Ngoài việc nghiên cứu ñề tài bám sát theo UCP 600, phiên bản mới nhất ñược ban hành vào ngày 01/7/2007, người viết sẽ ñưa ra những tình huống ñiển hình xảy ra vào thời kỳ UCP 500 có hiệu
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 (2006 – 2010)
THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG THƯ TÍN DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp Luật Thương mại 1 – K 32
CẦN THƠ 4 – 2010
Trang 2LỜI NÓI ðẦU
Ngày nay, với tốc ñộ phát triển mạnh mẽ của hoạt ñộng ngoại thương ñã thúc ñẩy nền kinh tế thế giới phát triển không ngừng, việc mở cửa thị trường ñã tạo cơ hội cho hoạt ñộng mua bán hàng hóa ñược thông thương giữa nhiều quốc gia trên thế giới Vấn ñề ñặt ra là làm thế nào ñể việc chuyển giao hàng hóa, ñặt biệt là thanh toán tiền hàng diễn ra một cách thuận lợi khi mà các ñối tác ñang ở cách xa nhau về khoảng cách ñịa lý Và ñáp ứng nhu cầu thiết yếu
ấy ñã ra ñời nhiều phương thức thanh toán phù hợp theo từng ñiều kiện hoàn cảnh mà các bên tham gia lựa chọn cho phù hợp Trong nhiều phương thức thanh toán, thì phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng có vị trí vai trò quan trọng nhất, với những ưu ñiểm nổi bật của mình, thanh toán bằng thư tín dụng
là phương thức thanh toán ñược nhiều quốc gia sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế1
Mặc dù ñây là phương thức thanh toán ñược ưa chuộng nhất, song nó vẫn còn tồn tại nhiều tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng thư do pháp luật quy ñịnh chưa rõ ràng, một số quy ñịnh còn hạn chế, và
do không am hiểu tường tận, áp dụng không ñồng bộ thông lệ quốc tế, pháp luật quốc gia ðể làm sáng tỏ tầm quan trọng của thanh toán bằng thư tín dụng, ñưa ra những tranh chấp thường mắc phải và ñề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ñiều chỉnh quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng Với suy
nghĩ như vậy người viết ñã chọn ñề tài “Thanh toán quốc tế bằng thư tín
dụng”
ðề tài này sẽ tập trung nghiên cứu các vấn ñề lý luận, pháp luật ñiều chỉnh
và thực trạng các tranh chấp xảy ra khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ ðối với phần pháp luật ñiều chỉnh và thực trạng, người viết sẽ tập trung nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau, ñể từ ñó rút ra cái nhìn so sánh ñối với pháp luật và thực trạng ở Việt Nam
Sau khi trình bày khái quát phần lý luận chung ñể có sự nhận biết về tầm quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ, cũng như việc áp dụng pháp luật cho phương thức thanh toán này thì người viết sẽ ñi sâu nghiên cứu thực trạng các tranh chấp xảy ra và ñồng thời rút ra những nguyên nhân dẫn ñến tranh chấp Từ những bất cập ñó người viết sẽ ñưa ra những kiến nghị nhằm
1
Www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com , tác giả Phạm Xuân Quỳnh-ðại học Luật TP.HCM, ngày 17/12/2007
Trang 3hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh Từ ñó rút ra những kinh nghiệm ñể
áp dụng cho pháp luật Việt Nam
Khi nghiên cứu một ñề tài luận văn, người viết hiểu rõ ñề tài phải có ñiểm mới so với những ñề tài nghiên cứu cùng lĩnh vực, chỉ như thế người viết lẫn người ñọc mới có ñược cảm giác hứng thú khi tìm hiểu Ngoài việc nghiên cứu
ñề tài bám sát theo UCP 600, phiên bản mới nhất ñược ban hành vào ngày 01/7/2007, người viết sẽ ñưa ra những tình huống ñiển hình xảy ra vào thời kỳ UCP 500 có hiệu lực, sau ñó người viết sẽ phân tích và rút ra so sánh với UCP
600, ñồng thời người viết sẽ ñi tìm hiểu thêm khía cạnh xác ñịnh luật áp dụng
và nguyên tắc xác ñịnh luật áp dụng khi có tranh chấp xảy ra trong thanh toán bằng thư tín dụng, ñây cũng là vấn ñề gần như không ñược quan tâm khi mà các bên tham gia vào phương thức thanh toán
ðể có một ñề tài thu hút người ñọc nhưng thiếu phương pháp nghiên cứu thì bài viết sẽ trở nên nhạt nhẽo, thiếu tính chặt chẽ và thực tế Do ñó lựa chọn phương pháp nghiên cứu cũng khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu ñề tài ðể viết ñược ñề tài này, người viết ñã sử dụng ba phương pháp nghiên cứu Phương pháp ñầu tiên là phương pháp tổng hợp tài liệu và chọn lọc tài liệu, với phương pháp này người viết phải tập hợp tất cả các tài liệu liên quan ñến ñề tài, sau ñó phân loại cho từng chương vì ñây là phương pháp áp dụng chung cho cả hai chương Phương pháp thứ hai là phương pháp phỏng vấn, người viết dùng phương pháp này ñể tìm hiểu thực tế phương thức thanh toán bằng thư tín dụng ñược sử dụng như thế nào sau khi người viết ñã tham khảo nhiều tài liệu có liên quan ðối với chương hai, người viết sử dụng phương pháp phân tích thực tiễn nhằm làm rõ các tranh chấp thường gặp phải trong phương thức tín dụng chứng
từ, ñể từ ñó rút ra ñược nguyên nhân cũng như những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật thanh toán bằng thư tín dụng
Ngoài lời mở ñầu và kết luận thì luận văn ñược kết cấu thành hai chương Chương 1: Là những vấn ñề lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng
từ, bao gồm khái niệm, nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, ñồng thời nêu ra vấn ñề xác ñịnh luật áp dụng và nguyên tắc xác ñịnh luật áp dụng
Chương 2: Chủ yếu ñi sâu tìm hiểu các loại tranh chấp thường xảy ra liên quan ñến việc áp dụng phương thức tín dụng chứng từ, từ ñó sẽ rút ra những
Trang 4nguyên nhân dẫn ñến tranh chấp, và ñề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng
Trong thời gian thực hiện ñề tài này, người viết cũng gặp những khó khăn nhất ñịnh, nhưng người viết vô cùng cảm ơn giáo viên hướng dẫn ñã giúp ñỡ cho việc ñịnh hướng ñề tài và sửa chữa những nội dung còn quá sơ sài ñể người viết có thể hoàn thành luận văn Với ñề tài nghiên cứu này, người viết hy vọng quý thầy cô và các bạn sinh viên có quan tâm sẽ ñóng góp ý kiến ñối với những phần mà người viết còn thiếu sót trong thời gian nghiên cứu Chân thành cảm ơn!
