1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tiểu luận môn tài chính và ngân hàng quốc tế tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng LC

17 564 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 44,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thực tế thanh toán theo L/C, đã có khá nhiều tranh chấp phát sinh do bộ chứng từ người bán lập không đáp ứng được các yêu cầu nói trên.. Tranh chấp liên quan đến vận tải

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN

Chủ đề: TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG THƯ

TÍN DỤNG - L/C

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, trong bối cảnh chung của thế giới thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong sự phát triển của đất nước Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi quốc tế, là mắt xích không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể Trong TTQT, phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất là phương thức thanh toán bằng thư tín dụng - L/C L/C là một cam kết chắc chắn của NHPH về việc thanh toán khi chứng từ phù hợp được xuất trình, do vậy, trong mua bán quốc tế, hầu hết các bên liên quan đều ưu tiên chọn L/C làm phương thức thanh toán Mặc dù vậy, phương thức thanh toán bằng L/C vẫn thường xảy ra tranh chấp do kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, nguồn luật điều chỉnh đa dạng, các bên tham gia lại thiếu sự am hiểu rõ ràng các thông lệ, tập quán, luật pháp quốc tế cũng như một số quy định trong L/C Sở dĩ chúng tôi chọn chủ để “Tranh chấp trong thanh quốc tế bằng thư tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam” nhằm nghiên cứu, đánh giá những tranh chấp mà các bên tham gia thường mắc phải, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa, phòng tránh trong thanh toán quốc tế bằng L/C

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, kết cấu bài thảo luận gồm 3 phần chính:

Phần I: Các tranh chấp liên quan đến giấy tờ xuất trình.

Phần II: Các tranh chấp liên quan đến nhà xuất khẩu

Phần III: Các tranh chấp liên quan đến nhà nhập khẩu.

Trang 3

I Các tranh chấp liên quan đến giấy tờ xuất trình.

1 Các dạng tranh chấp thường phát sinh liên quan chứng xuất trình

Các tranh chấp xảy ra trong thanh toán quốc tế bằng L/C thường rất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, có hai loại tranh chấp điển hình thường gặp, đó là tranh chấp liên quan tới chứng từ do người bán tạo lập, xuất trình đòi tiền ngân hàng phát hành L/C và tranh chấp liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia vào giao dịch theo thư tín dụng

Ðối với các chứng từ, ngân hàng phát hành thường yêu cầu người thụ hưởng phải thoả mãn các yêu cầu sau:

– Số loại chứng từ phải xuất trình và số lượng bản chính, bản sao của mỗi loại – Các chứng từ phải thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng

– Các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là không được mâu thuẫn lẫn nhau

– Yêu cầu ký phát từng loại chứng từ đó như thế nào?

Tuy nhiên, trong thực tế thanh toán theo L/C, đã có khá nhiều tranh chấp phát sinh do bộ chứng từ người bán lập không đáp ứng được các yêu cầu nói trên Thường

có 3 loại chứng từ được coi là chứng từ quan trọng trong các chứng từ xuất trình đòi tiền theo L/C, bao gồm: Vận đơn đường biển, hoá đơn thương mại và bảo hiểm đơn

a Tranh chấp liên quan đến vận tải đơn đường biển (Ocean Bill of Lading)

Theo Ðiều 20 UCP 600, yêu cầu chung cho vận đơn đường biển xuất trình bao gồm:

+ Vận đơn phải được cấp bởi một trong ba đối tượng sau: Người chuyên chở hàng hóa; thuyền trưởng hoặc đại lý của người chuyên chở hoặc thuyền trưởng Người

ký vận đơn, ngoài việc ghi rõ tên thì còn phải ghi rõ năng lực của họ nữa

Theo đánh giá của ICC, đại đa số các sai biệt dễ dẫn đến tranh chấp liên quan tới vận đơn là do cách thể hiện không đúng năng lực, tư cách của người ký phát hành vận đơn

+ Vận đơn phải ghi rõ hàng hóa đã được bốc lên đích danh một con tàu (Shipped on board) Quy định này chỉ phù hợp với việc giao hàng theo các điều kiện FOB, CIF và do vậy, nó chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều hiểu lầm làm phát sinh tranh chấp trong hình thức sử dụng B/L vận tải đa phương thức, hoặc khi điều kiện cơ

sở giao hàng là FCA thì người chuyên chở chỉ cấp cho người gửi hàng vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment B/L) Trong trường hợp này, nếu L/C yêu cầu trên B/L nhất thiết phải ghi chú là hàng đã bốc lên đích danh một con tàu thì sẽ gây khó khăn cho người bán và tranh chấp phát sinh

