1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ chính hữu

132 1,8K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 454,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Duy Thông khẳng định “sự đổi mới trong thơ Chính Hữu trên con đờng tìm đến chân lý nghệ thuật văn học”.Ngô Vĩnh Bình nhận xét: “Chính Hữu đã tạo đợc cho mình một giọng thơ, một phong

Trang 1

Lời cảm ơn

Hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - TS Biện Minh Điền - ngời đã tận tình hớng dẫn, giúp

đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn trờng đại học Vinh đã trang bị kiến thức, đóng góp ý kiến cho em hoàn thành luận văn này; xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ, giúp đỡ em.

Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng trong suốt qúa trình nghiên cứu đề tài nhng chắc chắn không tránh khỏi những sai sót nhất định Kính mong nhận đợc những ý kiến góp ý quý báu của các thầy giáo, cô giáo và những ngời quan tâm đến vấn

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chính Hữu là một trong những gơng mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trởng thành sau Cách mạng tháng Tám nói chung và lớp nhà văn chiến sỹ nói riêng đã góp phần làm nên thành tựu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại

1.2 Chính Hữu viết không nhiều nhng thơ ông là một thế giới nghệ thuật riêng, độc đáo và hấp dẫn Chính Hữu viết nhiều về đề tài ngời lính và đấu tranh cách mạng trong mấy mơi năm qua Cả cuộc đời ông chỉ có 3 tập thơ với khoảng hơn 50 bài đợc công bố Đó là một con số không nhiều của cả cuộc

đời hơn 50 năm cầm bút Nhng “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” Với những đóng góp quan trọng cho thơ ca cách mạng Việt Nam, ông vinh dự đợc nhận giải th-ởng Hồ Chí Minh về Văn học - nghệ thuật lần thứ 2 năm 2000 do Đảng và

Nhà nớc ta trao tặng

1.3 Thơ Chính Hữu cho đến nay còn đợc ít ngời nghiên cứu Tuy đã có một số bài báo giới thiệu thơ ông, nhng nhìn chung còn mang tính cảm nhận bình tán Cha có một công trình nào tập trung nghiên cứu thơ Chính Hữu một cách toàn diện, có hệ thống Vì vậy, nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu là một việc làm cần thiết và có nhiều ý nghĩa.

Thực hiện luận văn này chúng tôi cố gắng làm nổi bật các đặc điểm độc

đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu, để từ đó khẳng định những đóng góp và vị thế của ông đối với nền thơ hiện đại Việt Nam nói chung và thơ kháng chiến nói riêng

1.4 Chính Hữu không chỉ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong chơng trình văn học ở phổ thông Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi còn nhằm mục đích góp phần vào việc nâng cao chất lợng giảng dạy thơ Chính Hữu trong nhà trờng phổ thông hiện nay đ-

ợc tốt hơn

Trang 3

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Chính Hữu

Ngày 27 tháng 11 năm 2007, nhà thơ Chính Hữu qua đời, ngay sau đó có khá nhiều bài viết về ông, của bạn bè đồng nghiệp và cả những ngời thân quen lúc sinh thời Phần lớn những bài viết này xoay quanh các mối quan hệ về tình cảm hoặc một số khía cạnh tiêu biểu trong cuộc đời và sáng tác của Chính Hữu Có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu nh bài viết của Hoàng Cát: Nhà thơ Chính Hữu mãi bên đời Đầu súng trăng treo đã đề cập đến con ngời, sự

nghiệp sáng tác của Chính Hữu Trần Nhơng với Chính Hữu - trong đến tận nguồn, cho rằng “Có thể nói Chính Hữu rất đồng chí, một nhà thơ viết ít, nhng

thơ ông cũng tinh khiết nh cuộc đời ông vậy” Vũ Duy Thông khẳng định “sự đổi mới trong thơ Chính Hữu trên con đờng tìm đến chân lý nghệ thuật văn học”.Ngô Vĩnh Bình nhận xét: “Chính Hữu đã tạo đợc cho mình một giọng thơ, một phong cách thơ riêng, chất giọng và phong cách đó không thể hoà lẫn vào bất kỳ một giọng thơ nào khác, kể cả những tác giả thơ quân đội” Thuỳ

An thì lại mạnh mẽ hơn: “Cái tài và cái tình trong thơ ông, khiến những vần thơ đậm màu bộ đội và màu giai cấp vợt qua cả chiến tuyến” Phơng Nguyên trong bài viết: Thơng tiếc Chính Hữu nhà thơ - chiến sỹ thì lại cho rằng: “sự

nghiệp sáng tác của Chính Hữu cũng nh cuộc đời ông hình thành hai giai đoạn ghi dấu hai chặng đờng lớn của lịch sử dân tộc, trong chiến tranh và khi hoà bình lập lại”.

Bên cạnh những bài viết đó còn có một số bài phê bình, đánh giá rải rác trên các báo Tuy nhiên, đây mới chỉ là những cảm nhận, phẩm bình, cha phải

là những công trình khoa học dựa trên một sự khảo sát công phu, qui mô

2.2 Vấn đề thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu

Thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu nhìn chung còn là vấn đề mới mẻ, cha

đợc tìm hiểu, nghiên cứu Có thể nói đây nh một kiến trúc nghệ thuật sắc nét

đợc tạo dựng công phu

Trang 4

Đã có một số bài viết tuy còn mỏng nhng phần nào đã thể hiện cái nhìn

đáng trân trọng và có những khám phá, kiến giải khá sắc sảo về thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu trên một số phơng diện

Chẳng hạn Hồ Sỹ Vịnh nhận thấy: “Chính Hữu có sở trờng miêu tả những cái cao cả, những biến cố vĩ đại của lịch sử nớc ta, qua những cái có vẻ rất bình thờng, qua cảm xúc chân thật của một công dân, qua tình đồng đội của một chiến sỹ Mợn hình tợng trống dục cờ bay, câu hò, Anh nói đến cách mạng, nhìn đồng chí thơng binh trên đôi nạng gỗ Anh thấy cả 15 năm lịch sử hùng vỹ, tay cầm lá phiếu bầu cử nhà thơ nao nao kiêu hãnh với niềm tự hào dân tộc độc lập Đọc khẩu hiệu Chính Hữu liên tởng đến những chặng đờng của cách mạng”

Theo Hồ Sỹ Vịnh, tập thơ Đầu súng trăng treo (trong Tuyển tập thơ Chính Hữu, Nxb Văn học Hà Nội, 1998) đợc Chính Hữu sáng tạo thông qua

tâm hồn và ý thức của nhà thơ Hơn thế nữa điều đáng bàn ở đây là Chính Hữu

có khả năng tạo dựng những hình tợng đồ sộ, hấp dẫn kỳ diệu trong thơ Cho nên đọc thơ ông chúng ta thấy có sức lan toả rất xa, đó cũng là điểm xác định nét riêng và đôi khi là chỗ mạnh của thơ ông [7, 195]

Nhà thơ Diệp Minh Tuyền (trên tạp chí Văn học số 5 - 1967) xác định tập

thơ Đầu súng trăng treo đã khẳng định tài năng của nhà thơ Chính Hữu - một

nhà thơ quân đội, cuộc đời chiến sỹ đã tạo cho Chính Hữu một tâm hồn thi sỹ

dễ rung động Vì vậy mà Chính Hữu có thể viết nhiều về hình tợng ngời chiến

sỹ và có lẽ ông là một trong số những ngời viết thành công nhất về đề tài ngời lính Vì thế thơ Chính Hữu trở thành một đốm sáng trong thơ cách mạng kháng chiến Việt Nam, mà mỗi lần nhắc đến thơ ca giai đoạn này chúng ta không thể không nhắc đến tên ông [7, 215] Nhị Ca ở bài viết Một lối cảm nghĩ, một cách viết trong tập thơ Đầu súng trăng treo đợc in trong cuốn Từ cuộc đời vào tác phẩm (Nxb Văn học 1972) lại khẳng định rằng: “Trải năm nọ

sang năm kia từ bài trớc đến bài sau, thơ Chính Hữu có chín dần theo thời gian, bớc tiến của thơ Chính Hữu là ở sự đổi mới về tâm hồn” Mặc dầu Chính

Trang 5

Hữu viết quá ít và quá chậm thế nhng từng bài trong thơ ông vẫn giữ đợc phong cách riêng Nhị Ca cho rằng: “Thơ Anh vốn thuộc loại trữ tình có chiều hớng thiên về khái quát và Chính Hữu tỏ ra có khiếu thẩm mỹ, có vốn hiểu biết nghệ thuật đã giúp cho câu thơ mang vẻ hiện đại mà không xa lạ” [7,

172]. Vơng Trí Nhàn khi đọc tập thơ Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, đã

xác định một mạch thơ kháng chiến từ buổi đầu cho đến những chặng đờng sáng tác sau này của Chính Hữu Đó là mạch thơ mang tính đặc trng riêng mà hình tợng chủ yếu trong thơ là: khẩu súng và vầng trăng Đây là một nét riêng

của tác giả kể từ khi cầm bút cho đến những chặng đờng sau cùng của cuộc kháng chiến [7, 236] Nếu Vơng Trí Nhàn đánh giá: Đầu súng trăng treo - một mạch thơ kháng chiến đợc tiếp tục thì bài viết của Vũ Quần Phơng về

Chính Hữu lại nêu lên những ấn tợng chung về phong cách nghệ thuật thơ Chính Hữu, tìm hiểu những cảm xúc cũng nh cách thể hiện của nhà thơ qua các bài thơ ở từng thời kỳ, từ những bài thơ đầu tiên nh: Ngày về, Đồng chí cho đến những bài thơ sau này nh: Th nhà, Ngọn đèn đứng gác Tác giả

đã nêu lên những nhận xét tổng quát về nhiều phơng diện trong thơ Chính Hữu nh cảm hứng, kết cấu thơ, nhịp điệu thơ Vũ Quần Phơng còn nhận định:

“Thơ Chính Hữu mang đậm tính chất ca dao” [7, 163] Mang phong vị của ca dao nhng không có nghĩa Chính Hữu sao chép, chụp lại, hay mô phỏng mà tất cả

đã đợc nhà thơ cảm nhận, nhào nặn lại, chuyển hoá thành giọng điệu riêng để tiếp cận hiện thực và để thể hiện mình Vì thế Chính Hữu đã thể hiện một

phong cách riêng mang đậm bản sắc của Chính Hữu, Thơ ông gần gũi hơn với cách nói, cách nghĩ của nhân dân Ngoài ra một số bài viết của các tác giả nhXuân Tửu, Phạm Hổ, Mai Quốc Liên [7] cũng góp phần khẳng định nghệ thuật, cảm hứng cũng nh hình tợng trong thơ Chính Hữu

Các bài viết trên thực sự ít nhiều có những đóng góp trong việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Chính Hữu, song nhìn chung các ý kiến trong những bài viết trên chủ yếu đánh giá thiên về con ngời nhà thơ, chứ cha nói nhiều, cha chú

Trang 6

tâm vào tác phẩm, cha tạo đợc cái nhìn hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu.

2.3 Nhận thấy đây là một chỗ trống, một thiếu sót trong nghiên cứu thơ Chính Hữu nên luận văn đi vào tìm hiểu và nghiên cứu.

