chiết khấu đối vớicác chứng từ phù hợp với những điều kiện và điều khoản của L/C3 Thật vậy,nếu như đưa quá nhiều chi tiết vào L/C sẽ bất lợi cho cả hai phía, L/C càng dài,càng chi tiết thì càng dễ bị lỗi, bị nhiễu điện, gây rối rắm, nhầm lẫn cho ngườihưởng, cũng như người mở và cả ngân hàng, có người ngộ nhận là càng cónhiều chi tiết hàng hoá, điều khoản trong L/C càng bảo đảm an toàn cho người

mở Sự thật không phải vậy, nếu có quyết định như thế thì sẽ làm cho quá trinhthanh toán diễn ra phức tạp hom, dễ mắc sai hơn

1.1.1.2 Phân loại thư tín dụng

Hiện nay, có nhiều loại L/C để các đối tác lựa chọn Và tuỳ theo điều kiện,hoàn cảnh cụ thể của các bên đối tác mà họ lựa chọn loại hình L/C nào là thíchhợp cho mình

Theo ủy Ban về Kỹ thuật và Nghiệp vụ Ngân hàng thuộc ICC, nếu phântheo phương thức sử dụng thì Tín dụng thư gồm có các loại như: Tín dụng thư

Trang 8

4 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

chiết khấu, Tín dụng thư không hủy ngang có giá trị xác nhận, Tín dụng thưtuần hoàn, Tín dụng thư với điều khoản đỏ, Tín dụng thư dự phòng, Tín dụngthư chuyển nhượng, Tín dụng thư giáp lưng4

Hiện nay, đa phần các doanh nghiệp đều sử dụng L/C không hủy ngang(Irrevocable letter of credit)5 Đây là loại L/C sau khi được ngân hàng mở thìkhông thể hủy bỏ trong thòi hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thỏa thuận củacác bên tham gia, nên nó được sử dụng rộng rãi Còn đối với L/C có thể hủyngang gần như không còn tồn tại bởi nó gây ra hậu quả khó lường cho ngườihưởng, hoặc cho các ngân hàng Chính vì khuyết điểm đó mà theo tinh thần củaUCP 600 thì điều khoản 6 và 8 trong UCP 500 qui định về L/C hủy ngang vàkhông hủy ngang, và việc hủy bỏ L/C đã không còn tồn tại nữa Tuy nhiên mộtL/C không hủy ngang không có nghĩa là không thể hủy bỏ Trong thanh toáncác bên cùng đồng ý hủy bỏ, và sự thỏa thuận đó đã thông báo cho các ngânhàng có liên quan thì nó được công nhận không còn giá trị thực hiện

1.1.2 Thanh toán bằng thư tín dụng.

Đe người đọc nắm bắt được phương thức tín dụng như thế nào? Ở phươngthức này có những đặc điểm gì mà nó hơn hẳn nhiều phương thức thanh toánkhác, đồng thời thấy được tầm quan trọng của phương thức tín dụng chứng từtrong giao dịch thương mại quốc tế Ở phần này người viết sẽ trình bày kháiquát về thanh toán bằng Thư tín dụng

1.1.2.1 Khải niệm và những đặc trưng cơ bản của thanh toán bằng Thư tín dụng.

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong

đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhấtđịnh cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký pháttrong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toánphù họp với những quy định nêu ra trong Thư tín dụng, nói một cách đơn giảnhơn, phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngânhàng (ngân hàng mở Thư tín dụng) đáp ứng những nhu cầu của khách hàng

Trang 9

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện vàđiều khoản quy định trong Thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ

Đăc trưns cơ bản:

Phưomg thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến hai quan hệ họpđồng độc lập: Đó là quan hệ giữa người xin mở Thư tín dụng với ngân hàngphát hành, và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu

Thỏa thuận xin mở Thư tín dụng giữa người mở Thư tín dụng (người nhậpkhẩu), và ngân hàng phát hành là một họp đồng kinh tế dịch vụ Người nhậpkhẩu phải làm đom yêu cầu mở Thư tín dụng, trả một khoản lệ phí mở Thư tíndụng, và ký quỹ một số tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng Trongđơn xin mở Thư tín dụng phải ghi rõ nội dung cụ thể về hàng hóa, điều kiệnxuất trình chứng từ, ngân hàng căn cứ vào đó mở Thư tín dụng cho ngườihưởng, và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu xuấttrình Nếu các chứng từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của Thư tíndụng thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuấtkhẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ chongười nhập khẩu đi lấy hàng

Bản thân Thư tín dụng là một cam kết trả tiền có điều kiện của ngân hàngphát hành đối với người hưởng lợi nếu người này thực hiện đúng những quyđịnh đề ra trong Thư tín dụng Người xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từphù họp với yêu cầu của Thư tín dụng, và xuất trình cho ngân hàng trong thờihạn quy định Sau khi kiểm tra, nếu thấy chứng từ hoàn toàn phù họp vớinhững quy định của L/C, ngân hàng phải thanh toán tiền hàng cho nhà xuấtkhẩu

Hai nguyên tắc cơ bản trong thư tín dụng: Trong thanh toán tín dụng

chứng từ có hai nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc độc lập của Tín dụng thư vànguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ

+ Nguyên tắc độc lập của Tin dụng thư: Thư tín dụng được mở trên cơ

sở của hợp đồng mua bán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu để thanh toántiền hàng cho số hàng mà nhà xuất khẩu đã giao hàng cho nhả nhập khẩu theohọp đồng thương mại đã ký kết Nhưng khi ra đời thư tín dụng hoàn toàn độc

Trang 10

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

phục vụ người hưởng lợi không phụ thuộc vào việc người hưởng lợi có thựchiện đúng nghĩa vụ của mình đối với người nhập khẩu theo họp đồng mua bánhay không, thay vào đó nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phùhọp với Thư tín dụng của người xuất khẩu Ngân hàng mở Thư tín dụng khôngthể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư tín dụng với lý do ngườinhập khẩu giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tưomg tự Các tranhchấp giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phát sinh từ họp đồng mua bán cơbản sẽ giải quyết một cách độc lập với giao dịch Tín dụng thư Ngân hàng sẽthanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người nay xuất trình các chứng từphù họp với yêu cầu của L/C

+ Nguyên tẳc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: Khi kiểm tra các chứng

từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng

từ này tuân thủ chẩ chẽ các yêu cầu của Thư tín dụng Có quan điểm cho rằngngân hàng không nên quá chặt chẽ khi có sự khác biệt thông thường, khôngnghiêm trọng, và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa là tìm ra sự khácbiệt do in ấn, do lỗi kỹ thuật trong tạo lập chứng từ Tuy nhiên cách an toànnhất cho ngân hàng vẫn là tiến hành tuyệt đối nguyên tắt tuân thủ chặt chẽ củachứng từ Bất kỳ sự đi chệch khỏi nguyên tắc này, cho dù là được phép đi nữađều có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng, và có thể dẫn đến nhiều vụ kiện tụngtốn nhiều thời gian và tiền bạc