SINH VIÊN THỰC HÀNH MAI KIM THUẬN
Trang 5CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG
THƯ TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm chung thanh toán bằng thư tín dụng
1.1.1.Khái quát chung về thư tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm và những ñặc trưng cơ bản của thư tín dụng (Letter of credit- L/C)
Theo ñiều khoản 2 UCP 600 (Uniform Custorms Practice 600) thì “Thư tín dụng (Letter of credit) còn gọi tắt là L/C là bất cứ sự thỏa thuận nào dù ñược gọi hoặc ñược mô tả như thế nào mà theo ñó không thể hủy ngang và trở thành một cam kết của ngân hàng phát hành Thư tín dụng về việc thanh toán khi chứng từ xuất trình hợp lệ”
Trước ñây UCP 500 ñịnh nghĩa “Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu (người xin mở L/C) cam kết trả tiền cho người xuất khẩu (người thụ hưởng/hưởng lợi) một số tiền nhất ñịnh với ñiều kiện người này thực hiện ñúng và ñầy ñủ những ñiều kiện quy ñịnh trong lá thư ñó”
Trong hàng loạt các cuộc thương lượng, ñàm phán giữa hai bên mua bán trong quan hệ thương mại, mặc dù Tín dụng thư là khâu cuối cùng ñược thực hiện nhưng lại mang tính chất quyết ñịnh Bởi vì, tất cả các giao dịch như sản xuất, thu mua hàng hóa, kiểm nghiệm, vận chuyển, tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất thành phẩm, dự trữ, ký kết bán hàng… chỉ có giá trị thực tế khi Tín dụng thư ñược phát hành Người bán chỉ có thể khẳng ñịnh hợp ñồng ñược thực hiện khi nhận ñược Tín dụng thư Người mua chỉ thể hiện ñược ý chí, khả năng mua hàng khi ñược ngân hàng phát hành Tín dụng thư theo ý chí của họ Như vậy Tín dụng thư còn là vật bảo ñảm cho việc thực hiện hợp ñồng thương mại Chính vì vậy, do tính chất quan trọng của nó mà theo cách hiểu L/C trong UCP
500 thì Tín dụng thư ñược hiểu là một cam kết thanh toán, hoặc một chấp nhận thanh toán ñược thể hiện bằng văn bản cho người hưởng khi chứng từ theo quy ñịnh xuất trình hợp lệ
Thực chất theo ñịnh nghĩa của UCP 600 nghĩa vụ của các bên tham gia (ngân hàng phát hành, người thụ hưởng) trong thanh toán bằng L/C không có gì
Trang 6khác so với ñịnh nghĩa theo UCP 500, nhưng có một ñiểm khác ñó là thêm vào UCP 600 một nguyên tắc cơ bản của L/C ñó là tất cả các L/C ñều không hủy ngang Phần này của ñịnh nghĩa loại bỏ ñiều 6 UCP 500, loại bỏ luôn khái niệm L/C có thể hủy ngang Như vậy từ nay trong giao dịch tín dụng chứng từ, tất cả các L/C ñều không hủy ngang, dù có tiêu ñề tên gọi như thế nào, trừ khi các bên muốn nó là L/C có thể hủy ngang thì phải thỏa thuận và ghi rõ trong L/C
ðể tìm hiểu sâu hơn về L/C không hủy ngang, cũng như là ý ñồ mà những người soạn thảo muốn ñưa quy tắc này vào UCP 600, phần này người viết sẽ trình bày kỹ hơn ở phần phân loại Thư tín dụng
Mặt khác tùy theo thông lệ quốc tế hay thói quen từng nước mà tín dụng thư ñược gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Doccument Credit…tương tự ở Việt Nam ta cũng có thể gọi là Tín dụng thư, Thư tín dụng, tín dụng chứng từ, L/C…Nhưng trong giao dịch tên ñược gọi thông dụng nhất
là tín dụng chứng từ vì nó thể hiện ñúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ 2
ðặc trưng cơ bản của thư tín dụng (L/C)
Theo mục a khoản 4 UCP 600 nêu rõ:
“Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch riêng biệt ñối với một hợp ñồng mua bán, hoặc một hợp ñông khác, mà chính hợp ñồng ñó là cơ sở cho ra ñời Thư tín dụng Các ngân hàng không hề có liên quan gì ñến, hay không hề
bị ràng buộc bởi hợp ñồng ñó, thậm chí ngay cả khi có bất kì ñiều dẫn chiếu nào ñến hợp ñồng ñó ñược ghi trong Thư tín dụng”
Thư tín dụng là cơ sở pháp lý chính cho việc thanh toán, nó ràng buộc tất
cả các bên hữu quan tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như: nhà nhập khẩu, ngân hàng bên nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng chiết khấu…còn hợp ñồng mua bán ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc về quyền lợi và nghĩa cụ của hai bên xuất khẩu và nhập khẩu
Do tính chất ñộc lập của L/C ñối với hợp ñồng nên trách nhiệm của ngân hàng phát hành hoàn toàn không ảnh hưởng gì bởi khiếu nại của người mở thư tín dụng xuất phát từ mối quan hệ làm ăn với người thụ hưởng/ hưởng lợi Ngay khi quan hệ giữa người xin mở Thư tín dụng và ngân hàng phát hành có mối quan hệ ñặc biệt từ ngân hàng cũng không có quyền từ chối thanh toán nếu như nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy ñịnh của L/C, ngay
2
Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thống kê, Năm 2009, tr.75
Trang 7cả trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng, điều này được quy định trong điểm a khoản 4 UCP 600:
“Sự cam kết của một ngân hàng trả tiền chấp nhận và trả tiền các hối phiếu, hoặc chiết khấu và/ hoặc hồn thành bất kì nghĩa vụ nào theo đĩ tín dụng thư khơng phụ thuộc vào yêu sách hay biện bạch của người yêu cầu nhờ
cĩ mối quan hệ với ngân hàng mở, hoặc người hưởng lợi”
UCP 600 đưa thêm nội dung mới thể hiện qua mục b khoản 4 mà UCP 500 khơng cĩ:
“Ngân hàng phát hành nên ngăn chăn khuynh hướng của người xin mở Thư tín dụng muốn quy định các bản sao của hợp đồng, hĩa đơn báo giá làm
cơ sở để mở Thư tín dụng, hoặc tương tự như vậy là một phần khơng thể thiếu của Thư tín dụng”
Tại sao UCP 600 lại cĩ thêm quy định này? Thật ra đây khơng phải là sự cấm đốn của ICC trong phương thức thanh tốn này mà chỉ là lời khuyên nhằm ngăn cản người mở L/C đưa thêm quá nhiều chi tiết vào L/C Lý do mà người mở yêu cầu như vậy bởi vì “người mở tin tưởng một cách sai lầm là họ
cĩ thể bảo vệ được chính mình bằng cách làm đĩ” Thực ra hiếm khi được như vậy (ngân hàng chỉ cĩ thể thanh tốn hoặc chấp nhận hoặc chiết khấu đối với các chứng từ phù hợp với những điều kiện và điều khoản của L/C3 Thật vậy, nếu như đưa quá nhiều chi tiết vào L/C sẽ bất lợi cho cả hai phía, L/C càng dài, càng chi tiết thì càng dễ bị lỗi, bị nhiễu điện, gây rối rắm, nhầm lẫn cho người hưởng, cũng như người mở và cả ngân hàng, cĩ người ngộ nhận là càng cĩ nhiều chi tiết hàng hố, điều khoản trong L/C càng bảo đảm an tồn cho người
mở Sự thật khơng phải vậy, nếu cĩ quyết định như thế thì sẽ làm cho quá trình thanh tốn diễn ra phức tạp hơn, dễ mắc sai hơn
1.1.1.2 Phân loại thư tín dụng
Hiện nay, cĩ nhiều loại L/C để các đối tác lựa chọn Và tuỳ theo điều kiện, hồn cảnh cụ thể của các bên đối tác mà họ lựa chọn loại hình L/C nào là thích hợp cho mình
Theo Ủy Ban về Kỹ thuật và Nghiệp vụ Ngân hàng thuộc ICC, nếu phân theo phương thức sử dụng thì Tín dụng thư gồm cĩ các loại như: Tín dụng thư khơng hủy ngang cĩ giá trị trực tiếp, Tín dụng thư khơng hủy ngang cĩ giá trị
3
Tồn tập UCP 600 (phân tích và bình luận tồn diện tình huống tín dụng chứng từ), Th.s Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thống kê, năm 2009, tr.107
Trang 8chiết khấu, Tín dụng thư không hủy ngang có giá trị xác nhận, Tín dụng thư tuần hoàn, Tín dụng thư với ñiều khoản ñỏ, Tín dụng thư dự phòng, Tín dụng thư chuyển nhượng, Tín dụng thư giáp lưng4
Hiện nay, ña phần các doanh nghiệp ñều sử dụng L/C không hủy ngang (Irrevocable letter of credit)5 ðây là loại L/C sau khi ñược ngân hàng mở thì không thể hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thỏa thuận của các bên tham gia, nên nó ñược sử dụng rộng rãi Còn ñối với L/C có thể hủy ngang gần như không còn tồn tại bởi nó gây ra hậu quả khó lường cho người hưởng, hoặc cho các ngân hàng Chính vì khuyết ñiểm ñó mà theo tinh thần của UCP 600 thì ñiều khoản 6 và 8 trong UCP 500 qui ñịnh về L/C hủy ngang và không hủy ngang, và việc hủy bỏ L/C ñã không còn tồn tại nữa Tuy nhiên một L/C không hủy ngang không có nghĩa là không thể hủy bỏ Trong thanh toán các bên cùng ñồng ý hủy bỏ, và sự thỏa thuận ñó ñã thông báo cho các ngân hàng có liên quan thì nó ñược công nhận không còn giá trị thực hiện