Luận văn của chúng tôi có thể nói là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu

Thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu nh một hệ thống chỉnh thể và nhìn nó với

t cách nh một đối tợng chuyên biệt

3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn, của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đúng nh tên gọi của đề tài, đối tợng mà chúng tôi nghiên cứu là Thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu.

3.2 Giới hạn của đề tài

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu những gì là biểu hiện của thế giới nghệ thuật thơ, những yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu thể hiện qua toàn bộ sáng tác của ông

Chúng tôi giới hạn nghiên cứu thơ ca Chính Hữu chủ yếu tập trung vào

văn bản Tuyển tập Chính Hữu, Nxb Văn học, Hà Nội, 1998.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát, xác định đặc trng của thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu, luận văn đặt ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Đa ra một cái nhìn tổng quát về Chính Hữu trong thơ Việt Nam hiện

đại

4.2 Khảo sát, phân tích và xác định hình tợng tác giả, hình tợng cái tôi trữ tình trong thơ Chính Hữu

4.3 Khảo sát, phân tích nghệ thuật tổ chức ngôn từ thơ Chính Hữu

Cuối cùng rút ra một số kết luận về thế giới nghệ thuật thơ Chính Hữu

Trang 7

- Phong pháp so sánh - đối chiếu

cho thơ Việt Nam hiện đại

Kết quả của luận văn có thể vận dụng, tham khảo cho vấn đề dạy - học

thơ văn Chính Hữu ở trờng phổ thông

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1: Hiện tợng Chính Hữu trong thơ Việt Nam hiện đại

Chơng 2: Hình tợng tác giả và hiện thực cuộc sống, con ngời trong thơ Chính Hữu

Chơng 3: Nghệ thuật tổ chức ngôn từ thơ Chính Hữu

Trang 8

Chơng 1 hiện tợng chính hữu trong thơ

việt nam hiện đại

1.1 Tổng quan về nền thơ cách mạng Việt Nam sau năm 1945

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, thực tiễn cách mạng và đờng lối văn nghệ của Đảng đã giải phóng ngời nghệ sĩ, giải phóng cho nghệ thuật Từ trong chiến đấu, đội ngũ những ngời nghệ sỹ kiểu mới xuất hiện và ngày càng

trởng thành Đó là ngời nghệ sỹ - chiến sỹ giác ngộ lý tởng cách mạng, trung

thành với đất nớc, với nhân dân Họ tự nguyện đem tài năng và nghị lực của mình cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Các thế hệ nhà thơ tuy có

những điểm khác nhau, nhng họ cùng chung lý tởng, đến với cách mạng

Nghệ thuật thơ ca thời kì này không phải là phong cách cầu kỳ, khó hiểu

mà chính ở sự giản dị dễ hiểu, ở sự hài hoà phổ cập và nâng cao giữa truyền thống và cách tân, giữa dân tộc và hiện đại

Các nhà thơ đi với Cách mạng, với kháng chiến đều thấy rõ ý nghĩa cuộc thay đổi Nhiều nhà thơ đã tình nguyện lên đờng nhập ngũ, sống, chiến đấu và viết ở chiến trờng Những nhà thơ mang trong mình lý tởng cách mạng, họ là những ngời đã từng tham gia hoạt động bí mật trong những tổ chức quần chúng của Việt Minh và cả những ngời còn lờ mờ về cách mạng, tất cả đều hăm hở xung phong lên đờng kháng chiến Họ từ giã xóm làng, từ giã thủ đô, thành phố ra đi, hoà cái “Tôi” vào cái “Ta” chung nhiều ý nghĩa, với ý thức của ngời công dân đi để dành độc lập cho đất nớc, thoát khỏi cuộc đời nô lệ Nhà thơ Tú Mỡ đã ghi lại ý nghĩ chân thành của mình:

Kháng chiến bùng lên biệt Thủ Đô

Lên đờng dẻo bớc khoác ba lô

Mang theo ý chí ngời dân Việt

Trang 9

Thà chết không làm vong quốc nô

(Tự Thuật) [43,148].

Cuộc sống kháng chiến đã tạo ra nguồn cảm hứng và cảm xúc lớn cho thơ Tính lí tởng cao cả hoà cùng chất liệu hiện thực phong phú bắt nguồn từ cuộc chiến đấu, sản xuất gian khổ nhng vô cùng anh dũng của dân tộc, đã nâng thơ lên một tầm cao của thời đại Và điều dễ nhận thấy là tâm hồn các nhà thơ cũng đợc thay đổi, một sự thay đổi có tính chất căn bản, nội tại Sự thay đổi đó đã tạo ra những kết quả trong sáng tác Cuộc sống chiến đấu đã có tác dụng quyết định đến sự chuyển biến t tởng nhà thơ, khơi gợi những tình cảm tốt đẹp, những nhận thức đúng đắn về cách cảm, cách nghĩ về đối tợng của văn học Cũng thời kỳ này xuất hiện đội ngũ nhà thơ - những ngời đã trải qua cuộc đời nô lệ của ngời dân mất nớc, hồ hởi đến với cách mạng, từ thung lũng đau thơng đến cánh đồng vui Đó là các nhà thơ từng là trụ cột của phong

trào thơ mới nh: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Bính tìm đến cách mạng, Nh chờ vang tiếng sét xé trời mây (Chế

Lan Viên) Một Xuân Diệu yêu đời khát vọng mạnh mẽ, mà phải rợn ngợp giữa cô đơn: Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề Nay tìm ra mái ấm cho tâm hồn

Giờ đây thấy “Trời mỗi ngày lại sáng” trên “Đất nở hoa” Một Chế Lan

Viên từng thấy thân phận mình sờ soạng cùng đám ma hồn mất nớc, ao ớc gom lá vàng lại để chắn nẻo xuân sang, gặp cách mạng vui mừng Xa phù du

mà nay phù sa Phong trào Thơ mới là cuộc cách tân thơ lớn nhất nửa đầu thế

kỷ XX ở nớc ta Việc hầu hết các nhà thơ tiêu biểu của phong trào này tìm đến với cách mạng, tiếp tục phát huy năng lực sáng tạo của mình, luôn có mặt ở vị trí hàng đầu, là một hiện tợng đặc sắc Điều đó chứng tỏ sức hấp dẫn của cách

Trang 10

mạng đối với các nhà thơ Việt Nam, dù sáng tác ở khuynh hớng nào, ở vị trí nào trớc khi đất nớc đợc độc lập thì cách mạng đã làm thay đổi, nhận thức, tình cảm của lớp nhà thơ có tên tuổi Cách mạng đã đào tạo và bồi dỡng lớp nhà thơ trởng thành từ trong thực tế của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và

xây dựng đất nớc

Đội ngũ nhà thơ chiến sĩ trởng thành trong kháng chiến chống Pháp là những nhà thơ vốn xuất thân từ các đơn vị bộ đội, cơ quan tuyên truyền báo chí, vốn là các hạt nhân văn hoá, văn nghệ địa phơng nh Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Thôi Hữu, Hữu Loan, Quang Dũng, Xuân Hoàng, Lơng An, Khơng Hữu Dụng, Lu Dơng, Vĩnh Mai, Việt Anh, Trần Hữu Thung, Trinh Đờng, Phạm Hổ, Huỳnh Văn Nghệ, Hà Mậu Nhai, Bảo Định Giang, Nông Quốc Chấn, Cầm Biên, Bàn Tài Đoàn Có thể nói, lớp nhà thơ này do cách mạng mà trởng thành, từ cách mạng mà ra.Lớp nhà thơ - chiến sỹ trởng thành trong thực tế chiến đấu đã tạo đợc dòng thơ riêng ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp - dòng thơ quân đội,

một dòng thơ mới mẻ, mộc mạc nhng tràn đầy sức sống, thành công của nó cha có gì là rực rỡ chói lọi nhng đã tạo ra đợc tiếng vang lớn trong văn học Việt Nam Đó là dòng thơ do các đội viên chiến sỹ là những ngời lính tự viết

về mình, từ cuộc sống chiến đấu gian khổ nhng đầy hào hùng của họ

Bớc đầu những sáng tác của họ còn non nớt về nghệ thuật, tác giả hầu nh cha am hiểu nhiều về kỷ thuật thơ, nhng cũng chính vì vậy mà họ lại không bị một ràng buộc nào của quan niệm nghệ thuật cũ Từ đó họ tự tạo cho mình một phong cách riêng, không thể trộn lẫn Thơ ca thời kì này đã xây dựng đợc nhiều hình tợng đẹp về những con ngời chiến đấu, lao động giàu lòng yêu nớc Hình ảnh cuộc sống kháng chiến gian khổ in đậm nét trong thơ Thơ hớng đến những ngời nông dân từ giã làng xóm, ruộng đồng, gia nhập vệ quốc quân, tình nguyện làm anh lính cụ Hồ, tới những ngời vợ trẻ đảm đang nơi quê nhà

và cả những em bé gan dạ, đến những cảnh sinh hoạt của quân và dân trong kháng chiến, họ đùm bọc đoàn kết yêu thơng nhau nh ruột thịt đầy tình nghĩa của con ngời Việt Nam

Trang 11

Chẳng hạn trong bài Quê hơng Việt Bắc, mở đầu tập thơ, tác giả cho thấy

đất nớc đã nuôi dỡng ngời chiến sĩ trởng thành trong lòng dân tộc Bài thơ với những địa danh gợi nhớ, những cuộc hành quân đầy gian khổ, của buổi ban

đầu kháng chiến Nhắc đến Việt Bắc căn cứ địa của Cách mạng, ngời chiến sĩ rất tự hào:

Việt Bắc quê hơng ta sáng chói

Đất tự do của những anh hùng Chim bay rợp trời mây rộng rãi Quân đi rung chuyển những sông rừng (Quê hơng Việt Bắc - Nguyễn Đình Thi)

Quang Dũng xây dựng hình ảnh anh vệ quốc đoàn trong Tây Tiến nguyên

vẹn là anh sinh viên Hà Thành khoác áo “chinh phu”:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (Tây Tiến - Quang Dũng)

Hình ảnh ngời chiến sỹ trong thơ Hữu Loan có chút gì đó vừa đáng yêu vừa lập dị:

Ngày hợp hôn Nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi dày đinh Bết bùn đất hành quân Nàng cời xinh xinh Bên anh chồng độc đáo

(Màu tím hoa sim - Hữu Loan)

Chính Hữu cảm nhận ngời lính theo một góc nhìn khác, họ là những

ng-ời nông dân từ các miền quê họp lại, thiếu thốn gian khổ nhng thật kiên cờng, dũng cảm đánh giặc Ngời ở vùng nớc mặn đồng chua, ngời ở làng nghèo, đất

Trang 12

cày lên sỏi đá Mặc dầu xuất thân khác nhau nhng họ đều chung một lý tởng

chiến đấu để bảo vệ tổ quốc

Nhớ của Hồng Nguyên là một minh chứng nữa, bổ sung thêm về hình

t-ợng ngời lính Họ cũng là những con ngời ở thôn quê ra đi:

Gửi lại quê hơng mái lều tranh Tiếng mõ đêm trờng luống cày đất đỏ

ít nhiều ngời vợ trẻ mòn chân bên cối gạo canh khuya

Đó còn là những thiếu thốn thờng gặp của quân đội ta ngày đầu kháng chiến:

áo vải chân không Lột sắt đờng tàu Rèn thêm dao kiếm

Họ là những con ngời chân tình, giản dị, yêu thơng đùm bọc lẫn nhau trong suốt thời gian và không gian hành quân luyện tập và chiến đấu.