Nguyên tắc các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứvào hàng hỏa trong phương thức tín dụng chứng từ Các chứng từ xuất trinh làcăn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán chongười hưởng lợi Thư tín dụng, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để ngườinhập khẩu hoàn trả hay từ chối thanh toán tiền cho ngân hàng Nếu người xuấtkhẩu xuất trình các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là phù họp với cácquy định của Thư tín dụng thì sẽ được ngân hàng trả tiền, ngân hàng khôngchịu trách nhiệm về số phận thật sự của hàng hóa Như vậy trong phương thứctín dụng chứng từ, các chứng từ có tầm quan trọng đặc biệt, nó là minh chứngcho giá trị hàng hóa mà người bán đã giao, và là căn cứ cho nhà xuất khẩu đòingân hàng thanh toán tiền hàng, và cũng là cơ sở cho ngân hàng chấp nhận hay

từ chối thanh tóan cho người xuất khẩu

Các đặc trưng trên đã mang lại cho phương thức tín dụng chứng từ những

ưu điểm riêng biệt mà những phương thức thanh toán khác không thể nào có

Trang 11

6 cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C, Pgs-Ts Trần Thi

luận chính Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụngtrị, Hà Nội 2006, tr.75

phưomg thức tín dụng chứng từ vẫn được các doanh nghiệp lựa chọn và chiếm

tỷ lệ cao trong phưomg thức thanh toán

1.1.2.2 Quy trình thanh toán bằng thư tin dụng

So với các phương thức thanh toán chủ yếu được áp dụng trong ngoạithương như chuyển tiền, nhờ thu thì phương thức thanh toán bằng L/C làphương thức được sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên phương thức thanh toán bằngL/C cũng là phương thức thanh toán có quy trình nghiệp vụ phức tạp nhất Thật

ra cũng vì tạo sự bảo đảm quyền lợi cho các bên ừong phương thức thanh toánnày mà các quy định trong phương thức khá chặt chẽ Có rất nhiều bước trongquy trình này và như thế nó sẽ dễ dàng tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp mà nếucác bên không thận trọng sẽ dễ dàng phát sinh tranh chấp Thông thường thìviệc thanh toán được thực hiện ở ngân hàng thông báo, nếu như ngân hàngthông báo đóng vai trò là ngân hàng trả tiền cho người hưởng lợi Có thể tómgọn các bước cơ bản của quy trình thanh toán bằng L/C như sau6

Trong quy trình này, sau khi nhà nhập khẩu và xuất khẩu ký kết hợp đồngmua bán Nhà nhập khẩu sẽ đến ngân hàng phục vụ mình là ngân hàng pháthành để mở L/C cho nhà xuất khẩu hưởng (1) Căn cứ vào đơn xin mở L/C,

Trang 12

7 Trong trường hợp này ngân hàng thông báo phải được ngân hàng mở L/C cho phép trả

cho phép Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụngchiết khấu

ngân hàng sẽ phát hành một L/C (bằng điện telex, SWIFT hoặc bằng thư) trong

đó ngân hàng cam kết thanh toán cho người bán nếu người này xuất trìnhchứng từ phù họp với L/C (2) Sau khi ngân hàng thông báo nhận được L/C thìxác minh tính chân thật của L/C và thông báo L/C đến người bán (3) Ngườibán sau khi nhận được L/C thì kiểm tra L/C, nếu không chấp nhận L/C thì yêucầu người mua sửa đối, còn nếu chấp nhận sẽ giao hàng hóa cho người mua (4).Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và đến ngân hàng phục vụ mình là ngânhàng thông báo để xuất trình (5) Neu bộ chứng từ hoàn toàn phù họp với L/Cthì ngân hàng thông báo sẽ thanh toán cho người bán7 Ngân hàng mở L/C sẽthanh toán lại cho ngân hàng thông báo nếu kiểm tra thấy chứng từ phù họp vớiL/C (7) Ngân hàng mở L/C sẽ giao bộ chứng từ cho người mua nếu như ngườimua đồng ý thanh toán (8) Sau khi kiếm tra chứng từ nếu thấy phù họp thìngười mua sẽ thanh toán tiền cho nhân hàng phát hành L/C (9)

1.1.2.3 Vai trò của thanh toán bằngTthư tinh dụng trong thương mại quốc tế

Phương thức thanh toán quốc tế là một trong điều kiện quan trọng nhất củahọp đồng thanh toán quốc tế, hiểu một cách đom giản thì phương thức là mộtcách thức nhất định để người bán thu được tiền nhanh nhất và nhận được hàngchuẩn xác đủ về số lượng, đúng về chất lượng, đúng thời hạn như họp đồng đãký

Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà các bên đối tác trong quan hệquốc tế sẽ lựa chọn cho mình phương thức thanh toán phù họp Hiện nay cónhiều phương thức thanh toán như; Phương thức chuyển tiền nhờ thu, mở tàikhoản, Tín dụng chứng từ Nhưng phương thức tín dụng chứng từ được sửdụng nhiều nhất Bởi lẽ, các phương thức trên chỉ được áp dụng khi các bên đốitác làm ăn lâu năm và có sự tin cậy lẫn nhau

Lấy thí dụ: Đối với phương thức thanh toán bằng chuyển tiền Nếu như haibên lựa chọn hình thức thanh toán sau, bên nhập khẩu phải là bên có uy tínthanh toán, nếu không bên xuất khẩu sẽ gặp rủi ro khi bên nhập khẩu cố tìnhkhông thanh toán vì cho rằng hàng hóa kém chất lượng hay vì một 11 do nàokhác (như là bên xuất khẩu sau khi chuyển giao hàng hoá chứng từ trực tiếpcho bên nhập khẩu, không thông qua ngân hàng) Ta thấy, bên nhập khẩu chỉ

Trang 13

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

hiện hay không còn tuỳ thuộc vào ý chí của bên nhập khẩu Hay đối vớiphương thức mở tài khoản, cũng giống như phương thức chuyển tiền, bên nhậpkhẩu nhận hàng hoá, chứng từ và thanh toán tiền hàng ở một thời điểm tươnglai cho bên xuất khẩu nhà xuất khẩu cũng sẽ gặp nhiều rủi ro nếu bên nhậpkhẩu từ chối thanh toán thì nhà xuất khẩu chỉ còn cách đưa vụ việc ra tòa,không có gì bảo đảm rằng nhà xuất khẩu sẽ thu được tiền hàng

Chính vì những hạn chế ấy mà các phương thức chỉ được lựa chọn khi cácbên đối tác thật sự tin tưởng lẫn nhau, làm ăn có uy tín lâu năm Nhưng tronggiao dịch thương mại các doanh nghiệp luôn muốn mở rộng thị trường vì vậy

mà không tránh khỏi phải họp tác với những đối tác ở những nước khác nhau

và chưa hề quen biết Thế nên, việc sử dụng các phương thức trên sẽ làm chocác doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro trong giao dịch thương mại Vậy làm thế nào

để bảo đảm được quyền lợi của các bên trong giao dịch mua bán? Để tránhnhững rủi ro ấy thì phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng được hầu hết cácdoanh nghiệp lựa chọn, vì nó tương đối an toàn và quyền lợi của mỗi bên đượcbảo đảm nhiều hơn

Thật vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ bên xuất khẩu nhận đượctiền thanh toán nhanh, đồng thời còn khống chế chứng từ hàng hoá với ngườimua Với cách khống chế theo bộ chứng từ này thì quyền lợi của bên xuất khẩubảo đảm hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán tiền và nhận hàng của ngườimua Còn đối với bên nhập khẩu, chắc chắn bên xuất khẩu phải đáp ứng các quiđịnh của L/C Bên nhập khẩu chỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từphù họp với các điều khoản và điều kiện của L/C để đi nhận hàng Bên nhậpkhẩu được sự trợ giúp của ngân hàng trong việc kiểm tra bộ chứng từ, và dễdàng được ngân hàng tài trợ về vốn, được các điều khoản UCP bảo vệ