+ Vận đơn phải chỉ rõ là việc gửi hàng từ cảng tới cảng trên một con tàu chỉ định theo yêu cầu của L/C Yêu cầu này cũng đã gây khó khăn cho người gửi hàng trong trường hợp hàng hóa phải chuyển tải dọc đường bởi vì trên vận đơn chỉ có ô ghi

“Cảng bốc hàng” và “Cảng dỡ hàng” chứ không có ô ghi “Cảng chuyển tải”

Trang 4

Ðể tránh những rủi ro có thể xảy ra, tốt nhất, người gửi hàng phải thông báo cho người mua về tuyến đường gửi hàng và loại chứng từ vận tải mà người vận chuyển phải phát hành để người mua mở L/C cho phù hợp

Nếu L/C quy định một loại chứng từ vận tải không phù hợp, người gửi hàng phải yêu cầu sửa đổi L/C để tránh xảy ra sai sót trong khi lập các chứng từ xuất trình

b Tranh chấp liên quan tới hóa đơn thương mại (Commercial Invoice).

Trong TTQT bằng L/C, hoá đơn thương mại là một loại chứng từ thương mại

do Người thụ hưởng L/C tạo lập cho Người yêu cầu mở L/C sau khi Người thụ hưởng hoàn thành nghĩa vụ giao hàng

Theo Ðiều 18 UCP 600, hóa đơn thương mại phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

+ Hóa đơn thương mại chỉ mô tả hàng hoá thực giao hoặc những dịch vụ hoặc các thực hiện đã cung ứng và phải phù hợp với mô tả hàng hoá dịch vụ và các thực hiện trong L/C

+ Số lượng, trọng lượng và thể tích hàng hoá kê khai trong hoá đơn không được mâu thuẫn với các kê khai trên các chứng từ khác của cùng một lần xuất trình

+ Ðiều kiện thương mại là một bộ phận của mô tả hàng hoá trong L/C và thường được thể hiện hoặc là gắn kết với đơn giá hoặc ghi kèm với thư tín dụng

+ Hóa đơn thương mại không nhất thiết phải có chữ ký của người phát hành (theo Ðiều 18a (iv) UCP 600), nhưng phải thể hiện trên bề mặt là được phát hành bởi người hưởng lợi L/C và lập theo tên người mở L/C, trừ trường hợp L/C chuyển nhượng

Thực tế thanh toán quốc tế bằng L/C tại Việt Nam cho thấy, các tranh chấp phát sinh liên quan đến hóa đơn thương mại thường do 2 vấn đề: (i) Trị giá hóa đơn và (ii)

Mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại

– Về trị giá hóa đơn: Số tiền của L/C có thể bằng 100% trị giá của hóa đơn hoặc lớn hơn Nếu số tiền ghi trên hóa đơn vượt quá giá trị của L/C thì ngân hàng có quyền

từ chối thanh toán Nếu ngân hàng chấp nhận một hóa đơn thương mại như thế thì chỉ

có số tiền cao nhất được ấn định trong L/C sẽ được thanh toán và quyết định này sẽ ràng buộc các bên có liên quan Tuy nhiên, việc giao chứng từ có thể không được thực hiện vì còn phụ thuộc vào việc thanh toán khoản tiền chưa được trả Trong những trường hợp như vậy, khoản tiền vượt này thường được chuyển sang nhờ thu Ngược lại, nếu ngân hàng không chấp nhận thanh toán và người mua lại không hợp tác thì trị giá hóa đơn vượt quá không được thanh toán kia sẽ trở thành mấu chốt của các tranh chấp phát sinh

– Về mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại: Việc mô tả hàng hóa trên hóa đơn thương mại cũng được các ngân hàng kiểm tra kỹ lưỡng Như đã phân tích ở trên, UCP 600 quy định, việc mô tả hàng hóa trong trong hóa đơn thương mại phải phù hợp với mô tả trong L/C Bằng việc mô tả chính xác hàng hóa như được nêu trong L/C, người bán xác nhận rằng, hàng hóa đã được gửi đi đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng Chỉ cần một khác biệt nhỏ giữa mô tả hàng hóa trong hoá đơn thương mại và mô