Kỳ hộ lng nhau ngang bờ cát trắng Quờ chân tìm hơi ấm đêm ma

Anh bộ đội trong bài thơ Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu cũng là những con

ngời đang vơn lên để chiến thắng kẻ thù, tạo ra niềm vui đem lại ánh sáng cho nhân dân vùng rừng núi heo hút Những con ngời ấy đã qua nhiều gian khổ và hiện tạị:

Họ vẫn gầy vẫn ốm Mắt vẫn lỏm da vàng

áo chăn cha đủ ấm

ăn uống vẫn tồi tàn (Lên Cấm Sơn - Thôi Hữu)

Thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Pháp phát triển, đánh dấu bớc ngoặt

có ý nghĩa về sự phát triển nhận thức t tởng, tình cảm, quan điểm nghệ thuật của các nhà thơ Điều đó có nghĩa, có rất nhiều nhà thơ trởng thành trong quân

Trang 13

đội, từ trong thực tế chiến đấu họ đã tự vẽ lên cuộc sống hào hùng của mình trên những trang thơ, đã tạo đợc dấu ấn riêng trong lòng ngời đọc qua bao thế

hệ, tác phẩm của họ có sự vô t thẳng thắn của một ngời lính, ngời cách mạng, hiểu hơn ai hết thực tế chiến đấu Đó là đặc điểm riêng khác so với các nghệ

sỹ chuyên nghiệp của thơ ca giai đoạn này

Nh vậy, thơ Việt Nam những năm 1945 - 1954 đã đi vào nhiều mặt của

cuộc sống Vấn đề cách mạng và kháng chiến đợc phản ánh trong thơ kịp thời

Từ những vấn đề thời sự, thực tế hàng ngày, từ những mức độ khác nhau, các bài thơ đã làm nổi lên hình tợng nhân dân, đất nớc Viết về lãnh tụ, về ngời lính, anh công nhân, chị dân công, và những ngời lao động sản xuất, các nhà thơ đã hớng độc giả suy nghĩ về tổ quốc Hình tợng tổ quốc đợc biểu hiện ở dáng vẻ khẩn trơng của cuộc chiến đấu và xây dựng, ở những liên hệ phong phú với tính cách dân tộc và truyền thống vinh quang của nhân dân ta Tinh thần yêu nớc, tình làng nghĩa xóm, tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm,

đức hy sinh Tất cả đợc biểu hiện trong thơ một cách sinh động và đợc nhìn nhận trong hoàn cảnh chiến tranh, đầy gian khổ mà gắn bó với tổ quốc với nhân dân

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đất nớc chuyển sang một giai đoạn mới Miền Bắc hoà bình, bắt đầu cuộc sống lao động xây dựng khẩn trơng hàn gắn vết thơng do chiến tranh để lại và xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiếp đó cả nớc lại phải tiếp tục bớc vào cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nớc tiến tới thống nhất nớc nhà Trên cơ sở đó, thơ ca cũng đã phát triển mạnh

mẽ theo hai nguồn cảm hứng chủ đạo là cảm hứng yêu nớc và cảm hứng về xây dựng chủ nghĩa xã hội

Lực lợng các nhà thơ ngày càng đông đảo và đợc khẳng định Trình độ t tởng nhận thức đợc nâng cao hơn và trình độ nghề nghiệp cũng vững vàng lên rất nhiều Đội ngũ những nhà thơ trong giai đoạn này, tiêu biểu là Lê Anh Xuân, Dơng Hơng Ly, Trần Nguyên, Tế Hanh,Thanh Hải, Giang Nam, Nguyễn Bao, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực

Trang 14

Thơ ở giai đoạn này tập trung biểu hiện nhịp sống mới, sôi nổi, náo nức của cuộc sống lao động xây dựng trên khắp mọi miền đất nớc Tuy nhiên, nhiều bài thơ vẫn tiếp tục khai thác đề tài kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ nêu những tấm gơng anh hùng, những tình cảm đồng đội, đồng chí, những tâm hồn trong sáng Song có một điều dễ nhận thấy, nét riêng của thơ những năm đầu khi hoà bình vừa lập lại, có nhiều nhà thơ quê hơng miền Nam

đã thổi vào thơ, một tình cảm sâu nặng về quê nhà, giới thiệu với đồng bào miền Bắc, cái đẹp, cái phong phú của đất miền Nam thân yêu, con ngời miền Nam trung hậu bất khuất đảm đang:

Qua những con đờng bụi đỏ Ngỡ ngàng tôi đứng trớc Cao Nguyên

Nh một chàng trai nhiều bỡ ngỡ Gặp Buôn Mê Thuột rất dịu hiền (Hát từ Ban Mê Thuột thân yêu - Trần Tấn Ngô)

Tế Hanh nhớ quê hơng da diết, và nỗi nhớ ấy gắn liền với kỷ niệm tuổi thơ, với dòng sông quen thuộc và niềm tin thật chắc chắn:

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ớc Tôi sẽ về sông nớc của quê hơng Tôi sẽ về sông nớc của tình thơng (Nhớ con sông quê hơng - Tế Hanh)

Nhìn chung, thơ ca giai đoạn 1954 - 1964 miêu tả cuộc sống với sinh khí lành mạnh và mang nhiều màu sắc Từ vùng than Hòn Gai - Hạ Long xinh

đẹp, đến những bến cảng Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định, từ những công trờng xây dựng thuỷ lợi Bắc Hng Hải đang ngày đêm phấn khởi thi đua một

Trang 15

ngời làm việc bằng hai, từ những xóm làng phấn khởi thi đua tăng gia sản

xuất, tng bừng tiến lên xây dựng hợp tác xã Toàn miền Bắc đã hiện lên trong thơ nh một bức tranh sinh động về con ngời, về tổ quốc, về ý chí xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vững mạnh, làm hậu thuẫn cho miền Nam, sát cánh cùng miền Nam quyết tâm chiến đấu đánh thắng giặc Mỹ, giành độc lập tự do

và thống nhất nớc nhà

Bên cạnh đó, thì thơ ca giai đoạn này cũng tập trung tố cáo tội ác của giặc Mỹ thơ đợc mài sắc và có sức cổ vũ lôi cuốn mạnh mẽ Nhiều bài thơ hay

đã xuất hiện nh: Ngời con gái Việt Nam, Thù muôn đời muôn kiếp không tan

của Tố Hữu, Em là tất cả quê hơng, của Trần Nguyên, tập thơ Tiếng sóng, của

đã nói lên điều đó

Tố Hữu không cầm nổi xúc động trớc cảnh đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên đất nớc:

Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò dô tiếng hát Chuyến phà dào dạt, bến nớc Bình Ca (Ta đi tới - Tố Hữu)

Không những thế đất nớc ta còn giàu đẹp vô cùng, rừng vàng biển bạc,

đẹp nh một huyền thoại trong cổ tích:

Cá Nhụ, cá Chim cùng cá Dé Cá Song lấp lánh đuốc đen hồng

Trang 16

Cá Đuôi em quẩy trăng vàng choé

Đêm thở, sao lùa nớc Hạ Long (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)

Có nhiều cách để thể hiện đất nớc Thơ đi đến với thiên nhiên, chiêm ỡng, ca ngợi, trở về với lịch sử oai hùng của dân tộc, khai thác tâm hồn và tính cách con ngời Việt Nam, trình bày những đổi thay đang hiện hình trớc mặt Tất cả đều cần thiết và thơ ca có nhiệm vụ phải đáp ứng yêu cầu cuộc sống để

ng-đấu tranh thống nhất đất nớc, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Lao động xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một đề tài lớn, mà thơ

ca hớng tới với một nhiệm vụ nặng nề Thơ phản ánh không khí khẩn trơng, hăng say lao động sản xuất của miền Bắc Huy Cận, Khơng Hữu Dụng, Nguyễn Xuân Sanh đi vùng mỏ Quảng Ninh, Phạm Hổ đi nhà máy dệt Nam

Định, Hoàng Trung Thông, Yến Lan về với hợp tác xã nông nghiệp Những chuyến đi này có nhiều thu hoạch lớn Nhiều bài thơ hay đã ra đời: Nông tr- ờng cà phê của Tế Hanh, Về đây của Trần Hữu Thung, Bài ca hợp tác thôn tôi

của Yến Lan, Chị đẩy xe goòng của Xuân Sanh, Chiếc gơng của cô gái vùng

mỏ của Trinh Đờng, Cô thợ dệt của Phạm Hổ, Hạ Long đêm bốc vác của

Nguyễn Viết Lãm, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, Hoàng Trung Thông

trong bài Gửi về Thái Thụy viết:

Ngời ở nơi này mới giỏi cha Trai cày cuốc giỏi, gái không vừa Hai tay vật lộn cùng ma nắng

Ma nắng thua ngời, ngời chẳng thua (Gửi về Thái Thụy - Hoàng Trung Thông)

Tác giả thấy đợc vẻ đẹp bình dị của những ngời nông dân, đang phát huy

ý thức làm chủ đầy sáng tạo, thấy đợc khó khăn gian khổ trong bớc đờng đi lên xã hội chủ nghĩa còn nhiều mới mẻ, thấy đợc sức mạnh của con ngời, đầy phấn chấn và lạc quan Tố Hữu trong bài Tiếng chổi tre ca ngợi một công việc

lao động rất bình thờng, song đầy ý nghĩa

Trang 17

Huy Cận với Đoàn thuyền đánh cá, cả bài thơ là bài ca lao động, ca ngợi

sự giàu có của biển cả

Chủ nghĩa xã hội và lao động trở thành niềm vui, là nghĩa vụ trong cuộc sống của mỗi một con ngời, bởi lao động đều đợc coi trọng cho dù ở công việc gì, mà có lợi cho xã hội và cộng đồng Mọi ngời yêu nghề và có ý thức làm chủ Từ đó chủ nghĩa xã hội đã mở ra cho thơ một đối tợng và một khả năng phản ánh rộng lớn, dồi dào hơn và phong phú hơn, không chỉ quẩn quanh hay

bị hạn chế trong mỗi giải đất quê hơng quen thuộc, mà còn vơn đến mọi ngõ ngách thôn xóm, mọi miền của đất nớc

Tóm lại, thơ 1954 - 1964 đã đánh dấu sự trởng thành của một giai đoạn

thơ Đó là kết quả của một quá trình tích lũy, chuyển biến trong mời năm cách mạng Sự trởng thành chứng tỏ các nhà thơ đã có sự thay đổi về chất, có trình

độ t duy cao, nghệ thuật độc đáo, t tởng vững chắc, với một đội ngũ đông đảo

các nhà thơ, một đội ngũ bao gồm các nhà thơ đã từng sáng tác từ trớc cách mạng tháng tám, họ ra đời và trởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Các nhà thơ trẻ xuất hiện trong những năm hoà bình Đội ngũ này

có những đóng góp tích cực, nhất là khi đất nớc bớc vào thời kỳ đổi mới và thời kỳ chống Mỹ cứu nớc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc nổ ra, sau mời năm ngày kết thúc chiến thắng Điện Biên Phủ Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, đã sản sinh ra vô vàn những tấm gơng, những anh hùng cho dân tộc, với những kỳ tích hào hùng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, có sức cổ

lớn, khích lệ lòng tự hào, tạo niềm tin sắt đá vào sự nghiệp đấu tranh của

Đảng, của dân tộc ta Trên cơ sở đó cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đã mở

ra một chặng đờng mới cho sự phát triển của nền thơ ca nớc nhà.