Chính vì những ưu điểm nổi bật đó đã làm cho phương thức tín dụngchứng từ trở nên phổ biến Phương thức này đã dung hòa, cân bằng với quan hệgiữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia họp đồng mua bán ngoạithương Những nghĩa vụ và ừách nhiệm được đan xen ràng buộc lẫn nhau tạonên một sự đảm bảo và chắc chắn hơn cả cho việc thanh toán tiền hàng, nângcao quyền bình đằng trong quan hệ thanh toán giữa người mua và người bán

Và đặc biệt khác với phương thức khác, trong thanh toán bằng L/C ngân hàng

Trang 14

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

vào sự cam kết trả tiền thay cho người mua của ngân hàng đã làm cho quá trìnhmua bán diễn ra nhanh chóng thuận lợi

1.2 Quan hệ pháp luật thanh toán bằng thư tín dụng

Phưomg thức tín dụng chứng từ mặc dù nó là một phương thức thanh toántiện lợi cho các bên đối tác, nhưng suy cho cùng thì vẫn còn mang tính tươngđối Bất cứ phương thức thanh toán nào cũng có ưu diểm và nhược điểm của

nó, phương thức tín dụng chứng từ cũng không ngoại lệ

Ví dụ như đối với ngân hàng, khi tham gia vào phương thức thanh toán nàythì ngân hàng không còn là khâu trung gian trong quá trình thanh toán mà nó đãtrở thành một thành viên của phương thức này và bị ràng buộc trách nhiệm củamình đối với người mua và người bán Còn đối với bên xuất khẩu nguy cơ bị từchối thanh toán nếu như không đáp ứng được yêu cầu của L/C Đặc biệt, đốivới bên nhập khẩu, nguy cơ cao nhất là gặp trường họp lừa đảo nếu như đối táclàm ăn muốn gian lận, bởi vì bên nhập khẩu chỉ khi nào thanh toán xong mớinhận được hàng hóa, đó là lý do bên nhập khẩu có nguy cơ gặp nhiều rủi ronhất

Như vậy, nếu rủi ro xảy ra thì các bên sẽ chọn cách giải quyết như thế nào?

Và dựa vào cơ sở nào để giải quyết?

Đối với phương thức tín dụng chứng từ hiện nay nó được sự điều chỉnh củacác thông lệ quốc tế, và tập quán nhân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế Khi đãchấp nhận L/C mở theo UCP thì các bên liên quan có mối quan hệ pháp lý,người mở, người hưởng, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàngthông báo đều căn cứ vào UCP về quyền lợi và nghĩa vụ của mình Tuynhiên vấn đề đặt ra nữa là Tòa án nào sẽ giải quyết, giải quyết theo cơ sở luậtnào, theo UCP hay luật quốc gia? Vì UCP chỉ là bộ quy tắc thực hành thốngnhất về tín dụng chứng từ, nó không có điều khoản nào đề cập đến việc giảiquyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra Và hiện tại đối với các quốc gia chấpnhận sử dụng UCP thì chỉ có một số nước có luật riêng điều chỉnh phương thứcthanh toán bằng Thư tín dụng Còn lại thì tuyên bố áp dụng UCP một cáchtuyệt đối Vì vậy, vấn đề trên đã gây đau đàu cho những người thực hành luậtpháp, vì rõ ràng trong L/C không có một điều khoản cho tranh chấp và khi có

Trang 15

8 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống trong tín dụng

năm 2006, tr.25

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

Trên thực tế khi có tranh chấp xảy ra thì vấn đề luật áp dụng được giảiquyết bởi nguyên tắc chọn luật áp dụng8

Rõ ràng qui định về luật áp dụng có tàm quan trọng nhưng các bên đều

“ quên lãng” Do đó ở phần này, người viết sẽ trình bày để người đọc nắm bắtđược các tập quán quốc tế điều chỉnh phương thức thanh toán tín dụng chứng

từ Mặt khác người đọc sẽ thấy được luật của các nước điều chỉnh phương thứctín dụng chứng từ như thế nào, và các nguyên tắc chọn luật áp dụng khi cótranh chấp xảy ra, từ đó mà có một cái nhìn so sánh với luật Việt Nam

1.2.1 Luật áp dụng cho quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng.

1.2.1.1 Các thông lệ quốc tế và tập quản quốc tế:

ISBP (International Standard Banking Practice) nghĩa là tập quán ngânhàng theo tiêu chuẩn quốc tế, được tạo ra từ một nhóm công tác đặc biệt thuộc

ủy ban ngân hàng, phòng thương mại quốc tế (ICC) Ân phẩm được toàn thể ủyban thông qua trong hội nghị tổ chức tại Rome tháng 10/2002 Tập quán này ápdụng cho việc kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ Neunhư UCP-DC là bộ quy tắc chung thống nhất các quy định giữa các ngân hàngtrong tổ chức thanh toán phương thức tín dụng chứng từ cho các doanh nghiệpxuất khẩu và nhập khẩu Thì ISBP là một tài liệu bổ sung mang tính thực tiễncho UCP-DC (trước đây được áp dụng cho UCP 500, hiện tại được áp dụngcho UCP 600) Những quy tắc về tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến củaICC ISBP không sửa đổi UCP Nó giải thích chi tiết rõ ràng làm thế nào nhữngquy tắc này được áp dụng trong giao dịch hàng ngày Như thế nó đã lấp đầykhoản trống vố có của những nguyên tắc chung được quy định trong nguyêntắc với công việc hàng ngày của người thực hành tín dụng chứng từ Thông quaviệc sử dụng ISBP, những người làm việc kiểm tra tín dụng chứng từ có thểthực hành công việc cho phù họp với tập quán mà các đồng nghiệp của họ đang

sử dụng trên thế giới Ket quả là có thể làm giảm đáng kể số lượng chứng từ bị

từ chối thanh toán do có lỗi chứng từ xuất trình lần đầu tiên

UCP-DC (Uniform Custorms Practice Documentary Credit): Toàn cầu hóadiễn ra nhanh chóng, thúc đấy thương mại quốc tế phát triển thuận lợi Hơn nữathúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu cho các quốc gia có hoạt động thương

Trang 16

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

thống nhất tín dụng chứng từ Viết tắt là UCP-DC Kể từ khi ra đời đến nay,UCP-DC đã trải qua sáu lần sửa đổi, và mỗi lần sửa đổi đã tạo điều kiện thuậnlợi hơn, thống nhất hơn giữa các ngân hàng trong tổ chức thanh toán phươngthức túi dụng chứng từ, cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu Văn bảncuối cùng được hoàn thiện vào tháng 12/2006 sẽ có hiệu lực từ ngày01/07/2007 dưới tên gọi UCP-DC 600

Sơ lược về các ẩn phấm UCP-DC:

Lần đầu tiên phòng thương mại Quốc tế (ICC) soạn thảo các quy tắc hướngdẫn thực hiện các thanh toán quốc tế ở phương thức tín dụng chứng từ vào năm

1929 Nhưng văn bản đàu tiên này không mang tính quy tắc thống nhất, chúngchỉ áp dụng hạn chế ở một số ngân hàng Châu Âu

1933: văn bản đầu tiên với ấn bản số hiệu 82 (UCP đầu tiên)