1.1.2 Thanh toán bằng thư tín dụng
ðể người ñọc nắm bắt ñược phương thức tín dụng như thế nào? Ở phương thức này có những ñặc ñiểm gì mà nó hơn hẳn nhiều phương thức thanh toán khác, ñồng thời thấy ñược tầm quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ trong giao dịch thương mại quốc tế Ở phần này người viết sẽ trình bày khái quát về thanh toán bằng Thư tín dụng
1.1.2.1 Khái niệm và những ñặc trưng cơ bản của thanh toán bằng Thư tín dụng
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong
ñó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất ñịnh cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền ñó nếu người này xuất trình ñược bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy ñịnh nêu ra trong Thư tín dụng nói một cách ñơn giản hơn, phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong ñó một ngân hàng (ngân hàng mở Thư tín dụng) ñáp ứng những nhu cầu của khách hàng (người xin mở Thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả
Trang 9hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những ựiều kiện và ựiều khoản quy ựịnh trong Thư tắn dụng ựược thực hiện ựúng và ựầy ựủ
đặc trưng cơ bản :
Phương thức thanh toán tắn dụng chứng từ liên quan ựến hai quan hệ hợp ựồng ựộc lập: đó là quan hệ giữa người xin mở Thư tắn dụng với ngân hàng phát hành, và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu
Thỏa thuận xin mở Thư tắn dụng giữa người mở Thư tắn dụng (người nhập khẩu), và ngân hàng phát hành là một hợp ựồng kinh tế dịch vụ Người nhập khẩu phải làm ựơn yêu cầu mở Thư tắn dụng, trả một khoản lệ phắ mở Thư tắn dụng, và ký quỹ một số tiền nhất ựịnh tùy theo quy ựịnh của ngân hàng Trong ựơn xin mở Thư tắn dụng phải ghi rõ nội dung cụ thể về hàng hóa, ựiều kiện xuất trình chứng từ, ngân hàng căn cứ vào ựó mở Thư tắn dụng cho người hưởng, và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu xuất trình Nếu các chứng từ hoàn toàn phù hợp với nội dung ựiều kiện của Thư tắn dụng thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau ựó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu ựi lấy hàng
Bản thân Thư tắn dụng là một cam kết trả tiền có ựiều kiện của ngân hàng phát hành ựối với người hưởng lợi nếu người này thực hiện ựúng những quy ựịnh ựề ra trong Thư tắn dụng Người xuất khẩu phải lập ựầy ựủ các chứng từ phù hợp với yêu cầu của Thư tắn dụng, và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn quy ựịnh Sau khi kiểm tra, nếu thấy chứng từ hoàn toàn phù hợp với những quy ựịnh của L/C, ngân hàng phải thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu
Hai nguyên tắc cơ bản trong thư tắn dụng: Trong thanh toán tắn dụng
chứng từ có hai nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc ựộc lập của Tắn dụng thư và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ
+ Nguyên tắc ựộc lập của Tắn dụng thư: Thư tắn dụng ựược mở trên cơ
sở của hợp ựồng mua bán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu ựể thanh toán tiền hàng cho số hàng mà nhà xuất khẩu ựã giao hàng cho nhà nhập khẩu theo hợp ựồng thương mại ựã ký kết Nhưng khi ra ựời thư tắn dụng hoàn toàn ựộc lập với hợp ựồng thương mại, hay bất kỳ một hợp ựồng nào khác làm cơ sở cho Thư tắn dụng, thậm chắ ngay cả trong Thư tắn dụng có dẫn chiếu ựến các hợp ựồng ựó Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành Thư tắn dụng ựối với ngân hàng
Trang 10phục vụ người hưởng lợi không phụ thuộc vào việc người hưởng lợi có thực hiện ñúng nghĩa vụ của mình ñối với người nhập khẩu theo hợp ñồng mua bán hay không, thay vào ñó nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với Thư tín dụng của người xuất khẩu Ngân hàng mở Thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Thư tín dụng với lý do người nhập khẩu giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tương tự Các tranh chấp giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phát sinh từ hợp ñồng mua bán cơ bản sẽ giải quyết một cách ñộc lập với giao dịch Tín dụng thư Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người nay xuất trình các chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C
+ Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: Khi kiểm tra các chứng
từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng
từ này tuân thủ chẩ chẽ các yêu cầu của Thư tín dụng Có quan ñiểm cho rằng ngân hàng không nên quá chặt chẽ khi có sự khác biệt thông thường, không nghiêm trọng, và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa là tìm ra sự khác biệt do in ấn, do lỗi kỹ thuật trong tạo lập chứng từ Tuy nhiên cách an toàn nhất cho ngân hàng vẫn là tiến hành tuyệt ñối nguyên tắt tuân thủ chặt chẽ của chứng từ Bất kỳ sự ñi chệch khỏi nguyên tắc này, cho dù là ñược phép ñi nữa ñều có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng, và có thể dẫn ñến nhiều vụ kiện tụng tốn nhiều thời gian và tiền bạc
Nguyên tắc các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa trong phương thức tín dụng chứng từ Các chứng từ xuất trình là căn cứ duy nhất ñể ngân hàng quyết ñịnh trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi Thư tín dụng, ñồng thời cũng là căn cứ duy nhất ñể người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối thanh toán tiền cho ngân hàng Nếu người xuất khẩu xuất trình các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các quy ñịnh của Thư tín dụng thì sẽ ñược ngân hàng trả tiền, ngân hàng không
chịu trách nhiệm về số phận thật sự của hàng hóa Như vậy trong phương thức
tín dụng chứng từ, các chứng từ có tầm quan trọng ñặc biệt, nó là minh chứng cho giá trị hàng hóa mà người bán ñã giao, và là căn cứ cho nhà xuất khẩu ñòi ngân hàng thanh toán tiền hàng, và cũng là cơ sở cho ngân hàng chấp nhận hay
từ chối thanh tóan cho người xuất khẩu
Các ñặc trưng trên ñã mang lại cho phương thức tín dụng chứng từ những
ưu ñiểm riêng biệt mà những phương thức thanh toán khác không thể nào có ñược, và cũng là lý do giải thích tại sao trong thanh toán quốc tế hiện nay,
Trang 11phương thức tín dụng chứng từ vẫn ñược các doanh nghiệp lựa chọn và chiếm
tỷ lệ cao trong phương thức thanh toán
1.1.2.2 Quy trình thanh toán bằng thư tín dụng
So với các phương thức thanh toán chủ yếu ñược áp dụng trong ngoại thương như chuyển tiền, nhờ thu thì phương thức thanh toán bằng L/C là phương thức ñược sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên phương thức thanh toán bằng L/C cũng là phương thức thanh toán có quy trình nghiệp vụ phức tạp nhất Thật
ra cũng vì tạo sự bảo ñảm quyền lợi cho các bên trong phương thức thanh toán này mà các quy ñịnh trong phương thức khá chặt chẽ Có rất nhiều bước trong quy trình này và như thế nó sẽ dễ dàng tiềm ẩn nhiều vấn ñề phức tạp mà nếu các bên không thận trọng sẽ dễ dàng phát sinh tranh chấp Thông thường thì việc thanh toán ñược thực hiện ở ngân hàng thông báo, nếu như ngân hàng thông báo ñóng vai trò là ngân hàng trả tiền cho người hưởng lợi Có thể tóm gọn các bước cơ bản của quy trình thanh toán bằng L/C như sau6
Trong quy trình này, sau khi nhà nhập khẩu và xuất khẩu ký kết hợp ñồng mua bán Nhà nhập khẩu sẽ ñến ngân hàng phục vụ mình là ngân hàng phát hành ñể mở L/C cho nhà xuất khẩu hưởng (1) Căn cứ vào ñơn xin mở L/C,
(8)
Bộ Chứng
(7)Thanh toán
(9) Thanh toán
Trang 12ngân hàng sẽ phát hành một L/C (bằng ñiện telex, SWIFT hoặc bằng thư) trong
