Lịch sử vấn đề nghiên cứu Là một lãnh tụ của phong trào Cần Vơng kháng Pháp nêntrớc đây Nguyễn Quang Bích đợc nhắc đến nhiều ở vị trímột danh nhân lịch sử cùng với những tên tuổi nh Nguy
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Nguyễn Hơng giang
Thế giới nghệ thuật thơ nguyễn quang bích
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2007
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 3
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài 4
Chơng 1 Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn
1.2 Đặc điểm loại hình của hình tợng tác giả trong thơ
Nguyễn Quang
1.3 Sự tự thể hiện của Nguyễn Quang Bích trong thơ 29
Chơng 2 Không gian, thời gian, cuộc sống và con
Trang 4Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Quang Bích là một hiện tợng độc đáo củavăn học nửa sau thế kỷ XIX Cho đến nay việc tìm hiểunghiên cứu Nguyễn Quang Bích trên nhiều phơng diện vẫn
là một bài toán còn nhiều ẩn số đặt ra cho giới nghiên cứu
1.2 Thế giới nghệ thuật thơ của Nguyễn Quang Bích
có nhiều điều thú vị nhng cha có nhà nghiên cứu nào tìmhiểu vấn đề này một cách đầy đủ, hệ thống
1.3 Nghiên cứu vấn đề này nhằm giúp hiểu rõ hơn vềthơ Nguyễn Quang Bích, từ đó xác định thoả đáng hơnnhững đóng góp cũng nh vị trí của ông trong dòng văn họcyêu nớc nửa sau thế kỷ XIX
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Là một lãnh tụ của phong trào Cần Vơng kháng Pháp nêntrớc đây Nguyễn Quang Bích đợc nhắc đến nhiều ở vị trímột danh nhân lịch sử cùng với những tên tuổi nh NguyễnHữu Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn
Đình Chiểu… Thơ văn của ông ngoại trừ một số tác phẩm đợc
đánh giá cao nh Th trả lời quân Pháp còn lại cũng cha đợc
tiếp cận và nghiên cứu nhiều
Có công lớn trong việc giới thiệu nhà thơ Nguyễn QuangBích với ngời đọc chính là nhóm tác giả Kiều Hữu Hỷ, LãXuân Mai, Nguyễn Xuân Bách, Nguyễn Bỉnh Khôi, Đinh
Xuân Lâm với công trình Thơ văn Nguyễn Quang Bích đợc
Trang 5xuất bản lần đầu vào năm 1961 và tái bản vào năm 1973.
Đây là công trình biên khảo, tập hợp khá đầy đủ thơ văn
Nguyễn Quang Bích (tập hợp đợc 97 bài thơ trong tập Ng
Phong cùng với bức th trả lời quân Pháp và một số t liệu khác).
Bài giới thiệu của Đinh Xuân Lâm đã đa ra một cái nhìn khátoàn diện về con ngời, cuộc đời cũng nh thơ văn Nguyễn
Quang Bích và đánh giá cao tiếng nói yêu nớc trong tập Ng
phong “…t tởng và tình cảm của ông bắt nguồn sâu từ
trong truyền thống vĩ đại không có gì quí hơn độc lập tự
do của dân tộc ta trong lịch sử” Tiếp đến là bài viết của
tác giả Bùi Văn Nguyên trong bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt
Nam xuất bản năm 1964 đã khẳng định đúng đắn vị trí
của Nguyễn Quang Bích trong dòng văn học yêu nớc cận đạiViệt Nam Giáo s cho rằng “… Sự kết hợp giữa nhà yêu nớc vàtâm hồn thi nhân đã giúp Nguyễn Quang Bích bộc lộ đợctâm hồn của một cô thần sống chết vì nớc, đồng thời ghi lại
đợc những nét chân thật về cuộc kháng chiến chống Phápcủa nghĩa quân, về thiên nhiên vùng Tây Bắc…” Tiếp theo
đó là một số bài viết về cuộc đời và thơ văn Nguyễn QuangBích của một số tác giả Lê Trí Viễn, Trần Văn Giàu, Nguyễn
Lộc, … Tác giả Nguyễn Lộc trong Văn học nửa sau thế kỷ XVIII
đến hết thế kỷ XIX đã tiếp cận với hình ảnh con ngời
Nguyễn Quang Bích trong thơ Ông cho rằng đó là con ngời
tự an ủi mình trên con đờng gập ghềnh gian nan hiểm trở,
là ngời đi nhiều, thích nói nhiều về nỗi buồn hơn là vềniềm vui Nguyễn Lộc cũng chỉ ra những hạn chế củaNguyễn Quang Bích: “…hạn chế Nguyễn Quang Bích là ở
Trang 6cách nhìn, cách cảm của bản thân nhà thơ, là hạn chế mộtnhà thơ cha vợt ra khỏi quan niệm đạo đức của một giai cấpsuy tàn, mất hết vai trò lịch sử Đồng thời cũng phản ánhtâm trạng của một số khá đông chủ yếu là những nho sỹphong kiến trớc bớc thoái trào của cuộc chiến đấu chống Pháp
giai đoạn cuối thế kỷ trớc” Nhóm tác giả Lịch sử văn học Việt
Nam giai đoạn 1858 - đầu thế kỷ XX đánh giá Ng phong thi tập có giá trị nh một cuốn nhật ký kháng chiến và thấy trong
đó là một tâm hồn lành mạnh nhng không tránh khỏi có lúc
bi quan “… từ những trang nhật ký ấy nổi bật lên tính chấtgian khổ của cuộc kháng chiến và mối tình của ngời khángchiến với núi rừng, nhân dân Tây Bắc Giá trị hiện thực của
Ng Phong thi tập ở đó và những hạn chế trong thế giới quan
của tác giả cũng ở đó, (…), từ cái buồn rầu cô độc ông đidần tới cái bi quan” Đặc biệt nhóm tác giả đề cao tâm hồnthơ “… trong giai đoạn này ngời làm thơ văn yêu nớc chốngPháp có nhiều Ngời nào cũng đáng kính phục cả, nhng kẻ đã
để lại cho ta giọng đàn muôn đời không quên, kẻ đã truyềnlại cho ta hơi sống nóng hổi của cả một thời đại chống Pháp
đã qua thì chỉ một số ít Nguyễn Quang Bích là một trong
số đó Nguyễn Quang Bích quả có tâm hồn một nhà thơ”.Những tác giả này đa phần đều tìm hiểu thơ Ng Phong dớigóc độ là tiếng nói yêu nớc chứ cha đi sâu vào giá trị văn
chơng mà Ng Phong thi tập có đợc Đến năm 1988, nhân
việc nhà nớc ta công nhận di tích lịch sử phần mộ và từ ờng Nguyễn Quang Bích, tại quê hơng Tiền Hải, tỉnh TháiBình đã tổ chức một Hội thảo khoa học về ông Cuộc hội
Trang 7đ-thảo đã tập trung nhiều về vấn đề khẳng định vị trí lịch
sử của ông trong t cách một lãnh tụ Cần Vơng còn thơ văncủa Nguyễn Quang Bích cha đợc hội thảo đi sâu Phải đến
1991, trong Lễ kỷ niệm và Hội thảo khoa học tròn một trămnăm mất Nguyễn Quang Bích tại Văn Miếu - Quốc Tử Giámthì thơ văn Nguyễn Quang Bích mới đợc tìm hiểu ở nhiềuphơng diện Các bản tham luận tại hội thảo đã đợc tổng hợp
trong công trình Nguyễn Quang Bích - nhà yêu nớc, nhà thơ
do Viện văn học biên soạn Bản tham luận của Nguyễn HuệChi đã nói rõ đặc điểm truyền thống và những cách tântrong thơ Nguyễn Quang Bích đồng thời khẳng địnhnhững đóng góp của nhà thơ cho văn học nửa sau thế kỷ
XIX Tham luận của Trần thị Băng Thanh khẳng định Ng
Phong thi tập là những vần thơ “tâm ngữ tâm” Nguyễn
Hữu Sơn “nhận diện con ngời cá nhân trong Ng Phong thi
tập”, và nhận thấy ở Nguyễn Quang Bích: “không chỉ có con
ngời phận vị, con ngời nho sĩ hành đạo trung vua yêu nớc màcòn là một cá thể không hoàn toàn nằm trong quỹ đạo o bếphong kiến quan phơng…” Cuối cùng phải kể đến bài viếtcủa Trần Đình Sử về cái buồn trong thơ Nguyễn QuangBích Theo Trần Đình Sử nỗi buồn ấy bắt nguồn từ ý niệm sốmệnh, ý niệm thời gian, đời ngời, ý niệm về tình trạng xơxác tiêu điều, ý niệm về sự bất lực… nhng cái buồn đókhông phải do thoái chí, chán nản, bạc nhợc mà do tình thế
bi kịch khách quan tạo nên, vì thế không nên gọi là tiêu cực."