1951: UCP được sửa đổi với số hiệu 151

1964: UCP được sửa đổi với số hiệu 222

1974: UCP được sửa đổi với số hiệu 290

1983: UCP được sửa đổi với số hiệu 400

1993: UCP được sửa đổi với số hiệu 500

2007: UCP được sửa đổi với số hiệu 600, có hiệu lực ngày 01/07/2007.Các ấn phẩm trên đã có trên 160 nước tuyên bố áp dụng, trong đó có ViệtNam Tuy nhiên đây là văn bản pháp lý không mang tính chất bắt buộc các bênmua bán Quốc tế phải áp dụng Ngoài ra việc dẫn chiếu UCP trong thư tín dụngkhông buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng từng điều quy địnhtrong UCP Neu các bên thống nhất có các quyết định khác so với nội dung một

số điều do UCP quy định, thì phải ghi rõ quy định ấy trong L/C, và nó có giá trịpháp lý ràng buộc trách nhiệm, và nghĩa vụ của các bên tham gia

Ngoài UCP 600, ISBP, sau ngày 01/7/2007 các văn bản sau đây do phòngthương mại quốc tế (ICC) phát hành: URR 522, ISP 98, eUCP vẫn có hiệu lực

Trang 17

9 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống trong giao dịch tín

(phân tích và bình luận toàn diện tình huống giao dịch tín dụng chứng từ), Th.s

Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thống kê, Năm 2009, tr.32

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

chứng từ rất phổ biến trong giao dịch thương mại quốc tế Và để tạo một hànhlang pháp lý vững chắc để đảm bảo cho giao dịch này phát triển thì Tòa án

Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành “quy định xét xử tranh chấp về tín dụng chứng từ” bao gồm 18 điều9 Việc đưa ra những quy định như nếu xảy ra

trường hcrp gian lận, lừa đảo thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm ngưng thanh toánhoặc không thanh toán nhằm bảo vệ lợi ích của bên thứ ba là ngân hàng pháthành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu, các ngân hàng này trực tiếpthanh toán tiền mà nếu có sự lừa đảo trong đó thì họ không hề biết được Cònđối với những quốc gia không có luật riêng điều chỉnh giao dịch tín dụngchứng từ thì các quốc gia này sẽ chấp nhận hoàn toàn UCP và dựa vào các quytắc của UCP để giải quyết khi có ừanh chấp xảy ra Ví dụ như ở nướcSingapore, Luật và Tòa án nước này tuân thủ nghiêm nguyên lý về tính độc lậpgiữa giao dịch tín dụng chứng từ và các giao dịch cơ sở, và ngân hàng hoặc bênmua phải chấp nhận thanh toán nếu như các chứng từ được xuất trình họp lệ,ngân hàng hoặc bên mua không được viện lý do là hàng hóa giao không đúngquy cách rồi không thanh toán Cũng như Singapore một số nước như Thụy Sỹ,Malaysia, Canada cũng không có luật riêng về tín dụng chứng từ, các quốc gianày cũng chủ yếu áp dụng hoàn toàn UCP trong xét xử tranh chấp giao dịch tíndụng chứng từ10 Thật ra, các nước không có luật riêng để điều chỉnh giao dịchtín dụng chứng từ thì không phải là khiếm khuyết trong việc xây dựng luật của

họ, bởi vì họ xem bộ quy tắc thực hành như là luật và áp dụng tuyệt đối để giảiquyết tranh chấp Còn nếu như chỉ xem UCP là một bản quy tắc, thông lệ quốc

tế mang tính tham khảo thì phải ban hành một số điều luật để điều chỉnh đểtránh gặp phải những khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh Còn

ở Việt Nam hiện tại vẫn chưa có quy định riêng hướng dẫn cho các doanhnghiệp cũng như các ngân hàng về việc sử dụng phương thức thanh toán bằngThư tín dụng, và những quy định riêng về việc giải quyết tranh chấp trongthanh toán bằng Thư tín dụng này Trước đây, do nền kinh tế của Việt Nam vẫnchưa phát triển lắm, đặc biệt là giao thương với nước ngoài và nếu có tranhchấp xảy ra cũng không đáng kế, do đó mà vẫn chưa có những quan tâm cụ thểđối với phương thức tín dụng chứng từ Nhưng hiện nay, trước sự hội nhậpkinh tế thị trường, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế sẽ diễn ra mạnh mẽ, vìthế mà Việt Nam cần xây dựng những văn bản liên quan đến lĩnh vực thanh

Trang 18

11 Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn

Thùy, NXB Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụngThống kê, Hà Nội, 2008, tr.25

toán bằng tín dụng chứng từ để vừa có thể bảo vệ được các doanh nghiệp, ngânhàng vừa tạo được hành lang pháp lý vững chắc trong phưomg thức thanh toánquốc tế nói chung, và thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ nói riêng

1.2.1.3 Vẩn đề xác định luật áp dụng và nguyên tắc chọn luật áp dụng.

Xác định luật áp dụng

Trong thực tế, giao dịch tín dụng chứng từ đã đưa ra nhiều vấn đề liênquan đến lựa chọn luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp UCP không đề cậpđến vấn đề này bởi vì nó là một bản quy tắc thực hành thống nhất được các bênlựa chọn trong quan hệ thanh toán bằng L/C, không liên quan đến bất đồnggiữa các bên, do vậy các bên nếu có tranh chấp phải làm thế nào? Theo tậpquán quốc tế hay là luật quốc gia? vấn đề sẽ là đom giản nếu như tranh chấpxảy ra giữa các đối tác trong nước thì chỉ cần sử dụng bộ luật trong nước,nhưng đây là giao dịch mua bán quốc tế với những đối tác có quốc tịch khácnhau, địa điểm thanh toán cũng khác nhau, nếu có tranh chấp xảy ra thì việcxung đột pháp luật giữa các quốc gia, cũng như là xung đột giữa luật quốc gia

và tập quán quốc tế là điều không tránh khỏi Vì thế đòi hỏi phải có mộtnguyên tắc chung thống nhất trong việc lựa chọn luật áp dụng để việc giảiquyết tranh chấp sẽ được tiến hành thuận lợi hom

Nguyên tắc chọn luật áp dụng11

Thông thường, luật áp dụng trong giao dịch tín dụng chứng từ sẽ đượcxác định nơi nghĩa vụ phát sinh có mối quan hệ xác thực và chặt chẽ nhất (theclosest and most real connection)

Đối với mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người mở Giả sửngười mở được yêu càu là phải mở L/C tại ngân hàng nước ngoài Tranh chấpphát sinh giữa hai bên sẽ áp dụng theo nguyên tắc “có mối quan hệ xác thực vàchặt chẽ nhất” của các giao dịch quốc tế của các đối tác Như vậy, luật củanước nơi ngân hàng đóng trụ sở sẽ được áp dụng

Đối với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người hưởng, về góc độ

quốc tế, mối quan hệ giữa hai đối tác này có sự liên quan chặt chẽ hom đến nơihoạt động của ngân hàng phát hành, nên luật quốc gia nơi ngân hàng đóng trụ