Có thể nói cha, bao giờ thơ lại phát triển mạnh và rực rỡ nh thời kỳ này Ngay từ giờ phút đầu của cuộc chiến đấu, mỗi ngời nghệ sỹ đã nhận thức đợc trách nhiệm của mình đối với dân tộc, đối với thời đại trong giờ phút thiêng liêng nhất của lịch sử Tiếng súng chống Mỹ bùng nổ thì lời thơ ca ngợi cháy bỏng căm thù giặc cũng đợc vang lên hoà cùng một nhịp:

Trang 18

Yêu với căm hai đợt sóng ào ào

Vỗ bên lòng và dội mãi tới trăng sao (Xuân Diệu)

Thơ ca phát huy đợc tính chiến đấu kịp thời và tính thời sự nhạy bén Trên tuyến đầu của cuộc chiến đấu, lòng căm thù và từ trong chiều sâu thầm kín của mỗi trái tim yêu nớc, thơ ca có mặt khắp mọi nơi, đặc biệt các nhà thơ trẻ lăn lộn ở khắp mọi chiến trờng, ở các mặt trận nóng bỏng nên đôi tay cầm súng, bản thảo trên lng.

Đội ngũ các nhà thơ trẻ bao gồm: Lê Anh Xuân, Diệp Minh Tuyền, Thanh Thảo, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Dơng Hơng Ly, Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, Vơng Trọng, những nhà thơ nữ nh: Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn Điều đáng quý là họ luôn ý thức đợc trách nhiệm cầm bút của mình trớc cuộc sống của dân tộc.

Thơ chống Mỹ đã biểu hiện sâu sắc t tởng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào về truyền thống của dân tộc ta, về thắng lợi hiện tại và niềm tin vào tơng lai Thơ ca chống Mỹ là khúc ca chiến thắng, chất thơ đã hoà quyện cùng chất thép, niềm lạc quan cách mạng vợt lên trên những tổn thất đau th-

ơng, ít có những hạn chế trong t tởng nh thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp, hay trong những năm đấu tranh thống nhất đất nớc và xây dựng nền hoà bình

Thơ ca chống Mỹ cứu nớc mang lý tởng cao đẹp, giàu tính chiến đấu, chân thực, tự nhiên thô sơ, mộc mạc, nói đến tổn thất chia ly nhng không ngậm ngùi, bi lụy, luôn khẳng định một niềm tin tất thắng của cách mạng Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nội dung chủ yếu, là cảm hứng chủ đạo đợc thơ khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái phong phú Nh vậy, cũng có nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đã đem đến cho các nhà thơ một tầm nhìn cao, một cảm xúc lớn Đề tài đợc mở rộng đến nhiều mặt của cuộc sống Từ những bài thơ viết về những điển hình ngời thật, việc thật nh: Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Trần Thị Lý, Mẹ Suốt Từ tiếng đàn,

Trang 19

tiếng hát, tiếng gà gáy tra, đến chiến công của những chiến sỹ cao xạ pháo, chiến sỹ Hải quân và anh không quân nhân dân, từ cô gái tự vệ Bạch Long Vĩ hay đến mẹ con bản Nà Làng, từ cuộc chia tay đêm Hà Nội đến những trận

đánh ở đờng Trờng Sơn, Tây Nguyên, Nam Bộ

Thơ đã toả rộng diện phản ánh đi vào nhiều hớng, nhiều ngã của cuộc sống nhng vẫn tập trung vào những đề tài chính Cho dù viết về đề tài nào thì thơ chống Mỹ cứu nớc vẫn gắn bó với thực tế sôi động của dân tộc Các nhà thơ có một cái nhìn mới đối với chiến tranh, với những mất mát hy sinh và sự bất tử, lòng căm thù giặc, tình bạn chiến đấu, tình yêu và lòng tin về sự tất thắng của cách mạng, suy nghĩ về số phận của dân tộc Nhiều bài thơ hay của

giai đoạn này đã ra đời nh: Ngời con gái sông Gianh của Lu Trọng L, Hoa dứa trắng của Anh Thơ, Nhật ký quê biển của Nguyễn Xuân Sanh Quê hơng

của Giang Nam, Mồ anh hoa nở của Thanh Hải, Vầng trăng quầng lửa của

Phạm Tiến Duật, Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm, Gió Lào cát trắng của

Xuân Quỳnh, Cát trắng của Nguyễn Duy, Đờng tới thành phố, của Hữu

Thỉnh, Những ngời đi tới biển, của Thanh Thảo và những trờng ca sắc sảo của

Thu Bồn

Đề tài bao quát trung tâm của thơ giai đoạn này là đề tài đất nớc Với cảm xúc nồng cháy và suy nghĩ chín chắn, các nhà thơ đã biểu hiện tổ quốc một cách sâu sắc đầy đủ về nhiều mặt Hiện lên trong thơ là hình tợng tổ quốc Việt Nam có bề dày lịch sử và chiều cao hiện tại Tổ quốc Việt Nam trong thơ trở thành một biểu tợng thiêng liêng Trần Hữu Thung trong bài Việt Nam tổ quốc tôi, đã nói đến một đất nớc kiên cờng, tự hào qua bốn nghìn năm xây

dựng và chiến đấu giữ gìn những nét đậm đà bản sắc dân tộc Từ dáng đứng của ngời chiến sỹ Giải phóng quân, Lê Anh Xuân liên tởng đến một, Dáng

đứng Việt Nam, một Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân Trờng ca Mặt đờng khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt là chơng Đất nớc, biểu hiện

phong phú những sắc thái tình cảm đối với tổ quốc Lời thơ xúc động, suy ởng mạnh mẽ tràn đầy tinh thần ca ngợi nhân dân Những đặc điểm tâm lý dân tộc, những cuộc đời, những câu chuyện huyền thoại, tình yêu say đắm, lòng

Trang 20

quả cảm, đức hy sinh, tính siêng năng cần cù trong lao động đều đợc tởng ợng liên kết trong một kết cấu thơ vững vàng uyển chuyển Đất nớc ấy là đất nớc của nhân dân Đất nuớc ấy đặt ra cho thế hệ trẻ một nhiệm vụ trọng đại là chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê hơng:

t-Ôi sông núi của nghi ngàn dặm đất

Có tiếng chúng con xin có mặt Nguyện làm ngời xung kích của quê hơng!

(Trích trờng ca mặt đờng khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Cũng trong thời điểm này Chế Lan Viên tập trung làm nổi bật lên hình ợng tổ quốc Việt Nam tợng trng cho lòng tin và sức mạnh chân lý, là sự hy

t-sinh lớn để bảo vệ nhân dân và cả nhân phẩm của nhân loại:

Việt Nam chục vạn ngàn đạn lửa Cho ngàn năm sau nhân loại ngẩng cao đầu (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chế Lan Viên)

Tố Hữu nói đến dân tộc Việt Nam, là nói đến những ngời mẹ với nhiều

đức tính quý báu, chịu thơng, chịu khó, nhẫn nại âm thầm hy sinh trong mọi

đau khổ Hình tợng tổ quốc và ngời mẹ nh hoà quyện xuyên suốt trong t duy sáng tạo của Tố Hữu Từ những ngày cách mạng Việt Nam đang còn trong bóng tối với hình ảnh một bà má Hậu Giang đến những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp với hình ảnh một bà Bủ, một bà Bầm , tất cả đều gợi lên cho ngời đọc một sự rung động của sợi dây tình cảm về tổ quốc Trong thơ Tố Hữu, Việt Nam còn là hạt giống mùa sau, là ngời lính đi đầu

Nhiều bài thơ viết về tiền tuyến lớn, phản ánh trực tiếp những trận đánh, nhiều bài thơ viết về hậu phơng vừa sản xuất vừa chiến đấu kiên cờng, về hạnh phúc, về gia đình, về tình yêu chung thuỷ sắt son Trong thơ hình ảnh ngời

chiến sỹ xuất hiện ở một t thế đẹp, dũng cảm:

Hỡi ngời anh giải phóng quân Hai mơi năm chẳng dừng chân trên đờng Vẫn đôi dép lốp chiến trờng

Trang 21

Vẫn vành mũ lá, coi thờng hiểm nguy (Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu) Bài thơ về tiểu đội xe không kính đáng yêu, có cái say sa khinh thờng

nguy hiểm mà không có gì là phiêu lu mạo hiểm, ngang nhiên xông xáo, dũng cảm, hiên ngang kính vỡ hết nhng xe vẫn cứ đi, đi vì nhiệm vụ, đi vì ngày mai:

Không có kính không phải xe không có kính Bom dật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng (Bài thơ tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)

Chiến đấu và lao động, sản xuất và xây dựng, hai nhiệm vụ này luôn là những thử thách nặng nề đối với dân tộc ta Nhiều bài thơ thể hiện ngời công nhân cùng với nền công nghiệp trong giai đoạn này đã làm nổi lên một cách sinh động về cuộc sống con ngời cùng với những vấn đề t tởng, tình cảm, đạo

đức cách mạng Đó là những con ngời có hoài bão, có lý tởng, có ý chí vơn tới, con ngời mới chủ nghĩa xã hội, đó còn là những con ngời lao động trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, song vẫn bình tĩnh mu trí, gan dạ:

Ta với kẻ thù lừa nhau từng phút Bom ném sáng - của ta tra

Bom ném chiều - của ta tối Bom sáng, bom chiều, bom tra, bom tối Của ta cả hăm bốn giờ

(Nguồn sáng - Yên Đức)

Nh vậy, có thể nói thơ cứu nớc đã tự khẳng định mình bằng nhiều phẩm chất mới, khẳng định một bớc tiến mạnh mẽ trong nền thơ hiện đại Việt Nam Nhiều nhà thơ đã có nhiều tìm tòi sáng tạo chứng minh sức vơn lên của bản thân mình để đóng góp vào nền thơ chung của dân tộc.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đã giành đợc thắng lợi vĩ đại, kết thúc cuộc chiến đấu anh hùng mang màu sắc sử thi của cả dân tộc Thơ chống

Mỹ cứu nớc cũng đạt tới những đỉnh cao rực rỡ, với những tác phẩm mới về

Trang 22

nội dung và nghệ thuật Đây thực sự là một nền thơ lớn có tác động mạnh vào

t tởng tình cảm của quần chúng nhân dân Trong nền thơ này, đóng góp của Chính Hữu là rất đáng kể

1.2 Chính Hữu trong nền thơ Việt Nam sau năm 1945

1.2.1 Sơ lợc cuộc đời và các chặng đờng sáng tác thơ của chính Hữu

1.2.1.1 Cuộc đời

Nói đến thơ ca kháng chiến và cách mạng không thể không nhắc đến tên Chính Hữu Ông là một trong những gơng mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ tr-ởng thành sau Cách mạng tháng Tám nói chung và lớp nhà văn - chiến sỹ nói

riêng, góp phần làm nên thành tựu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại

Nhà thơ Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc, sinh ngày 15/12/1926 tại thành phố Vinh tĩnh Nghệ An Nhng quê gốc ông ở làng Vĩnh Tuy huyện Can Lộc (nay là huyện Lộc Hà) tĩnh Hà Tĩnh Bố là một viên chức công chính, làm

ở miền Tây của tỉnh thời bấy giờ Mẹ là ngời Nghệ An, nhng gốc xa ở làng Cổ

Am Vĩnh Bảo - Hải Phòng Thủa nhỏ ông học tiểu học và bậc thành chung

(PTCS) ở Vinh, học tú tài ở Hà Nội Phần một ở trờng Văn Lang, phần hai (triết

học) ở trờng Luipơxtơ Tham gia Việt Minh bí mật (Thanh niên cứu quốc)

Tháng năm 1945, cuối năm 1946 tham gia tự vệ thành, rồi trở thành lính của Trung đoàn Thủ Đô Tham gia chiến dịch Việt Bắc,Thu đông năm 1947, làm Chính trị viên đại đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 Cái tên Chính Hữu đợc bạn đọc biết đến lần đầu khi ông cho in bài Đồng chí vào năm 1948

trên tờ Sự thật - Cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam

Tháng t năm 1949, sau hội nghị văn nghệ quân đội lần thứ nhất, ông đợc bầu làm phó (thờng trực) ban văn nghệ quân đội (tiền thân của phong trào Văn

nghệ quân đội) Cuối năm 1952 ông trở lại đơn vị chiến đấu, làm Chính trị viên phó rồi Chính trị viên Tiểu đoàn 372 Trung đoàn 88 S đoàn 308 và tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ Năm 1957 ông về làm Trởng phòng Văn nghệ quân đội, rồi làm Cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, phụ trách Văn hoá văn nghệ (1970 - 1983) Sau đó chuyển ngành ra làm Phó Tổng th ký Hội

nhà văn (khoá III) và Uỷ viên Ban chấp hành (khoá IV)

Trang 23

1.2.1.2 Các chặng đờng sáng tác thơ Chính Hữu

Đến với cuộc đời mới với t cách là ngời chiến sỹ trên mặt trận văn nghệ,

nh ngời bộ hành không mệt mỏi vợt lên từng chặng đờng dài, Chính Hữu đã có những tìm tòi phát hiện mới trong thơ và đóng góp một phần quan trọng không nhỏ cho thơ Việt Nam hiện đại nói chung và thơ kháng chiến nói riêng.Quá trình sáng tác thơ của Chính Hữu cũng nh cuộc đời của ông có thể chia làm hai giai đoạn Từ năm 1944, khi còn cha đậu tú tài, ông cũng đã có làm thơ và khi đã là chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô ông đã viết lời cho bài hát Ngày về - một bài nặng chất “tráng sỹ”, chất “giang hồ”.

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đã tạo cho mình một phong cách riêng, khác với các nhà thơ lớp trớc đang chuyển mình với cách mạng chất giọng và phong cách ấy không thể trộn lẫn với bất kỳ một giọng thơ nào khác, kể cả các tác giả thơ quân đội - một đội ngũ mà Chính

Hữu đồng hành hầu nh suốt cả cuộc đời Chính Hữu là nhà thơ của quân đội, của cách mạng không quyến luyến với một quá khứ buồn tủi nào Mặc dầu tr-

ớc đó thơ ca còn ít nhiều mang tính chất ớc lệ và tợng trng với những xúc cảm

chủ quan, khi ca ngợi cách mạng, ca ngợi ngời lính nh (Ngày về) Nhng Chính

Hữu sớm đa thơ trở về với cuộc sống hiện thực, bám sát cuộc sống kháng chiến và cách mạng, ông không chịu ràng buộc với hệ thống thi pháp và những quy tắc cách luật cũ Chính Hữu đến với cuộc đời mới, với những suy nghĩ chất phác hồn nhiên, đến với thơ từ triết học Hơn đâu hết ông muốn miêu tả cuộc sống trong vẻ tự nhiên Chất thơ không cần tô điểm thi vị nhiều Chất thơ phải là sự sống bình dị mà gợi cảm Chính Hữu không quan tâm khai thác với những hình ảnh mới lạ, ông muốn ngời đọc chú ý đến hiện thực cuộc sống từ cái hàng ngày và những gì rất đỗi bình dị, những gì ông từng trải và chiêm nghiệm, nhng nó lại có sức khái quát cao, có sức lan toả rộng, đó là cảm xúc chân thật của một công dân qua tình đồng đội, đồng chí của một ngời chiến sỹ, họ là những anh vệ quốc đoàn, những chiến sỹ Điện Biên , những con ngời rời tay cày tay cuốc cầm súng bớc vào chiến trận Tất cả đều đợc Chính Hữu khắc hoạ ở những nét rất đời thờng, chân chất, mộc mạc chân

Trang 24

thành, quả cảm mà sâu lắng, với đời sống tình cảm đồng đội và quê hơng, từ hình ảnh ngời lính buổi đầu:

Quê hơng anh nớc mặn đồng chua Làng tôi nghèo cày lên sỏi đá

đến hình ảnh Hà Nội những năm 1950 đợc Chính Hữu dựng lại, có không khí

mà lại rất tạo hình:

Đêm Hà Nội buốt tê Mái buồn nghe sấu rụng

Th nhà là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy ông có ý thức chọn lọc

để qua đây thấy đợc diện mạo đời sống Trong khuynh hớng chung của thơ ca kháng chiến đang trở về gắn liền với hiện thực của cuộc chiến đấu, Chính Hữu

đi vào chiến trờng, ông không tham chất liệu, không kể lể trong thơ Hình ảnh

đợc chọn lọc bố trí thoáng trên mạch cảm nghĩ làm điểm tựa cho những liên ởng Những hình ảnh liên kết tạo nên một không khí riêng cho bài thơ, cái thật của đời sống làm cơ sở cho bài thơ và cảm hứng đợc mở rộng theo chiều hớng nghệ thuật Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đi vào đời sống chiến trờng, trong nhiều năm với t cách là ngời lính, thơ ông có những trải nghiệm của ngời trong cuộc Ngời thanh niên trí thức giàu hoài bão cũng

t-đem vào trong thơ chất lý tởng và niềm mơ ớc lớn lao ấy

Mặt mạnh của Chính Hữu trong thơ ca là sự hàm súc, cô đọng, thờng thiên về tổng hợp, ông giữ bản sắc dân tộc một cách sáng tạo Thơ ông không phải là thơ phản ánh từng sự việc, miêu tả từng hoàn cảnh Ông không quen với lối viết ngay tại trận nh nhiều cây bút khác, ông viết sau khi mọi việc đã lắng xuống, những ký ức còn giữ đều đặn đợc gạn lọc Điều Chính Hữu quan tâm lớn nhất là trách nhiệm ngời lính trớc vận mệnh tổ quốc Trách nhiệm ấy trong thơ ông đợc hình thành từ những yêu thơng chằng chịt nh khi nhớ về ng-

ời mẹ, Thắp hơng cầu trời phù hộ bớc con đi, đối với ngời vợ Gánh gạo đa chồng hai vai khó nhọc, đối với đồng chí đồng đội, đồng bào, Chính Hữu tìm

thấy sức mạnh của đoàn quân ở chỗ nhận thức giá từng thớc đất trên trận địa:

Bên trái Lò Văn Sự

Trang 25

Bên phải Nguyễn Đình Ba

Sức mạnh của khẩu súng không phải chỉ nằm trong viên đạn mà:

Súng ta kê bên nôi nhỏ các em nằm

Chính Hữu trong mỗi bài thơ đều có ý thức khái quát hoá nghệ thuật Thơ Chính Hữu trong những năm chống Pháp, gây đợc ấn tợng sâu sắc cho độc giả, sức mạnh của thơ Chính Hữu là ở t tởng và tình cảm nhạy bén với những vấn đề của đất nớc của dân tộc trong chiến tranh Mặc dù cha có sức bao quát toàn diện giai đoạn này, nhng Chính Hữu đã thể hiện một phong cách thơ độc

đáo

Hoà bình lập lại, nhng không phải là lúc nghĩ ngơi mà chính là lúc một cuộc chiến đấu đầy cam go mới bắt đầu Ngời lính vẫn hành quân, đêm đêm trên rẻo cao biên giới, ngời chiến sỹ vẫn len lỏi tuần tra trên những con đờng, rừng núi trùng điệp hiểm trở mà lòng vẫn vui vẻ tự hào:

Ta đứng gác cho sao trên trời cho sao dới đất Thơng tổ quốc ta không đêm nào ngũ đợc Lại lên đờng hăng hái tuần tra.

(Nhật ký biên giới)

Chính Hữu lại một lần nữa lặng lẽ xuất hiện trên thi đàn với bài thơ Ngọn

đèn đứng gác Đó là bài thơ hay ở những năm đầu chống Mỹ, bài thơ còn đợc

ngân xa hơn, lắng sâu hơn trong tâm trí mọi ngời bởi sự góp sức của nhạc sỹ Hoàng Hiệp

Thờng trực trong chính Hữu là một ý thức muốn thâu tóm những bớc đi, những biến chuyển của cách mạng, ngay trong những sự việc bình thờng nhkhẩu hiệu mà chúng ta vẫn nói, vẫn nghe hàng ngày, bỗng nhiên đợc tác giả soi rọi từng bớc đi của lịch sử:

Những đêm lửa đỏ xóm làng thức với những ngời du kích khẩu hiệu đứng trên đờng

Trang 26

những phẩm chất trên Đó còn là phẩm chất trí tuệ đối với bạn bè quốc tế, trong các bài thơ về Anbani và Xibêri nằm ngay trong tứ thơ và những cách lập

ý đầy sáng tạo, sự suy nghĩ khái quát đằm trong cảm xúc Trong bài Qua Xibêri, Chính Hữu gợi lại những nét của một xứ sở đi đày bằng gió và tuyết:

Ôi ngọn gió Xibêri phẫn nộ và hoang vắng Mấy trăm năm thổi trong những cuốn sách Nga lịch sử mênh mông một màu lạnh trắng

Một điều chúng ta dễ nhận thấy, trong những ngày đầu tiên miền Bắc

đánh trả máy bay giặc Mỹ, trong khi nhiều nhà thơ còn thiên về kể lể, mô tả từng trận đánh, thì Chính Hữu đã sớm xây dựng một hình tợng khái quát

Ngọn đèn đứng gác, ngọn đèn phòng không, đứng gác dọc ở các tuyến đờng

giao thông huyết mạch của đất nớc của những ngày chống Mỹ, chính những nơi đó lại là những trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay giặc Mỹ Đây là một hình ảnh thời sự đặc biệt lúc đó và nó đã trở thành một biểu tợng khó quên trong tâm trí mọi ngời cho đến tận ngày nay Bài thơ viết rất kịp thời,

động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cờng của quân và dân ta,

có thể nói nó đợc xếp vào những bài thơ đặc sắc, có sức cổ vũ rất lớn, lan toả rất sâu rộng, góp một phần không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Trang 27