Nhìn chung những bài viết điểm qua trên đây đều
đã cố gắng tìm cách lý giải những phần đóng góp riêng của
Trang 8Nguyễn Quang Bích so với các nhà văn yêu nớc cùng thời với
ông Tuy nhiên, tất cả mới là những ý kiến bớc đầu về con
ng-ời và thơ văn Nguyễn Quang Bích Thế giới nghệ thuật thơNguyễn Quang Bích cho đến nay vẫn còn là vấn đề mới mẻ,cha đợc tìm hiểu, nghiên cứu thoả đáng
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Nh tên đề tài đã nêu, đối tợng nghiên cứu của luận văn
là thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Bích Vấn đề này
cho đến nay vẫn cha là một đối tợng của công trình khoahọc chuyên biệt nào
3.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài
3.2.1 Luận văn nghiên cứu những gì là biểu hiện củathế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Bích, có sự kết hợp vớicác yếu tố khác nh thời đại, cuộc đời, sự nghiệp tác giả
3.2.2 Nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn
Quang Bích, chúng tôi dựa vào văn bản Thơ văn Nguyễn
Quang Bích của nhóm tác giả Kiều Hữu Hỷ, Lã Xuân Mai,
Nguyễn Văn Bách, Nguyễn Bỉnh Khôi, Đinh Xuân Lâm, NxbVăn Học, Hà Nội, 1973, Theo chúng tôi đây là công trìnhkhảo cứu nghiêm túc, đáng tin cậy nhất về Nguyễn QuangBích cho đến lúc này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 94.1 Nghiên cứu hình tợng tác giả trong thơ NguyễnQuang Bích nh là yếu tố trung tâm của tổ chức thế giớinghệ thuật thơ của tác giả.
4.2 Nghiên cứu thế giới ngoại giới đợc cảm nhận qua thơvăn Nguyễn Quang Bích
4.3 Khảo sát, phân tích nghệ thuật tổ chức ngôn từthơ của tác giả
5 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở của quan
điểm thi pháp học, phong cách học nghệ thuật với nhiều
ph-ơng pháp khác nhau nh: phph-ơng pháp khảo sát, phph-ơng phápphân tích – tổng hợp, phơng pháp so sánh, phơng pháp loạihình…
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơNguyễn Quang Bích với cái nhìn hệ thống, qua đây gópphần khẳng định vai trò và vị trí của Nguyễn Quang Bíchtrong văn học nửa sau thế kỷ XIX nói riêng và trong lịch sửvăn học dân tộc nói chung Kết quả của luận văn có thể là tàiliệu tham khảo cho việc giảng dạy văn học nửa sau thế kỷXIX ở học đờng
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dungluận văn đợc triển khai trong 3 chơng
Trang 10Chơng 1 Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Quang BíchChơng 2 Không gian, thời gian, cuộc sống và con ngời trongthơ Nguyễn Quang Bích
Chơng 3 Nghệ thuật tổ chức ngôn từ thơ của NguyễnQuang Bích
Chơng 1 Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Quang Bích
1.1 Khái niệm hình tợng tác giả
"Tác giả" cũng nh "tác phẩm" là những khái niệm cơ
bản đợc sử dụng nhiều nhất trong lịch sử văn học và phêbình văn học Tác giả là ngời làm ra tác phẩm Vì là ngời làm
ra tác phẩm - kẻ sáng tạo ra cái đẹp nên đã có quan điểmtuyệt đối hoá vai trò của tác giả, xem tác giả nh nhà tiên tri,
vị thần toàn năng sáng thế Do có sự phát triển của ký hiệuhọc và sự gia tăng vai trò sáng tạo của ngời đọc mà có quan
điểm ngợc lại, phủ định vai trò của tác giả, xem "tác giả đãchết", tác phẩm trở thành cái cớ để ngời đọc tự do giải mã, tự
do rót vào đó nội dung của mình UmbertoEco đã phát biểu
có phần hơi cực đoan rằng: "khi hoàn thành tác phẩm thìtác giả nên chết đi để khỏi làm nghẽn đờng đến với vănbản" Thực ra ngời đọc có vai trò lớn trong việc đồng sáng tạo
ý nghĩa tác phẩm nhng không thể quyết định trong việclàm ra hay biến mất văn bản, do đó không xoá bỏ đợc yếu tố
Trang 11tác giả nh là ngời tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm.Theo M.Bakhtin, tác giả là trung tâm tổ chức nội dung vàhình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là ngời mangcảm quan thế giới đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từtheo nguyên tắc nghệ thuật Nhìn chung hiện còn tồn tạinhiều ý kiến khác nhau về vấn đề tác giả, tác phẩm, ngời
đọc Thi pháp học hiện đại đã rất quan tâm đến "kẻ tổchức nội dung và hình thức tác phẩm", khái niệm hình tợngtác giả ra đời và đợc nghiên cứu từ đấy
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, "Hình tợng tác giả là
phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội
và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò đợcngời đọc chờ đợi Chẳng hạn tác giả bài cáo, bài chiếu tự thểhiện mình nh một bậc đế vơng, nhng tác giả bài biểu, bàitấu phải thể hiện mình nh một thần dân Cơ sở tâm lýcủa hình tợng tác giả là hình tợng cái tôi trong nhân cáchmỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật củahình tợng tác giả trong văn học chính là chất gián tiếp củavăn bản nghệ thuật văn bản của tác phẩm bao giờ cũng nh lờicủa ngời trần thuật, ngời kể chuyện hoặc nhân vật trữtình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời xây dựng rahình tợng phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất
định" [20] Định nghĩa đã nêu lên các phơng diện biểu hiệncủa hình tợng tác giả: cái tôi trữ tình, ngời trần thuật, giọng
điệu trong đó cái tôi đóng vai trò trung tâm Theo Lại
Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học khái niệm hình tợng
tác giả gắn liền với sự phát triển của nhân tố sáng tạo cá
Trang 12nhân và xem xét hình tợng tác giả với t cách là chủ thể tổchức ngôn ngữ, ngời trần thuật hiện diện trong tác phẩm.