ñó ngân hàng cam kết thanh toán cho người bán nếu người này xuất trình chứng từ phù hợp với L/C (2) Sau khi ngân hàng thông báo nhận ñược L/C thì xác minh tính chân thật của L/C và thông báo L/C ñến người bán (3) Người bán sau khi nhận ñược L/C thì kiểm tra L/C, nếu không chấp nhận L/C thì yêu cầu người mua sửa ñổi, còn nếu chấp nhận sẽ giao hàng hóa cho người mua (4) Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và ñến ngân hàng phục vụ mình là ngân hàng thông báo ñể xuất trình (5) Nếu bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C thì ngân hàng thông báo sẽ thanh toán cho người bán7 Ngân hàng mở L/C sẽ thanh toán lại cho ngân hàng thông báo nếu kiểm tra thấy chứng từ phù hợp với L/C (7) Ngân hàng mở L/C sẽ giao bộ chứng từ cho người mua nếu như người mua ñồng ý thanh toán (8) Sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì người mua sẽ thanh toán tiền cho nhân hàng phát hành L/C (9)
1.1.2.3 Vai trò của thanh toán bằngTthư tính dụng trong thương mại quốc tế
Phương thức thanh toán quốc tế là một trong ñiều kiện quan trọng nhất của hợp ñồng thanh toán quốc tế, hiểu một cách ñơn giản thì phương thức là một cách thức nhất ñịnh ñể người bán thu ñược tiền nhanh nhất và nhận ñược hàng chuẩn xác ñủ về số lượng, ñúng về chất lượng, ñúng thời hạn như hợp ñồng ñã
ký
Tuỳ theo từng ñiều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà các bên ñối tác trong quan hệ quốc tế sẽ lựa chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Hiện nay có nhiều phương thức thanh toán như; Phương thức chuyển tiền nhờ thu, mở tài khoản, Tín dụng chứng từ…Nhưng phương thức tín dụng chứng từ ñược sử dụng nhiều nhất Bởi lẽ, các phương thức trên chỉ ñược áp dụng khi các bên ñối tác làm ăn lâu năm và có sự tin cậy lẫn nhau
Lấy thí dụ: ðối với phương thức thanh toán bằng chuyển tiền Nếu như hai bên lựa chọn hình thức thanh toán sau, bên nhập khẩu phải là bên có uy tín thanh toán, nếu không bên xuất khẩu sẽ gặp rủi ro khi bên nhập khẩu cố tình không thanh toán vì cho rằng hàng hóa kém chất lượng hay vì một lí do nào khác (như là bên xuất khẩu sau khi chuyển giao hàng hoá chứng từ trực tiếp cho bên nhập khẩu, không thông qua ngân hàng) Ta thấy, bên nhập khẩu chỉ thanh toán khi ñã nhận ñược hàng hoá Như vậy, việc thanh toán ñược thực
7
Trong trường hợp này ngân hàng thông báo phải ñược ngân hàng mở L/C cho phép trả tiền hoặc L/C cho phép chiết khấu
Trang 13hiện hay không còn tuỳ thuộc vào ý chí của bên nhập khẩu Hay ñối với phương thức mở tài khoản, cũng giống như phương thức chuyển tiền, bên nhập khẩu nhận hàng hoá, chứng từ và thanh toán tiền hàng ở một thời ñiểm tương lai cho bên xuất khẩu nhà xuất khẩu cũng sẽ gặp nhiều rủi ro nếu bên nhập khẩu từ chối thanh toán thì nhà xuất khẩu chỉ còn cách ñưa vụ việc ra tòa, không có gì bảo ñảm rằng nhà xuất khẩu sẽ thu ñược tiền hàng
Chính vì những hạn chế ấy mà các phương thức chỉ ñược lựa chọn khi các bên ñối tác thật sự tin tưởng lẫn nhau, làm ăn có uy tín lâu năm Nhưng trong giao dịch thương mại các doanh nghiệp luôn muốn mở rộng thị trường vì vậy
mà không tránh khỏi phải hợp tác với những ñối tác ở những nước khác nhau
và chưa hề quen biết Thế nên, việc sử dụng các phương thức trên sẽ làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro trong giao dịch thương mại Vậy làm thế nào
ñể bảo ñảm ñược quyền lợi của các bên trong giao dịch mua bán? ðể tránh những rủi ro ấy thì phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng ñược hầu hết các doanh nghiệp lựa chọn, vì nó tương ñối an toàn và quyền lợi của mỗi bên ñược bảo ñảm nhiều hơn
Thật vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ bên xuất khẩu nhận ñược tiền thanh toán nhanh, ñồng thời còn khống chế chứng từ hàng hoá với người mua Với cách khống chế theo bộ chứng từ này thì quyền lợi của bên xuất khẩu bảo ñảm hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán tiền và nhận hàng của người mua Còn ñối với bên nhập khẩu, chắc chắn bên xuất khẩu phải ñáp ứng các qui ñịnh của L/C Bên nhập khẩu chỉ phải thanh toán khi nhận ñược bộ chứng từ phù hợp với các ñiều khoản và ñiều kiện của L/C ñể ñi nhận hàng Bên nhập khẩu ñược sự trợ giúp của ngân hàng trong việc kiểm tra bộ chứng từ, và dễ dàng ñược ngân hàng tài trợ về vốn, ñược các ñiều khoản UCP bảo vệ
Chính vì những ưu ñiểm nổi bật ñó ñã làm cho phương thức tín dụng chứng từ trở nên phổ biến Phương thức này ñã dung hòa, cân bằng với quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp ñồng mua bán ngoại thương Những nghĩa vụ và trách nhiệm ñược ñan xen ràng buộc lẫn nhau tạo nên một sự ñảm bảo và chắc chắn hơn cả cho việc thanh toán tiền hàng, nâng cao quyền bình ñằng trong quan hệ thanh toán giữa người mua và người bán
Và ñặc biệt khác với phương thức khác, trong thanh toán bằng L/C ngân hàng không ñóng vai trò là khâu trung gian của quá trình thanh toán nữa, mà ngân hàng ñã trở thành một thành viên thật sự của quá trình thanh toán Chính nhờ
Trang 14vào sự cam kết trả tiền thay cho người mua của ngân hàng ñã làm cho quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng thuận lợi
1.2 Quan hệ pháp luật thanh toán bằng thư tín dụng
Phương thức tín dụng chứng từ mặc dù nó là một phương thức thanh toán tiện lợi cho các bên ñối tác, nhưng suy cho cùng thì vẫn còn mang tính tương ñối Bất cứ phương thức thanh toán nào cũng có ưu diểm và nhược ñiểm của
nó, phương thức tín dụng chứng từ cũng không ngoại lệ
Ví dụ như ñối với ngân hàng, khi tham gia vào phương thức thanh toán này thì ngân hàng không còn là khâu trung gian trong quá trình thanh toán mà nó ñã trở thành một thành viên của phương thức này và bị ràng buộc trách nhiệm của mình ñối với người mua và người bán Còn ñối với bên xuất khẩu nguy cơ bị từ chối thanh toán nếu như không ñáp ứng ñược yêu cầu của L/C ðặc biệt, ñối với bên nhập khẩu, nguy cơ cao nhất là gặp trường hợp lừa ñảo nếu như ñối tác làm ăn muốn gian lận, bởi vì bên nhập khẩu chỉ khi nào thanh toán xong mới nhận ñược hàng hóa, ñó là lý do bên nhập khẩu có nguy cơ gặp nhiều rủi ro nhất
Như vậy, nếu rủi ro xảy ra thì các bên sẽ chọn cách giải quyết như thế nào?
Và dựa vào cơ sở nào ñể giải quyết?
ðối với phương thức tín dụng chứng từ hiện nay nó ñược sự ñiều chỉnh của các thông lệ quốc tế, và tập quán nhân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế Khi ñã chấp nhận L/C mở theo UCP thì các bên liên quan có mối quan hệ pháp lý, người mở, người hưởng, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng thông báo… ñều căn cứ vào UCP về quyền lợi và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên vấn ñề ñặt ra nữa là Tòa án nào sẽ giải quyết, giải quyết theo cơ sở luật nào, theo UCP hay luật quốc gia? Vì UCP chỉ là bộ quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, nó không có ñiều khoản nào ñề cập ñến việc giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra Và hiện tại ñối với các quốc gia chấp nhận sử dụng UCP thì chỉ có một số nước có luật riêng ñiều chỉnh phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng Còn lại thì tuyên bố áp dụng UCP một cách tuyệt ñối Vì vậy, vấn ñề trên ñã gây ñau ñầu cho những người thực hành luật pháp, vì rõ ràng trong L/C không có một ñiều khoản cho tranh chấp và khi có tranh chấp thì các bên bắt ñầu tìm kiếm luật áp dụng
Trang 15Trên thực tế khi có tranh chấp xảy ra thì vấn ñề luật áp dụng ñược giải quyết bởi nguyên tắc chọn luật áp dụng8
Rõ ràng qui ñịnh về luật áp dụng có tầm quan trọng nhưng các bên ñều
“ quên lãng” Do ñó ở phần này, người viết sẽ trình bày ñể người ñọc nắm bắt ñược các tập quán quốc tế ñiều chỉnh phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ Mặt khác người ñọc sẽ thấy ñược luật của các nước ñiều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ như thế nào, và các nguyên tắc chọn luật áp dụng khi có tranh chấp xảy ra, từ ñó mà có một cái nhìn so sánh với luật Việt Nam