Trang 5

tả hàng hóa trong L/C cũng có thể khiến cho ngân hàng từ chối thanh toán và là nguyên nhân gây ra tranh chấp

c Tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm (Insurance Policy)

Chứng từ bảo hiểm là loại chứng từ chỉ xuất hiện khi người bán chịu trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu, ví dụ như trường hợp mua bán với điều kiện CIF (Cost, Insurance and Freight) – “Tiền hàng, bảo hiểm và cước”, CIP (Carriage and Insurance Paid to…)- “Cước phí và bảo hiểm trả tới…” Về chứng từ bảo hiểm, Ðiều 28 UCP 600 quy định:

+ Chứng từ bảo hiểm thể hiện trên bề mặt đã được lập, ký tên bởi công ty bảo hiểm, người bảo hiểm hoặc đại lý của họ phát hành Các phiếu bảo hiểm (cover notice)

do người môi giới của công ty bảo hiểm cấp thường không được ngân hàng chấp nhận

+ Trị giá bảo hiểm phải bao gồm ít nhất giá CIF hay CIP của hàng hóa cộng thêm 10% nhưng chỉ khi nào giá CIF hay CIP có thể định rõ trên chứng từ Trong L/C cũng cần phải quy định rõ loại bảo hiểm phải mua và nếu cần bao gồm cả những loại rủi ro phụ phải mua bảo hiểm

+ Chứng từ bảo hiểm phải ghi rõ số tiền bảo hiểm và cùng loại tiền của thư tín dụng

+ Ngày phát hành chứng từ bảo hiểm không được muộn hơn ngày giao hàng, trừ khi trên chứng từ bảo hiểm thể hiện là bảo hiểm có hiệu lực kể từ ngày không chậm hơn ngày giao hàng

d Các vấn đề khác liên quan tới chứng từ xuất trình

Ngoài những nội dung liên quan tới các chứng từ xuất trình như đã nói ở trên, quan điểm như thế nào là sự mâu thuẫn giữa các chứng từ vẫn còn có nhiều tranh luận

và không ít trường hợp sự không thống nhất về quan điểm cũng thường dẫn đến các tranh chấp Ví dụ, theo yêu cầu của L/C, hóa đơn thương mại phần mô tả hàng hóa ghi: Mặt hàng: A xít sun phu rich, nhưng trong chứng từ giám định lại ghi: H2SO4 Xét về mặt bản chất, thì dù có 2 cách ghi khác nhau ở 2 chứng từ nhưng ngân hàng, với sự cẩn thận hợp lý, có thể phán xét được đây là chứng từ không mâu thuẫn Nhưng trong những trường hợp khác, ngân hàng không thể phát hiện ra bản chất bên trong của chứng từ so với hình thức bên ngoài của nó thì sao? Do vậy, giải pháp an toàn nhất cho các doanh nghiệp và để tránh các tranh chấp có thể phát sinh, tốt nhất là nên loại bỏ các mâu thuẫn về hình thức khi tạo lập các chứng từ theo yêu cầu của L/C

2 Một số biện pháp đối với các doanh nghiệp

- Thứ nhất, phổ cập cho các doanh nghiệp những kiến thức cơ bản về phương thức thanh toán TDCT

- Thứ hai, hoàn thiện hệ thống luật pháp về quản lý ngoại hối, thanh toán quốc

tế và kinh doanh XNK

- Thứ ba, trước khi tham gia giao dịch chứng từ, các bên mua và bán phải nghiên cứu kỹ độ tin cậy của đối tác và tính chất của từng thương vụ

Trang 6

3 Ví dụ

a Vấn đề được đề cập

Cách hiểu về cơ sở để kiển tra chứng từ khác nhau cho nên dẫn đến tổn thất trong thanh toán theo Thư tín dụng

b Tóm tắt vụ việc

Căn cứ vào Hợp đồng mua tàu “A” giữa Nguyên đơn và Người bán Hoa Kỳ, Nguyên đơn đã gửi đơn yêu cầu phát hành L/C đến Ngân hàng Việt Nam (dưới đây gọi tắt là bị đơn) yêu cầu phát hành L/C trị giá 300.000 USD cho người bán Hoa Kỳ hưởng lợi