Trần Đình Sử lại xem xét hình tợng tác giả trong đốisánh với hình tợng nhân vật và đã nêu lên đợc những đặc
điểm nổi bật của khái niệm hình tợng tác giả Theo Trần
Đình Sử hình tợng tác giả cũng là một hình tợng đợc sáng tạo
ra trong tác phẩm nh hình tợng nhân vật nhng theo mộtnguyên tác khác Nếu hình tợng nhân vật xây dựng theonguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo một quan niệm nghệthuật về con ngời và theo tính cách nhân vật thì hình tợngtác giả đợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảmnhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh Tronggiao tiếp ngời ta có nhu cầu tự biểu hiện mình với ngời đốithoại nh là ngời uyên bác, hào phóng, hiếu khách, giàu lòng
đồng cảm theo những yêu cầu tiến bộ của xã hội Cũngvậy, trong văn học các nhà văn thờng biểu hiện mình nh ng-
ời phát hiện, ngời khám phá cái mới, ngời có nhãn quan cấptiến, có cá tính nghệ sĩ Điều đó trở thành quy ớc đối vớingời đọc L.Tônxtôi từng nói, nếu trớc mắt ta là một tác giảmới, thì câu hỏi tự nhiên đặt ra "anh là con ngời nh thếnào? Anh có gì khác với tất cả những ngời mà tôi đã biết vàanh có thể cho tôi một điều gì mới về việc phải nhìn cuộcsống của chúng ta nh thế nào?" Nếu là một nhà văn đã quenthuộc thì câu hỏi sẽ là "Nào, anh có thể nói cho tôi thêm một
điều gì mới? Bây giờ anh sẽ lý giải cho tôi cuộc sống từ khíacạnh nào?"
Trang 13Hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra trong tác phẩm gắnliền với nhu cầu tự biểu hiện mình của ngòi sáng tạo - đó làtất yếu của việc sáng tạo nghệ thuật nhng phải tuân theonguyên tắc sáng tạo, là sự tìm tòi và khám phá cái mới vàmang đậm dấu ấn riêng của ngời nghệ sĩ L.Tônxtôi cũng đãnói khi đọc tác phẩm văn học hứng thú chủ yếu chính là tínhcách của tác giả thể hiện trong đó Nếu một nhà văn không
có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta khôngphải là một tác giả đáng để chú ý
Đồng quan điểm này nhà thơ Đức I.W.Goethe phát biểu:
"mỗi nhà văn bất kể muốn hay không đều miêu tả chínhmình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt" Cónghĩa cái tôi nghệ sĩ, nhà văn biểu hiện cảm nhận củamình về thế giới, cách suy nghĩ và ngôn ngữ, cách diễn đạtcủa mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tácphẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm Đó cũngchính là biểu hiện của phong cách nhà văn
Tác giả ngời Nga V.Vinôgrađôp trong công trình củamình khẳng định hình tợng tác giả là cơ sở, là trung tâmcủa phong cách ngôn ngữ Nhng quan điểm này có phần hạnhẹp vì ngoài vấn đề ngôn từ khái niệm hình tợng tác giảcòn cần phải nghiên cứu trên nhiều phơng diện khác nữa.A.Chichêrin cũng cho rằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo nhhình tợng nhân vật Đây là sự chân thật nghệ thuật, khôngphải chân lý của sự kiện, mà là chân lý của ý nghĩa, t duy,
nh chân lý của thi ca
Trang 14M.Bakhtin lại cho rằng nhân vật thuộc một không thờigian, còn tác giả thuộc một không thời gian khác, bao quát vàcảm thụ không thời gian nhân vật Tác giả nhập vào rồi thoát
ra khỏi thời gian nhân vật Tác giả nằm ngoài thế giới nhânvật, đúng hơn là tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiệnnhân vật Tác giả nên ở trên đờng ranh giới do anh ta sángtạo , lập trờng của tác giả có thể xác định qua cách mà anh
ta miêu tả bề ngoài của thế giới đó Đồng thời ông còn khẳng
định tác giả hiện diện nh một điểm nhìn, cái nhìn
Tồn tại song song với những ý kiến trên, ý kiến của nhà
lý luận văn học ngời Mỹ W.Booth xem hình tợng tác giả là cáitôi thứ hai của tác giả hiện diện trong tác phẩm và gọi đó làtác giả hàm ẩn Còn tác giả L.Ghinđơbua trong quá trìnhnghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình đã nhận thấy nhà thơthờng xuyên hình dung về mình, tự giới thiệu về mình
Nh vậy, vấn đề hình tợng tác giả đợc nhìn dới nhiềugóc độ khác nhau, nhng nhìn chung các quan điểm đa ra
đều có sự thống nhất trong việc cho rằng hình tợng tác giảkhông phải là tác giả mà đó là hình tợng toát lên trong tácphẩm Hình tợng tác giả chính là kẻ kiến thiết, tổ chức nêntác phẩm tạo ra thế giới nghệ thuật cho tác phẩm Đó chính là
kẻ đã biết sắp xếp, chiếm lĩnh hệ thống ngôn từ, các biệnpháp nghệ thuật, cũng chính là kẻ làm nên giọng điệu, t tởngcho tác phẩm Cũng chính từ đây mà khi đi tìm hình tợngtác giả chúng ta gặp những khó khăn trong việc sự biểu hiệncủa hình tợng tác giả ở phơng diện ngôn ngữ, có ngời tìm ởtrên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát,
Trang 15cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trờng đờisống, đến giọng điệu lời văn (bao gồm giọng điệu ngời trầnthuật và giọng điệu lời văn), có ngời tập trung vào mấy
điểm: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát khônggian, thời gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật và giọng
điệu Theo một cái nhìn hợp lý thì khi nghiên cứu hình ợng tác giả, cần tìm hiểu trên ba phơng diện chủ yếu: cáinhìn nghệ thuật, giọng điệu và sự thể hiện của tác giảthành hình tợng
t-1.2 Đặc điểm loại hình của hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Quang Bích
1.2.1 Từ đặc trng loại hình của hình tợng tác giả trong thơ trung đại
Theo Trần Đình Sử, tơng ứng với một kiểu văn học thì
có một kiểu tác giả sáng tạo ra nó [60] Có thể phân chiahoặc khái quát thành những kiểu tác giả khác nhau tuỳ vàonhững tiêu chí cụ thể nh tiêu chí trào phúng, phơng phápsáng tác, tiêu chí thể loại, ý thức hệ t tởng, văn hoá
Loại hình tác giả văn học trung đại là một loại hình độc
đáo Các tác giả trung đại xem việc sáng tác là việc trangtrọng, thành kính, không làm việc đùa Họ là những ngờigắn chặt văn với đạo cho nên sáng tác nghiêm túc, kể cả khi
đạt thơ trong "cầm, kỳ, thi, tửu" họ cũng đặt "văn" trongquan hệ "đức" với con ngời Chính vì thế mà nh tác giảLikhachôp đã phát biểu "ý thức công dân khuôn sáo làm chokiểu tác giả này rất khó sử dụng các chi tiết đời sống mới vàcác chi tiết nghệ thuật bất ngờ" Họ ít sáng tạo ra những cốt
Trang 16truyện mới, họ có thể tiếp thu truyền thống một cách tự dovì "tập cổ" là một đặc trng của văn học trung đại.
