Còn về thơ trữ tình của Trần Tế Xơng, ít đợc các tác giả quan tâm.Nguyễn Lộc trong bài viết "Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú X- ơng" cho rằng: "Có thể nói trong phần thành cô
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh -
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS Biện Minh điền
Vinh - 2002
********
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn đợc thực hiện và hoàn thành dới sự hớng dẫn của TS Bịên Minh Điền Tôixin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Biện Minh Điền, ngời thầy giáo đã dành nhiềuthời gian và tâm huyết giúp đỡ tôi hoàn thành công trình; Xin chân thành cảm
ơn các GS, PGS, TS trong Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ; các thầy, côgiáo trong khoa Ngữ văn, khoa đào tạo Sau Đại học Trờng Đại học Vinh đã dạybảo, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và bảo vệ luận văn; Cảm ơnBan giám hiệu cùng đồng nghiệp trờng THPT Phan Đình Phùng đã tạo điềukiện về thời gian giúp tôi hoàn thành luận văn
Vinh, ngày 17 tháng 12 năm 2002
Tác giả.
Trang 3Mục lục
Trang
3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài 4
Chơng 1 Hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng 6
1.1 Khái niệm hình tợng tác giả và tính loại hình của hình tợng tác
giả trong thơ Trần Tế Xơng
6
1.1.2 Các phơng diện biểu hiện cơ bản của hình tợng tác giả trong
sáng tác của một nhà văn
7
1.2 Đặc điểm loại hình của hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng 121.2.1 Từ đặc trng loại hình của hình tợng tác giả trong thơ trung đại 121.2.2 Đến đặc trng loại hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng 19
1.3 Đặc trng hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng 21
1.3.3 Nhà thơ trào phúng - trữ tình với một giọng điệu riêng 331.3.4 Hình tợng một nhà Nho tài tử thất thế và tính chất chuyển tiếp
của một kiểu tác giả
41
Chơng 2 Hình tợng thế giới
(Hay là bức tranh thế sự, nhân tình trong thơ Trần Tế Xơng) 44
2.1 Thế giới nhân vật - con ngời trong thơ Trần Tế Xơng 44
2.2 Không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Trần Tế Xơng 63
3.2 Thể thơ và nghệ thuật tổ chức câu thơ, bài thơ của Trần Tế Xơng 94
Trang 5Mở đầu
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Trần Tế Xơng là một hiện tợng độc đáo trong lịch sử văn học dân
tộc, một hiện tợng thơ vừa rất truyền thống lại vừa mang ý nghĩa hiện đại Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu tìm hiểu Trần Tế Xơng là nhu cầu vừa cấpthiết vừa lâu dài
Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về Trần TếXơng, song cha có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu thơ Trần TếXơng nh một hệ thống nghệ thuật mang tính chỉnh thể Luận văn chúng tôi
đi vào nghiên cứu một vấn đề hết sức cơ bản - Thế giới nghệ thuật thơ Trần
Tế Xơng nhằm có thể đáp ứng yêu cầu trên.
1.2 Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế Xơng là một thế giới nghệ thuật
độc đáo Nghiên cứu vấn đề này đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có sự tiếp cậnthơ văn Trần Tế Xơng từ nhiều góc độ, nhất là từ góc độ thi pháp học - mộthớng tiếp cận đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, và điều quantrọng là, nó có khả năng mở ra những triển vọng mới trong tiếp cận, chiếmlĩnh đối tợng nghiên cứu Đi theo phơng hớng này, luận văn hy vọng sẽ có
đợc cái nhìn mới mang ý nghĩa khoa học về Trần Tế Xơng
1.3.Trần Tế Xơng không chỉ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn
học dân tộc mà còn có vị trí quan trọng trong chơng trình văn học ở học ờng Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi còn nhằm mục đích góp phần vàoviệc nâng cao chất lợng giảng dạy thơ văn Trần Tế Xơng ở nhà trờng THPThiện nay đợc tốt hơn
đ-2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tú Xơng trên lịch trình nghiên cứu gần một thế kỷ qua.
