Khoá luận của chúng tôi với đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm đã đi vào nghiên cứu những khía cạnh trong thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm, đó là hình tợng tác giả, con ngời và thế
Trang 1Bộ Giáo Dục Và Đào tạo Trờng Đại học Vinh
Nguyễn Thị Châu Hiếu Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm
Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: Văn học hiện đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 21.2 Hình tợng tác giả trong thơ Thâm Tâm
1.2.1 Khái niêm hình tợng tác giả và các biểu hiện của hình
tợng tác giả
1.2.2 Hình tợng tác giả trong thơ Thâm Tâm
Chơng 2 : Con ngời và thế giới trong thơ Thâm Tâm
2.1 Con ngời trong thơ Thâm Tâm
2.1.1 Hình tợng li khách
2.1.2 Bạn tri âm
2.1.3 Nhân dân
2.1.4 Kiếp má hồng
2.2 Không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Thâm Tâm
2.2.1 Các kiểu không gian chủ yếu trong thơ Thâm Tâm
2.2.2 Thời gian nghệ thuật trong thơ Thâm Tâm
Lời nói đầu
Thâm Tâm là một “Hiện tợng thơ” đặc sắc trong làng Thơ mới 1932
-1945 Nhng việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ ông hiện còn rất tản mạn, sơ lợc Đó
Trang 3chính là lý do giải thích vì sao chúng tôi chọn Thâm Tâm làm đề tài nghiêncứu khoa học cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận của chúng tôi với đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm đã
đi vào nghiên cứu những khía cạnh trong thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm,
đó là hình tợng tác giả, con ngời và thế giới, nghệ thuật tổ chức ngôn từ
Khoá luận đợc thực hiện và hoàn thành dới sự hớng dẫn khoa học chu
đáo của Thầy - Tiến sĩ Biện Minh Điền và sự động viên khích lệ của các thầycô giáo trong khoa Ngữ văn Đại học Vinh Tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâusắc
Vinh, ngày 20 tháng 05 năm 2006
Trang 41.2 Thâm Tâm là một giọng thơ đặc sắc nhng còn ít đợc nghiên cứu.
Cha có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu thơ Thâm Tâm nh một hệthống nghệ thuật mang tính chỉnh thể Luận văn của chúng tôi đi vào nghiêncứu một vấn đề hết sức cơ bản : Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm, nhằm cóthể đáp ứng yêu cầu trên
1.3 Thâm Tâm không chỉ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân
tộc mà còn có vị trí quan trọng trong chơng trình văn học ở trờng phổ thông.Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi còn nhằm mục đích góp phần vào việc nângcao chất lợng giảng dạy thơ Thâm Tâm ở nhà trờng trung học phổ thông hiệnnay đợc tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Thâm Tâm trên lịch trình nghiên cứu khoảng gần nửa thế kỷ qua.
Khảo lợc lịch trình nghiên cứu về thơ Thâm Tâm khoảng gần nửa thế kỷqua, chúng tôi thấy, cho đến thời điểm hiện nay đã có 24 bài viết Vấn đềnghiên cứu, giới thiệu về thơ Thâm Tâm vẫn còn tản mạn, sơ lợc Thành tựunghiên cứu về Thâm Tâm cha tơng xứng với tầm vóc của ông, dẫu rằng côngsức và đóng góp của các nhà nghiên cứu là vô cùng quý giá, đáng trân trọng
2.2 Tác giả Hoài Việt trong cuốn “Thâm Tâm và T.T.K.H”, xuất bản
năm 1997 (Nxb Giáo dục, Hà Nội) đã tập hợp những bài viết của Thâm Tâm
và những bài nghiên cứu về ông của các tác giả Nhng mỗi bài viết chỉ đề cập
đến một khía cạnh nhỏ về cuộc đời ông, chẳng hạn Vũ Cao với bài viết: “Vài
kỷ niệm về Thâm Tâm”, Trúc Kỳ với bài viết “Những phút cuối cùng củaThâm Tâm”, Ngọc Giao với bài viết “Hồi ức về Thâm Tâm” ; chỉ có HoàiViệt với bài viết “Các nhà thơ xóm áo bào gốc liễu” là có đề cập đến vài khíacạnh nhỏ trong thơ Thâm Tâm và hai bạn thơ cùng nhóm với ông Nh vậy, cha
có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu về thơ Thâm Tâm một cách đầy đủ
Năm 2000, Lê Huy Bắc cho xuất bản cuốn “Thẩm bình tác phẩm văn chơng trong nhà trờng (Tập 2- Tống biệt hành” ), nhà xuất bản Đại học Quốcgia Hà Nội Nh tên gọi của cuốn sách, nó chỉ tập hợp một số bài viết về bài thơ
“Tống biệt hành” của Thâm Tâm Bài viết “Văn nghiệp Thâm Tâm” của tác giả
Trang 5Lê Bảo có đề cập đến những nét lớn về t tởng nghệ thuật của Thâm Tâm nhngbài viết cũng mới chỉ là một cái nhìn sơ lợc Chúng tôi bắt gặp nhiều bài viếttrong cuốn “Thâm Tâm và T.T.K.H” trong cuốn sách này.
Nh vậy, có thể thấy, việc nghiên cứu về thơ Thâm Tâm cha đợc thực hiệnmột cách đầy đủ, cha tơng xứng với tầm vóc của ông
2.3 Với lý do đó, chúng tôi đã xem việc nghiên cứu thơ Thâm Tâm là
một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiêntìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm với một cái nhìn toàn diện và hệthống
3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Nh tên gọi của luận văn, đối tợng nghiên cứu là Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm.