Tác giả văn học trung đại Việt Nam dĩ nhiên mangnhững đặc điểm loại hình của tác giả văn học trung đại nóichung, nhng vẫn có những đặc điểm riêng biệt Nhìn từgóc độ loại hình - thể loại sáng tác, thấy có hai kiểu tác giảcơ bản trong văn học trung đại Việt Nam: kiểu tác giả thơ vàkiểu tác giả văn
Một thực tế dễ nhận thấy trong văn học trung đại ViệtNam thơ vốn là thể loại giữ vị trí chủ đạo (chiếm trên 60%văn bản chữ Hán, Nôm còn lại hiện nay) Dờng nh bất cứ aihọc hành, đậu đạt hoặc đã qua chế độ khoa cử cũng đều
có thi tập để lại Và khi sáng tác dờng nh tác giả nào cũnglàm đủ mọi loại thơ "Ngôn chí", "Cảm hoài", "Vịnh sử",
"Vịnh vật", "Ký ngụ" Tuy nhiên, "nổi bật nhất vẫn là mạchthơ ngôn chí" [12 ;69] Thơ để nói chí, để bộc lộ lý tởngcủa ngời làm trai, để tỏ lòng của một thần tử đối với bậcquân vơng Cái chí của họ đặt trong mối quan hệ với vậnmệnh đất nớc, đối diện với vũ trụ càn khôn:
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì vói núi sông
(Nguyễn Công Trứ)
Lý tởng lớn lao là vậy, khát vọng đợc khẳng định, đợccống hiến hết mình là thế nhng khi gặp bối cảnh,tìnhhuống "bất nh ý" - thời loạn, "chí" chí ấy không có đất đểthoả chí nên trở thành bất đắc chí, mạch thơ chuyển từ
"Ngôn chí" sang "Cảm hoài" Từ những vân thơ bừng bừng
Trang 17khí thế chuyển sang mạch thơ đầy u t tâm sự "Cảm hoài",
"Hoài cổ", "Tâm sự", "Tuyệt mệnh"
Bằng những vần thơ mang nặng nổi niềm đất nớc ấy,kiểu tác giả thơ đã góp phần tạo ra dấu ấn đặc trng cho thơ
ca trung đại Việt Nam
Nhìn từ góc độ ý thức hệ t tởng, văn hoá thấy có haikiểu tác giả chủ yếu: kiểu tác giả Thiền gia và kiểu tác giảNho gia
Kiểu tác giả Thiền gia xuất hiện sớm vào thời Lý - Trần
và đạt đợc nhiều thành tựu nỗi bật nhng về sau thì phải mờdần Giai đoạn Lý - Trần tồn tại thế tam giáo đồng nguyêntrong đó Phật giáo đóng vai trò Quốc giáo, các nhà s thamgia vào triều chính và trở thành rờng cột quốc gia Sự thănghoa của Phật giáo ảnh hởng mạnh mẽ đến văn học (thơ ca),giữa thơ và Thiền lại có nhiều điểm gặp gỡ Cả hai đều có
sự hớng nội sâu sắc, có sự thể hiện nội tâm nhạy bén, đềutrầm t tĩnh lự, coi trọng sự diệu ngộ Cả hai đều cần đếnmột loại ngôn ngữ "ý tại ngôn ngoại" "Các tác giả Thiền gialuôn nhìn con ngời và thế giới một cách khoáng đạt, siêuthoát nhng vẫn mang một tinh thần nhập thế (hoà quang
đồng trần) tích cực Một mặt họ luôn tự giải thoát mình rakhỏi mọi giới hạn và ràng buộc của cõi tục để vơn tới cái tự dotuyệt đối, mặt khác họ lại không hề phủ nhận sự sống Haimặt tởng nh mâu thuẫn nhng thực sự lại rất thống nhấttrong thế giới quan, nhân sinh quan Thiền gia" [12; 70] Cũngchính từ sự mâu thuẫn và thống nhất ấy mà thơ Thiền đạt
Trang 18đến sự thông tuệ, sự sâu lắng, tinh tế, đạt đến sự độc
đến văn học qua thế giới quan của ngời viết Cách Nho giáohiểu quan hệ giữa thiên đạo và nhân sự, sự tồn tại của trời,
sự chi phối của Đạo, Lý của Mệnh Cách Nho giáo hình dungthực tế, vạn sự, vạn vật và lẽ biến dịch; cách Nho giáo hiểu
cổ kim (lịch sử), cách Nho giáo hình dung xã hội, sự quantrọng đặc biệt của cơng thờng, đòi hỏi con ngời có tráchnhiệm, có tình nghĩa, cảm xúc, cách suy nghĩ làm cho conngời quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế
đạo, nhân tâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử" [25; 51-52].Nho giáo đã chi phối một cách sâu rộng không chỉ trong vănchơng mà cả đời sống của dân tộc Việt nhng không cónghĩa Nho giáo chiếm lĩnh đợc toàn bộ đời sống tâm hồn,
t tởng của các nhà Nho Việt Nam và dân tộc Việt Nam
Từ kiểu tác giả Nho gia một số nhà nghiên cứu tiêu biểu
nh Trần Đình Hợu, Trần Ngọc Vơng đã phân thành ba loại:nhà Nho hành đạo, nhà Nho ẩn dật và nhà Nho tài tử Còn có
Trang 19nhiều cách phân loại khác nhng xem ra cách phân loại này
đợc nhiều ngời chấp nhận hơn vì nó sát hợp với thực tiễnsáng tác của các nhà nho Việt Nam và giúp ngời nghiên cứu có
điều kiện hơn trong nhìn nhận, khái quát những biểu hiện
đa dạng, độc đáo của nhà nho Việt Nam Tuy vậy, sự phânloại này cũng chỉ là tơng đối vì không có loại nào thuầnthành mà thờng có sự đan xen tồn tại giữa hành đạo, ẩn dật,tài tử trong một tác giả
Nhà Nho hành đạo là ngời thực hành những nguyên tắccủa đạo lý Nho giáo, sẵn sàng dấn thân nhập cuộc thực hiện
lý tởng "trí quân trạch dân", để đạt đến xã hội phong kiếnmẫu mực theo mô hình Nghiêu Thuấn… Thờng họ là nhữngngời giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy quan lại, là rờng cộtquốc gia Với vị trí trách nhiệm ấy văn chơng của họ làm racũng để phục vụ cho mục đích, lý tởng triều đình Chínhvì thế văn chơng họ làm ra là thứ văn học "chí thiện", phảihoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức, "trữ tình khôngphải là bộc bạch cái tôi cảm xúc mà bộc bạch cái ta đạo lý".Nhà nho hành đạo một cách tự nhiên gắn bó mật thiết vớiquan niệm văn học đó Văn chơng dĩ nhiên trở thành công
cụ chính, phơng tiện để thực thi giáo hoá Thứ văn chơngkhông chỉ đợc tôi luyện hàng ngày bằng các văn bản biểu,tấu, sớ… mà còn đợc củng cố ở các trờng thi Là thứ văn quanphơng, chính thống nhằm mục đích truyền đạt nhữngthông tin hành chính thì lẽ dĩ nhiên nó là những sảm phẩmhàng loạt, đợc đúc theo những khuôn mẫu xác định nên dễrơi vào khuôn sáo, cứng nhắc
Trang 20Đặc trng văn chơng của nhà Nho hành đạo là tính quyphạm cao cả về hình thức lẫn t tởng nhng điều đó không cónghĩa những sáng tác của họ khô cứng cảm xúc và loại hìnhnhà nho này không có những tác phẩm mang chất thơ Với tcách là con ngời hành động mang lý tởng cống hiến hếtmình cho dân tộc, toàn tâm toàn ý vì triều đình nên khiquốc biến, đất nớc rơi vào cảnh "quốc phá gia vong" thì hơn
ai hết họ là ngời viết nên những vần thơ tâm huyết, xúc
động:
Nhung trờng phụng mệnh thập canh đông
Vũ lợc y nhiên vị tấn công Cùng lộ ngao thiên nan trạch nhạn Phỉ đồ biến địa thợng đồn phong Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại
Tứ hải nhân dân thuỷ hoả trung Trách vọng dũ long u dũ trọng Tớng môn thâm tự quý anh hùng
(Lâm chung thời tác) Nhung trờng vâng mệnh đã mời đông
Vũ lợc còn cha lập đợc công Dân đói kêu trời xao xác nhạn Quân gian chật đất rộn ràng ong Chín lần xa giá non sông cách Bốn bể nhân dân nớc lửa nồng Trách nhiệm càng cao, càng nặng gánh Tớng môn riêng thẹn mặt anh hùng
Trang 21(Làm lúc sắp mất - Phan Đình Phùng)
Tiêu biểu cho mẫu hình nhà Nho này ở giai đoạn nửasau thế kỷ XIX, phải kể đến những tác giả Phan Đình Phùng,Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích…