1.2.1 Luật áp dụng cho quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng
1.2.1.1 Các thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế:
ISBP (International Standard Banking Practice) nghĩa là tập quán ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế, ñược tạo ra từ một nhóm công tác ñặc biệt thuộc
ủy ban ngân hàng, phòng thương mại quốc tế (ICC) Ấn phẩm ñược toàn thể ủy ban thông qua trong hội nghị tổ chức tại Rome tháng 10/2002 Tập quán này áp dụng cho việc kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ Nếu như UCP-DC là bộ quy tắc chung thống nhất các quy ñịnh giữa các ngân hàng trong tổ chức thanh toán phương thức tín dụng chứng từ cho các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu Thì ISBP là một tài liệu bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP-DC (trước ñây ñược áp dụng cho UCP 500, hiện tại ñược áp dụng cho UCP 600) Những quy tắc về tín dụng chứng từ ñược sử dụng phổ biến của ICC ISBP không sửa ñổi UCP Nó giải thích chi tiết rõ ràng làm thế nào những quy tắc này ñược áp dụng trong giao dịch hàng ngày Như thế nó ñã lấp ñầy khoản trống vố có của những nguyên tắc chung ñược quy ñịnh trong nguyên tắc với công việc hàng ngày của người thực hành tín dụng chứng từ Thông qua việc sử dụng ISBP, những người làm việc kiểm tra tín dụng chứng từ có thể thực hành công việc cho phù hợp với tập quán mà các ñồng nghiệp của họ ñang
sử dụng trên thế giới Kết quả là có thể làm giảm ñáng kể số lượng chứng từ bị
từ chối thanh toán do có lỗi chứng từ xuất trình lần ñầu tiên
UCP-DC (Uniform Custorms Practice Documentary Credit): Toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, thúc ñẩy thương mại quốc tế phát triển thuận lợi Hơn nữa thúc ñẩy các hoạt ñộng xuất nhập khẩu cho các quốc gia có hoạt ñộng thương mại quốc tế Phòng thương mại quốc tế (ICC) ñã ban hành quy tắc thực hành
8
Toàn tập UCP 600 (phân tích và bình luận toàn diện tình huống trong tín dụng chứng từ), Th.s
Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thống kê, năm 2006, tr.25
Trang 16thống nhất tín dụng chứng từ Viết tắt là UCP-DC Kể từ khi ra ñời ñến nay, UCP-DC ñã trải qua sáu lần sửa ñổi, và mỗi lần sửa ñổi ñã tạo ñiều kiện thuận lợi hơn, thống nhất hơn giữa các ngân hàng trong tổ chức thanh toán phương thức tín dụng chứng từ, cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu.Văn bản cuối cùng ñược hoàn thiện vào tháng 12/2006 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 dưới tên gọi UCP-DC 600
Sơ lược về các ấn phẩm UCP-DC:
Lần ñầu tiên phòng thương mại Quốc tế (ICC) soạn thảo các quy tắc hướng dẫn thực hiện các thanh toán quốc tế ở phương thức tín dụng chứng từ vào năm
1929 Nhưng văn bản ñầu tiên này không mang tính quy tắc thống nhất, chúng chỉ áp dụng hạn chế ở một số ngân hàng Châu Âu
1933: văn bản ñầu tiên với ấn bản số hiệu 82 (UCP ñầu tiên)
1951: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 151
1964: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 222
1974: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 290
1983: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 400
1993: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 500
2007: UCP ñược sửa ñổi với số hiệu 600, có hiệu lực ngày 01/07/2007 Các ấn phẩm trên ñã có trên 160 nước tuyên bố áp dụng, trong ñó có Việt Nam Tuy nhiên ñây là văn bản pháp lý không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán Quốc tế phải áp dụng Ngoài ra việc dẫn chiếu UCP trong thư tín dụng không buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo ñúng từng ñiều quy ñịnh trong UCP Nếu các bên thống nhất có các quyết ñịnh khác so với nội dung một
số ñiều do UCP quy ñịnh, thì phải ghi rõ quy ñịnh ấy trong L/C, và nó có giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm, và nghĩa vụ của các bên tham gia
Ngoài UCP 600, ISBP, sau ngày 01/7/2007 các văn bản sau ñây do phòng thương mại quốc tế (ICC) phát hành: URR 522, ISP 98, eUCP vẫn có hiệu lực ñiều tiết các hoạt ñộng tổ chức thanh toán qua phương thức tín dụng chứng từ
1.2.1.2 Luật về tín dụng chứng từ của các quốc gia
Tùy theo mỗi quốc gia mà có cách áp dụng UCP khác nhau ðối với những nước ñã có luật riêng ñể ñiều chỉnh, ví dụ như Trung Quốc là quốc gia
có nền kinh tế thị trường phát triển, do vậy mà phương thức thanh toán tín dụng
Trang 17chứng từ rất phổ biến trong giao dịch thương mại quốc tế Và ñể tạo một hành lang pháp lý vững chắc ñể ñảm bảo cho giao dịch này phát triển thì Tòa án
Nhân dân Tối cao Trung Quốc ñã ban hành “quy ñịnh xét xử tranh chấp về tín dụng chứng từ” bao gồm 18 ñiều 9 Việc ñưa ra những quy ñịnh như nếu xảy ra trường hợp gian lận, lừa ñảo thì Tòa án sẽ ra quyết ñịnh tạm ngưng thanh toán hoặc không thanh toán nhằm bảo vệ lợi ích của bên thứ ba là ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu, các ngân hàng này trực tiếp thanh toán tiền mà nếu có sự lừa ñảo trong ñó thì họ không hề biết ñược Còn ñối với những quốc gia không có luật riêng ñiều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ thì các quốc gia này sẽ chấp nhận hoàn toàn UCP và dựa vào các quy tắc của UCP ñể giải quyết khi có tranh chấp xảy ra Ví dụ như ở nước Singapore, Luật và Tòa án nước này tuân thủ nghiêm nguyên lý về tính ñộc lập giữa giao dịch tín dụng chứng từ và các giao dịch cơ sở, và ngân hàng hoặc bên mua phải chấp nhận thanh toán nếu như các chứng từ ñược xuất trình hợp lệ, ngân hàng hoặc bên mua không ñược viện lý do là hàng hóa giao không ñúng quy cách rồi không thanh toán Cũng như Singapore một số nước như Thụy Sỹ, Malaysia, Canada cũng không có luật riêng về tín dụng chứng từ, các quốc gia này cũng chủ yếu áp dụng hoàn toàn UCP trong xét xử tranh chấp giao dịch tín dụng chứng từ10 Thật ra, các nước không có luật riêng ñể ñiều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ thì không phải là khiếm khuyết trong việc xây dựng luật của
họ, bởi vì họ xem bộ quy tắc thực hành như là luật và áp dụng tuyệt ñối ñể giải quyết tranh chấp Còn nếu như chỉ xem UCP là một bản quy tắc, thông lệ quốc
tế mang tính tham khảo thì phải ban hành một số ñiều luật ñể ñiều chỉnh ñể tránh gặp phải những khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh Còn
ở Việt Nam hiện tại vẫn chưa có quy ñịnh riêng hướng dẫn cho các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng về việc sử dụng phương thức thanh toán bằng Thư tín dụng, và những quy ñịnh riêng về việc giải quyết tranh chấp trong thanh toán bằng Thư tín dụng này Trước ñây, do nền kinh tế của Việt Nam vẫn chưa phát triển lắm, ñặc biệt là giao thương với nước ngoài và nếu có tranh chấp xảy ra cũng không ñáng kể, do ñó mà vẫn chưa có những quan tâm cụ thể ñối với phương thức tín dụng chứng từ Nhưng hiện nay, trước sự hội nhập kinh tế thị trường, hoạt ñộng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ diễn ra mạnh mẽ, vì thế mà Việt Nam cần xây dựng những văn bản liên quan ñến lĩnh vực thanh
Trang 18toán bằng tín dụng chứng từ ñể vừa có thể bảo vệ ñược các doanh nghiệp, ngân hàng vừa tạo ñược hành lang pháp lý vững chắc trong phương thức thanh toán quốc tế nói chung, và thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ nói riêng
1.2.1.3 Vấn ñề xác ñịnh luật áp dụng và nguyên tắc chọn luật áp dụng
Xác ñịnh luật áp dụng