Trang 19

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

Vấn đề trranh cãi là liệu việc chỉ định ngân hàng đại lý tại nước ngườihưởng có tạo ra áp lực thay đổi luật áp dụng đối với mối quan hệ pháp lý giữangười hưởng và ngân hàng phát hành? Phần lớn các quan điểm cho rằng ngânhàng được chỉ định đóng vai trò thực hiện việc ủy nhiệm, mang tính kỹ thuật,không tạo ra nghĩa vụ mới trong giao dịch Tín dụng thư Do vậy các hành độngcủa ngân hàng này không tạo ra mối quan hệ chặt chẽ hơn đối với nơi quốc gianguồn gốc của giao dịch tín dụng chứng từ Do vậy luật của nước nơi ngânhàng phát hành có trụ sở sẽ được áp dụng Tuy nhiên việc ủy nhiệm ngân hàngđược chỉ định đôi khi làm cho vấn đề trở nên phức tạp Một số tòa và thẩmphán cho rằng việc ủy nhiêm đó như là sự phân định lại địa điểm thực hiện Tíndụng thư sang nơi ngân hàng được chỉ định, do vậy đây là nhân tố xác định luật

áp dụng Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào luật của nước mà ngân hàngđược chỉ định hoạt động Nhưng điều như vậy thường không được đưa vào các

bộ luật Từ đó, quyết định về luật áp dụng sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào cáchnhìn nhận của các vị quan tòa

Quan điểm gần như nhất quán là các vụ tranh chấp trong mối quan hệnày sẽ áp dụng Luật của nước ngân hàng xác nhận hoạt động Điều này cũngtương tự về áp dụng luật trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngườihưởng Tòa các quốc gia cho rằng việc áp dụng luật nơi ngân hàng xác nhậnhoạt động hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến luật nơi ngân hàng phát hành trúđóng, nếu người hưởng khởi kiện ngân hàng phát hành

Đối với quan hệ giữa các ngân hàng: Luật áp dụng trong tranh chấp giữacác ngân hàng được quyết định trên cơ sở xem xét ngân hàng nào thực hiện vaitrò chính trong giao dịch Tín dụng thư Như vậy các ngân hàng đại lý đượcchọn vì việc thực hiện các giao dịch của nó thể hiện được các thỏa thuận đốivới ngân hàng phát hành bất kế nó là ngân hàng thông báo, ngân hàng được chỉđịnh hay ngân hàng chiết khấu

Như vậy, mặc dù ngân hàng phát hành là nơi khởi tạo các giao dịch củaTín dụng thư nhưng các giao dịch thực sự và chặt chẽ nhất lại xuất phát từ ngânhàng đại lý, thay mặt ngân hàng phát hành thực hiện nghĩa vụ đối với ngườihưởng Do vậy địa điểm của ngân hàng đại lý sẽ định đoạt luật áp dụng trongtranh chấp

Trang 20

12 Khoản b Điều 14 UCP 600.

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

Là người mở L/C Trách nhiệm của người mua là mở L/C đúng hạn quiđịnh họp đồng, thông thường là 5 ngày làm việc12 Khi nhận được bộ chứng từngười mua có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng L/C Đe thực hiệnđược việc thanh toán thì người mua phải ký quỹ cho ngân hàng mở L/C toàn bộhay một phần trị giá của L/C, sau đó có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng khingân hàng đã thanh toán cho người hưởng lợi Neu như chứng từ không phùhọp với L/C thì người mua có quyền không hoàn trả một phàn hay toàn bộ sốtiền mà ngân hàng đã thanh toán cho người hưởng lợi

Bên xuất khẩu

Là người thụ hưởng L/C Trong phưomg thức tín dụng chứng từ, cácchứng từ rất quan trọng, nó trở thành bằng chứng về việc giao hàng của ngườibán Vì vậy mà người bán phải kiểm tra kỹ nội dung của L/C nếu chấp thuậnthì giao hàng cho người mua theo L/C Nếu không chấp thuận hoặc cần phảisửa đổi hoặc bổ sung những nội dung L/C, thì người bán điện cho người mua,hoặc cho ngân hàng mở L/C đế ngân hàng đề nghị người mua mở L/C Văn bảnsửa đổi trở thành một bộ phận không thể tách rời của L/C cũ và hủy bỏ L/C cũ.Theo qui định tại điều 10 UCP 600 Sau khi hoàn thành việc giao hàng, ngườibán lập chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C và đưa đến ngân hàng thôngbáo hoặc một ngân hàng được chỉ định trong thời gian xuất trình chứng từ.Người bán chỉ nhận được tiền hàng khi sự xuất trình là phù họp

Các ngân hàng

Nsân hàns phát hành L/C (NHPH)

Theo điều 2 UCP 600, NHPH là ngân hàng thực hiện phát hành tíndụng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc cho chính mình NHPH có tráchnhiệm kiểm tra đom và phát hành L/C sau khi đã xem xét đom mở L/C Ngoài raNHPH còn có trách nhiệm kiểm tra chứng từ chiếu theo điều 14 khoản a UCP

600 về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ “ NHđCĐ (Ngân hàng được chỉ định) hành động theo sự chỉ định, NHXN (Ngân hàng xác nhận) nếu có, và NHPH chỉ trên cơ sở chứng từ, phải kiểm tra việc xuất trình xem trên bề mặt chứng từ

có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không” Khi kiểm tra chứng từ, ngân

hàng chỉ xem xét trên bề mặt chứng từ chứ không xem xét tính chất bên trongcủa chứng từ Chính vì điều này mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính chất

Trang 21

13 Điều 17 UCP 600.

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

ranh giới thật mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, độngcủa những người có liên quan Do đó mà không ít trường họp bọn lừa đảo lợidụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng nhưng vẫn lập bộ chứng từphù họp để thanh toán Đó cũng là rủi ro mà ngân hàng thường gặp phải

Theo điều 14 khoản b UCP 600 “ NHđCĐ hành động theo sự chỉ định, NHXN nếu có, NHPH sẽ có toi đa cho mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình đế xem xuất trình có phù hợp hay không Thời hạn không

bị rút ngan hoặc bị ảnh hưởng nào khác bởi sự cố xảy ra vào hoặc sau ngày xuẩt trình roi đúng vào ngày hết hạn hay ngày xuất trình chậm nhất”.

Và điều 16 khoản b UCP 600 “ khỉ NHPH quyết định rằng xuất trình là không phù hợp thì có thể tự định tiếp xúc với người yêu cầu để xem xét bỏ qua các sai biệt, tuy nhiên điều này không được kéo dài thời hạn như qui định ở điều 14 khoản b” Có nghĩa là NHPH có một khoản thời gian họp lý không quá

5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xácđịnh chứng từ có phù họp hay không, nếu quá thời gian này thì NHPH không

có quyền thông báo sai sót

Và sau khi phát hành L/C, trách nhiệm thanh toán của NHPH đượcthực hiện NHPH thanh toán chỉ dựa vào bộ chứng từ xuất trình có họp lệ haykhông mà không cần biết thực tế hàng hóa được giao đúng hoặc không đượcgiao NHPH cũng không được nêu ra bất kì lý do nào để từ cho thanh toán chongười bán nếu người bán tuân thủ đầy đủ theo điều kiện của L/C13

Nsân hàns thôns báo (NHTB)

Có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật của L/C Theo điều 9 khoản b

UCP 600 về thông báo tín dụng/sửa đổi tín dụng “khi tiến hành thông báo tin dụng hoặc sửa đoi, NHTB phải đảm bảo rằng tín dụng hoặc sủa đoi đã thỏa mãn tinh chân thật bề ngoài, và thông bảo phải phản ảnh chỉnh xác các điều kiện và điều khoản của tin dụng hoặc sủa đoi đã nhận được”.