3.2 Giới hạn và phạm vi của đề tài
Luận văn của chúng tôi tìm hiểu toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ ThâmTâm ở cả hai chặng đờng trớc và sau cách mạng tháng Tám
Văn bản tác phẩm thơ Thâm Tâm mà chúng tôi dựa vào để khảo sát làvăn bản " Thân Tâm và TTKH" do Hoài Việt su tầm, biên soạn [22] Vì chúngtôi cho rằng đây là công trình su tầm, khảo cứu đáng tin cậy nhất về thơ ThâmTâm hiện nay Ngoài ra chúng tôi còn phối hợp tham khảo ở một số từ liệukhác
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, xác định đặc trng của thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm, luận
văn nhằm vào ba nhiệm vụ chính:
4.1 Đa ra một cái nhìn tổng quát về đờng đời, đờng thơ Thâm Tâm, xác
định vị trí của ông trong thơ Việt Nam hiện đại
4.2 Xác định những nét đặc sắc trong cảm quan về con ngời và thế giới
Trang 65.4 Phơng pháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
6.1.1 Lần đầu tiên Thế giới nghệ thuật thơ Thâm Tâm đợc khảo sát, tìm
hiểu trên nhiều phơng diện với một cái nhìn hệ thống, toàn diện
6.1.2 Kết quả của luận văn hy vọng góp một vài ý kiến hữu ích trong
việc vận dụng cho vấn đề dạy - học thơ Thâm Tâm ở trờng phổ thông
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triển khaitrong 3 chơng
đi làm Cuộc sống cơm áo đã đa ông lên Hà nội vào khoảng năm 1938 Từ đó,
ông sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn và làm báo Ông cộng tác với “Tiểuthuyết thứ bảy”, “Truyền bá” và cho ra mắt nhiều truyện ngắn, truyện vừa,kịch, thơ Nhng thành công nhất với Thâm Tâm là thơ Ông đợc ngời đời biết
đến qua “Tống biệt hành”, “Tráng ca”, “Chiều ma đờng số năm”
Thâm Tâm tham gia phong trào văn nghệ tiến bộ sau Cách mạng thángTám và đã gia nhập bộ đội khi kháng chiến bùng nổ Ông đợc cử làm th ký toàsoạn báo Vệ quốc quân, tiền thân của Quân đội nhân dân sau này.
Năm 1950, chiến dịch Cao Lạng mở ra, Thâm Tâm tham gia với t cách
là phóng viên mặt trận Sau một cơn ốm nặng, ông mất ngày 18/8/1950
1.1.2 Đờng thơ Thâm Tâm.
Thâm Tâm sáng tác trên cả hai chặng đờng : Trớc và sau Cách mạngtháng Tám Số lợng sáng tác của ông không nhiều Năm 1988, nhà xuất bảnvăn học lần đầu tập hợp các bài thơ của Thâm Tâm với một số lợng khiêm nh-ờng : 18 bài tất cả Trong đó, viết trớc cách mạng tháng Tám : 16 bài, sau cách
Trang 7mạng tháng Tám : 2 bài Năm 1997, vẫn nhà xuất bản trên, trong cuốn " ThâmTâm và TTKT" có giới thiệu thêm 2 bài.
Cuộc đời của Thâm Tâm tuy ngắn ngủi nhng những gì ông để lại chohậu thế lại thật đáng trân trọng Trong lòng bạn bè và độc giả, ông vẫn sống -một sự sống trờng tồn
1.2 Hình tợng tác giả trong thơ Thâm Tâm
1.2.1 Khái niệm hình tợng tác giả và các biểu hiện của hình tợng tác giả.
1.2.1.1 Khái niệm hình tợng tácgiả.
Khái niệm hình tợng tác giả đã đợc nhiều nhà nghiên cứu xem xét và
phân tích Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định "hình tợng tác giả" là sựbiểu hiện của tác giả trong tác phẩm của mình Nhà thơ Đức I.W Gớt nhậnxét: “Mỗi nhà văn bất kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tácphẩm một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình vềthế giới, cách suy nghỉ của mình về ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình, cảmnhận đó trở thành trung tâm tổ chức của tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nộitại của tác phẩm” [18,55] Nói cách khác, vần đề hình tợng tác giả gắn bó hữucơ với cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Hình tợng tác giả là phạm trù thể hiệncách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trongtác phẩm Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái tôi trongnhân cách mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tợngtác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật Văn bảncủa tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể chuyện hoặcnhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng
ra hình tợng ngời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định”[15,124]
Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang đợcnghiên cứu Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở phơng diện ngôn ngữ,
có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp dộ tácphẩm : Từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì, trong lập tr-ờng đời sống đến giọng điệu lời ca; có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở :Cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúccốt truyện, nhân vật và giọng điệu tác giả theo một cách nhìn riêng độc đáo,
Trang 8nhất quán có ý nghĩa t tởng, đạo đức, thị hiếu ; giọng điệu trần thuật, gồm cảmột phần giọng điệu nhân vật ; và ở sự miêu tả hình dung của tác giả đối vớichính mình Nh vậy, có thể nói : Sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu là ba
yếu tố cơ bản tạo thành hình tợng tác giả trong thế giới nghệ thuật của họ
1.2.1.2 Các phơng diện biểu hiện cơ bản của hình tợng tác giả trong sáng tác của một nhà văn
1.2.1.2.1 Tác phẩm văn học là sản phẩm đợc tạo ra trong quá trình sáng
tác văn học Quá trình đó bao gồm nhiều giai đoạn : ý đồ, tởng tợng, văn bản,
sự khách thể hoá ý đồ sáng tạo có tính chất ký hiệu và sự cảm thụ của ngời ởng thức Quá trình đó là sự thống nhất giữa cái nhìn độc đáo của nhà văn vàcác phơng tiện biểu hiện Đó chính là sự thống nhất giữa khách thể (hiện thựccuộc sống) và chủ thể (cái nhìn của nhà văn) Trong quá trình thai nghén tácphẩm, nhà văn lựa chọn thể loại văn học nh là phơng tiện để chuyển tải toàn