Khác với nhà nho hành đạo, nhà Nho ẩn dật khi sáng táckhông bị ràng buộc với giáo hoá trực tiếp Dù vẫn chịu sự chiphối của những quan điểm "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngônchí", nhng ở ngời ẩn dật "chí" lại thờng đồng nghĩa với bất
đắc chí, và chính vì thế chúng ta mới tìm thấy ở họnhững tâm sự, những xúc cảm thành thực hơn, mang sắcthái chiêm nghiệm của con ngời cá nhân một cách thành thựchơn Chán nản với những bon chen chốn quan trờng họ rút vềquê làm bạn với thiên nhiên cây cỏ vui thú điền viên, cảm
nhận cái thảnh thơi của cảnh nhàn: Nhàn một ngày là tiên
một ngày; Nghìn vàng khôn chuộc đợc chữ nhàn Bỏ lại sau
lng chuyện thị phi, bỏ lại cổng thành những phiền muộn, bỏlại cả những tâm huyết và lý tởng của cả một đời họ trở vềtìm nơi vắng vẻ, sống cuộc sống của một ẩn sĩ mà nếu nh
có thiếu đi một tri kỷ để "trà d tửu hậu" thì đã có núi láng
giềng, chim bầu bạn, mây khách khứa, nguyệt anh tam Họ
tự cời mình về cuộc sống ấy nhung thực ra lại rất tự hào:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Ngời khôn ngời ở chốn lao xao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Một điều thờng thấy ở loại hình nhà Nho ẩn dật là mặc
dù họ luôn tự nhủ "đắp tai ngoảnh mặt" mặc cho ngoài kiathế sự biến đổi nhng trong lòng họ vẫn canh cánh một nỗi
Trang 22niềm, tấm chân tình ấy họ dành cho muôn dân NguyễnTrãi "suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn" không thì lại đếnnúi Côn Sơn nghe chim kêu vợn hót suối suối chảy róc rách nh-
ng nào đâu có thể bàng quan trớc tình cảnh trăm họ;Nguyễn Khuyến mơ giấc mơ làm một Đào Tiềm nhng tình
đời đã buộc ông phải thức giấc Những điều này đã làm chocác sáng tác của họ dù có viết về không gian khoáng đạt củathiên nhiên, đất trời, vũ trụ, dù phảng phất phong vị t tởng Lão
- Trang và hơi hớng Thiền thì nó vẫn đầy trăn trở và mangnặng u t
Ra đời khi nhà Nho hành đạo và ẩn dật đều đã hoànthiện đến trình độ "cổ điển" với những đại biểu xuất sắc
để lại tên tuổi mình lâu dài trong lịch sử dân tộc, nhng loạihình tác giả thứ 3 - Nhà nho tài tử vẫn khẳng định đợc vịtrí của mình trong đời sống xã hội đang nhiều biến độnglúc bấy giờ và sớm khẳng định tiếng nói trong sáng tác vănchơng nghệ thuật
Bớc sang thế kỷ XVIII, phong kiến Việt Nam bắt đầu cónhững dấu hiệu của sự khủng hoảng: xã hội Việt Nam tồn tại
đồng thời cả ngôi vua lẫn ngôi chúa, trên cùng một lãnh thổ
mà phân biệt thành Đàng trong với Đàng ngoài Chiến tranh
cứ thế nổ ra liên miên cùng với âm mu mu quyền đoạt lợi củacác tập đoàn Cha bao giờ nh bây giờ, ý thức hệ khủnghoảng đến nh vậy Bối cảnh ấy đẩy nhà Nho vào sự bế tắctrớc việc lựa chọn một "minh chủ" để phụng sự cũng cónghĩa là một con đờng để đi? Tìm một con đờng đi đểlàm sao không vớng vào công cuộc "tranh giành" hiện nay
Trang 23thì dễ thờng họ sẽ phải băn khoăn giữa "hành và tàng"; "xuấthay xử" Nhng lịch sử xã hội lúc này đã có sự xuất hiện củayếu tố mới: yếu tố nền kinh tế đô thị và đời sống văn hoátinh thần đô thị Việc các làng thủ công xuất hiện, mối liên
hệ giữa các quốc gia đợc mở rộng, việc xuất hiện các phốdành cho thơng nhân, thợ thủ công, các vơng hầu vui chơigiải trí… đã tạo điều kiện cho những điều mới lạ đợc nảysinh, các loại hình tình cảm cá nhân dần dà tìm ra nơi thểhiện Sống trong môi trờng ấy con ngời đang dần bỏ rơinhững quan hệ chính thống mà du nhập vào mình nhữngquan hệ phi chính thống và lẽ tất yếu họ bắt đầu ý thức vềmột cuộc sống cá nhân, ý thức về đời sống của bản thânmình và cũng không nằm ngoài quy luật đó, các nhà Nho "sẽthể hiện những sắc thái t tởng, tình cảm cũng phi cổtruyền, tạo nên trong đời sống tinh thần một luồng sinh khímới" [71;69]
Ra đời trong một bối cảnh lịch sử xã hội đã có nhiềubiến đổi nh thế nên nhà Nho tài tử coi "tài" và "tình" là haithứ làm nên giá trị đạo đức con ngời Ngời tài tử quan niệmtài theo nhiều cách: Có thể tài trị nớc cầm quân, tài tronghọc vấn… nhng với họ nhất thiết phải có tài trong văn chơng
ấy là cái tài "nhả ngọc, phun châu", rộng hơn nữa là "cầm
kỳ thi hoạ" Ngời tài tử khoe tài cậy tài nên mơ ớc họ khôngchỉ lập công danh phú quý mà còn lập nên những sự nghiệp
phi thờng vòng trời đất dọc ngang ngang dọc (Nguyễn Công Trứ), thay con tạo xoay cơn khí số (Cao Bá Quát) Chính vì
Trang 24thế "trí quân trạch dân" đối với họ là để trổ tài, thử tài chứ
họ không quan tâm nhiều đến nghĩa vụ, không coi đó làmục đích cuộc đời ở ngời tài tử cái "đa tài" đi liền với cái
"đa tình" Giữa ngời tài tử và giai nhân luôn có sự đồngcảm, "hồng nhan bạc mệnh" trở thành đề tài đáng chú ýtrong các sáng tác của họ Đây cũng là khâu đột phá để mở
ra ngả đờng cho giải phóng văn học, giải phóng t tởng vàtình cảm Những khát vọng về tình yêu, về thứ hạnh phúcvợt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo đã đợc họ nói đến, nói nhiều
và nói một cách mạnh mẽ Họ đã góp phần làm nên một nềnvăn học thực sự hớng đến con ngời với đầy đủ những tìnhcảm thiên tính ghi dấu ấn rực rỡ trong lịch sử văn học dântộc
1.2.2 …Đến đặc trng loại hình tác giả trong thơ Nguyễn Quang Bích
Sinh ra và lớn lên ở làng Trình - phố huyện Trực-Định,Phủ Kiến Xơng, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Thái Bình),
từ nhỏ Nguyễn Quang Bích đã theo học chữ thánh hiền và
ôm ấp lý tởng giúp đời thông qua con đờng khoa cử, đậu
đạt làm quan 27 tuổi mới đậu tú tài, đậu nhị giáp tiến sỹvào lúc đã 38 tuổi Mặc dù vậy ông vẫn hăng say trong côngviệc và kinh qua nhiều chức vụ: từng là tri phủ Diên khánhtỉnh Khánh Hoà, án sát Sơn Tây tế tiểu Quốc tử giám tại kinh
đô Huế, án sát Bình Định và kiêm luôn chức tuần phủ Hng
Trang 25Hoá Suốt thời gian làm quan ông luôn trăn trở suy nghĩ làmsao giúp nhân dân tạo dựng đợc cuộc sống bình yên Ôngthờng đợc nhân dân gọi là "hoạt Phật" (phật sống) Đó làphần thởng cao quý nhất mà nhân dân dành tặng cho ngời
đã suốt đời chăm lo và bảo vệ đời sống muôn dân
Thực dân Pháp xuất hiện, đất nớc biến động, triều
đình rối ren, mọi giá trị bắt đầu bị đảo lộn Lúc bấy giờtriều đình tồn tại hai phe đối lập nhau: phe chủ chiến vàphe chủ hoà Nhà Nguyễn áp dụng chiến lợc ngoại giao hoàhảo để giữ vững hoà bình nhng dần dần bị thực dân Phápkhống chế và mất quyền tự chủ ngay trên mảnh đất củadân tộc mình Vì quyền lợi gia tộc dòng họ mà nhà Nguyễn
và bè lũ tay sai cam tâm dâng nớc ta cho giặc Không nhữngvậy triều đình còn đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhândân chống giặc, khống chế hoạt động của các nghĩa quân.Lúc bấy giờ vua không ra vua thì thử hỏi bề tôi phải thờ ai?