Và điều 9 khoản f UCP 600 “nếu ngân hàng được yêu cầu thông bảo tín dụng hoặc sửa đổi, nhưng tự mình đã không thể xác định tỉnh chân thật bề ngoài của tín dụng, sủa đối hoặc thông báo, thì phải thông báo vẩn đề đó không chậm trễ cho ngân hàng mà từ đó đã nhận được các chỉ thị ” Như vậy,

Trang 22

14 Khoản e Điều 9 UCP 600.

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

L/C không xác minh được tính chân thật bề ngoài của tín dụng thì phải liên lạcngay với NHPH để làm rõ NHTB có thể không thông báo những loại L/C nàycho tới khi xác minh được tính chân thật của nó

Trong trường họp ngân hàng được yêu cầu thông báo tín dụng hoặc sửađổi tín dụng, nhưng quyết định không làm việc đó thì phải thông báo khôngchậm trễ cho ngân hàng mà từ đó đã nhận được tín dụng hoặc sửa đổi Tíndụng14

Nsăn hàns xác nhân (NHXN)

Trường họp người xuất khẩu muốn có sự bảo đảm chắc chắn đượcthanh toán, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của

NHPH, ngân hàng này được gọi là ngân hàng xác nhận, về lý thuyết NHXN

phải là một ngân hàng lớn, có uy tín Tuy nhiên trong thực tế thì người thụhưởng có thể chỉ định NHXN, nếu không chỉ định thì NHPH sẽ tự chọn, và

NHTB thường được đề nghị NHXN về tính logic, thì trách nhiệm trả tiền

trước hết thuộc về NHPH, nếu ngân hàng này không trả tiền thì NHXN phải trảtiền thay Nhưng theo quy định của UCP 600 thì việc xác nhận của một ngânhàng khác sẽ tạo nên một cam kết chắc chắn, không hủy ngang, bổ sung vàocam kết của NHPH, điều 8 UCP 600 quy định trách nhiệm của NHXN như sau:

a Nếu L/C qui định chứng từ xuất trình tới NHXN hoặc đến bất cứ NHĐCĐ nào khác và xuất trình là phù hợp thì ngân hàng xác nhận phải

i Thanh toán, nếuL/C có giả trị

ii Chiết khẩu miễn truy đòi, nếu L/C có giá trị chiết khẩu tại ngân hàng xác nhận.

b Ngân hàng xác nhận bị ràng buộc không hủy ngang đoi với việc thanh toán hoặc chiết khẩu kể từ thời điểm xác nhận L/C

c Ngân hàng xác nhận cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng được chỉ định khác khi ngân hàng này đã thanh toán hoặc đã chiết khẩu đổi với xuất trình phù hợp và đã chuyển giao chứng từ cho ngân hàng xác nhận Sự cam kết hoàn trả tiền của ngân hàng xác nhận cho ngân hàng được chỉ định là độc lập với sự cam kết của ngân hàng xác nhận đoi với người thừa hưởng.

Trang 23

15 Khoản b Điều 14 UCP 600.

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

d Nếu một ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền hoặc yêu cầu xác nhận L/C nhưng không sẵn sàn xác nhận, thì phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng phát hình và có thể thông báo cho L/C mà không có xác nhận của mình.

Điều 15 khoản b UCP 600: “khi ngân hàng xác nhận quyết định rằng xuất trình là phù hợp thì nó phải thanh toán hoặc chiết khẩu và chuyển giao chứng từ tới ngân hàng phát hành

Như vậy, ta có thể thấy ừách nhiệm của ngân hàng xác nhận đối vớingười hưởng lợi cũng tưomg tự như ngân hàng phát hành Tuy nhiên ngân hàngxác nhận còn phải có trách nhiệm đối với ngân hàng phát hành về nghĩa vụ trảtiền L/C Do vậy rủi ro thuộc hoàn toàn về ngân hàng xác nhận và quyết địnhcuối cùng có nên xác nhận L/C hay không là tùy thuộc vào khả năng phân tíchcủa ngân hàng

Nsẫn hàng được chỉ định (NHđCĐ)

NHđCĐ là ngân hàng mà được NHPH chỉ định thay mặt mình tiếpnhận, kiểm ừa và thực hiện việc thanh toán hay chiếc khấu bộ chứng từ xuấttrình phù họp Nói cách khác NHđCĐ là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trịthanh toán hoặc chiết khấu

Trách nhiệm ngân hàng được chỉ định:

Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày xuất trình phải kiểm tra việcxuất trình để quyết định trên bề mặt của chứng từ có tạo thành xuất trình phùhọp hay không15

NHđCĐ nếu không phải là ngân hàng xác nhận thì việc ủy quyềnthanh toán, chiết khấu của ngân hàng phát hành đối với ngân hàng được chỉđịnh sẽ không ràng buộc ngân hàng được chỉ định, phải có nghĩa vụ thanh toánhay chiết khấu Trừ khi ngân hàng được chỉ định đồng ý sẽ thanh toán bằngchiết khấu thì mới phát sinh ừách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu16

Khi NHđCĐ quyết định xuất trình là phù họp và thanh toán hoặc chiếtkhấu, thì phải chuyển giao chứng từ đến ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng

Trang 24

17 Khoản a Điều 16 UCP 600.

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

Khi NHđCĐ hành động theo sự chỉ định, quyết định là xuất trình làkhông phù hợp có thể từ chối thanh toán hoặc chiết khấu17

Neu NHđCĐ đồng thời là ngân hàng xác nhận thì trách nhiệm củangân hàng được chỉ định sẽ nhiều hom, không chỉ là tiếp nhận, kiểm tra chứng

từ mà còn bao gồm cả thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ, như vậy rủi ro sẽnhiều hom

Trang 25

18 Nguyễn Thị Kim Thúy, nhân viên phòng kinh doanh, Công ty cổ phần GENTRACO, số

2.1.1 Tranh chấp phát sinh liên quan đến xuất trình chứng từ.

Bộ chứng từ trong thanh toán quốc tế thông thường sẽ bao gồm: Hóa đomthưomg mại, phiếu đóng gói hàng hóa, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, bảohiếm đom, giấy chứng nhận số lượng, giấy chứng nhận trọng lượng, giấy chứngnhận phẩm chất, vận đom đường biển Mặc dù đây là những loại giấy tờ có inmẫu sẵn, nhưng khi thiết lập bộ chứng từ nhà xuất khẩu không kiểm tra cẩnthận, dẫn đến sự sai sót giữa các chứng từ, và giữa các chứng từ với L/C thì rủi

ro nhà xuất khẩu sẽ không lập được bộ chứng từ phù hợp và sẽ không đượcthanh toán tiền hàng; hay chứng từ xuất trình không phù hợp mà ngân hàngkhông phát hiện ra và đã thanh toán cho nhà xuất khẩu, thì rủi ro là ngân hàng

sẽ không thu hồi lại tiền được; hay do cách hiểu không thống nhất giữa cácngân hàng về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ mà ngân hàng chiết khấu đã chiếtkhấu chứng từ cho người hưởng vì cho rằng chứng từ đã xuất trình hợp lệ,trong khi đó thì ngân hàng phát hành lại từ chối thanh toán vì họ cho rằng cácchứng từ xuất trình bất hợp lệ; hay khi nhà nhập khẩu nhận được bộ chứng từ

và phát hện ra sai sót, từ chối thanh toán và không nhận hàng, các ngân hàngcũng phải lao đao vì họ đã thanh toán cho người hưởng rồi Trên nguyên tắc làkhi mở L/C thì người mở L/C phải ký quỹ 100% giá trị của L/C vào ngân hàng,điều này để đảm bảo khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, nhưng trên thực

tế nhà nhập khẩu phải vay tiền lại từ phía ngân hàng để thanh toán18, do đó mộtkhi đã chấp nhận mở L/C cho người thụ hưởng thì ngân hàng đã ràng buộctrách nhiệm lẫn rủi ro về phía mình, hoặc do người mua vì lý do giá thị trườngbiến động nếu nhập hàng về sẽ gây tổn thất cho họ nên người mua tìm mọicách để bắt lỗi chứng từ và từ chối thanh toán Hành trình thanh toán nhanh,tiện lợi nhưng đầy “chông gai” như vậy đòi hỏi tất cả các bên tham gia phưomgthức thanh toán tín dụng chứng từ phải thật cẩn thận trong việc lập và kiểm tracác chứng từ để hạn chế những rủi ro và tranh chấp phát sinh