th-bộ nội dung trong ý đồ sáng tạo của mình Nhà văn Nga Lêônit Lêônốp nói :
"Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và là một khám phá về nộidung" Thể loại văn học chứa đựng trong đó vai trò của hình tợng tác giả ở bất
kỳ tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại hai thế giới, thế giới hình tợng màtác giả xây dựng và hình tơng tác giả Hình tợng tác giả bao giờ cũng đứng caohơn tác phẩm, đóng vai trò là ngời kể chuyện, dẫn chuyện Hình tợng tác giảvừa là ngời thiết kê, vừa là ngời thi công để tác phẩm có đợc giọng điệu riêngbiệt, có tiếng nói riêng và sự thể hiện riêng Để có dợc điều đó đòi hòi nhà vănphải luôn tìm kiếm biến đổi các hình thức văn học theo cách nhận thức riêngnhng vẫn đảm bảo tính thống nhất của thể loại
Thơ là hình thái nghệ thuật đặc biệt từ cấu trúc ngôn ngữ đến cách sửdụng vần điệu, âm thanh Đặc điểm quan trọng nhất của thơ trữ tình là sự thểhiện, bộ lộc trực tiếp cảm xúc của con ngời, nghĩa là con ngời tự xúc cảm vớichính mình, với ngoại cảnh nhng cái tôi trữ tình không chỉ thể hiện cáiriêng mà cao hơn, nó đứng trên cái chung để thể hiện Chính vì vậy, cái tôi trữtình có ý nghĩa phổ quát Nhân vật trữ tình là hình tợng trung tâm của tác giả
Có lúc tác giả “trùng khít” với nhân vật trữ tình Đó là sự tự biểu hiện; nhng cólúc, tác giả lại hoá thân, phân thân để biểu hiện Cái tôi trữ tình, cái tôi tác giả,vì thế bộc lộ hết sức phong phú và đem lại nhiều cảm xúc mới mẻ cho độc giả
1.2.1.2.2 Văn học gắn liền với sự sáng tạo của nhà văn, điều này dòi hỏi
cái nhìn của nhà văn đối với cuộc sống phải là cái nhìn có tính phát hiện, đem
đến cái mới cho văn học Bởi “nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy
Trang 9nó đòi hỏi nhà văn phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng,mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình” [15,130] Muốn vậy, nhà văn phải cótrình độ khái quát để nắm bắt những quy luật tất yếu của cuộc sống Cái nhìnnghệ thuật của tác giả là cái nhìn xuyên suốt bao trùm trở thành đờng nétriêng Cái nhìn đó là khả năng nắm bắt, khám phá cuộc sống và thể hiện ở sựmô tả chúng trong tác phẩm Cái nhìn của nhà văn càng tỉnh táo thì sự thâmnhập vào cuộc sống, vào sự vật càng sâu sắc, và từ đó làm cho những khái quátnghệ thuật càng mang tính chân thực, đạt đợc nhiều ý nghĩa Nghệ thuật khôngthể tách khỏi cái nhìn, nói cách khác, cái nhìn là một bộ phận không thể thiếucủa nghệ thuật M Khrap chencô nhận xét : “Chân lý cuộc sống trong sáng tácnghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối vớithế giới vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ” [18,65] Nhà văn Pháp Max- xenPrutxt có nói : “Đối với nhà văn cũng nh nhà họa sỹ, phong cách không phải làvấn đề nghệ thuật mà là vấn đề cách nhìn đó là sự khám phá mà ngời ta khôngthể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một cách nhìn khám phá về chất,chỉ có đợc trong cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệthuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [14,52].
Cái nhìn, do vậy là biểu hiện cách cảm nhận cuộc sống của tác giả Cáinhìn thể hiện trong tri giác, cảmgiác, quan sát, do đó phát hiện ra cái đẹp, cáixấu, cái bi, cái hài cái nhìn thể hiện t tởng đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trầnthuật, cách mô tả của nhà văn Cái nhìn chính là năng lực đánh giá, là nét riêngcủa ngời nghệ sĩ, nói cách khác, cái nhìn thể hiện phong cách ngời nghệ sĩ Cáinhìn thể hiện ở từng chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, bởi chi tiết là điểm rơicủa cái nhìn, chi tiết nghệ thuật hớng đến cách tiếp cận cuộc sống của độc giả.Qua cái nhìn cuộc sống, chúng ta có thể nhận ra chân dung của từng tác giả,bởi mỗi tác giả có một cái nhìn riêng, không trùng khít
Mỗi nhà văn có một cáI nhìn riêng, độc đáo về con ngời và thế giới.Chẳng hạn Xuân Diệu nhìn vạn vật trong cảm thức trôi chảy của thời gian ;Chế Lan Viên nhìn thế giới trong lăng kính của sự ám ảnh vè nớc ChiêmThành đã mất , còn Thâm Tâm, trong thời đại bấy giời, lại nhìn con ngời vàthế giới bằng con mắt suy t, chiêm nghiệm Dới những cái nhìn nghệ thuật
độc đáo ấy, các nghệ sỹ đã phát hiện ra biết bao nhiêu điều mới mẻ về sự đadạng, phong phú của đời sống và của hiện thực thời đại mình Nh thế cũng cónghĩa là nét riêng, nét độc đáo của thế giới nghệ thuật trong sáng của một nhà
Trang 10văn là do nét riêng, tính độc đáo trong cái nhìn của từng tác giả chi phối, quy
định
1.2.1.2.3 Giọng điệu là yếu tố đặc trng của hình tợng tác giả trong tác
phẩm Nếu trong đời sống, chỉ nghe qua giọng nói là ta nhận ra con ngời thìtrong văn học cũng vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả Theo “Từ điểnthuật ngữ văn học”, giọng điệu là “Thái độ, tình cảm, lập trờng, t tởng, đạo đứccủa nhà văn đối với hiện tợng đợc mêu tả thẻ hiện trong lời văn quy định cáchxng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cáchcảm thụ xa gần, thân sơ, thànhkính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm giọng điệu phản ánh lập trờngxã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả có vai trò rất lớn trongviệc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho ngời đọc Thiếumột giọng điệu nhất định, nhà văn cha thể viết ra đợc tác phẩm, mặc dù đã có
đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật” [15,112-113]
Giọng điệu tác giả là yếu tố cá nhân thể hiện trong tác phẩm Giọng điệucủa tác giả thể hiện trong tác phẩm rất đa dạng, có giọng kể, giọng tả, giọngthan, giọng chửi, giọng tự sự, có giọng trữ tình, có giọng điệu sử thi, giọng
điệu chính luận
Mỗi tác phẩm bao giờ cũng có giọng điệu chính nhng bên cạnh đó cógiọng điệu khác Sự thay đổi giọng điệu chính là sự thay dổi không khí của tácphẩm Giọng điệu cũng góp phần thể hiện tình cảm của nhà văn với thế giớihình tợng của tác phẩm Giọng điệu phụ thuộc vào thế giới tâm hồn riêng củanhà văn Chẳng hạn, trong thơ tình yêu của Thế Lữ, theo Hoài Thanh, cóGiọng điệu "Lẵng lơ mà xa vời và thiếu tình ấm áp", còn Xuân Diệu, nhà thơcủa tình yêu, thì giọng điệu trong thơ ông là giọng gấp gáp, vồn vã, sôi nổi đấynhng lại buồn sâu lắng đấy Còn với Thâm Tâm, cũng theo Hoài Thanh - Giọng
điệu trong thơ Thâm Tâm rắn rỏi, gân guộc, thể hiện ở sự kết hợp giữa nhạc
điệu, nhịp điệu, nhạc tính với lời thơ, câu thơ
Nh vậy, Giọng điệu chính là chỗ phân biệt thế giới tâm hồn riêng củamỗi nhà văn, thể hiện thái độ, tình cảm, lập trờng, thể hiện quan niệm về conngời và thế giới của nhà văn Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ củatácphẩm văn học, là một phơng diện quan trọng của phong cách tác giả
1.2.1.2.4 Sự tự biểu hiện có nghĩa là sự tự thể hiện mình, tự hình dung
mình của tác giả trong thơ Sự tự biểu hiện này đợc trực tiếp bộc lộ qua nhânvật trữ tình, thể hiện rõ nhất ở cách xng danh bằng tên riêng hoặc đại từ nhânxng ngôi thứ nhất
Trang 11Trong phạm trù văn học trung đại, hiện tợng xng danh bằng tên riênghoặc đại từ nhân xng ngôi thứ nhất chỉ xuất hiện nổi bật ở một vài tác giả, nh
Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Tú Xơng , điều này là do sự chi phốicủa thời đại lúc bấy giờ Đến phạm trù văn học hiện đại, nói nh Hoài Thanh,
đó là thời kỳ “Bừng rộ của cái tôi”, “Cha bao giờ ngời ta thấy xuất hiện cùngmột lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùng tráng
nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quêmùa nh Nguyễn Bính, kì dị nh Chế Lan Viên, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn
nh Xuân Diệu” [4,29]
Nhà thơ Xuân Diệu từng viết :
Ta là một, là riêng, là thứ nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta
Đó là sự khẳng định cái Tôi một cách mãnh liệt ! Thâm Tâm cũng là thế
hệ nhà thơ sinh ra trong thời đại đó, ý thức cá nhân trong ông cũng mạnh mẽkhông kém gì Xuân Diệu cũng nh những nhà thơ cùng thời Chỉ có điều, cáitôi của Thâm Tâm vừa mạnh mẽ, lại vừa mang cái bi phẫn - "khó hiểu của thời
đại"
Sinh ta, cha ném bút rồi Rừng nhò tàn rụng cho đời sang xuân Nuôi ta, mẹ héo từng năm
Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy Dạy ta, ba bẩy ông thầy
Gơm dài sách rộng, biển đầy núi vơi …
Ba phơng diện cơ bản : Sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu là các
ph-ơng diện biểu hiện cơ bản của hình tợng tác giả trong văn học Đối chiếu vào
Trang 12thơ Thâm Tâm, ba phơng diện này ngời giúp chúng ta hình dung ra nét đặc
tr-ng của một kiểu hình tợtr-ng tác giả thơ độc đáo, đó là Thâm Tâm
1.2.2 Hình tợng tác giả trong thơ Thâm Tâm.
1.2.2.1 Sự tự thể hiện của Thâm Tâm.
Sự tự thể hiện của Thâm Tâm đợc bộc lỗ rõ trên phơng diện cơ bản, đó là
qua nhân vật trữ tình, tác giả trong thơ Nhân vật trữ tình là “con ngời “đồngdạng” của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình nh mộtcon ngời có đờng nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay
có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung” [14,201] Chúng tathấy rằng, nhân vật trữ tình có mối quan hệ mật thiết với con ngời tác giả nhngkhông hoàn toàn dồng nhất với tác giả
Thâm Tâm đã đa chính mình vào thơ nh một nhân vật khách thể Nhânvật ấy có cá tính rõ rệt ; và dù có đợc khách thể hoá thì nhân vật ấy trớc hếtcũng là thuộc thế giới trữ tình của Thâm Tâm Nhân vật ấy với Thâm Tâm vừa
là một, vừa không là một, vì nó đã là một nhân vật của văn học, đợc xây dựngtheo quy luật sáng tạo của nghệ thuật vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, vừa thực,vừa h nhng tất cả là trên một nền tâm trạng thực, nhân cách thực của ThâmTâm Nhà phê bình Biê-lin-Xki đã nói, trong thơ trữ tình, nhà thơ xuất hiện nh
“Ngời đại diện cho xã hội thời đại và nhân loại”, vì vậy, không đợc đồng nhấtgiản đơn nhân vật trữ tình với tác giả - một con ngời sống một cuộc sống thựcngoài đời
Nhân vật Thâm Tâm đã tự xng khi thì bằng “tôi”, bằng “ta” , và có khibằng cả đại từ phiếm định “ai” nữa Trong giai đoạn Thơ mới (1932 - 1945)
giai đoạn “bừng rộ” của cái “tôi”, cái tôi xuất hiện và phát triển nh một quyluật và Thâm Tâm cũng không nằm ngoài quy luật đó Có khác chăng, cái tôitrong thơ Thâm Tâm ít mang cái uỷ mị, yếu đuối của các nhà thơ đơng đại
Trong thơ, nhân vật trữ tình, tác giả xuất hiện trớc hết trong dáng dấp,hình ảnh của các tráng sĩ lên đờng thời Chiến quốc Xuân thu Đây cũng chính
là lý do vì sao ngời ta xếp Thâm Tâm vào xóm "áo bào gốc liễu"- tráng sĩ buộcngựa vào gốc liễu, vén áo bào nhảy xuống vào quán :
Thăng Long đất lớn chí tung hoành
(Vọng nhân hành)
Hay: Chí lớn cha về bàn tay không
(Tống biệt hành)
Trang 13Hoặc trong "Lu biệt"
Đất trời rộng quá tôi không chịu Cắm chặt sông đây một cánh bè.