Khảo lợc lịch trình nghiên cứu về thơ văn Trần Tế Xơng gần một thế
kỷ qua chúng tôi thấy, cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 50 công trình
và bài viết Nhìn chung, giai đoạn trớc và sau năm 1945, thơ văn Tú Xơnghầu nh cha có vị trí đáng kể đối với giới nghiên cứu, ngay cả việc su tầm,giới thiệu về thơ văn Tú Xơng vẫn còn tản mạn, sơ lợc Một mặt, do Tú X-
ơng còn là một hiện tợng văn học mới lạ cha đợc chú ý đúng mức, mặt khác
do một thời gian dài, giới nghiên cứu chịu ảnh hởng khá nặng nề của phơng
Trang 6pháp xã hội học nên đã phần nào dung tục hoá những giá trị đích thực củathơ văn ông Tuy nhiên, việc nghiên cứu thơ Tú Xơng thực sự phát triểnmạnh cả về số lợng lẫn chất lợng kể từ sau 1954 Đặc biệt, bớc sang giai
đoạn 1975 đến nay, khi đất nớc đã thống nhất, giới nghiên cứu mới thực sựchú ý và đổi mới cách nhìn đối với hiện tợng thơ Tú Xơng
2.2 Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế Xơng có bao nhiêu điều thú vị,
nh một kiến trúc nghệ thuật sắc nét và tạo dựng phong phú, công phu Nhìnchung, các công trình, bài viết cũng đã phần nào thể hiện cái nhìn đángtrân trọng và có những khám phá, kiến giải khá sắc sảo về thế giới nghệthuật thơ Trần Tế Xơng trên một số phơng diện
Chẳng hạn, về vấn đề con ngời trong thơ Trần Tế Xơng,Trần ThanhMại nhận thấy: "Tú Xơng đã dựng lên trong thơ văn mình những con ngờimang nét điển hình khá rõ để nói lên tất cả những cái rác rởi, những cái giơdáy, bẩn thỉu của một xã hội, của một thời đại đặc biệt quái gỡ " [37, 77] Cóthể coi Trần Tế Xơng là nhà thơ chuyển tiếp từ nền văn học có tính chấtthuần phong kiến sang nền văn học bớc đầu có tính chất thành thị theo lối tbản chủ nghĩa, ông đem đến cho văn học những bức ký hoạ đầu tiên về đờisống đa dạng, chân thực, cụ thể và chi tiết Nguyễn Lộc với "Bức tranh xã
hội trong thơ Tú Xơng" cho rằng: "Trong thơ Tú Xơng có hình bóng những
con ngời và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã đợc "thực dân hoá" và cóhình bóng của những nhân vật mới, sinh hoạt mới - do xã hội thực dân đemlại" [37,190] Hay trong bài viết "Thơ Tú Xơng - một bớc chuyển của văn học", ông khẳng định: "Lần đầu tiên, hình ảnh những viên chức thuộc địa
sống không có lý tởng, tẻ nhạt, hình ảnh bọn me Tây, gái điếm , hình ảnhbọn con buôn giảo hoạt, đầu cơ trục lợi và hình ảnh những tên thực dân,
ông Tây, bà đầm xuất hiện trong văn học" [37,135] Vơng Trí Nhàn lại cómột nhận xét nảy sinh khi đọc loại thơ nhân vật của Tú Xơng: "Vấn đềkhông phải chỉ ở chỗ tác giả thờng xuyên miêu tả những thói xấu của cácnhân vật, tức vạch ra sự không bình thờng của nó về mặt xã hội mà điềuquan trọng hơn, là ông biết nhìn ra cả trong mặt mày hình dáng của con ng-
ời cũng có sự biến dạng" [26,45] Nguyễn Sỹ Tế nhìn nhận: "Thật kể ra khó
mà xiết đợc Thôi thì đủ nhân vật, đủ hạng ngời: quan, thông, ký, phán, bồi,