Trang 26

19 Điều này được áp dụng cho vận đom có tính lưu thông trên thị trường (chuyển nhượng, cầm cố )

từ vận tải liên hợp (Multimodal Transport Document)

không áp dụng cho các loại vận đơn không có tính lưu thông như: Vận đơn đường biển không lưu

thông (Sea Waybill), vận đơn hàng không (Aừ Waybill)

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

thì chính là chủ sở hữu của hàng hóa19 Còn bảo hiểm đom là chứng từ cho phépngười được bảo hiểm quyền được bồi thường thiệt hại, và bất cứ ai nắm giữchứng từ bảo hiểm cũng có quyền đòi hãng bảo hiểm bồi thường nếu có rủi rohàng hóa xảy ra Trong những thập niên 90 rất nhiều tranh chấp xảy ra liênquan đến vấn đề bản gốc và bản sao copy chứng từ được quy định tại UCP 500điều 20 (b) Chính vì vậy mà hiểu như thế nào về bản chính và bản sao chứng

từ cho đúng khi xuất trình chứng từ là một việc càn thiết để giảm thiểu cáctranh chấp có thể xảy ra Và chuyện rắc rối mà quy định tại điều 20 (b) UCP

500 mang lại là gì? Sau đây người viết xin đưa ra một ví dụ chứng minh điềunày

Ví du:

Tín dụng thư do Ngân hàng p phát hành cho Công ty X có giá trị chiết

khấu tại Ngân hàng c Trong số các chứng từ xuất trình, Tín dụng thư yêu cầu:

Vận đơn một bộ gồm 3 bản gốc và 3 bản copy, giấy chứng nhận bảo hiểm gồm

2 bản gốc

Người hưởng xuất trình chứng từ tại Ngân hàng c theo đúng yêu cầu Tín

dụng thư Sau khi kiểm tra, Ngân hàng chiết khấu gửi chứng từ cho Ngân hàng

p kèm bản gửi chứng từ với lời xã thực: “7ữV cả chứng từ phù hợp với các điều khoản Tín dụng thư, đã được chiết khẩu ”

Một tuần sau, Ngân hàng c nhận được Telex từ Ngân hàng p thông báo bất

họp lệ chứng từ như sau:

Vận đơn chỉ xuất trình một bản gốc và 5 bản copy

Giấy chứng nhận bảo hiểm một bản gốc và một bản copy xuất trình BảnDuplicate được ký qua giấy than

Ngân hàng c phản ứng lại thông báo của Ngân hàng P:

“Chúng tôi không chấp nhận cái gọi là bất hợp lệ chứng từ mà Quý Ngânhàng đưa ra vì lý do sau”:

Trang 27

20 Phân tích các tình huống trong giao dịch tín dụng chứng từ, Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thanh niên,

Hà Nội, Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng2000, tr 121

gốc phát hành là: 3” Như vậy bản 1, bản 2 và bản 3 chính là ba bản gốc họpthành một bộ vận đon gốc ba bản

Tưong tự, Giấy chứng nhận bảo hiểm cũng ghi “ORIGINAL” và

“DUPLICATE” và trên bề mặt cũng phát hành 2 bản Hai bản xuất trình chính

là hai bản gốc “Giấy chứng nhận bảo hiểm” Không thể coi bản

“DUPLICATE” là bản phụ vì không dấu “ORIGINAL”

Ngân hàng p dẫn chiếu điều 20 (b) UCP 500 để bảo vệ quan điểm củamình:

“Trừ khi Tín dụng thư nói khác, Ngân hàng sẽ chấp nhận chủng từ bả gốc được thiết ỉập bởi phương pháp đảnh mảy, hệ thong máy tỉnh, bằng bản giấy than với điểu kiện được đánh dấu “ORIGINAL” và khi cần được ký”.

Ngân hàng p khẳng định: Bản “DUPLICATE” và “TRIPLICATE” không

có dấu “ORIGINAL” nên không thể coi là vận đom gốc

Tưomg tự, bản “DUPLICATE” của chứng từ bảo hiểm cũng không có dấu

“ORIGINAL” Hơn nữa, nó lại được ký qua giấy than, chứ không trực tiếp

bằng tay nên chỉ là bản phụ

Ngân hàng c không đồng ý với lập luận trên và nói rằng khi vận đơn ghi số

bản gốc là 3 thì 3 bản (“ORIGINAL”, “DUPLICATE”, “TRIPLICATE”) là 3bản gốc chứ không thể coi chỉ vận đơn có ghi “ORIGINAL” mới là bản gốc

Sự phân tích tương tự cũng áp dụng cho chứng từ bảo hiểm

Nhận xét:

Thật ra “DUPLICATE”, “TRIPLICATE” đều được hiểu là bản gốc, vì xét

về mặt thực tế thì đây là vấn đề đã được các hãng vận tải (người chuyên chở)chấp nhận như là một thông lệ trong giao dịch vận tải quốc tế20 Bởi vì Ngânhàng p đã áp dụng một cách triệt để và máy móc theo điều 20 (b) UCP 500 vàcho rằng 2 bản “DUPLICATE”, “TRIPLICATE” là 2 bản sao chư không phảibản gốc Theo điều 20 (b) UCP 500 quy định như sau:

“Trừ khi được quy định khác trong Tín dụng thư, ngân hàng sẽ chấp nhận như là bản chỉnh, những chứng từ được lập, hoặc thể hiện được lập

Trang 28

21 Toàn tập UCP 500 (Phân tích và bình luận toàn diện các tình huông trong tín dụng chứng từ),

Hà nội, 2000, tr.281

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

2 bằng bản giấy than Với điều kiện là chúng được đóng dấu là bản gốc và khi cần thiết chứng từ được kỷ Chủng từ có thế được kỷ bằng tay, bằng chữ kỷ qua fax, bằng dấu chữ kỷ đục lỗ, bằng con dấu, bằng kỷ hiệu hoặc bằng bất cứ phương pháp chứng thực nào của máy móc hoặc điện tử.