Nhân vật trữ tình trong thơ Thâm Tâm hiện lên đầy khí thế, đầy khátkhao và hoài bão :
Nện cho vang tiếng chuông chiều Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình Thở phù hơi rợu đua tranh
Quăng tay chém khói tan tành trời ma
đáng tran trọng Lê Bảo trong bài viết :Văn nghiệp Thâm Tâm" [3,105] đã viếtrất hay rằng những vần thơ ấy của Thâm Tâm là “Cái vỗ của cánh chim trớcmột bầu trời vẫy gọi” Đó là tiếng gọi của con chim đầu đàn vẫy gọi ngời ta b-
ớc vào một thời cuộc mới - một thời cuộc đã chờ đợi bao ngày:
Rầm trời chớp giật ma mau Lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u Bốn phơng đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu
(Tráng ca)
Hay : Kia kìa lũ trớc dòng sau
Trang 14Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dơng
(Tráng ca)
Thế nhng, trong thơ Thâm Tâm không chỉ hiện lên hình ảnh nhân vật trữtình, tác giả với dáng dấp của những tráng sĩ áo bào mà còn là hình ảnh củamột con ngời với nỗi đau đời, nối đau thế hệ
Nhìn chung ở thời đại trớc 1945, con ngời rời vào hoàn cảnh bế tắc, bếtắc trong việc tìm cho mình một con đờng di Do đó, tâm trạng chung của lớpngời thời bấy giờ là bi quan, tuyệt vọng Thâm Tâm cũng ở trong cảnh ngộ đó
Bọn ta một lớp lìa nhà Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
Hỡi ôi ! Huyết hận triệu lê dân Chất lại ngoài biên một triệu lần Xây chọn trờng thành muôn dặm vững Thì muôn trờng hận đắp càng căm
Trang 15Gió lên ! Gió lên cùng giũ tất Conchim còn đổ lại làm chi
(Lu biệt)
và nhân vật trữ tình quyết ra đi
Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi
(Lu biệt)
Nhng ra đi thì lại đau đớn :
Thôi chào tất cả non hơng Thôi chào, ôi tiếng tầm thờng mà đau
Thì đã đến lúc thay đổi Cách mạng tháng Tám mở ra cho Thâm Tâmcũng nh thế hệ của ông con đờng mới Niềm vui trở lại, cái sục sôi khí thế lạicao hơn trớc :
Từ ruộng đất, đang kín bng Lầm lì chết chóc, bỗng bừng sục sôi Cái gì đấy, xóm làng ơi !
Cái lòng giết giặc đã tôi thép già
(Căm thù)
Và một không khí náo nức, tơi vui :
Chiều ma ngàn hoa nở Hoa phới bay mùa xuân
Trang 16Bếp sàn gây ngọn lửa Chén trà ngát tình dân
(Chiều ma đờng số 5)
Trở lên, ta thấy, nhân vật trữ tình trong thơ Thâm Tâm, hiện lên rất rõ,mang nhiều nét cá tính khác nhau, không thể trộn lẫn với ai khác ở ThâmTâm ta vừa bắt gặp cái chung của các nhà thơ mới, lại vừa thấy nét riêng củamột hiện tợng thơ độc đáo
1.2.2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Thâm Tâm.
1.2.2.2.1 Cái nhìn nghệ thuật là một phơng diện, một thành tố quan
trọng thuộc phạm trù tác gỉa Nghệ thuật đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải có khảnăng lĩnh hội một cách nhạy bén và sâu sắc những vấn đề của hiện thực cuộcsống, phải thâm nhập, bóc tách nó để tìm thấy những cái mới, cái khác mà ng-
ời khác không nhìn thấy đợc Vì vậy, sáng tác nghệ thuật thực chất là phản ánhcủa một cái nhìn Cái nhìn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có điểmnhìn, góc nhìn, hay thế đứng, vị thế quan sát, bao quát của ngời nghệ sĩ ThâmTâm sinh ra và lớn lên trong một giai doạn lịch sử có nhiều biến động Nớcmất, dân tộc nô lệ, sống trong hoàn cảnh đó, con ngời rơi vào cảnh ngộ bế tắc.Tầng lớp văn nghệ sĩ tự tìm cho mình lối thoát trong văn chơng Các nhà Thơ mới (1932 - 1945) luôn sống trong nối buồn đau, cô độc Hoài Thanh viết :
“Thực cha bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao nh thế cùng lòng tựtôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trớc” [4,47] Nhà thơ Thế Lữ viết :
Tôi chỉ là ngời mơ ớc thôi
Là ngời mơ ớc hảo, than ôi ! Bình minh chói lói đâu đây ấy Còn chốn lòng riêng u ám hoài…
Và ngay cả Xuân Diệu - một tri thức có địa vị xã hội, cũng mơ ớc :
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Thâm Tâm cũng mang trong mình một nỗi buồn, cô độc
Non tím vì tan hết nắng tà
Đờng buồn bởi phố vắng ngời qua Lòng ai bầm tím, ai buồn tối Cũng tại rừng đời lạc lối ra
(Hoa gạo)
Trang 17Cái buồn ở đây là cái buồn do xã hội tạo nên - xã hội thực dân nửaphong kiến Số phận ngời dân là số phận của những ngời mất nớc Họ bế tắcnhng cha tìm đợc lối ra Nhng nếu Thế Lữ, Xuân Diệu và các nhà thơ cùngthời khác hiện đang tìm cho mình con đờng giải thoát bằng cách "mơ ớc", thìngợc lại, Thâm Tâm có xu hớng đặt nỗi buồn của mình trong lòng của hiệnthực để tìm cách giải quyết Đó cũng là nét riêng của Thâm Tâm vậy!
Đảng ra đời, lãnh đạo các cuộc đấu tranh của quàn chúng, một thời đạilịch sử mới mở ra ý thức đợc sự đổi thay của lịch sử, nhng từ bỏ cái cũ đã ănsâu vào suy nghĩ để tìm đến cái mới là cả một sự đấu tranh , giằng co mãnh liệttrong bản thân mỗi con ngời Thâm Tâm cũng nằm trong trờng hợp đó Và vớicái nhìn tinh nhạy, sắc sảo, cái nhìn của ngời trong cuộc, Thâm Tâm đã phầnnào ghi lại đợc những mặt hiện thực của cuộc sống thời bấy giờ