s, vải, nghị viên, ông Tây, bà đầm, me Tây đều là đặc biệt "của thời đại"cả Thôi thì đủ mọi thói h tật xấu: đảo điên, ơn hèn, khiếp nhợc, ích kỷ, háodanh, xu nịnh Tóm lại, một bức tranh xã hội đầy đủ, một tấn tuồng xã hội
Trang 7có muôn hồi ngàn lớp" [37,229] Bàn về vấn đề bức tranh hiện thực trong thơTrần Tế Xơng, cũng có một số bài viết khá sắc sảo
Về nghệ thuật trào phúng của Trần Tế Xơng, Nguyễn Lộc cho rằng:
"Tú Xơng là nhà thơ hiện thực trào phúng Phần đóng góp đáng kể nhất của
ông cho nền văn học hiện thức trào phúng Việt Nam là ở chỗ nhà thơ đãnâng nó lên một mức rõ rệt trong quá trình phát triển của nó Bằng thơ văncủa mình, Tú Xơng đã làm cho nghệ thuật phản ánh hiện thức của nền vănhọc dân tộc có thêm những đờng nét sắc sảo hơn, những màu sắc rực rỡhơn, những khía cạnh độc đáo hơn" [27, 75] Vũ Đăng Văn mạnh mẽ hơn:
"Trong cả văn học sử nớc ta, về phúng thế, từ trớc đến Tú Xơng lại cha cóngời nào dám "liều mạng" làm những vần thơ cách mạng nh thế bao giờ,thành ra Tú Xơng là một cái mốc đặc biệt ở trong làng văn học Việt Nam.Sau này, theo vết của Tú Xơng, đã có nhiều nhà thơ trào phúng khác ra đời;nhng Tú Xơng vẫn là ông tổ thơ trào phúng Việt Nam mà không ai chối cãi
đợc " [37, 223] Nguyễn Sỹ Tế cũng đánh giá rất cao Trần Tế Xơng: "Mộtcái cời sâu sắc khốc liệt" "một cái cời phong phú và linh động", "Trần Tế X-
ơng là một thiên tài trào phúng đi vào cõi bất diệt" [37, 234-235] Trần Đình
H-ợu cho rằng: "Trào phúng đả kích gắn với thời sự chính trị đã từ giữa thế kỷXIX nhng đến Tú Xơng thơ trào phúng mới thành một dòng", "phải đến
Tú Xơng, trong văn học Việt Nam mới có một nhà thơ có hứng thú thực sựvới trào phúng Không những đặc biệt chú ý đến những cảnh chớng tai gaimắt trong thực tế mà ông lại thích thú dùng cái cời để đả kích Với ông, thơtrào phúng thành một dòng riêng và ông để lại trong đó một phong cáchriêng, một cái cời mang bản sắc của Tú Xơng" [18, 75] Ngoài ra, một sốbài viết của Văn Tân, Trần Đình Sử, Tú Mỡ, Lại Nguyên Ân, Chế LanViên cũng góp phần khẳng định tính chất trào phúng trong thơ Trần Tế Xơng
Còn về thơ trữ tình của Trần Tế Xơng, ít đợc các tác giả quan tâm.Nguyễn Lộc trong bài viết "Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú X-
ơng" cho rằng: "Có thể nói trong phần thành công của mình, thơ trữ tình của
Tú Xơng không kém bất kỳ thơ trữ tình của một nhà đơng thời nào- kết cấutrong thơ trữ tình của Tú Xơng mặc dù bị đóng khung trong thể thơ Đờng luật
gò bó, vẫn là một kết cấu vào loại kiểu mẫu của thơ trữ tình" [26, 334]
Nghiên cứu thơ văn Tú Xơng xuất phát từ tín hiệu ngôn ngữ cũng đã
đợc đề cập Tiêu biểu nh các tác giả Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân,Xuân Diệu [37] Tuy nhiên đây mới chỉ là những cảm nhận, phẩm bình chaphải là những công trình khoa học dựa trên một sự khảo sát công phu, xácthực
Trang 8Ngoài ra, còn có một số bài viết của Trần Thị Trâm, Kiều Văn, Đỗ
Đức Dục, Trần Lê Văn [37] cũng đáng đợc chú ý