Tình yêu của Chính Hữu đối với đất nớc, thờng bắt đầu từ tình yêu đối với những gì thân thiết nhất, bình dị nhất cho nên, chúng ta không lấy làm lạ rằng tình yêu đó anh dể dàng trao cho Hà Nội và miền Nam trớc tiên Chính Hữu yêu thơng miền Nam, vì đã hai mơi năm, miền Nam Không đêm nào ngủ

đợc, niềm thơng yêu của ông đối với miền Nam thật da diết sâu nặng, yêu là

trách nhiệm, trách nhiệm của hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam

mà ông yêu, cho dù chết ông vẫn còn yêu:

Nếu tôi ngã xuống Hãy chôn tôi trên mảnh đất các anh nằm Mảnh đất xanh biếc tâm hồn anh Trổi anh Đang

Sau chiến tranh, khi đất nớc đã đợc hoà bình thống nhất, Chính Hữu lại viết về cuộc sống đời thờng, nhng vẫn đầy ắp hoài niệm Ông nhớ về thời niên thiếu đã qua (Những ngày niên thiếu) Nhớ về đồng đội, đồng chí đã nằm lại

nơi chiến trờng ác liệt đầy bom đạn năm xa (Nghĩa trang liệt sỹ) và những

ng-ời lính công binh, những trai gái thanh niên xung phong mở đờng Trờng Sơn năm xa Nhng những hồi tởng quá khứ là để suy nghĩ, chiêm nghiệm, nên ở chặng này thơ ông vì thế cũng thiên về khái quát, mang tính triết lý, tổng kết:

Lá rụng về cội, Tiếng ngân và đặc biệt là Ngời bộ hành lặng lẽ, ông viết ở

tuổi 70, là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy Đó nh một sự đúc kết sâu sắc của cả cuộc đời một con ngời hơn nữa thế kỷ cầm súng và cầm bút, muốn gửi lại cho thế hệ con cháu mai sau:

Đi bộ để nghĩ đợc nhiều hơn,

Để đếm đợc thời gian đang bớc, Thấy đợc sự khác nhau giữa các mùa Thấy đợc khác nhau giữa mùa đông

ở chặng này, Chính Hữu ít làm thơ hơn, điều này cho thấy ngòi bút của Chính Hữu chỉ nhạy bén với những vấn đề dân tộc, hơn là những vấn đề xã hội,

Trang 28

ông nói: “Tự tôi, tôi thấy cần phải tăng cờng nhân tố vốn sống thực tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội vô cùng mới mẽ và đa dạng của nhân dân ta” [8, 256]

Tuy nhiên, về sau có thể thấy ở Chính Hữu một nét khá hóm hỉnh và không thấy có ở chặng trớc, tiêu biểu nhất là bài Tự hoạ:

Những đêm băn khoăn nên về hay ở Cái vui cái buồn nữa có nữa không Những mối tình suốt đời bỏ dở Những bài thơ làm mãi chẳng xong

Tự hoạ, ông tự hoạ theo kiểu tự hoạ về bên trong, về tính cách, tính nết chứ không đã động gì đến ngoại hình

Nhìn lại, toàn bộ chặng đờng thơ Chính Hữu, ta thấy quá trình sáng tác của Chính Hữu khá dài Song thi phẩm của ông để lại khá khiêm tốn Tất cả chỉ có 3 tập với khoảng hơn 50 bài đợc công bố, một con số không lớn của cả cuộc đời hơn 50 năm cầm bút Mặc dầu số lợng ít, nhng số bài hay của ông lại

đạt một tỷ lệ khá cao Thơ ông có nhiều nét đặc trng độc đáo, mang một vẻ riêng không trộn lẫn đợc, trong nội dung cũng nh trong hình thức Đặc biệt Chính Hữu luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ

ông đều đợc chọn lọc kỹ càng, ý tứ hàm súc

Gắn bó gần hết cuộc đời với quân đội, vì thế toàn bộ sự nghiệp của ông cũng chỉ viết về ngời lính và chiến tranh, với t tởng nhất quán và tình cảm cách mạng trong sáng nồng hậu chân thành Thành công của Chính Hữu từ tập thơ đầu tay cho đến những sáng tác sau này đã tạo cho ta một ấn tợng sâu sắc

về nghệ thuật cũng nh cách thể hiện của một tâm hồn thơ quân đội

1.2.2 Sự định hình một phong cách

Phong cách văn học là khái niệm đợc dùng để chỉ tính độc đáo có ý nghĩa thẩm mỹ của một hiện tợng văn học, cái gọi là hiện tợng văn học này bao gồm phạm vi rất rộng, từ nền văn học của một dân tộc, một thời đại, một

Trang 29

trào lu, một trờng phái, tới toàn bộ sáng tác của một nhà văn, thậm chí tới những tác phẩm văn học riêng lẽ Vì thế ta thờng bắt gặp những cách nói, phong cách văn học của một thời đại, phong cách văn học của một dân tộc, phong cách nghệ thuật của một nhà văn, phong cách nghệ thuật của một tác phẩm văn học cụ thể

Phong cách văn học đợc tạo nên nhờ sự thống nhất mang tính ổn định của tất cả các yếu tố cấu thành, hiện tợng văn học với t cách là một chỉnh thể nghệ thuật Các yếu tố đó bao gồm hệ thống hình tợng, các phơng thức biểu hiện nghệ thuật Phong cách văn học thể hiện cách cảm thụ, khám phá, chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo đời sống con ngời của nhà văn Sự tồn tại của phong cách văn học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển của chính văn học, đảm bảo cho quá trình ấy không phải là sự lặp lại nhàm chán những

điều đã biết, mà là sự tiếp nối của những phát hiện nghệ thuật mới mẻ, giàu ý nghĩa

Trong khái niệm phong cách văn học có bao hàm khái niệm phong cách nghệ thuật của nhà văn Phong cách nghệ thuật của nhà văn là kết quả của một quá trình sáng tạo lâu dài Một quá trình nhà văn không ngừng ý thức đem đến cho ngời đọc một cái nhìn mới mẻ cha từng có về cuộc sống con ngời, thông qua những hình tợng nghệ thuật độc đáo và những phơng thức, phơng tiện thể hiện đặc thù in đậm dấu ấn cá nhân chủ thể sáng tạo Không phải mọi nhà văn

đều có phong cách nghệ thuật riêng Phong cách nghệ thuật riêng này chỉ thực

sự có ở những nhà văn mà tài năng và các sáng tác của họ hợp thành một thể thống nhất và độc đáo, không thể trộn lẫn, chẳng hạn nh: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Trần Hữu Thung, Chính Hữu, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi

Phong cách nghệ thuật của nhà văn có cội nguồn từ cá tính sáng tạo của tác giả, mà cá tính sáng tạo này lại là sự hợp thành của những yếu tố nh thế giới quan, tâm lý, khí chất, cá tính Phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng chịu ảnh hởng sâu sắc phong cách văn học của một dân tộc, một thời đại, một trào lu, một kiểu sáng tác

Trang 30

Nói đến phong cách nghệ thuật của nhà văn là phải nói đến sự thống nhất lặp đi lặp lại có quy luật của các yếu tố nghệ thuật trong một loạt tác phẩm đủ

để nhà văn tạo đợc cho mình một “chân dung tinh thần” riêng Nhng sự thống

nhất đó không cản trở và cũng không mâu thuẫn gì với sự đa dạng phong phú vốn cũng là bản chất của phong cách văn học Do đòi hỏi có tính chất bắt buộc của hoạt động sáng tạo là phải thờng xuyên đổi mới và do nhà văn không ngừng tiếp xúc, thể hiện cuộc sống phức tạp, đầy biến động nên phong cách nghệ thuật của nhà văn không đơn điệu mà có nhiều nét bổ sung mới mẻ theo từng thời kỳ sáng tác Ngoài ra do áp lực phong cách thể loại mà sáng tác của nhà văn trên các thể loại khác nhau mang những nét phong cách khác nhau

Nh phần trên chúng tôi đã nói các chặng đờng sáng tác của Chính Hữu

đ-ợc tính từ trớc cách mạng, từ thời ông còn là học sinh sinh viên Ông học triết, giỏi toán nhng lại rất yêu thơ văn Chính Hữu rất thích phẩm chất suy nghĩ trong thơ Huy Cận lúc đó Có thể nói, những sáng tác của Chính Hữu trớc cách mạng chịu sự chi phối quan điểm thẩm mĩ của các nhà thơ mới Một số bài thơ của các cây bút trẻ còn đang ít nhiều mắc phải các bệnh ấu trĩ của nền văn học vô sản mới hình thành, khi thì gợng ép, với các khẩu hiệu bê nguyên

từ lĩnh vực thông tin tuyên truyền sang, lúc thì mang theo những rơi rớt “máu giang hồ” khẩu khí “tráng sĩ hề” hoặc tâm lý uỷ mị Chính Hữu cũng là một trong những trờng hợp nh thế Phong cách thời đại đã ảnh huởng trực tiếp đến

t tởng, quan điểm thẩm mỹ của ông Chính Hữu phải hít thở phải chịu sự lan thấm của nó, mà tác phẩm Ngày về in rõ dấu ấn của phong cách đó Ngày về

giống nh một bản lề có sự giao thoa, có sự tranh chấp tạo nên sự phối hợp đẹp

đợc tác giả ý thức một cách rõ rệt Điều đó, chứng tỏ cần phải có một cách nhìn mới phù hợp với phong cách của thời đại mới, bởi phong cách văn học của thời đại đã chi phối một phần sự hình thành phong cách nghệ thuật của các nhà văn Vì thế, khi phong cách thời đại thay đổi thì lẽ đơng nhiên phong cách cá nhân cũng sẽ thay đổi theo Chính Hữu không nằm ngoài quy luật tất

Trang 31

yếu đó Ông không ngừng mãi miết đi tìm mình sao cho thích hợp với phong cách của thời đại mình.

Đúng vậy, cái tên Chính Hữu đợc bạn đọc biết đến khi ông cho in bài

Đồng chí trên tờ Sự thật (cơ quan ngôn luận của Đảng ta trong thời kỳ kháng

chiến chống Pháp) Bằng bài Đồng chí Chính Hữu nh là một ngời đã có “tấm giấy thông hành” tấm “chứng chỉ” để gia nhập gia đình văn nghệ mới văn

nghệ cách mạng kháng chiến. Dù rằng đây cha phải là tác phẩm nhuần nhuyễn

in đậm dấu ấn của phong cách thời đại, nhng nó đã khác biệt với phong cách trớc đó thể hiện rõ ở bài Ngày về một bài thơ nặng chất “tráng sĩ” chất “giang

hồ”:

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trờng chinh phai bạc áo hào hoa (Ngày về)

Chất liệu thơ ở đây còn nhiều cách bức với đời thật, giày rách thành

“giày vạn dặm”, bụi thì phải “bụi trờng chinh” mới nên thơ Ngay đến cái mụn vá trên quần nhà thơ cũng phải tạo thêm “khí phách” bằng một tính từ Chiếc quần nâu tôi vá mụn giang hồ.