1.2.2.2.2 Cái nhìn hiện thực.
Hoài Việt nhận xét : Thâm Tâm “có cái nhìn hiện thực của Đỗ phủ,Nguyễn Du” [22,90] Thậy vậy, cái nhìn của Thâm Tâm bắt nguồn từ hiệnthực, phản ánh hiện thực Đó là cái hiện thực :
Sinh ta, cha ném bút rồi Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân
(Tráng ca)
Cái hiện thực của xã hội kéo theo hiện thựccủa con ngời
Bọn ta một lớp lìa nhà Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa dồng
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu
A ! Cơn thảo muội bắt đầu
(Tráng ca)
Thời thế chuyển mình, cái nhìn hiện thực của Thâm Tâm đã khá sâu sắc,nhng ông cũng tự nhận thức đợc rằng : Không phải bao giờ con ngời cũng bắtkịp thời đại Trong cảm nhận của Thâm Tâm:
Thơ ngâm giở giọng, thời cha thận
Trang 18Tan tiệc quần anh, ngời nuốt giận Chim nhạn, chim hồng rét mớt bay Vuốt cọp, chân voi còn lận đận
(Vọng nhân hành)
Đó thực sự là một cái nhìn hiện thực sâu sắc Con ngời trớc vòng quaythời cuộc ở giai đoạn “Sang trang” ấy còn cha thực thích nghi Họ còn trăn trở,suy nghĩ để tìm đờng, chọn đờng Thâm Tâm với cái nhìn hiện thực đã phản
ánh chân thực những khía cạnh chân thực đang diễn ra trong tam hồn con ngờitrớc thời cuộc ấy Đặt trong hoàn cảnh 1932 - 1945, khi các nhà thơ mới còn
đang “say sa” với vẻ đẹp bồng lai tiên cảnh, hay đắm chìm trong tình yêu lãngmạn, thì cái nhìn hiện thực của Thâm Tâm đã góp phần khảng định vị trí của
ông trong nền Thơ mới (1932 - 1945).
Khi lịch sử đã vạch ra cho dân tộc con đờng đi tới, thì những con ngời
nh Thâm Tâm mang trong mình khối hoài bão lớn, đã ra đi theo tiếng gọi củanon sông đất nớc cả dân tộc đang sục sôi ý chí giết giặc trả thù nhà, khối
“Căm thù” đốt cháy trái tim những ngời yêu nớc Ngòi bút của Thâm Tâm đãghi lại những giờ phút lịch sử ấy, dới cái nhìn hiện thực khách quan :
Đêm nay ta gối đầu lên súng Trằn trọc nằm nghe máu nóng căng đầy
(Căm thù)
Tất cả mọi ngời cùng đứng lên giết giặc, đoàn kết để vợt qua khó khăn :
Súng ơi ! nặng cân giận giữ
Xung trận diệt thù mấy cử nóng ran Cùng ta vợt hết cơ hàn
Cùng ta đau cái đau toàn dân đau
1.2.2.3 Giọng điệu thơ Thâm Tâm.
Mỗi nhà thơ đều có một giọng nói riêng, hoà vào tác phẩm tạo nên hơivăn, tạo nên giọng “trời phú” Với Thâm Tâm , đó là giọng thơ gân guốc, rắnrỏi, sắc - mạnh Thế nhng, “giọng điệu trong tác phẩm thờng có giá trị đa
Trang 19dạng, có nhiều sắc thái tên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không
đơn điệu” [15,112] Bên cạnh giọng điệu rắn rỏi, gân guốc, thơ Thâm Tâm cònmang giọng bi phẫn Mạnh mẽ đấy nhng lại vô cùng đau xót
1.2.2.3.1 Giọng gân guốc-rắn rỏi.
Giữa bao nhiêu gơng mặt,bao nhiêu làn hơng trong một vờn hoa đầy
h-ơng sắc là thơ mới, thơ Thâm Tâm vẫn hiện lên với một chất giọng riêng,không trộn lẫn Vẫn là thơ thất ngôn - thơ mới, nhng theo Hoài Thanh, HoàiChâu khi nhận xét về Thâm Tâm thì đó là một biến tấu khác lạ “Thơ ThâmTâm vẫn rất hiện đại, nhng trong cái hiện đại ấy lại thấy sống động lại cáikhông khí riêng của nhiều bài thơ cổ Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi,gân guốc, không mềm mại uyểnchuyển nh phần nhiều thơ bấy giờ” [4,280]
Cái rắn rỏi, gân guốc trong thơ Thâm Tâm thể hiện ở sự kết hợp nhạc
điệu, nhịp điệu, nhạc tính với lời thơ, câu thở ở đây ta bắt gặp sự tơng đồnggiữa văn và ngời Tâm hồn Thâm Tâm nh thế nào thì lời thơ, điệu thơ hệtnguyên nh thế Và ta bắt gặp trong sự gân guốc, rắn rỏi đó có cả nét tài hoa
độc đáo Thể hiện trớc hết trong thơ thất ngôn:
Ly khách! Ly khách! Con đờng nhỏ Chí nhớn cha về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại
Đó là giọng quyết tâm của một ý chí sắt đá:
Giọng đàn lu huyết làm chi nữa Tôi quyết đi rồi tôi phải đi
(Lu biệt)
Giọng điệu rắn rỏi, gân guốc không chỉ trong thơ thất ngôn mà còn thểhiện cả trong thơ lục bát - một thể thơ vốn mềm mại, uyển chuyển từ xa:
Trang 20Trai lận đận, gái long đong Chờ mong khắc khoải nản lòng dăm ba Nẻo về gốc mẹ cõi cha
Thuyền ai nặng chở món quà đắng cay Từng nơi xống áo trùng tay
Gió thu thổi bạt một ngày lòng con
(Tráng ca)
Hay: Nện cho vang tiếng chuông chiều
Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình Thở phù hơi rợu chua đua tranh Quăng tay chén khói tan thành trời mây
(Tráng ca)
Và trong thể hành:
Gió thốc hàng hiên, lời viễn mộng
Ma rào mặt cát, gợi li ca Phiếm du mấy chốc đời nh mộng Ném chén cời cho đã mắt ta
Trang 21lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rợu Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nénmột cơn và khóc trong lúc tỉnh
Thở phù hơi rợu đua tranh Quãng tay chén khói tan tành trời ma
(Tráng ca)
Hay: Phiếm du mấy chốc đời nh mộng
Ném chén cời cho đã mắt ta
(Can trờng hành)
Và: Đời ngời say tỉnh đựơc bao dịp
Xin cạn chén rợu để tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa Tay gầy cũng ném chén vô tri
Ngời đi, ừ nhỉ, ngời đi thực
Mẹ thà coi nh chiếc lá lay Chị thà coi nh là hạt bụi
Em thà coi nh hơi rợu cay
(Tống biệt hành)
Nhà thơ Vũ Quần Phơng nhận xét : "Trong cả nền thơ thời ấy không ai
có giọng bi phẫn "chín" nh Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân,hai bạn thơ "áo bào gốc liễu" đồng điệu với ông Cái "chín" ấy trớc hết là ở cáigiọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh “ngônngữ” Chính cái bi phẫn ấy kết hợp với cái rắn rỏi, gân guốc đã tạo nên mộtThâm Tâm với chất giọng riêng, đầy cá tính và ấn tợng