Bế tắc, khủng hoảng giới văn thân trí thức - những kẻ từ nhỏ
đợc dạy "dân dĩ quân vi tâm, quân dĩ dân vi thể Quânthần phụ tử, tử vị phụ vong" (Dân lấy vua làm lòng, vua lấydân làm thân thể Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, tôi phảichết vì vua, con phải chết vì cha), buộc phải đứng trớcnhững sự lựa chọn Một số ngời trút bỏ mọi vớng bận ở chốncung đình trở về quê sống cuộc sống "lánh đục về trong"bảo toàn danh tiết nhng lại thấy mình đang còn mắc nợ vớinhân dân Một số kẻ cơ hội mu cầu vinh hoa phú quý màquay lng lại với nhân dân mình:
Trang 26ở đời cha dễ quên đời đặng Tính thiệt so hơn cũng gọi là
(Tôn Thọ Tờng)
Lớp ngời này cho rằng tình thế đã đến lúc nh cờ túngnớc, chống lại ngời Pháp chỉ nh "chim lấp biển" mà thôi, chibằng ra cộng tác với giặc hoạ chăng vãn hồi thế cục đợc phầnnào Vì quyền lợi cá nhân mà họ bán rẻ lơng tâm, nhânphẩm, bán rẻ dân tộc để làm tay sai cho giặc Lớp ngời nàychiếm một số lợng không nhỏ trong triều đình nhà Nguyễnlúc bấy giờ Nhng yêu nớc là truyền thống quý báu của dântộc ta, tinh thần tự hào, tự cờng dân tộc đã ăn sâu vào máuthịt của nhân dân Việt Nam vì thế dù có phải đánh đổi cảmạng sống họ cũng quyết giữ cho đợc chủ quyền đất nớc.Tinh thần ấy là điểm tựa cho mỗi ngời trong lúc quốc biến.Vua không còn là đấng minh quân nhng mỗi tấc đất ngọn
cỏ trên mảnh đất này là của cha ông để lại cháu con phảigiữ gìn ý thức dân tộc đã tiếp thêm sức mạnh cho nhândân và lớp sỹ phu giơng cao cờ nghĩa:
Vì nớc tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên h nào ngại
Trang 27"Vì cái nghĩa đáng làm" mà một Nguyễn Duy Cung"thà làm vua có hồn trung nghĩa vía còn hơn sống mà đầutây"; một Nguyễn Cao "thà chết cùng trời đất đi về"; một
Hồ Huân Nghiệp "việc nghĩa nên làm không kể đến thànhbại"… rồi còn bao nhiêu con ngời vô danh khác nữa đã ngãxuống vì mảnh đất này
Là một nhà Nho ý thức rất rõ đạo vua tôi, nghĩa quânthân, Nguyễn Quang Bích đã giơng cao ngọn cờ nghĩa cùnganh em binh sỹ và nhân dân chiến đấu cho đến hơi thởcuối cùng Mảnh đất Tây Bắc in rõ dấu chân ông, núi rừng,chim muông đã thành bầu bạn với ông trong những ngày giankhó Con ngời ấy trớc sau vẫn giữ trong tấm lòng vì nghĩalớn, vì mảnh đất dân tộc Hiện lên trong những vần thơ ông
để lại là hình ảnh một con ngời nhập thế đã hết mình vìcuộc kháng chiến Dẫu có những lúc khó khăn, tình thế củakháng chiến rơi vào bi thảm nhất, dẫu có những tháng ngàyniềm tin hy vọng bị lung lay thì ông vẫn sát cánh cùng anh
em không hề rời bỏ vị trí và luôn nhắc nhở mình cùng mọingời:
Quốc thù do tại
Tê chí vị hôi"
("Thù nớc còn đó Chí lớn cha nguôi (Văn tế ông hiệp đốc quân vụ
họ Nguyễn)
Thuở hàn Nho ông đã nuôi chí giúp đời, con đờng khoa
cử là con đờng ông đã chọn, trở thành một ông quan phụmẫu cứu giúp nhân dân là ớc mơ cháy bỏng ở anh chàng nho
Trang 28sỹ ấy Thêm vào đó ý thức làm một trang nam tử phải có
"danh gì với núi sông", khát vọng của cha mẹ đặt lên vai
ông kể từ ngày treo cung tên… Những điều đó luôn thúcgiục ông, nhắc nhở ông và cũng là điểm tựa cho ông trongsuốt thời gian kháng chiến:
Khởi bất đoạn gian khổ Phi tâm tổ sở tăng
Sỹ phu trọng cơng thờng Hoàng thiên phú tri năng"
("Gian khổ ai là không sợ hãi Chỉ vì lơng tâm không thể trái
Sỹ phu trọng cơng thờng Trời đã cho ta lơng tri, lơng năng
mà không đợc vun trồng làm sao có thể bền vững Phơng chidân lại còn bị nhiễu hại, bóc lột không phải là ít Xin bệ hạ lo
Trang 29làm sao mà bảo dỡng, vun trồng cho dân để đợc sống cònthoải mái yên ổn", thì hôm nay trớc kẻ địch Nguyễn QuangBích cũng đĩnh đạc mà tuyên bố rằng: chúng tôi lại nghĩ
đến cái nghĩa của vua tôi đứng trong trời đất mà khôngquản cái phân hoạ di đã rõ ràng nh sông kinh vị (…) Quyếtgiữ trọn cái nghĩa ấy thôi (…) nếu mà thắng mà sống lànghĩa sỹ của triều đình, nhng chẳng may mà thua màchết thì cũng là quỷ thiêng giết giặc (…) thà chịu tội với quýquốc, quyết không chịu tội với vua nhà, thà chịu tội với nhấtthời ,quyết không chịu tội với vạn thế (…) chúng tôi cam lòngchịu chết vì nghĩa vua tôi" Từ bài văn sách thi đình đếnbức th trả lời quân giặc đều bộc lộ rõ tấm lòng trung nghĩacủa Nguyễn Quang Bích Cam lòng chịu chết với nghĩa vuatôi, quyết hy sinh chứ không để chịu tội với vạn thế Với ông
và các chiến sỹ đợc chiến đấu dới lá cờ nghĩa, đợc làm điềugì đó cho non sông đất nớc thì cái chết nhẹ tựa lông hồng
Đây cũng là lý tởng của nghĩa sỹ Cần Giuộc sống đánh
giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, là ý
chí quyết một mất một còn của Nguyễn Duy Cung:
Ninh vi trung nghĩa quỷ Bất vi tầm phụ nhân Thế cứu tử dĩ hà từ, đỉnh hoạch sinh tiền án túc uý
Túng nhất sinh nhi hữu khiêm, đao phong tử hậu hữu thuỳ tri"
(Thà làm vua có hồn trung vía nghĩa Không làm ngời đeo mặt nạ đầu trâu
Trang 30Chín phần chết thể quyết thắng từ, sống dầu nấu vạc xanh không núng chí.