Ngày về tuy còn những non nớt về nhận thức cuộc sống nh đã nói, song

có thể thấy ở đây sức liên tởng phong phú của tác giả, báo hiệu một hồn thơ tiềm tàng và một bút pháp vững chãi Đến Đồng chí Chính Hữu đã thể hiện

một phong cách mới mẻ, gần gũi cuộc sống chiến đấu và rất thực của ngời lính, ăn nhịp với tâm tình và cách diễn tả đơng thời Qua bài này, Chính Hữu

đã nâng thơ lên một bớc, chất thơ đã ánh lên từ những nét thực tế trụi trần của cuộc sống kháng chiến gian khổ, không tô vẻ uốn nắn gì Tác giả tỏ ra rất tự tin trong việc tìm thi liệu:

áo anh rách vai Quần tôi có vài miếng vá

Miệng cời buốt giá

Trang 32

Chân không giày (Đồng Chí)

Với Đồng chí Chính Hữu gần nh tìm đợc con đờng đi của mình và phong

cách thơ của ông dần dần đợc ổn định, bớt đi các màu mè Tuy nhiên, thì giọng thơ dễ dãi cha chịu tắt sau Đồng chí ít nhất còn trở lại một lần trong bài Tháng năm ra trận ở đây vẫn còn phảng phất hơi hớng xa cũ ở những câu Một đi là chẳng hẹn về không, Mắt nhắm nghìn thu, Hồn nở muôn sao Con

ngời tiểu t sản, riêng t muốn xoá mình đi, để hoà nhập vào đời sống rộng lớn của đất nớc Nhng sự hoà nhập còn cha đến độ, trong tình cảm còn pha lẫn nhiều hiu hắt cô đơn:

Hôm nay tôi nhớ Thành phố Vinh nho nhỏ

Xa xôi nh tiếng thở dài

Câu thơ hay mà sao cứ nh của thời nào vậy Lúc này, thơ Chính Hữu có khuynh hớng thể hiện tâm trạng, hiện thực chỉ là những nét mảnh rời rạc chỉ

đủ để gợi cảm xúc chứ không đủ để tả hoàn cảnh sự kiện Bài thơ sáng hôm nay là một ví dụ:

Quê ta lên khói cơm mùa

Ai hát tin về thắng trận Bâng khuâng nắng nghiêng mái nhà

Chất thơ đặt trên nền hiện thực vui, ngày đợc mùa và tin thắng trận.Tác

giả muốn nói tới lòng vui, nhng âm hởng của câu thơ Bâng khuâng nắng nghiêng mái nhà không dẫn ta về phía hiện thực vui, mà lại dẫn ta tới một

vùng xa vắng trong tâm tởng, ngời ta yêu sức gợi của câu thơ, nhng lại cảm thấy có sự chênh vênh ở bài thơ Nhng quá trình lao động thơ của Chính Hữu

đã nhanh chóng gạt bỏ đợc lối viết đó Đọc những bài thơ sau 1954, thơ ông

đã vững chãi lên rõ rệt Chẳng hạn, ở hai bài thơ cùng một loại đề tài ra trận Bài Tháng năm ra trận (1948) nói đến một không gian, thời gian tng bừng, náo nức, nhng lại mang một khí vị xa xa, ngời ra đi có vẻ là một tráng sĩ thời nào

Trang 33

hơn một anh bộ đội cụ Hồ Lòng quả cảm của Chính Hữu có tính cách thẩm

mỹ hơn là thực chất Câu thơ đẹp nhng không chứa việc đời:

Ai về nhắn hộ cho thôn xóm Một đi là hẹn chẳng về không Mùa thu thây giặc chất sông núi Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng

Đến bài Đờng ra mặt trận (1965) đã có sự đổi khác Ngay trong nhịp

điệu chúng ta đã bắt gặp cái ríu rít của lòng vui, ngời đọc nh đợc sống trong không khí tng bừng thật sự, nghe nóng hổi hơi thở của cuộc sống con ngời, tấm lòng ông mở ra khoáng đạt và giản dị, vui chung, vui riêng quyện với nhau, câu thơ mất đi cái h ảo của những rung động tinh tế ban đầu nh trong

Tháng năm ra trận, nhng lại thêm hình ảnh hiện thực yêu đời, những bớc chân

ríu rít, tiếng cời hăm hở, cánh đồng lấp lánh bánh xe reo, ngọn khói vẩy:

Xóm dới, làng trên, con trai con gái Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau Súng nhỏ súng to chiến trờng chật chội Tiếng cời hăm hở đầy sông, đầy cầu

Nh vậy, dõi theo quá trình sáng tác của Chính Hữu, chúng ta thấy tác giả

đã sớm phát hiện đợc những mặt mạnh, mặt yếu của mình và khắc phục có hiệu quả Tuy là ngời có thành công từ bài thơ đầu, nhng Chính Hữu vẫn tiến những bớc tiến vững chắc Từ đồng chí đến th nhà là một chặng và từ th nhà

đến những bài thơ chống Mỹ và sau hoà bình là chặng thứ hai

Chính Hữu là nhà thơ sớm tạo đợc cái tên, nhng lúc nào cũng vậy làm

một bài thơ đối với ông không khó, nhng thời gian để xem lại, đắn đo, sửa chữa, vất vả khó khăn hơn nhiều Thờng trực trong ông luôn là một sự đấu tranh, trăn trở làm sao để đa thơ hớng đến sự cô đọng, súc tích

Vì thế, khi viết về phong cách hay thói quen lao động nghệ thuật này của Chính Hữu, nhà phê bình văn học Nhị Ca đã viết “Anh giống nh ngời vẽ tranh

Trang 34

tĩnh vật, đứng trớc chiếc bình pha lê, hết sức cố gắng làm sao thể hiện không phải là hình khối, màu sắc, vị trí mà chính là các tia sáng lung linh trong suốt, vô hình ánh lên từ chất liệu”.

Trong nhiều bài ta thấy Chính Hữu luôn luôn tỏ ra mới hiểu đợc, có

những tứ thơ, ông viết đi viết lại nhiều lần, trong nhiều năm xa cách nhau, mà hình nh cha nói hết đợc điều muốn nói, cha cắt nghĩa đợc đầy đủ ngụ ý sâu xa của sự việc [8, 182]

Sự định hình phong cách của Chính Hữu có sự phát triển và ngày càng rõ nét Chính Hữu đã đem đến cho ngời đọc một cái nhìn mới mẻ về cuộc sống,

về con ngời thông qua những hình tợng nghệ thuật độc đáo và những phơng thức, phơng tiện thể hiện đặc thù in đậm dấu ấn cá tính của tác giả

Điều đó đợc thể hiện rõ trong thơ ông giai đoạn sau này, Chính Hữu tiến thêm một bớc nữa trong việc nâng cao phẩm chất trí tuệ cho thơ, từ những việc bình thờng ông phát hiện lý giải, thờng là lần lại quá trình để chúng ta hiểu thêm cái hôm nay mà thấy rõ trách nhiệm hơn, trớc cuộc đời Ngay trong bài

Ký hoạ mùa xuân viết năm 1977 ông muốn biểu lộ một niềm vui trớc đất nớc

đổi thay trong hoà bình xây dựng, nhng đã phảng phất chất hoài niệm, hoài niệm về cái ngõ chật hẹp hôm trớc ta qua và không dứt ra đợc những tháng

này quằn quại khổ đau để rồi tiếp đến những bài nhớ khác, nhớ những cô gái

Trờng Sơn, những ngời bạn ở trung đoàn cũ, những đồng đội đã nằm xuống, những ngày niên thiếu ở quê nhà và đặc biệt là, Ngời bộ hành lặng lẽ Đây

là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy, nó nh là một sự đúc kết sâu sắc của cuộc đời một con ngời hơn 50 năm cầm bút và cầm súng, muốn nhắn gửi lại cho các thế hệ con cháu mai sau

Rõ ràng, phong cách thơ Chính Hữu không ngừng phát triển và đợc trau dồi Mặc dầu ở nhiều bài thơ vẫn còn những cái gì đó tích hợp phong cách thơ ngày xa, nhng đã đợc nâng cao hơn, nó khảm vào từng bài một nét mới

Thơ Chính Hữu càng ngày càng gia tăng chất nghĩ, giàu chất trí tuệ, đi sâu vào chiêm nghiệm, thấm đẫm thế sự Sự hoài niệm, nổi nhớ trong thơ ông không phải chỉ là nhớ để mà nhớ mà là sự nhớ lại và suy nghĩ, là sự chiêm

Trang 35

nghiệm thâm trầm về cuộc đời Điều này, hoàn toàn nhất quán với phong cách thơ Chính Hữu ở giai đoạn đầu Đó là giọng thơ thiên về khái quát, không giống với thứ thơ phản ánh từng sự việc, miêu tả từng hoàn cảch, đặc biệt thơ viết ngay tại trận Mặt khác, bên cạnh đó thơ ông cũng phóng khoáng hơn, không chặt chẽ nh trớc.

Chơng 2 hình tợng tác giả và hiện thực cuộc sống

con ngời trong thơ Chính hữu

2.1 Hình tợng tác giả trong thơ Chính Hữu

Trang 36

2.1.1 Khái niệm

Đã có nhiều ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi nh M.Bakhtin, M.khrapchencô, Likhachop, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân về khái niệm hình tợng tác giả Nhìn chung, các ý kiến đều khẳng định hình tuợng tác giả là

sự biểu hiện của tác giả trong tác phẩm của mình, cũng giống nh hình tợng nhân vật nhng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếu hình tợng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con ngời và tính cách nhân vật, thì hình tợng tác giả đợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới nhân vật Hình tợng tác giả trong tác phẩm luôn là một thực tế không phủ nhận, nó hàm chứa một kiểu tác giả bên trong, là cái đợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W.Gơt nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể dù muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm

tổ chức của tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm” [61, 55]

Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong tác phẩm là một vấn đề đang đợc nghiên cứu Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở phơng diện ngôn ngữ,

có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm nh từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì, trong lập tr-ờng đời sống đến giọng điệu, lời ca Trong giọng điệu không chỉ giọng điệu ngời trần thuật mà cả giọng điệu nhân vật Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu tác giả Theo một cách nhìn hợp lý thì hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở cái nhìn riêng độc đáo nhất quán có ý nghĩa t tởng đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng

điệu nhân vật và ở sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình Nhvậy, có thể nói sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu là 3 yếu tố cơ bản tạo thành hình tợng tác giả trong thế giới nghệ thuật của họ

Trang 37

Trong sáng tác văn học, sản phẩm tạo nên tác phẩm văn học nh là sản phẩm cụ thể, xác định Tác phẩm văn học là quá trình tồn tại qua nhiều giai

đoạn ý đồ, tởng tợng, văn bản, sự khách thể hoá, ý đồ sáng tạo có tính chất ký hiệu và sự cảm thụ của ngời thởng thức Quá trình đó đợc thể hiện ở cái nhìn