1.2.2.3.1 Giọng trữ tình sâu lắng.
Trang 22Bên cạnh giọng điệu rắn rỏi, gân guốc, bi phẫn, thơ Thâm Tâm cònmang giọng trữ tình, nhẹ nhàng mà sâu lắng Đó không phải là sự mâu thuẫn
mà ngợc lại, là một sự thống nhất hoàn toàn của hồn thơ Thâm Tâm Trongnhững bài thơ khảo sát ở trên, có nhiều bài mang giọng trữ tình, đó là sự bộc lộtình cảm, tâm trạng của tác giả ở những bài thơ mà chủ thể trữ tình đồng nhấthoặc gần gũi nhiều nhất với bản thân nhà thơ, ngời ta gọi là "tự thuật tâmtrạng” Cái rắn rỏi, gân guốc, bi phẫn ấy cũng là một cách để Thâm Tâm bộc
lộ những tình cảm, tâm trạng của mình Tuy nhiên, giọng trữ tình ở những bàithơ ấy khác với giọng trữ tình ở những bài thơ trữ tình Hãy xem cách ThâmTâm mở đầu “Tống biệt hành”:
Đa ngời ta không đa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong
Âm hởng của khổ thơ vừa nhẹ nhàng, vừa da diết, đó cũng chính là tiếng lòngcủa nhà thơ vậy !
Thâm Tâm có những bài thơ miêu tả sự vật nhng ẩn chứa trong đó nhữngtình cảm sâu sắc của nhà thơ, đợc chuyển tải nhờ giọng điệu trữ tình:
Chiều ma đờng số 5
Đôi mắt sao đăm đăm Chứa cả trời mây nặng Miền Việt Bắc xa xăm"
Ôi núi rừng thơng nhớ Rét mớt đã hai năm !
Từng bớc đờng trần vững sắt son
(Bức lụa thêu thơ Thâm Tâm)
Đây là bài thơ Thâm Tâm viết tặng nhân dịp cháu Nguyễn Tuấn Nhi,con trai nhà nhiếp ảnh Hồng Tranh - một ngời bạn thân của nhà thơ đầy tuổi
Trang 23tôi Bài thơ thể hiện niềm tin và lòng tự hào vì một "mầm xanh" đang căng trònsức sống.
Giọng điệu thơ Thâm Tâm phong phú,đa sắc Trên nền giọng sắc, mạnh,gân guốc, rắn rỏi, trở thành giọng điệu riêng, thơ ông còn là sự kết hợp vớigiọng điệu bi phẫn, giọng điệu trữ tình sâu lắng Tất cả những cung bậc giọng
điệu ấy thể hiện những sắc thái nỗi niềm, tâm sự riêng của tác giả
Chơng 2
Con ngời và thế giới trong thơ Thâm Tâm
2.1 Con ngời trong thơ Thâm Tâm
Con ngời là đối tợng thẩm mĩ, là hình tợng nghệ thuật trung tâm cũa tácphẫm văn học nghệ thuật Trong thơ thâm Tâm hiện lên cã một thế giới nhânvật- con ngời phong phú, đa dạng
2.1.1 Hình tợng ly khách
Ly khách là một nhân vật quen thuộc trong thơ Thâm Tâm Hình ảnh lykhách phảng phất dáng vẻ của những tráng sĩ thời Xuân Thu Chiến Quốc Họmang trong mình chí lớn Nhng chí lớn mà đờng nhỏ, họ ra đi mà cha thấy cócăn cứ gì cho sự nghiêp lớn, ngoài sự hăng hái tinh thần Có lẽ chính vì thế mà
ở hình ảnh những ngời li khách ấy còn mang vẻ bi phẫn thời cuộc
Sinh ra trong xã hội cũ, Thâm Tâm cũng nh nhng ngời cùng thời có một
số phận buồn tủi, u ám Họ sống tù trong ngột ngạt nên khao khát một khungtrời khác Họ ra đi Thâm Tâm cũng thế Ra đi, không phải nh bề ngoài “Một
đi không trở lại” mà ẩn chứa đằng sau cái dứt khoát, đoạn tuyệt ấy là cả một sự
đấu tranh giằng co- đi hay ở Ly khách mang đầy đủ tất cả những cung bậctình cảm ấy
Trong “Tống biệt hành”, ly khách hiện lên với một dáng vẻ dửng dng,
lạnh lùng:
Ly khách! ly khách! con đờng nhỏ Chí lớn cha về bàn tay không
Trang 24Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
Cái dáng vẻ ấy cố che đậy đằng sau nó một tình cảm đang kịp trào ra,
đó là nỗi xót thơng mẹ già, em dại, hai chị lỡ làng Sự dứt khoát tởng chừng
Sinh ra trong thời cuộc :
Sinh ta cha ném bút rồi Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân (Tráng ca)
Lớn lên trong hoàn cảnh :
Rầm trời chớp dật ma mau Lửa đèn chấp chới khói tàu mù u Bốn phong đầy bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu (Tráng ca)
Ly khách cũng hoà vào dòng xoáy thời cuộc ấy
A, cơn thảo muội bắt đầu Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài Thét roi lợng sc ngựa tài
Coi trong cuôc rối tìm ngời chờ mong (Tráng ca)
Ly khách ra đi - nh những tráng sỹ ngồi trên lng ngựa Ta bắt gặp ở đâymột hình tợng ly khách mang trong mình sức mạnh thời đại Họ đi để tìm chomình một con đờng lớn, con đờng ấy chứa những khát khao, mơ ớc Con đờngcủa những lý tởng lớn:
Thăng Long đất lớn chí tung hoành Bàng bạc gơng hồ ánh mắt xanh Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Trang 25Hội nhau vầy một tiệc quần anh (Vọng nhân hành)