Một đời sống thêm từng mang tội, chết từng nhiều hình phạt có ai hay)
ấy việc đạo (hệ t tởng) và việc đời (vai trò công dân) đãhoà làm một Nguyễn Quang Bích luôn canh cánh nghĩa vuatôi, nặng lòng với hai chữ "quân thân":
Tiêu liêu thê trú ỷ cao sầu Vạn t u sầu loạn ngã tâm Bôi tửu chớc tàn duy thục thuỵ Can qua khổ tích bất thành ngâm Thiều thiều câu ảnh thôi nhân bách
ẩu ẩu ngu quang hớng gia tầm Cục lý dinh thâu thuỳ biện đắc Quân thân đầu thợng quỷ thần lâm
(Ngẫu tác) (Leo teo nhà cỏ ghếch men đồi Muôn lớp sầu dâng ruột rối bời Rợu trút say sa buồn lại ngủ Thơ đau li loạn nghẹn không lời Bóng câu thoáng cửa nhờng se dạ
Trang 31Khí kiếm phun mây những ngóng trời Thua đợc cuộc cờ đâu dễ biết
Hiếu trung hai chữ quỹ thần soi)
(Ng phong họa thi V)
(Vận tải xe sâu cha mỏi mình
Gian lao lủng nặng, biết nhng đành
Ân sâu nuôi dỡng lòng lo báo Cốt tớng xa kia vẫn bẩm sinh)
(Thơ hoạ Ng phong V) Luôn mang trong mình t tởng tấc đất, ngọn rau ơn
chúa nên nợ cơm áo phải trả đến hình hài Con trâu kéo xe
khó nhọc nhng nghĩ đến ơn nuôi dỡng thì dù khó nhọc đếnmấy cũng gắng hết sức mình để báo đáp Âu đó cũng là
đạo lý xa nay Khi cha làm tròn đạo nghĩa ấy thì trong lòng
Trang 32Nê nính hành tung điểu đạo trần Kết ốc cận dung tam ngũ bộc
(Tiễn ngời về cảm tác)
Đất khách quê ngời, mẹ già đành để lại ở quê hơng, thờigian đằng đẳng trôi dù không nói nhng trong lòng ông vẫntrông ngóng về quê hơng, nay tiễn bạn về thì tình cảm dấukín bấy lâu trỗi dậy Ông ớc gì một lần đợc đứng lại trênmảnh đất quê nhà nhng quân thù còn đó, nợ nớc cha trả hết
ông đành nén lòng để cho nớc mắt chảy vào trong Con
ng-ời Nguyễn Quang Bích chất nặng một triết lý nhân sinhkhông hớng về bản thân mà luôn hớng vào đất nớc trầmluân, không ngần ngại hy sinh cái riêng của mình
Cảm tác lơng quan nhi nữ niệm
Bức viên đồ bản chúa tâm u
(Đối hữu nhân diện
đàm) (Việc nớc rối ren đâu dám nghỉ đến vợ con làng mạc
Trang 33Vì non sông đất nớc đang làm cho vị chúa tể phải lo âu)
(Giáp mặt bạn nói
chuyện)
Trách nhiệm của bề tôi đối với vua mà Nguyễn QuangBích đang gánh vác cũng chính là trách nhiệm đối với xã tắcnon sông Trong lời dạy của Khổng Tử đề cập đến vấn đềtrung quân mà không hề nói tới ái quốc; dạy phải tuyệt đốitrung thành với vua bất kể đó là ông vua nh thế nào Luậntheo nho giáo thì trong hoàn cảnh bấy giờ sĩ phu và nhândân ta phải trung với vua Đồng Khánh (ông vua bù nhìn do ng-
ời Pháp dựng lên để dễ bề thao túng triều đình) nhngnhân dân sớm nhận ra đâu là minh quân
Hàm Nghi mới thực ra vua trung.
Còn nh Đồng Khánh là ông vua xằng
(Vè dân gian).
Khi Hàm Nghi phát chiếu Cần Vơng họ đã không ngầnngại đi theo tiếng gọi đó và ngay cả khi vua Hàm Nghi bịPháp bắt đi đày họ vẫn cứ hăng say chiến đấu (Cần Vơng
mà không có vua) thì chữ "quân thân" phải đợc hiểu thếnào đây? đó chính là lòng trung với nớc ở đây t tởng yêunớc xuất hiện với tất cả nhiệt tình gửi trên mũi gơm đầusúng kháng địch Cái t tởng yêu nớc này không có trong kinhtruyện của nho giáo, nó xuất hiện và nung nấu trong cuộc
đấu tranh một sống một chết của nhân dân Việt Nam đểgiành độc lập tự do Nó có sức mạnh hơn bất cứ thứ vũ khínào:
…Bách niên tông xã d hoài nhiệt
Trang 34Nhất phiến cơ trung tặc đởm hàng…
( Lòng ta nung nấu vì tôn miếu xã tắc trăm năm
Một tấm lòng trung cô độc của ta đủ làm cho giặc khiếp sợ )
(Quân trung sách mễ)
(Kiếm muối tìm lơng đã bấy lâu Nói gì ăn uống rợu và trâu
Tình này khôn tỏ cùng non nớc Luống để lòng tôi chẳng ngớt sầ) (Kiếm gạo cho quân)
Nguồn lơng thực luôn là vấn đề khó khăn lớn nhất, khógiải quyết nhất của bất cứ một nghĩa quân nào Một vị lãnh
đạo phải có trách nhiệm với anh em, đồng bào, NguyễnQuang Bích không thể không trăn trở trớc khó khăn này Cuộckháng chiến còn dài quân địch thì ngày càng mạnh, thếquân của ta ngày càng bị cô lập trong khi bài toán quân l-
ơng cấp bách cần giải quyết thử hỏi làm sao mà ông không
Trang 35lo lắng, sầu muộn đợc Nhng những khó khăn đó đã khôngthể làm ông và nghĩa quân gục ngã, cũng nh khi leo núi cao,
đờng gập gềnh hiểm trở họ vẫn không hề nao núng:
Chu hồi sổ lý bao Trác trác thiên tằng cao Sách mã thớng sơn đính Mãn sơn câu bồng cao
Tứ cổ vô nhân yên Chinh phu tâm đao đao
Đồng tâm sơn khả di Ninh vấn lộ hành đa
(Đăng Thái Bình Sơn) (Vài dặm non xanh bạch lộn quanh Nghìn tầng cao ngất núi chênh vênh Kim cơng quất ngựa trèo lên đỉnh.
Chỉ thấy um tùm rặt cỏ gianh Bốn phía vắng tanh hơi khỏi lửa Xui ngời hành khách dạ buồn tanh
Đồng tâm chắc hẳn dời xong núi
Đờng sá lo chi bớc gập gềnh)
(Lên núi Thái Bình)
Trong bài Sơn lộ hành tự uỷ ông cũng đã nói:
Kỵ khu mạc phạ lộ hành nan
Đồ báo d sinh thệ thốn đan
Đầu thợng quân thân thiên nhật chiếu Giang sơn đáo xứ hộ bình an
(Gập gềnh nào sợ bớc gian nan
Trang 36Cứu nớc thân già dạ sắt son Trung hiếu trên đầu trời chiếu rọi Giang sơn che chở đợc bình an)
(Đi đờng núi tự an ủi)
"Gập gềnh", "gian nan" không phải chỉ nói đờng núi
mà chính là đờng đời, chặng đờng sống và chiến đấu màngời anh hùng tự nguyện dấn thân vào Bài thơ vừa là tự an
ủi mình nhng đồng thời cổ vũ động viên anh em vững tinvào con đờng đang đi Một vị lãnh tụ, ông hiểu rất rõ ýnghĩa sức mạnh cộng đồng nên ông luôn động viên cổ vũmọi ngời "đồng tâm thì núi cũng dời đợc khó khăn sẽ vợtqua" Ông tin vào mình, tin vào cha ông, tin vào trời đất, núisông:
Nam thiên định phận đế vơng châu Tiểu sử chiêu chiêu vũ liệt u
Lân quốc giản thử tằng hữu ớc Tức quân xích hoá chính phùng lu Tấm văn thành bộc trì xài mã
Gia cát kỳ sơn xuất mộc ngu Thẳng toán kỳ đa trù bút hạ Vãn tiêu bằng cách chỉ cao thu
(Ng Phong hoạ thi I) Non sông trời định cõi Nam - bang
Võ liệt ghi truyền vẫn vẻ vang Nớc bạn đã trao lời định ớc Hoả tinh va độ bóng quay ngang Ngựa dong thành - bộc đeo thêm củi
Trang 37Trâu gỗ kỳ - sơn vận tải lơng Trù tính quân cơ nơi bút dịch Cách bằng nhằm đợi gió thu sang.