Trong thực tế, giao dịch tín dụng chứng từ ñã ñưa ra nhiều vấn ñề liên quan ñến lựa chọn luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp UCP không ñề cập ñến vấn ñề này bởi vì nó là một bản quy tắc thực hành thống nhất ñược các bên lựa chọn trong quan hệ thanh toán bằng L/C, không liên quan ñến bất ñồng giữa các bên, do vậy các bên nếu có tranh chấp phải làm thế nào? Theo tập quán quốc tế hay là luật quốc gia? Vấn ñề sẽ là ñơn giản nếu như tranh chấp xảy ra giữa các ñối tác trong nước thì chỉ cần sử dụng bộ luật trong nước, nhưng ñây là giao dịch mua bán quốc tế với những ñối tác có quốc tịch khác nhau, ñịa ñiểm thanh toán cũng khác nhau, nếu có tranh chấp xảy ra thì việc xung ñột pháp luật giữa các quốc gia, cũng như là xung ñột giữa luật quốc gia
và tập quán quốc tế là ñiều không tránh khỏi Vì thế ñòi hỏi phải có một nguyên tắc chung thống nhất trong việc lựa chọn luật áp dụng ñể việc giải quyết tranh chấp sẽ ñược tiến hành thuận lợi hơn
Nguyên tắc chọn luật áp dụng 11
Thông thường, luật áp dụng trong giao dịch tín dụng chứng từ sẽ ñược xác ñịnh nơi nghĩa vụ phát sinh có mối quan hệ xác thực và chặt chẽ nhất (the closest and most real connection)
ðối với mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người mở Giả sử người mở ñược yêu cầu là phải mở L/C tại ngân hàng nước ngoài Tranh chấp phát sinh giữa hai bên sẽ áp dụng theo nguyên tắc “có mối quan hệ xác thực và chặt chẽ nhất” của các giao dịch quốc tế của các ñối tác Như vậy, luật của nước nơi ngân hàng ñóng trụ sở sẽ ñược áp dụng
ðối với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người hưởng Về góc ñộ quốc tế, mối quan hệ giữa hai ñối tác này có sự liên quan chặt chẽ hơn ñến nơi hoạt ñộng của ngân hàng phát hành, nên luật quốc gia nơi ngân hàng ñóng trụ
Trang 19Vấn ñề trranh cãi là liệu việc chỉ ñịnh ngân hàng ñại lý tại nước người hưởng có tạo ra áp lực thay ñổi luật áp dụng ñối với mối quan hệ pháp lý giữa người hưởng và ngân hàng phát hành? Phần lớn các quan ñiểm cho rằng ngân hàng ñược chỉ ñịnh ñóng vai trò thực hiện việc ủy nhiệm, mang tính kỹ thuật, không tạo ra nghĩa vụ mới trong giao dịch Tín dụng thư Do vậy các hành ñộng của ngân hàng này không tạo ra mối quan hệ chặt chẽ hơn ñối với nơi quốc gia nguồn gốc của giao dịch tín dụng chứng từ Do vậy luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở sẽ ñược áp dụng Tuy nhiên việc ủy nhiệm ngân hàng ñược chỉ ñịnh ñôi khi làm cho vấn ñề trở nên phức tạp Một số tòa và thẩm phán cho rằng việc ủy nhiêm ñó như là sự phân ñịnh lại ñịa ñiểm thực hiện Tín dụng thư sang nơi ngân hàng ñược chỉ ñịnh, do vậy ñây là nhân tố xác ñịnh luật
áp dụng Tuy nhiên, vấn ñề này còn phụ thuộc vào luật của nước mà ngân hàng ñược chỉ ñịnh hoạt ñộng Nhưng ñiều như vậy thường không ñược ñưa vào các
bộ luật Từ ñó, quyết ñịnh về luật áp dụng sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào cách nhìn nhận của các vị quan tòa
Quan ñiểm gần như nhất quán là các vụ tranh chấp trong mối quan hệ này sẽ áp dụng Luật của nước ngân hàng xác nhận hoạt ñộng ðiều này cũng tương tự về áp dụng luật trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người hưởng Tòa các quốc gia cho rằng việc áp dụng luật nơi ngân hàng xác nhận hoạt ñộng hoàn toàn không ảnh hưởng gì ñến luật nơi ngân hàng phát hành trú ñóng, nếu người hưởng khởi kiện ngân hàng phát hành
ðối với quan hệ giữa các ngân hàng: Luật áp dụng trong tranh chấp giữa các ngân hàng ñược quyết ñịnh trên cơ sở xem xét ngân hàng nào thực hiện vai trò chính trong giao dịch Tín dụng thư Như vậy các ngân hàng ñại lý ñược chọn vì việc thực hiện các giao dịch của nó thể hiện ñược các thỏa thuận ñối với ngân hàng phát hành bất kể nó là ngân hàng thông báo, ngân hàng ñược chỉ ñịnh hay ngân hàng chiết khấu
Như vậy, mặc dù ngân hàng phát hành là nơi khởi tạo các giao dịch của Tín dụng thư nhưng các giao dịch thực sự và chặt chẽ nhất lại xuất phát từ ngân hàng ñại lý, thay mặt ngân hàng phát hành thực hiện nghĩa vụ ñối với người hưởng Do vậy ñịa ñiểm của ngân hàng ñại lý sẽ ñịnh ñoạt luật áp dụng trong tranh chấp
1.2.2 Nghĩa vụ của các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ
Bên nhập khẩu
Trang 20Là người mở L/C Trách nhiệm của người mua là mở L/C ñúng hạn qui ñịnh hợp ñồng, thông thường là 5 ngày làm việc12 Khi nhận ñược bộ chứng từ người mua có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng L/C ðể thực hiện ñược việc thanh toán thì người mua phải ký quỹ cho ngân hàng mở L/C toàn bộ hay một phần trị giá của L/C, sau ñó có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng khi ngân hàng ñã thanh toán cho người hưởng lợi Nếu như chứng từ không phù hợp với L/C thì người mua có quyền không hoàn trả một phần hay toàn bộ số tiền mà ngân hàng ñã thanh toán cho người hưởng lợi
Bên xuất khẩu
Là người thụ hưởng L/C Trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ rất quan trọng, nó trở thành bằng chứng về việc giao hàng của người bán Vì vậy mà người bán phải kiểm tra kỹ nội dung của L/C nếu chấp thuận thì giao hàng cho người mua theo L/C Nếu không chấp thuận hoặc cần phải sửa ñổi hoặc bổ sung những nội dung L/C, thì người bán ñiện cho người mua, hoặc cho ngân hàng mở L/C ñể ngân hàng ñề nghị người mua mở L/C Văn bản sửa ñổi trở thành một bộ phận không thể tách rời của L/C cũ và hủy bỏ L/C cũ Theo qui ñịnh tại ñiều 10 UCP 600 Sau khi hoàn thành việc giao hàng, người bán lập chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C và ñưa ñến ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng ñược chỉ ñịnh trong thời gian xuất trình chứng từ Người bán chỉ nhận ñược tiền hàng khi sự xuất trình là phù hợp
Các ngân hàng
Ngân hàng phát hành L/C (NHPH)
Theo ñiều 2 UCP 600, NHPH là ngân hàng thực hiện phát hành tín dụng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc cho chính mình NHPH có trách nhiệm kiểm tra ñơn và phát hành L/C sau khi ñã xem xét ñơn mở L/C Ngoài ra NHPH còn có trách nhiệm kiểm tra chứng từ chiếu theo ñiều 14 khoản a UCP
600 về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ “ NHñCð (Ngân hàng ñược chỉ ñịnh) hành ñộng theo sự chỉ ñịnh, NHXN (Ngân hàng xác nhận) nếu có, và NHPH chỉ trên cơ sở chứng từ, phải kiểm tra việc xuất trình xem trên bề mặt chứng từ
có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không” Khi kiểm tra chứng từ, ngân
hàng chỉ xem xét trên bề mặt chứng từ chứ không xem xét tính chất bên trong của chứng từ Chính vì ñiều này mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính chất tuân thủ chặt chẽ của chứng từ Trong thực tế, giữa sự phù hợp và sai sót có
12
Khoản b ðiều 14 UCP 600
Trang 21ranh giới thật mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình ựộ, quan ựiểm, ựộng của những người có liên quan Do ựó mà không ắt trường hợp bọn lừa ựảo lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không ựúng nhưng vẫn lập bộ chứng từ phù hợp ựể thanh toán đó cũng là rủi ro mà ngân hàng thường gặp phải
Theo ựiều 14 khoản b UCP 600 Ộ NHựCđ hành ựộng theo sự chỉ ựịnh, NHXN nếu có, NHPH sẽ có tối ựa cho mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình ựể xem xuất trình có phù hợp hay không Thời hạn không
bị rút ngắn hoặc bị ảnh hưởng nào khác bởi sự cố xảy ra vào hoặc sau ngày xuất trình rơi ựúng vào ngày hết hạn hay ngày xuất trình chậm nhấtỢ
Và ựiều 16 khoản b UCP 600 Ộ khi NHPH quyết ựịnh rằng xuất trình là không phù hợp thì có thể tự ựịnh tiếp xúc với người yêu cầu ựể xem xét bỏ qua các sai biệt, tuy nhiên ựiều này không ựược kéo dài thời hạn như qui ựịnh ở ựiều 14 khoản bỢ Có nghĩa là NHPH có một khoản thời gian hợp lý không quá
5 ngày làm việc kể từ ngày nhận ựược chứng từ ựể kiểm tra chứng từ và xác ựịnh chứng từ có phù hợp hay không, nếu quá thời gian này thì NHPH không