“Tiệc quần anh” của những ngời “ từ tứ chiếng” mang “chí lớn tung hoành” Tất cả hội tụ trong ánh mắt xanh“ ” sáng ngời khí thế Những ngời”từ
tứ chiếng”, họ gặp nhau vi “chung tình”- cùng lý tởng Và ở giữa thời cuộc
xoay vần ấy, sự gặp gỡ đó dờng nh là một sự giải thoát khỏi bế tắc, dờng nh họ
đã tìm thấy một con đờng
Ly khách mang trong mình chí lớn, quyết tâm ra đi thực hiện cái chí lớn ấy:
Tiệc này đêm cuối mai chia ly Anh cố lu tôi có ích gì
Thôi chào tất cả non Hơng Thôi chào, ôi tiếng tầm thờng mà đau Một phen tri kỷ cùng nhau
Khói sơng trời đã nhuốm màu thời gian (Chào Hơng Sơn)
Ta bắt gặp ở hình tợng ly khách tất cả những cung bậc của tình cảm: vừachí khí, quyết tâm, vừa xót xa, luyến tiếc Và dờng nh những cung bậc tìnhcảm ấy đã dựng nên một hình tợng ly khách chân thực mà sinh động
2.1.2 Bạn tri âm
Trang 26Hiện lên trong thơ Thâm Tâm còn có hình ảnh của những ngời bạn tri
âm - cùng cảnh ngộ:
Bọn ta một lớp lìa nhà Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
(Tráng ca)
Những con ngời cùng sinh ra và lớn lên giữa cái xã hội tù túng chật hẹp,cùng khát khao, mơ ớc về một khung trời rộng mở, cùng chung chí lớn, ra đi vìmột lý tởng Họ cùng là những con ngời
Lòng thênh thênh nhẹ gió thu rơi Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ
(Can trờng hành)
Và một ngày kia
Hay đâu kẻ vũ đất Lơng Yên Một sớm nghe bùng cơn gió lên Xách gói sang Nam không hẹn lại Chỉ hiền chẳng đụng đến cung tên
(Can trờng hành)
Họ sống ngang tàng “hào hùng” “không biết sợ” Họ từ khắp mọi nơi gặp nhau
ở chí lớn,”chung tình” “Vầy một tiệc quần anh” Những con ngời mang trongmình đầy những ớc mơ, hoài bão Thế nhng cũng nh Thâm Tâm, họ sinh rakhông gặp thời:
Thơ ngâm giở giọng thời cha thuận
(Vọng nhân hành)
Cho nên:
Tan tiệc quần anh ngời nuốt giận Chim nhạn chim hang rét mớt bay Vuốt cọp chân voi còn lận đận
(Vọng nhân hành)
Nhng rồi cái thời thế ấy đã và đang xoay chuyển:
Trang 27Rầm trời chớp giật ma mau Lửa đèn chấp chới , khói tàu mù u Bốn phơng đây bạn đó thù
Hiểu còi xoáy lộng bản đồ năm châu
(Tráng ca)
Họ cũng đã chuyển mình vào cái vòng xoáy lịch sử ấy:
A, cơn thảo muội bắt đầu Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài
(Tống biệt hành)
ở đây ta bắt gặp một sự tri âm đến kì lạ: Đ“ a ngời ta chỉ đa ngời ấy ,”ngời tiễn biệt chỉ biết có ngời ra đi, họ là tất cả với nhau, xung quanh là vônghĩa Cái cảm giác vừa cô đơn, hụt hẫng, vùa băn khoăn, day dứt choángngợp tâm hồn ngời ở lại Và rồi ngời ở lại ấy cũng quyết ra đi, bạn bè lại thànhngời đa tiễn:
Tiệc này đêm cuối mai chia li Anh cố lu tôi có ích gì
(Lu biệt)
Họ uống với nhau chén rợu từ biệt:
Rót rợi ra anh tôi muốn uống
Cc kì trong sạch cực say mê
(Lu biệt)
Rồi họ lên đờng- lên đờng đi làm cách mạng Họ thèm khát chân trời thì
họ đã có chân trời Ước mơ, hoài bão đẫ có bến đỗ Họ lại sống, sống nhữngngày ý nghĩa Tình bạn tri âm của họ giờ đã thành tình đồng chí, đồng đội keosơn gắn bó:
Ôi núi thẳm rừng sâu Trung đội cũ về đâu Biết chăng chiều ma mau Nơi đây chăn giá ngắt
Trang 28Nhớ cái rét ban đầu Thắm mối tình Việt Bắc
(Chiều ma đờng số 5)
2.1.3 Nhân dân
Nhân dân hiện lên trong thơ Thâm Tâm là những con ngời sống mộtcuộc sống nghèo khổ, chịu nhiều tầng áp bức bóc lột Sinh ra và lớn lên trongxã hội tù tung, bức bách, Thâm Tâm thấy đợc hiện thực cuộc sống ấy của nhândân đó là một hiện thực chứa đầy máu và nớc mắt:
(Vạn lý trờng thành)
Viết về sự cực khổ của nhân dân Trung Quốc khi phải đổ xơng máu đểxây Vạn lý trờng thành, Thâm Tâm gián tiếp thể hiện cuộc sống lầm than cơcực của nhân dân Việt Nam Và khi đã di theo cn đờng Cách mạng Thâm tâmhiểu sâu sắc hơn nỗi cơ cực của họ Cuộc đời đang tơi đẹp, yên bình; nhngchiến tranh đã cớp mất sự yên bình đó:
Đời tơi nh bát nớc đầy
Vỡ tan một tiếng dới giày xâm lăng
(Căm thù)
Xóm làng yên bình ấy giờ đã chứa đày lòng căm thù Bình “ Máu nóng căng
đầy” biến tiếng “khốc dạ”thành hành động đứng lên chống trả:
Từ ruộng đất đang kín bng Lầm lì chết chóc bỗng bừng sục sôi Cái gì đấy, xóm làng ơi
Cái lòng giết giặc đã tôi thép già (Căm thù)
Tất cả họ - từ những ông lã bà lão đến những ngời vợ trẻ, họ anh dũng đứnglên, hiên ngang, bất khuất:
Mọc lên tua tủa hiên ngang