Ngày 30/12/1999, Bị đơn đã phát hành L/C có trị giá 300.000 USD cho người bán Hoa Kỳ hưởng lợi L/C này được thông báo qua Ngân hàng “C” Hoa Kỳ và tham chiếu UCP 500 1993 của ICC (gọi tắt là UCP 500 1993 ICC)

Ngày 10/02/2000, Bị đơn đã nhận được chứng từ do Ngân hàng “C” Hoa Kỳ xuất trình

và gửi Công văn ký ngày 11/02/2000 cho Nguyên đơn thông báo về 03 sai biệt giữa chứng từ và L/C, đồng thời yêu cầu Nguyên đơn chấp nhận thanh toán trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày Công văn kèm với bộ chứng từ bản sao cho Nguyên đơn

Ngày 13/2/2000, Nguyên đơn đã gửi công văn xác nhận bỏ qua 3 sai biệt của chứng từ và chấp nhận thanh toán

Ngày 15/02/2000, Bị đơn đã ra lệnh cho Ngân hàng đại lý của mình ở Hoa Kỳ chuyển 300.000 USD vào tài khoản của Ngân hàng ”C” Hoa Kỳ để trả cho người Thụ hưởng L/C theo chỉ dẫn của Ngân hàng “C”

Ngày 15/04/2001, tàu “A” đã không cập cảng Hải Phòng do đã bị Tòa án Hàng hải bang Florida bắt giữ từ ngày 24/03/2001

Nguyên đơn phát đơn kiện bị đơn ra Trọng tài với những căn cứ sau đây:

Một là, ngoài 3 sai biệt nhỏ của chứng từ do Bị đơn phát hiện, còn một số sai biệt khác chưa được phát hiện, điều đó chứng tỏ Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ chính xác nghĩa vụ của mình Theo L/C và UCP500 1993 ICC;

Hai là, vì 3 sai biệt mà Bị đơn phát hiện là nhỏ, cho nên Nguyên đơn đã bỏ qua

và đồng ý chấp nhận thanh toán, tuy nhiên có một sai biệt trầm trọng có thể từ chối thanh toán, đó là Bill of Sale chưa được “hợp thức hóa” ( legalized) bởi Tòa án dân sự Hoa Kỳ mà Bị đơn đã không phát hiện được Vì nếu Bill of Sale đã được “hợp thức hóa” thì sẽ không có sự việc bắt giữ tàu “A” khi dang trên đường sang Việt Nam Đây

là một lỗi lớn của Bị đơn và là nguyên nhân gây nên tổn thất cho Nguyên đơn

Tóm lại, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền

là 400.571,64 USD gồm các khoản tiền tàu, phí mở L/C, lãi vay, phạt chậm thanh toán

Lập luận của Bị đơn:

Về chứng từ, Bị đơn cho rằng, trong quá trình mở, kiểm tra chứng từ theo L/C, thanh toán cho Người thụ hưởng L/C, hai bên đã thống nhất về cách hiểu nội dung của các chứng từ cũng như nội dung của L/C( cơ sở để kiểm tra chứng từ) theo nguyên văn Tiếng anh

Trang 7

Tranh chấp chỉ phát sinh từ khi Nguyên đơn đã không nhận được tàu A và có sự hiểu khác nhau về chứng từ và L/C theo nguyên văn Tiếng anh

Bị đơn đã trả tiền cho người thụ hường L/C trên cơ sở và sau khi:

- Đã thông báo 3 sai biệt của chứng từ không những cho Nguyên đơn, mà cả cho Người thụ hưởng L/C:

- Đã được Nguyên đơn chấp nhận thanh toán dù cho có 03 sai biệt về chứng từ

so với L/C và đã có lệnh chuyển tiền của Nguyên đơn

Nguyên đơn đã nhận chứng từ và sau 6 tháng vẫn không phát hiện được các sai sót khác của chứng từ Nay tàu “A” đã không được giao, Nguyên đơn mới phát hiện ra sai sót lớn là Bill of Sale chưa được “hợp thức hóa” để đổ tội cho Bị đơn là điều không hợp lý

Nếu Nguyên đơn phát hiện ra sai sót lớn của chứng từ (cho rằng là có) ngay sau khi Bị đơn trả tiền cho Ngân hàng “C” thì Bị đơn có thể đòi lại tiền, bởi vì sau 3 tháng

kể từ ngày Ngân hàng “C”nhận được tiền của Bị đơn họ mới chuyển trả cho Người bán hoa Kỳ, rõ ràng rằng trách nhiệm giải quyết hậu quả này không dược thực hiện kịp thời là do Nguyên đơn gây ra

Tóm lại, Bị đơn cho rằng mình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực và tập quán quốc tế quy định tại UCP 500 1993 ICC khi thực hiện nghiệp vụ đối với L/C

Bị đơn bác bỏ toàn bộ đơn kiện của Nguyên đơn và không có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại mà Nguyên đơn yêu cầu

c Quyết định trọng tài

(i) Nội dung tranh chấp

Nội dung tranh chấp tập trung vào kiểm tra chứng từ xem có phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C hay không và do đó việc trả tiền của Bị đơn có đúng hay không?