độc đáo của nhà văn, thống nhất với nó là các phơng tiện biểu hiện Đó là sự thống nhất khách thể (hiện thực cuộc sống) và chủ thể (cái nhìn của nhà văn),

nhà văn lựa chọn thể loại văn học nh là phơng tiện để chuyển tải toàn bộ nội dung trong ý đồ sáng tạo của mình Nhà văn Nga Lê ônit Lê ônốp nói: “Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và là một khám phá về nội dung” Tác phẩm văn học chứa đựng trong đó toàn bộ quan niệm về thế giới và con ngời, thể loại văn học chứa đựng trong đó vai trò của hình tợng tác giả ở bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng tồn tại, chứa đựng hai thế giới: thế giới hình tợng mà tác giả xây dựng và hình tợng tác giả Hình tợng tác giả bao giờ cũng đứng cao hơn tác phẩm, đóng vai trò là ngời kể chuyện, dẫn chuyện Có khi điểm nhìn nhà văn “trùng khít” với hình tợng tác phẩm, nhng nói chung điểm nhìn tác phẩm bao quát hơn để hớng ngời đọc nhận thức theo hớng đi của mình Trên nét lớn hình tợng tác giả trong văn xuôi khác với hình tợng tác giả trong thơ Hình tợng tác giả vừa là ngời thiết kế, vừa là ngời thi công để tác phẩm

có đợc giọng điệu riêng biệt, có tiếng nói riêng đòi hỏi nhà văn phải tìm kiếm, biến đổi các hình thức văn học theo cách nhận thức riêng nhng vẫn đảm bảo tính thống nhất của thể loại

Thơ là hình thái nghệ thuật đặc biệt từ cấu trúc ngôn ngữ đến cách sử dụng vần điệu âm thanh, ngôn ngữ thơ có tính chất biểu hiện bằng cảm xúc

Đặc biệt quan trọng nhất của thể thơ trữ tình là bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua những ấn tợng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan đối với nhân sinh, sự miêu tả ngoại cảnh chỉ phục tùng nhiệm vụ trữ tình, nhng mặt khác, cái tôi trữ tình luôn cảm xúc thực tại trên tinh thần phổ quát chạm đến cái chung tồn tại của con ngời Nhân vật trữ tình là hình tợng trung tâm của tác giả, có khi cái tôi bộc lộ trực tiếp, có khi vừa hoá thân, vừa

Trang 38

phân thân, có khi tự biểu hiện Cái tôi trữ tình - cái tôi tác giả hết sức phong

phú và đem lại nhiều cảm xúc mới mẻ cho độc giả

Sự phát triển nghệ thuật không tách rời với sự sáng tạo của nhà văn, cái

nhìn về chiều sâu của nhà văn đối với cuộc sống đó là cái nhìn có tính chất phát hiện đem đến cái mới cho văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn họ “nghệ

thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy, nó đòi hỏi nhà văn phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình” [29, 130] Muốn vậy nhà văn phải có một trình độ khái quát để nắm bắt những quy luật tất yếu của cuộc sống

Cái nhìn nghệ thuật của tác giả là cái nhìn xuyên suốt, bao trùm, trở thành đờng nét riêng Sự thật của cuộc sống không thể tồn tại ngoài cái nhìn thế giới của cá nhân, cái nhìn này vốn có ở ngời nghệ sĩ thực thụ Tính đặc thù của cái nhìn về cuộc sống trong sáng tác tự bản thân nó hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phá cách cơ bản, cái điển hình trong mọi hiện tợng văn học Cái nhìn sắc bén của nhà văn là khả năng nắm bắt, khám phá cuộc sống, mô tả ph-

ơng diện hoạt động của con ngời, tâm lý con ngời.

Cái nhìn của nhà văn càng tỉnh táo bao nhiêu càng thâm nhập sâu vào thực chất sự vật bấy nhiêu và từ đó có những khái quát nghệ thuật chính xác nhiều ý nghĩa Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn M.Khrapchencô nhận xét:

“Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [61, 65] Nhà văn Pháp Max - Xen prutxt có nói: “Đối với nhà văn cũng nh

nhà hoạ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỷ thuật mà vấn đề cái nhìn Đó

là sự khám phá mà ngời ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp bởi đó là cái nhìn khám phá về chất, chỉ có đợc trong cảm nhận về thế giới một cái cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [28, 52] Do vậy, cái nhìn là biểu hiện cảm nhận cuộc sống của tác giả, cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó phát hiện ra cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài Cái nhìn xuất phát từ một cá thể mang thị hiếu, tình cảm yêu ghét, thể hiện t tởng đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật, cách mô tả của

Trang 39

nhà văn Cái nhìn tuyệt nhiên không thuần tuý là kỹ thuật, hình thức hay chỉ là

sở trờng, là kỹ xảo hay mẹo vặt trong cách cảm nhận về thế giới mà là năng lực đánh giá, là nét riêng của ngời nghệ sĩ Phong cách gắn với thế giới quan, gắn bó với phẩm chất, nhân cách, tài năng của ngời nghệ sĩ, chứ không phải là những thao tác kỹ thuật hay trò chơi làm xiếc về ngôn từ Phong cách là cách khám phá về chất, chỉ có đợc trong cảm nhận thế giới. Cái nhìn thể hiện ở chi

tiết nghệ thuật Bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn, chi tiết nghệ thuật hớng

đến cách tiếp cận cuộc sống của độc giả Khi chúng ta nhìn ra nhà văn này nhìn cuộc sống ở mặt này, nhà văn kia nhìn cuộc sống ở mặt khác tức là ta nhìn ra chân dung của từng tác giả

Mỗi nhà văn có một cái nhìn riêng, độc đáo về con ngời và thế giới Chính Hữu một nhà thơ của văn học kháng chiến ông nhìn con ngời và thế giới ở quy luật phát triển gắn bó với cách mạng, với dân tộc Dới những cái nhìn nghệ thuật độc đáo ấy, các nghệ sĩ đã phát hiện ra biết bao nhiêu điều mới mẻ về sự đa dạng, phong phú của đời sống hiện thực thời đại mình Nh thế cũng có nghĩa là nét riêng, tính độc đáo của thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn là do nét riêng, tính độc đáo trong cái nhìn của từng tác giả Muốn vậy, nhà văn không chỉ có năng lực mà còn phải có phẩm chất cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cao cả

Thế giới nghệ thuật không tách rời hình tợng nghệ thuật của tác phẩm và

hình tợng nhà văn Nhà văn vừa là ngời thiết kế đồng thời cũng là ngời thi công Trong nhiều trờng hợp nh kịch, tác giả vừa là ngời sáng tạo kịch bản văn học đồng thời cũng chính là đạo diễn Vai trò nhà văn khi là ngời chứng kiến khi lại là ngời dẫn dắt ngời đọc đi sâu vào thế giới hình tợng của tác phẩm văn học Ngời phát ngôn (khi là tác giả) dù là khách quan đến đâu cũng mang dấu

ấn cá nhân xuất hiện với t cách là ngời thiết kế sắp xếp theo ý đồ riêng của mỗi nhà văn Có thể thấy bóng dáng của ngời phát ngôn qua kết cấu của tác phẩm, qua thái độ của nhà văn thể hiện bằng ngôn ngữ Trong các tác phẩm trung đại, hình tợng ngời phát ngôn thể hiện rất rõ nét, vừa là ngời dẫn dắt câu chuyện vừa là ngời tỏ thái độ rõ ràng Chẳng hạn nh hình tợng tác giả trong

Trang 40

các truyện Nôm “bác học” Song đến với các tác phẩm hiện đại, hình tợng tác giả ít xuất hiện trực tiếp mà thờng hoá thân vào hình tợng nhân vật trữ tình Cũng có lúc tác giả xuất hiện trở thành hình tợng

Giọng điệu là yếu tố đặc trng của hình tợng tác giả trong tác phẩm Nếu trong đời sống chúng ta chỉ nghe giọng nói là nhận ra con ngời thì trong văn học cũng vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả, hệ số ấy là giọng điệu mang nội dung tình cảm và ứng xử các hình tợng đời sống “Hệ số tình cảm của lời văn đợc thể hiện trớc hết ở giọng điệu cơ bản” [29, 128].

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập

tr-ờng, t tởng đạo đức của nhà văn đối với hiện tợng đợc miêu tả trong lời văn quy định cách xng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ, xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu phản ánh lập trờng xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho ngời đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn cha thể viết ra đợc tác phẩm mặc dù đã có đầy đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật” [29,112 - 113]

Mỗi tác phẩm có giọng điệu chính nhng bên cạnh đó có giọng điệu khác

Sự thay đổi giọng điệu chính là sự thay đổi không khí của tác phẩm Giọng

điệu là sự thể hiện tình cảm của nhà văn đối với thế giới hình tợng của tác phẩm Giọng điệu phụ thuộc vào thế giới tâm hồn riêng của nhà văn Chẳng hạn, Trần Hữu Thung một nhà thơ của nông thôn, lớn lên ở nông thôn và sống trọn cuộc đời ở nông thôn xứ Nghệ, nên giọng điệu trong thơ ông chịu ảnh h-ởng lớn của thể loại “dặm, vè” xứ Nghệ Tố Hữu một nhà thơ cách mạng, luôn tràn đầy lạc quan, giọng điệu của ông rắn rỏi, dõng dạc, hùng tráng Giọng Chính Hữu lại có nét đặc sắc riêng, khi hào sảng ngợi ca, khi tâm tình nhỏ nhẹ, nhng cũng có lúc giọng điệu trong thơ ông chiêm nghiệm thâm trầm, bình lặng

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt (2007), Nghệ thuật thi ca, (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy dịch), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Arixtôt
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Lại Nguyên Ân (2000), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2000
4. Nguyễn Nhã Bản - Ngô Thu Hiền (1994, Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại qua thơ Tố Hữu và Chính Hữu - Tạp chí Văn học, số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại qua thơ Tố Hữu và Chính Hữu -" Tạp chí "Văn học
5. Bakhtin M. (1993), Những vấn đề thi pháp Đoxtoevski, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đoxtoevski
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Lê Bảo (1999), Quang Dũng - Chính Hữu - nhà văn và tác phẩm trong nhà trờng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Dũng - Chính Hữu - nhà văn và tác phẩm trong nhà trờng
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Lê Bảo (2005), Thơ Việt Nam, tác giả tác phẩm, lời bình, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ Việt Nam, tác giả tác phẩm, lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
8. Ngô Vĩnh Bình tuyển chọn (1998), Tuyển tập thơ Chính Hữu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ Chính Hữu", Nxb "Văn học
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình tuyển chọn
Nhà XB: Nxb "Văn học"
Năm: 1998
9. Phan Kế Bính (1930), Việt Hán văn khảo, Trung Bắc Tân Văn xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Năm: 1930
10. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
11. Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca
Tác giả: Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
12. Văn Cao (1957), Một vài ý nghĩ về thơ, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý nghĩ về thơ
Tác giả: Văn Cao
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1957
13. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: thơ Việt Nam dới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
14. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn đề lý luận của Văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận của Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
16. Phan Huy Dũng (2000), Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình, Thông báo Khoa học Đại học Vinh (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình, Thông báo Khoa học
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2000
17. Phan Huy Dũng (1999), Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc , Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc", Tạp chí "Văn học
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
18. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
19. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
20. Phạm Văn Đồng (1973), Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và ngời nghệ sĩ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và ngời nghệ sĩ
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1973
21. Trinh Đờng (1995), Một thế kỷ thơ Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thế kỷ thơ Việt Nam
Tác giả: Trinh Đờng
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w