có quyền thông báo sai sót
Và sau khi phát hành L/C, trách nhiệm thanh toán của NHPH ựược thực hiện NHPH thanh toán chỉ dựa vào bộ chứng từ xuất trình có hợp lệ hay không mà không cần biết thực tế hàng hóa ựược giao ựúng hoặc không ựược giao NHPH cũng không ựược nêu ra bất kì lý do nào ựể từ chố thanh toán cho người bán nếu người bán tuân thủ ựầy ựủ theo ựiều kiện của L/C13
Ngân hàng thông báo (NHTB)
Có trách nhiệm kiểm tra tắnh chân thật của L/C Theo ựiều 9 khoản b
UCP 600 về thông báo tắn dụng/sửa ựổi tắn dụng Ộkhi tiến hành thông báo tắn dụng hoặc sửa ựổi, NHTB phải ựảm bảo rằng tắn dụng hoặc sửa ựổi ựã thỏa mãn tắnh chân thật bề ngoài, và thông báo phải phản ảnh chắnh xác các ựiều kiện và ựiều khoản của tắn dụng hoặc sửa ựổi ựã nhận ựượcỢ
Và ựiều 9 khoản f UCP 600 Ộnếu ngân hàng ựược yêu cầu thông báo tắn dụng hoặc sửa ựổi, nhưng tự mình ựã không thể xác ựịnh tắnh chân thật bề ngoài của tắn dụng, sửa ựổi hoặc thông báo, thì phải thông báo vấn ựề ựó không chậm trễ cho ngân hàng mà từ ựó ựã nhận ựược các chỉ thịẦỢ Như vậy,
NHTB phải kiểm tra tắnh chân thật bề ngoài của L/C hoặc sửa ựổi L/C Nếu
13
điều 17 UCP 600
Trang 22L/C không xác minh ñược tính chân thật bề ngoài của tín dụng thì phải liên lạc ngay với NHPH ñể làm rõ NHTB có thể không thông báo những loại L/C này cho tới khi xác minh ñược tính chân thật của nó
Trong trường hợp ngân hàng ñược yêu cầu thông báo tín dụng hoặc sửa ñổi tín dụng, nhưng quyết ñịnh không làm việc ñó thì phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng mà từ ñó ñã nhận ñược tín dụng hoặc sửa ñổi Tín dụng14
Ngân hàng xác nhận (NHXN)
Trường hợp người xuất khẩu muốn có sự bảo ñảm chắc chắn ñược thanh toán, thì một ngân hàng có thể ñứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH, ngân hàng này ñược gọi là ngân hàng xác nhận Về lý thuyết NHXN phải là một ngân hàng lớn, có uy tín Tuy nhiên trong thực tế thì người thụ hưởng có thể chỉ ñịnh NHXN, nếu không chỉ ñịnh thì NHPH sẽ tự chọn, và NHTB thường ñược ñề nghị NHXN Về tính logic, thì trách nhiệm trả tiền trước hết thuộc về NHPH, nếu ngân hàng này không trả tiền thì NHXN phải trả tiền thay Nhưng theo quy ñịnh của UCP 600 thì việc xác nhận của một ngân hàng khác sẽ tạo nên một cam kết chắc chắn, không hủy ngang, bổ sung vào cam kết của NHPH, ñiều 8 UCP 600 quy ñịnh trách nhiệm của NHXN như sau:
a Nếu L/C qui ñịnh chứng từ xuất trình tới NHXN hoặc ñến bất cứ NHðCð nào khác và xuất trình là phù hợp thì ngân hàng xác nhận phải
i Thanh toán, nếu L/C có giá trị…
ii Chiết khấu miễn truy ñòi, nếu L/C có giá trị chiết khấu tại ngân hàng xác nhận
b Ngân hàng xác nhận bị ràng buộc không hủy ngang ñối với việc thanh toán hoặc chiết khấu kể từ thời ñiểm xác nhận L/C
c Ngân hàng xác nhận cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng ñược chỉ ñịnh khác khi ngân hàng này ñã thanh toán hoặc ñã chiết khấu ñối với xuất trình phù hợp và ñã chuyển giao chứng từ cho ngân hàng xác nhận… Sự cam kết hoàn trả tiền của ngân hàng xác nhận cho ngân hàng ñược chỉ ñịnh là ñộc lập với sự cam kết của ngân hàng xác nhận ñối với người thừa hưởng
14
Khoản e ðiều 9 UCP 600
Trang 23d Nếu một ngân hàng ñược ngân hàng phát hành ủy quyền hoặc yêu cầu xác nhận L/C nhưng không sẵn sàn xác nhận, thì phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng phát hình và có thể thông báo cho L/C mà không có xác nhận của mình
ðiều 15 khoản b UCP 600: “khi ngân hàng xác nhận quyết ñịnh rằng xuất trình là phù hợp thì nó phải thanh toán hoặc chiết khấu và chuyển giao chứng từ tới ngân hàng phát hành”
Như vậy, ta có thể thấy trách nhiệm của ngân hàng xác nhận ñối với người hưởng lợi cũng tương tự như ngân hàng phát hành Tuy nhiên ngân hàng xác nhận còn phải có trách nhiệm ñối với ngân hàng phát hành về nghĩa vụ trả tiền L/C Do vậy rủi ro thuộc hoàn toàn về ngân hàng xác nhận và quyết ñịnh cuối cùng có nên xác nhận L/C hay không là tùy thuộc vào khả năng phân tích của ngân hàng
Ngân hàng ñược chỉ ñịnh (NHñCð)
NHñCð là ngân hàng mà ñược NHPH chỉ ñịnh thay mặt mình tiếp nhận, kiểm tra và thực hiện việc thanh toán hay chiếc khấu bộ chứng từ xuất trình phù hợp Nói cách khác NHñCð là ngân hàng mà tại ñó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu
Trách nhiệm ngân hàng ñược chỉ ñịnh:
Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày xuất trình phải kiểm tra việc xuất trình ñể quyết ñịnh trên bề mặt của chứng từ có tạo thành xuất trình phù hợp hay không15
NHñCð nếu không phải là ngân hàng xác nhận thì việc ủy quyền thanh toán, chiết khấu của ngân hàng phát hành ñối với ngân hàng ñược chỉ ñịnh sẽ không ràng buộc ngân hàng ñược chỉ ñịnh, phải có nghĩa vụ thanh toán hay chiết khấu Trừ khi ngân hàng ñược chỉ ñịnh ñồng ý sẽ thanh toán bằng chiết khấu thì mới phát sinh trách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu16
Khi NHñCð quyết ñịnh xuất trình là phù hợp và thanh toán hoặc chiết khấu, thì phải chuyển giao chứng từ ñến ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng phát hành
Trang 24Khi NHñCð hành ñộng theo sự chỉ ñịnh, quyết ñịnh là xuất trình là không phù hợp có thể từ chối thanh toán hoặc chiết khấu17
Nếu NHñCð ñồng thời là ngân hàng xác nhận thì trách nhiệm của ngân hàng ñược chỉ ñịnh sẽ nhiều hơn, không chỉ là tiếp nhận, kiểm tra chứng
từ mà còn bao gồm cả thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ, như vậy rủi ro sẽ nhiều hơn
17
Khoản a ðiều 16 UCP 600
Trang 25CHƯƠNG 2:
THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG THƯ TÍN DỤNG 2.1 Thực tiễn thanh toán bằng thư tín dụng
2.1.1 Tranh chấp phát sinh liên quan ñến xuất trình chứng từ
Bộ chứng từ trong thanh toán quốc tế thông thường sẽ bao gồm: Hóa ñơn thương mại, phiếu ñóng gói hàng hóa, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, bảo hiểm ñơn, giấy chứng nhận số lượng, giấy chứng nhận trọng lượng, giấy chứng nhận phẩm chất, vận ñơn ñường biển Mặc dù ñây là những loại giấy tờ có in mẫu sẵn, nhưng khi thiết lập bộ chứng từ nhà xuất khẩu không kiểm tra cẩn thận, dẫn ñến sự sai sót giữa các chứng từ, và giữa các chứng từ với L/C thì rủi
ro nhà xuất khẩu sẽ không lập ñược bộ chứng từ phù hợp và sẽ không ñược thanh toán tiền hàng; hay chứng từ xuất trình không phù hợp mà ngân hàng không phát hiện ra và ñã thanh toán cho nhà xuất khẩu, thì rủi ro là ngân hàng
sẽ không thu hồi lại tiền ñược; hay do cách hiểu không thống nhất giữa các ngân hàng về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ mà ngân hàng chiết khấu ñã chiết khấu chứng từ cho người hưởng vì cho rằng chứng từ ñã xuất trình hợp lệ, trong khi ñó thì ngân hàng phát hành lại từ chối thanh toán vì họ cho rằng các chứng từ xuất trình bất hợp lệ; hay khi nhà nhập khẩu nhận ñược bộ chứng từ
và phát hện ra sai sót, từ chối thanh toán và không nhận hàng, các ngân hàng cũng phải lao ñao vì họ ñã thanh toán cho người hưởng rồi Trên nguyên tắc là khi mở L/C thì người mở L/C phải ký quỹ 100% giá trị của L/C vào ngân hàng, ñiều này ñể ñảm bảo khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, nhưng trên thực
tế nhà nhập khẩu phải vay tiền lại từ phía ngân hàng ñể thanh toán18, do ñó một khi ñã chấp nhận mở L/C cho người thụ hưởng thì ngân hàng ñã ràng buộc trách nhiệm lẫn rủi ro về phía mình, hoặc do người mua vì lý do giá thị trường biến ñộng nếu nhập hàng về sẽ gây tổn thất cho họ nên người mua tìm mọi cách ñể bắt lỗi chứng từ và từ chối thanh toán Hành trình thanh toán nhanh, tiện lợi nhưng ñầy “chông gai” như vậy ñòi hỏi tất cả các bên tham gia phương thức thanh toán tín dụng chứng từ phải thật cẩn thận trong việc lập và kiểm tra các chứng từ ñể hạn chế những rủi ro và tranh chấp phát sinh