Về vấn đề này, Nguyên đơn cho rằng, Bị đơn chỉ phát hiện được những sai biệt nhỏ, không quan trọng nhưng Bị đơn đã bỏ qua sai biệt lớn là Bill of Sale chưa được

“hợp thức hóa” bởi Tòa án dân sự Hoa Kỳ, cho nên tòa án Hàng Hải hoa Kỳ có quyền bắt giữu con tàu “A” vì con tàu này là vật thế chấp tại Ngân hàng Hoa Kỳ

Ngược lại, Bị đơn cho rằng, các sai biệt chứng từ do Bị đơn thông báo cho Nguyên đơn đều là những sai biệt quan trọng, nhưng Nguyên đơn đều đồng ý bỏ qua

và chấp nhận thanh toán Còn Bill of Sale có cần “hợp thức hóa” hay không thì Bị đơn

đã hành xử đùng theo nguyên bản tiếng Anh ghi trên Bill of Sale và L/C và cho rằng giữa chúng không có mâu thuẫn

(ii) Nhận định của Hội đồng Trọng Tài

- Về sai biệt của chứng từ

+ UCP 500 1993 ICC không có qui định sai biệt lớn hay nhỏ, sai biệt quan trọng hay không quan trọng, sai biệt chủ yếu hay thứ yếu, mà hễ cứ có sai biệt chứng

từ so với các điều kiện của điều khoản của L/C là các Ngân hàng có thể từ chối tiếp nhận chứng từ xuất trình theo Điều 14b: “Khi nhận chứng từ, Ngân hàng phát hành và/ hoặc Ngân hàng xác nhận (nếu có) hoặc một Ngân hàng chỉ định hoạt động nhân danh

Trang 8

các ngân hàng đó phải quyết định trên cơ sở bản than chứng từ là các chứng từ đó thể hiện trên bề mặt của chúng phù hợp trên các điều kiện và điều khoản của tín dụng hay không Nếu các chứng từ đó xét trên bề mặt của nó là không phù hợp với các điều kiện

và điều khoản của tín dụng, các ngân hàng có thể từ chối tiếp nhận chứng từ”

Cả Nguyên đơn và Bị đơn đã không quán triệt được qui định của UCP 500

1993 ICC về từ chối thanh toán, do đó đã tuột khỏi tay một cơ hội thuận lợi từ chối thanh toán để rơi vào tình thế bất lợi, gây nên tổn thất cho doanh nghiệp và Ngân hàng

+ Về Bill of Sale có cần “hợp thức hóa” hay không?

Vấn đề này phải khảo sát nguyên văn câu tiếng Anh ghi trong L/C, trong Bill of Sale, trong Đơn yêu cầu phát hành L/C và ngay trong hợp đồng mua tàu

Trong 04 văn bản trên, không có sự khác nhau về nguyên văn câu tiếng Anh, tức là không có sự tranh chấp về vấn đề này

Nhưng do cấu trúc câu văn tiếng Anh ghi trong các văn bản trên là quá mơ hồ, không chặt chẽ về ngữ pháp, cho nên đã dẫn đến 2 cách hiểu khác nhau về việc “hợp thức hóa” Bill of Sale

L/C ghi “Documents required” như sau: “An original Bill of Sale will be prepared by the Seller transferring the title in favour ò the Buyer and the stating that the vessel is free from any encum, brancies, mortgages, maritime lients, all claims, debts, whatsoever snd legalized by the civil Court in USA”

Cách hiểu thứ nhất là Bill of Sale phải được “hợp thức hóa” bởi Tòa án Dân sự Hoa Kỳ

Cách hiểu thứ hai là Bill of Sale chỉ cần tuyên bố rằng tàu “A” “đã được hợp thức hóa” bởi Tòa án Dân sự Hoa Kỳ