Và theo cách hiểu UCP 500 thi chứng từ gốc là ngoài các loại chứng từ viếttay hoặc bằng trang đầu của máy đánh chữ thì tất cả các chứng từ còn lại đượctạo ra từ các phưomg tiện khác thì cần có dấu “ORIGINAL” mới trở thành bảngốc21 Và đương nhiên Ngân hàng p áp dụng triệt để theo UCP 500 cũng khôngphải là lỗi của họ, vì trách nhiệm của họ là tuân thủ theo UCP 500 khi kiểm trachứng từ

Nhưng khó khăn ở chỗ các chứng từ được đóng dấu “DUPLICATE”,

“TRIPLICATE” được các hãng vận tải sử dụng như là bản gốc Mặc dù việc sửdụng này rất ít xảy ra nhưng không phải là không có Neu như có những chứng

từ như vậy đem đi xuất trĩnh thì sẽ bị từ chối vì ngân hàng chỉ dựa vào tiêuchuẩn kiểm tra chứng từ trong UCP 500 Và khi UCP 600 ra đời tại điều 17quy định bản gốc và bản sao cũng không khắc phục được nhược điểm đó Cụthể điều 17c như sau

“Trừ khi chủng từ được quy định khác, ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ như là chủng từ gốc, nầỉ chủng từ:

i Thể hiện được viết, đánh mảy, đục lỗ, hoặc đóng dấu bằng tay của người phát hành hoặc

ii thể hiện là giấy văn thư chỉnh thức của người phát hành chứng từ hoặc

iii ghi rõ chứng từ gốc, trừ khi có tuyên bổ không áp dụng chứng từ xuất trình ”.

Quy định như thế cũng không khác gì so với quy định trong UCP 500 Nókhông bù lắp được khuyếm khuyết ở điều 20 (b) UCP 500 cũng chính vì trongthời gian qua có những vụ tranh chấp về hình thức của chứng từ gốc xuất phát

từ UCP 500 và UCP 600 không quy định rõ ràng dẫn đến mỗi bên có mỗi cáchhiểu khác nhau khi vận dụng Một điều đáng mừng là tại điều 28 của bản

Trang 29

Đề tài: Thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

ISBP/2007 đã bổ sung kịp thời khuyếm khuyết ấy Xin được trích nguyên vănđiều 28 như sau:

“Documents issued in more than one original may be marked “original”.

“duplicate”, “triplicate”, “first originaỉ”“second originaỉ”, etc Non of these marking wỉll disquaỉity a document as an original”.

Nhưng dù sao đi chăng nữa UCP 600 nên đưa thẳng sự giải thích giốngnhư điều 28 ISBP/2007 vào trong điều 17 để việc bổ sung đó được biết đếnnhiều hom

Thật ra không phải chỉ có những tranh chấp phát sinh do UCP có khuy ếmkhuyết, không quy định rõ ràng mà ngay cả UCP có quy định rõ ràng nhưngngười lập chứng từ vẫn thực hành sai sót, và kế cả những ngân hàng khi thamgia vào việc kiểm tra chứng từ cũng có những cách hiểu không giống nhau khi

áp dụng UCP Dưới đây người viết xin đưa thêm một ví dụ về tranh chấp liênquan đến chứng từ xuất trình là vận đom đường biển Như ở ví dụ trước ngườiviết đề cập đến vận đom đường biển là một loại chứng từ quan trọng hom một sốloại chứng từ khác mà việc lập và kiểm tra từ hình thức và nội dung phải thậtcẩn thận, kỹ lưỡng Trong vận đom đường biển ngoài việc thể hiện đầy đủ trongnội dung như: tư cách của người ký phát vận đom, vận đom có chuyển tải haykhông, thì việc ghi chú hàng “đã bốc” lên tàu nào và tại cảng nào cũng rất quantrọng, và tùy theo từng trường họp cụ thể mà người lập phải ghi chú sao chođúng đế khi xuất trình chứng từ không bị từ chối

Ví du:

Tín dụng thư được ngân hàng p phát hành quy định một số điều khoản giaohàng như sau:

2 Vận đom đường biển “đã bốc”

3 Giao hàng từ cảng pháp đến cảng thành phố Hồ Chí Minh-Việt Nam

4 Cho phép chuyển tải

5 Chứng từ được xuất trình tại ngân hàng c với chi tiết vận đom như sau:

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Võ Thanh Thu: Hỏi đáp về thanh toán xuất nhập khẩu qua phương thức tín dụng chứng từ, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS Võ Thanh Thu: "Hỏi đáp về thanh toán xuất nhập khẩu quaphương thức tín dụng chứng từ
Nhà XB: NXB Thống kê
2. GS.TS Võ Thanh Thu: Hướng dẫn đọc hiểu UCP-DC 600, NXB Thống kê, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đọc hiểu UCP-DC 600
Nhà XB: NXB Thốngkê
3. Trọng tài viên (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam)-Nguyễn Trọng Thùy: Toàn tập UCP 500 (Phân tích và bình luận toàn diện tình huống tin dụng chứng từ), NXB Thống kê, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập UCP 500 (Phân tích và bình luận toàn diện tình huốngtin dụng chứng từ)
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Th.s Nguyễn Trọng Thùy: Toàn tập UCP 600 (Phân tích và bình luận toàn diện tình huống tín dụng chủng từ), NXB Thống kê, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th.s Nguyễn Trọng Thùy: "Toàn tập UCP 600 (Phân tích và bình luậntoàn diện tình huống tín dụng chủng từ)
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Nguyễn Trọng Thùy: Phân tích các tình huống trong tín dụng chứng từ, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các tình huống trong tín dụng chứng từ
Nhà XB: NXB Thanh Niên
6. PGS.TS Nguyễn Thị Quy: cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Nguyễn Thị Quy: "cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanhtoán quốc tế bằng L/C
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
7. PGS.TS Tràn Hoàng Ngân, TS. Nguyễn Minh Kiều: Thanh toán quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốctế
Nhà XB: NXB Thống kê
8. Cao học Kinh tài Dương Hữu Hạnh: Thanh toán quốc tế-nguyên tắc và thực hành, NXB Tài Chính, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế-nguyên tắc vàthực hành
Nhà XB: NXB Tài Chính
9. GS.TS Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân: Tín dụng xuất nhập khấu-thanh toán quốc tế và kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng xuất nhập khấu-thanh toánquốc tế và kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống kê
1. Thanh toán quốc tế: Thủ tục thanh toán quốc tế, http://www.cnqtdn.googlepapes.com,[truy cập ngày 23-10-2007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế: "Thủ tục thanh toán quốc tế
2. Phạm Xuân Quỳnh, Đại học Luật TP.HCM: Diễn đàn thanh toán quốc tế, http://www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com, [truy cập ngày 17- 12-2007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn thanh toán quốctế
3. Bà Bùi Tưomg Minh Anh, GĐ Thanh toán quốc tế của ngân hàng HSBC:Thanh toán quốc tế và quản lý rủi ro, http://www.vietnamnet.com . [truy cập ngày 1-8-2008] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế và quản lý rủi ro
4. Bách khoa toàn thư Wikipedia: Thanh toán quốc tế, http://www.vi.wikipedia.org , [truy cập ngày 16-6-2007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế
5. Webside Nguyễn Thanh Hải: Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh, http://www.thanhhai.wordpress.com,[truy cập ngày 19-1- 1008] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương thức thanh toán quốc tế trongkinh doanh
6. Nghiêm Hùng, diễn đàn Ngân hàng: Kỉnh nghiệm từ thanh toán qua L/C, http://www.diendannganhang. com, [truy cập ngày 8-4-2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉnh nghiệm từ thanh toán quaL/C
3. Quy định của Tòa án nhân dân Tối cao Trung Quốc về một số vấn đề khi xét xử các vụ án liên quan đến các tranh chấp L/C 2005.^Danh mục sách, báo, tạp chí Khác
7. Ths.Luật sư Ngô Văn Hiệp, Văn phòng Luật sư Hiệp và Liên danh: Các biện pháp ngăn ngừa các tranh chấp trong tín dụng chứng từ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w