Trong bộ chứng từ xuất trình thì vận tải ñơn và bảo hiểm ñơn có tầm quan trọng hơn các loại chứng từ khác Bởi lẽ người nào nắm ñược vận ñơn trong tay
18
Nguyễn Thị Kim Thúy, nhân viên phòng kinh doanh, Công ty Cổ phần GENTRACO, số 121 Nguyễn Thái Học-Thốt Nốt-Cần Thơ
Trang 26thì chính là chủ sở hữu của hàng hóa19 Còn bảo hiểm ñơn là chứng từ cho phép người ñược bảo hiểm quyền ñược bồi thường thiệt hại, và bất cứ ai nắm giữ chứng từ bảo hiểm cũng có quyền ñòi hãng bảo hiểm bồi thường nếu có rủi ro hàng hóa xảy ra Trong những thập niên 90 rất nhiều tranh chấp xảy ra liên quan ñến vấn ñề bản gốc và bản sao copy chứng từ ñược quy ñịnh tại UCP 500 ñiều 20 (b) Chính vì vậy mà hiểu như thế nào về bản chính và bản sao chứng
từ cho ñúng khi xuất trình chứng từ là một việc cần thiết ñể giảm thiểu các tranh chấp có thể xảy ra Và chuyện rắc rối mà quy ñịnh tại ñiều 20 (b) UCP
500 mang lại là gì? Sau ñây người viết xin ñưa ra một ví dụ chứng minh ñiều này
Ví dụ:
Tín dụng thư do Ngân hàng P phát hành cho Công ty X có giá trị chiết khấu tại Ngân hàng C Trong số các chứng từ xuất trình, Tín dụng thư yêu cầu: Vận ñơn một bộ gồm 3 bản gốc và 3 bản copy, giấy chứng nhận bảo hiểm gồm
Vận ñơn chỉ xuất trình một bản gốc và 5 bản copy
Giấy chứng nhận bảo hiểm một bản gốc và một bản copy xuất trình Bản Duplicate ñược ký qua giấy than
Ngân hàng C phản ứng lại thông báo của Ngân hàng P:
“Chúng tôi không chấp nhận cái gọi là bất hợp lệ chứng từ mà Quý Ngân hàng ñưa ra vì lý do sau”:
Vận ñơn ba bản gốc, ghi rõ: “bản một, bản hai, và bản ba (“ORIGINAL”,
“DUPLICATE”, “TRIPLICATE”) và trên bề mặt của chúng ghi rõ: “Số bản
Trang 27gốc phát hành là: 3” Như vậy bản 1, bản 2 và bản 3 chính là ba bản gốc hợp thành một bộ vận ñơn gốc ba bản
Tương tự, Giấy chứng nhận bảo hiểm cũng ghi “ORIGINAL” và
“DUPLICATE” và trên bề mặt cũng phát hành 2 bản Hai bản xuất trình chính
là hai bản gốc “Giấy chứng nhận bảo hiểm” Không thể coi bản
“DUPLICATE” là bản phụ vì không dấu “ORIGINAL”
Ngân hàng P dẫn chiếu ñiều 20 (b) UCP 500 ñể bảo vệ quan ñiểm của mình:
“Trừ khi Tín dụng thư nói khác, Ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ bả gốc ñược thiết lập bởi phương pháp ñánh máy, hệ thống máy tính, bằng bản giấy than với ñiều kiện ñược ñánh dấu “ORIGINAL” và khi cần ñược ký”
Ngân hàng P khẳng ñịnh: Bản “DUPLICATE” và “TRIPLICATE” không
có dấu “ORIGINAL” nên không thể coi là vận ñơn gốc
Tương tự, bản “DUPLICATE” của chứng từ bảo hiểm cũng không có dấu
“ORIGINAL” Hơn nữa, nó lại ñược ký qua giấy than, chứ không trực tiếp
bằng tay nên chỉ là bản phụ
Ngân hàng C không ñồng ý với lập luận trên và nói rằng khi vận ñơn ghi số bản gốc là 3 thì 3 bản (“ORIGINAL”, “DUPLICATE”, “TRIPLICATE”) là 3 bản gốc chứ không thể coi chỉ vận ñơn có ghi “ORIGINAL” mới là bản gốc
Sự phân tích tương tự cũng áp dụng cho chứng từ bảo hiểm
Nhận xét:
Thật ra “DUPLICATE”, “TRIPLICATE” ñều ñược hiểu là bản gốc, vì xét
về mặt thực tế thì ñây là vấn ñề ñã ñược các hãng vận tải (người chuyên chở) chấp nhận như là một thông lệ trong giao dịch vận tải quốc tế20 Bởi vì Ngân hàng P ñã áp dụng một cách triệt ñể và máy móc theo ñiều 20 (b) UCP 500 và cho rằng 2 bản “DUPLICATE”, “TRIPLICATE” là 2 bản sao chư không phải bản gốc Theo ñiều 20 (b) UCP 500 quy ñịnh như sau:
“Trừ khi ñược quy ñịnh khác trong Tín dụng thư, ngân hàng sẽ chấp nhận như là bản chính, những chứng từ ñược lập, hoặc thể hiện ñược lập
1 bằng phương pháp sao chụp, tự ñộng học ñiện toán
20
Phân tích các tình huống trong giao dịch tín dụng chứng từ, Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thanh niên,
Hà Nội, 2000, tr.121
Trang 282 bằng bản giấy than
Với ñiều kiện là chúng ñược ñóng dấu là bản gốc và khi cần thiết chứng từ ñược ký Chứng từ có thể ñược ký bằng tay, bằng chữ ký qua fax, bằng dấu chữ ký ñục lỗ, bằng con dấu, bằng ký hiệu hoặc bằng bất cứ phương pháp chứng thực nào của máy móc hoặc ñiện tử
Và theo cách hiểu UCP 500 thì chứng từ gốc là ngoài các loại chứng từ viết tay hoặc bằng trang ñầu của máy ñánh chữ thì tất cả các chứng từ còn lại ñược tạo ra từ các phương tiện khác thì cần có dấu “ORIGINAL” mới trở thành bản gốc21 Và ñương nhiên Ngân hàng P áp dụng triệt ñể theo UCP 500 cũng không phải là lỗi của họ, vì trách nhiệm của họ là tuân thủ theo UCP 500 khi kiểm tra chứng từ
Nhưng khó khăn ở chỗ các chứng từ ñược ñóng dấu “DUPLICATE”,
“TRIPLICATE” ñược các hãng vận tải sử dụng như là bản gốc Mặc dù việc sử dụng này rất ít xảy ra nhưng không phải là không có Nếu như có những chứng
từ như vậy ñem ñi xuất trình thì sẽ bị từ chối vì ngân hàng chỉ dựa vào tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ trong UCP 500 Và khi UCP 600 ra ñời tại ñiều 17 quy ñịnh bản gốc và bản sao cũng không khắc phục ñược nhược ñiểm ñó Cụ thể ñiều 17c như sau
“Trừ khi chứng từ ñược quy ñịnh khác, ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ như là chứng từ gốc, nếu chứng từ:
i Thể hiện ñược viết, ñánh máy, ñục lỗ, hoặc ñóng dấu bằng tay của người phát hành hoặc
ii thể hiện là giấy văn thư chính thức của người phát hành chứng từ hoặc
iii ghi rõ chứng từ gốc, trừ khi có tuyên bố không áp dụng chứng từ xuất trình”
Quy ñịnh như thế cũng không khác gì so với quy ñịnh trong UCP 500 Nó không bù lắp ñược khuyếm khuyết ở ñiều 20 (b) UCP 500 cũng chính vì trong thời gian qua có những vụ tranh chấp về hình thức của chứng từ gốc xuất phát
từ UCP 500 và UCP 600 không quy ñịnh rõ ràng dẫn ñến mỗi bên có mỗi cách hiểu khác nhau khi vận dụng Một ñiều ñáng mừng là tại ñiều 28 của bản
21
Toàn tập UCP 500 (Phân tích và bình luận toàn diện các tình huông trong tín dụng chứng từ), Nguyễn Trọng Thùy, NXB Thống kê, Hà nội, 2000, tr.281
Trang 29ISBP/2007 ñã bổ sung kịp thời khuyếm khuyết ấy Xin ñược trích nguyên văn ñiều 28 như sau:
“Documents issued in more than one original may be marked “original”
“duplicate”, “triplicate”, “first original”, “second original”, etc Non of these marking will disquality a document as an original”
Nhưng dù sao ñi chăng nữa UCP 600 nên ñưa thẳng sự giải thích giống như ñiều 28 ISBP/2007 vào trong ñiều 17 ñể việc bổ sung ñó ñược biết ñến nhiều hơn
Thật ra không phải chỉ có những tranh chấp phát sinh do UCP có khuyếm khuyết, không quy ñịnh rõ ràng mà ngay cả UCP có quy ñịnh rõ ràng nhưng người lập chứng từ vẫn thực hành sai sót, và kể cả những ngân hàng khi tham gia vào việc kiểm tra chứng từ cũng có những cách hiểu không giống nhau khi
áp dụng UCP Dưới ñây người viết xin ñưa thêm một ví dụ về tranh chấp liên quan ñến chứng từ xuất trình là vận ñơn ñường biển Như ở ví dụ trước người viết ñề cập ñến vận ñơn ñường biển là một loại chứng từ quan trọng hơn một số loại chứng từ khác mà việc lập và kiểm tra từ hình thức và nội dung phải thật cẩn thận, kỹ lưỡng Trong vận ñơn ñường biển ngoài việc thể hiện ñầy ñủ trong nội dung như: tư cách của người ký phát vận ñơn, vận ñơn có chuyển tải hay không, thì việc ghi chú hàng “ñã bốc” lên tàu nào và tại cảng nào cũng rất quan trọng, và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà người lập phải ghi chú sao cho ñúng ñể khi xuất trình chứng từ không bị từ chối
Ví dụ:
Tín dụng thư ñược ngân hàng P phát hành quy ñịnh một số ñiều khoản giao hàng như sau:
2 Vận ñơn ñường biển “ñã bốc”
3 Giao hàng từ cảng pháp ñến cảng thành phố Hồ Chí Minh-Việt Nam
4 Cho phép chuyển tải
5 Chứng từ ñược xuất trình tại ngân hàng C với chi tiết vận ñơn như sau:
6 Tiêu ñề của vận ñơn “Bill of lading for combined Transport or Port Shipment”
Port-to-7 “On board” date 15 Feb 1994
8 Local Vessel: Tripoly