Vậy thì nguyên nhân dẫn đến tranh chấp này là gì ? Hội đồng Trọng Tài cho rằng, cả hai Nguyên đơn và Bị đơn đều thiếu thận trọng trong việc tạo lập L/C theo qui định của điều 5 UCP 500 là “Những chỉ thị phát hành L/C, bản thân nội dung L/C phải hoàn toàn đầy đủ và chính xác…và phải tuyên bố một cách chính xác các chứng từ dùng để thanh toán”

- Về mối quan hệ giữa hợp đồng mua tàu và đơn yêu cầu phát hành L/C, Hội đồng Trọng Tài nhận thấy có nhiều điều bất cập:

+ Hợp đồng là cơ sở để người nhập khẩu viết Đơn yêu cầu phát hành L/C và để các ngân hàng thương mại Việt Nam kiểm tra xem người yêu caaufphats hành L/C có làm đúng yêu cầu của hợp đồng hay không và tahm vấn cho khách hàng khi có yêu cầu phát hành L/C

Trong Hợp đồng mua tàu “A” ký giữa Nguyên đơn và Người thụ hưởng L/C có qui định việc thanh toán sẽ phải được thực hiện khi Người thụ hưởng xuất trình các chứng từ sau đây:

-Văn tự bán tàu ( Bill of Sale);

- Hóa đơn thương mại;

- Biên bản giao nhận tàu (Delivery Certificate hoặc Protocol) được ký kết xác nhận bởi Nguyên đơn và đại diện của Người thụ hưởng L/C ở Việt Nam

Trang 9

Trong các chứng từ nói trên, Biên bản giao nhận tàu là một chứng từ rất quan trọng Biên bản này là căn cứ thanh toán gần như là duy nhất và có tính quyết định đối với việc mua bán các phương tiện vận tải như tàu biển, máy bay

Nguyên đơn đã không yêu cầu người bán cấp chứng từ Biên bản giao nhận tàu trong Đơn yêu cầu phát hành L/C là một sai sót nghiêm trọng và Bị đơn cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì đã không đọc kỹ Hợp đồng mua tàu để tư vấn cho khách hàng

bổ sung Biên bản giao nhận tàu vào Đơn phát hành L/C

Hội đồng Trọng tài cho rằng, nếu L/C yêu cầu Người bán Hoa Kỳ xuất trình Biên bản giao nhận tàu đã được hai bên mua bán tàu ký xác nhận mới thanh toán 300.000 USD thì tổn thất này sẽ không xảy ra

+ Điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong L/C là CIF Cảng Hải Phòng với tổng trị giá là 300.000 USD Điều kiện cơ sở giao hàng CIF nói lên rằng, trong 300.000 USD có bao hàm phí bảo hiểm mà người bán tàu “A” đã mua vì quyền lợi của người mua tàu (Nguyên đơn), thế nhưng cũng trong Đơn yêu cầu phát hành L/C và bản thân L/C đó, Ngân hàng phát hành L/C lại qui định người bán phải cấp giấy bảo hiểm thân tàu

Mua bảo hiểm thân tàu là mua bảo hiểm vì quyền lợi của chủ tàu (người bán) chứ không phải vì quyền lợi của người mua tàu

Vì vậy, Hội đồng Trọng tài cho rằng, cả hai bên Nguyên đơn va Bị đơn đều yếu kém về trình độ chuyên môn, cho nên đã thiết lập một L/C có nội dung mâu thuẫn nhau và giá mua con tàu “A” 300.000 USD với điều kiện người bán chỉ mua bảo hiểm thân tàu là chưa đủ trách nhiệm

- Về việc trả tiền cho Người xuất trình chứng từ

Hội đồng Trọng tài cho rằng, Bị đơn đã chuyển trả tiền cho Người thụ hưởng L/

C qua Ngân hàng “C” là thiếu căn cứ, cụ thể như sau :

Bị đơn đã ra lệnh thanh toán qua mạng SWIFT cho ngân hàng đại lý của mình ở Hoa Kỳ để ghi có 300.000 USD vào tài khoản của Ngân hàng “C” theo yêu cầu của ngân hàng này là không có cơ sở pháp lý bởi vì không có bằng chứng nào xác minh Ngân hàng “C” là Người thụ hưởng hiện hành Hối phiếu 300.000 USD do Người thụ hưởng L/C là người ký phát hối phiếu đó