(Thơ hoạ Ng Phong I)
Bài thơ khẳng khái, tự hào và tin tởng vào tơng lại ở
đây có sự gặp gỡ t tởng của ngời xa và ngời nay:
Nam quốc sơn hà nam đế c Tiệt nhiên định phận tại thiên th
(Lý Thờng Kiệt)
Núi sông bờ cõi bao đời nay đã đợc trời phân định rạchròi Mỗi tấc đất ngọn núi, mỗi bờ sông, con suối đều ghi dấu
ấn chiến công lừng lẩy của lịch sử nớc Nam Hơn mọi lời nói
đó chính là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định chủquyền độc lập của dân tộc ta Bài thơ còn là lời nhắc nhởcon cháu hôm nay phải làm sao cho xứng đáng với nhữngchiến công oanh liệt của cha ông xa Một đất nớc đợc phân
định bởi đấng tối cao nhất, đợc vun đắp bằng truyềnthống và đợc khẳng định bằng ngoại giao hoà hảo với nớcláng giềng thì không có lý do gì chúng ta lại không tin tởngvào tơng lai của chính mình dù trớc mắt đang gặp nhữngkhó khăn Rồi tin vui sẽ đến bởi chúng ta chiến đấu bằngcông lý chân chính, bằng sức mạnh từ truyền thống Niềmtin ấy đã thổi vào nghĩa quân sức sống và hy vọng:
Quốc loạn dân sầu bất tận ai
Bỉ chung ủng hữu thái hoàn lai Cao nhân tớng lợc ủng thuỳ thủ Khải trị thiên tâm mặc giáng tài
Trang 38Phong kiếm chinh khan xung đấu diệm Bằng giao phiêu tác tỉ nam bồi
Quy tình ẩm chí vô đa viễn
Kỷ đức đài liêu ngỡng - đức đài
(Ng phong hoạ thi VI) (Nớc loạn dân sầu thảm thiết thay
Hết hồi vận bĩ thái bình đây Tớng tài sức phải đôi vai gánh Hào kiệt trời xui xuống giúp tay Thanh kiếm phong-thành tia sáng rọi Chim bằng Nam hải cánh đang bay Rợu mừng thắng trận không xa mấy Hai nớc đài cao rạng vẻ mây).
(Ng phong hoạ thi VI)
Mang cảm quan triết học phơng Đông: bỉ cực thái lai,nhà nho Nguyễn Quang Bích hy vọng với sự giúp sức của nớcbạn thành công nhất định sẽ đến với nghĩa quân, sớm haymuộn thì dân tộc ta cũng vợt qua đợc giai đoạn bĩ cực này
Niềm tin, hy vọng và ý thức chiến đấu đã làm nên mộtNguyễn Quang Bích đầy gắng gỏi, vững vàng Nhng thực
tế cuộc kháng chiến lại làm ông phải trăn trở, suy t, lo lắng.Trong con ngời ấy cũng có lúc yếu mềm, lòng đầy mâuthuẫn nhng đó chỉ là những khoảnh khắc trên con đờngdài bởi từ lâu ông ấy đã xác định "ta đã đem thân hứaquốc không cần ngời đi lại thăm nom vô ích, sau này nếu có
Trang 39nhớ đến ta cứ lấy ngày thành Hng Hoá thất hãm làm ngày giỗta" Sinh mệnh, sự sống của ông đã thuộc về thành Hng Hoá
kể từ ngày dựng cờ khởi nghĩa theo tiếng gọi Cần Vơng Lờidặn dò của ông với ngời thân đã cho ta thấy hết tâm can, ýnguyện, lý tởng và sự hy sinh cao cả của ông cho dân tộc.Lớp con cháu hôm nay cúi mình trớc hành động cao đẹp đó
1.3 Sự tự thể hiện của Nguyễn Quang Bích trong thơ
Sự thể hiện chính là sự miêu tả, hình dung của tác giả
về chính mình Con ngời luôn có nhu cầu khám phá thế giớixung quanh và khám phá chính bản thân mình Chính vìthế trong thơ nhiều khi tác giả tách mình ra thành một đốitợng mà ngắm nghía, bình phẩm và chiêm nghiệm Trongthơ nhân vật trữ tình là con ngời đồng dạng với tác giả Cáitôi trữ tình là hình tợng tác giả phản ánh trong tác phẩm, là
sự diễn tả giải bày thế giới t tởng, tình cảm riêng t thầm kíncủa tác giả Đó chính là sự tự ý thức tự đánh giá của nhà thơ
Đây là cơ sở để ngời đọc tìm hiểu về t tởng, con ngời tácgiả
Trong Ng Phong thi tập Nguyễn Quang Bích đã sáng tạo
nên một nhân vật trữ tình tiêu biểu, con ngời hiện thân củatinh thần chống Pháp của quần chúng và sĩ phu Bắc Bộtrong bối cảnh phong trào Cần Vơng và cuộc kháng chiếncủa nhân dân ở núi rừng Tây Bắc đang bớc vào giai đoạngay go, ác liệt Chính bối cảnh có ý nghĩa đặc trng nói trên
đã làm cho hình tợng nhân vật hiện lên với những chi tiết
đặc trng nhất và luôn đợc tái tạo dới nhiều dáng vẻ: quanh
Trang 40năm suốt tháng là những chuyến lội suối trèo đèo khôngngừng không nghỉ, nhng trong cuộc hành trình muôn phầnnhọc mệt ngỡ nh bất tận ấy con ngời đó từng bớc vợt lênmình để hiểu ra vẻ đẹp của núi non làng bản, dân chúng
và bền lòng tin vào lý do tồn tại của chính mình Nhìn trongthế cân bằng của một cuộc chiến tranh vệ quốc của cả dântộc giữa vùng núi và vùng xuôi, cực Nam và cực Bắc những
đóng góp này của Nguyễn Quang Bích là một thành tựukhông thể phai mờ, một nét điểm xuyết tuyệt diệu làmhoàn chỉnh bức tranh Cần Vơng chống Pháp lẫm liệt và bitráng của lịch sử và văn chơng Việt Nam cách đây hơn mộtthế kỷ [52,232-233]
Cuộc kháng chiến đợc ông coi nh một cuộc hành trìnhdài dằng dặc và ông thấy mình nh một chinh nhân đang b-
ớc đi những bớc đầy gian lao vất vả nhng vững chắc và hyvọng
Cao sơn vạn trợng lăng Thổ thạch tạp tơng ngng Hữu huyệt quảng dung cơ
Vi phong tự hạ thăng Chinh nhân khốc th gian Nhất tọa lãnh nh băng
Vĩ tai tạo hoá công Tận lực tá phi đằng
(Đăng Thái Bình
Sơn) (Núi cao ngìn trợng lên không