Về mặt pháp lý, Người bán Hoa Kỳ ký phát hối phiếu đòi Người mua trả tiền theo lệnh của chính mình, mà không phải theo lệnh của Ngân hàng “C” hoặc là không

ký hậu Hối phiếu đó cho Ngân hàng “C” thì Người thụ hưởng Hối phiếu đó không phải là Ngân hàng “C”, cho nên, Ngân hàng “C” không thể yêu cầu Bị đơn chuyển trả tiền vào tài khoản của mình mở ở Ngân hàng Dự trữ bang Texas

-Về vấn đề sử dụng L/C trong thanh toán hợp đồng mua bán tàu biển hoặc mua các phương tiện vận tải tự hành từ nơi khởi hành đến nơi bàn giao phương tiện vận tải

là không hợp lý

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà việc thanh toán cho Người thụ hưởng L/C được tiến hành căn cứ vào bộ chứng từ giao hàng (shiping documents) của họ xuất trình đến Ngân hàng phát hành L/C có phù hợp với

Trang 10

điều kiện và điều khoản của L/C hay khong, mà không dựa vào thực tế giao nhận hàng hóa tại cảng đến quy định

Trong khi đó, việc thanh toán quy định trong Hợp đồng mua các phương tiện vận tải (tàu biển, máy bay) lại dựa vào thực tế giao nhận tàu biển tại cảng đến qui định Bằng chứng cho việc giao nhận tàu “A” qui định trong hợp đồng này là Biên bản giao nhận tàu tại cảng Hải Phòng Có nghĩa là người mua nhận tàu xong mới trả tiền

Hội đồng trọng tài cho rằng, việc thanh toán tiền mua tàu “A” chỉ nên sử dụng Thư bảo lãnh thanh toán (Letter of Guarantee) hoặc Thư tín dụng dự phòng (Stand –

by L/C) thì mới hợp lý

Kết luận:

Căn cứ vào các văn bản pháp lý hiện hành có liên quan nêu ở trên, vào các chứng từ do hai bên Nguyên đơn và Bị đơn cung cấp và giải trình, trên cơ sở phân tích khoa học, hợp tình và hợp lý, Hội đồng Trọng tài quyết định:

- Hai bên nguyên đơn và Bị đơn đều có lỗi trong vụ tổn thất 300.000 USD về tiền mua tàu “A” nói ở trên Nguyên nhân dẫn đến tổn thất này là do trình độ về nghiệp vụ thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế còn bị hạn chế, do đó đã bị nước ngoài lừa đảo Tỷ lệ phân chia tổn thất dành cho Nguyên đơn là 70%, cho Bị đơn là 30%

- Buộc Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn 30% của số tiền mua tàu 300.000 USD tức là 90.000 USD

- Buộc Bị đơn phải trả tiền lãi vay trên số tiền phải bồi thường 90.000 USD tính

từ ngày 13/02/2000 đến ngày 13/02/2002 (ngày công bố Quyết định) theo mức lãi suất vay bằng đồng Việt Nam hiện hành là 0.78%/tháng: 90.000 USD * 24 tháng * 0.78%=16.848 USD

Tổng số tiền Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn là: 90.000 USD + 16.848 USD = 106.848 USD

- Phí trọng tài do cả hai bên cùng phải chịu theo tỷ lệ phân chia tổn thất 30% cho Bị đơn và 70% cho Nguyên đơn

d Bình luận và lưu ý

Thứ nhất, việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp.

Trong thương mại quốc tế có hai nhóm phương thanh toán thông dụng, nhóm phương thức thanh toán dựa vào chứng từ giao hàng của Người bán xuất trình để thực hiện việc trả tiền và nhóm phương thức thanh toán dựa vào kết quả giao nhận hàng để trả tiền Về nguyên tắc thanh toán, hai nhóm phương thức thanh toán này hoàn toàn khác nhau

Nhóm các phương thức thanh toán dựa vào chứng từ giao hàng xuất trình để trả tiền thường gồm có phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit –

ta thường gọi bằng L/C), Nhờ thu kèm chứng từ (Document Collection), Thư ủy thác mua(Authority to Purchase) Đặc trưng của nhớm phương thức thanh toán này là áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng “chết”, tức là hàng không thể tựu vận hành đến nơi giao hàng mà phải dùng phương tiện vận tải để chuyên chở

Ngày đăng: 28/03/2017, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w