Các công trình bài viết đã thực sự ít nhiều có đóng góp trong việcnghiên cứu, tiếp cận thơ văn Trần Tế Xơng Song, nhìn chung vấn đề cònmang tính rời rạc, manh mún, cha tạo đợc cái nhìn hệ thống về thế giớinghệ thuật thơ Tú Xơng nh một hệ thống chỉnh thể (mà thế giới nghệ thuậtthơ Trần Tế Xơng là một hệ thống chỉnh thể độc đáo)
2.3 Nhận thấy đâylà một chỗ trống, một thiếu sót trong nghiên cứu
thơ Trần Tế Xơng nên luận văn đi vào nghiên cứu Luận văn là công trình
đầu tiên đi sâu tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Tú Xơng nh một hệ thốngchỉnh thể và nhìn nó với t cách nh một đối tợng chuyên biệt
3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Nh tên gọi của luận văn, đối tợng nghiên cứu là Thế giới nghệ thuật
thơ Trần Tế Xơng.
3.2 Giới hạn và phạm vi của đề tài
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu những gì là biểu hiện củathế giới nghệ thuật thơ , những yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật thơTrần Tế Xơng thể hiện qua toàn bộ sáng tác của ông
Văn bản tác phẩm thơ Trần Tế Xơng, luận văn dựa vào cuốn "Tú
X-ơng- tác phẩm, giai thoại" [6] Vì chúng tôi cho rằng đây là công trình sutầm, khảo cứu đáng tin cậy nhất về thơ Trần Tế Xơng hiện nay Tuy nhiên,
có một số sáng tác của Tú Xơng mà công trình su tầm này cha có dịp đavào mà lại có mặt ở những công trình su tầm khác, những sáng tác màchúng tôi xác định là của Trần Tế Xơng, chúng tôi bổ sung thêm để khảosát
4 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở của quan điểm thi pháphọc, phong cách học nghệ thuật với nhiều phơng pháp khác nhau nh: phơngpháp khảo sát; phơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp; phơng pháp cấutrúc hệ thống; phơng pháp so sánh, loại hình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 9Khảo sát, xác định đặc trng của thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế
X-ơng, luận văn nhằm vào ba nhiệm vụ chính:
5.1 Nghiên cứu Hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng nh là yếu
tố trung tâm của tổ chức thế giới nghệ thuật thơ của tác giả
5.2 Nghiên cứu Hình tợng thế giới trong thơ Trần Tế Xơng- châu
tuần chung quanh và đợc tạo lập bởi cái nhìn của tác giả (qua hình tợng tácgiả, tức tác giả hàm ẩn) trong thơ Trần Tế Xơng
5.3 Nghiên cứu Nghệ thuật tổ chức ngôn từ thơ của Trần Tế Xơng
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.2 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đợc triển khai trong ba chơng:
Trang 10Chơng 1
Hình tợng tác giả trong thơ trần tế xơng
1.1 Khái niệm hình tợng tác giả và tính loại hình của hình tợng tác
giả trong thơ Trần Tế Xơng
1.1.1 Khái niệm hình tợng tác giả
Hiện đã có rất nhiều ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu có uy tín (tiêubiểu nh M.Bakhtin, M.khrapchenkô, Likhachop, Trần Đình Sử, Lại Nguyên
Ân ) về khái niệm hình tợng tác giả Nhìn chung, các tác giả đều khẳng
định Hình tợng tác giả là sự biểu hiện của tác giả trong tác phẩm của mình,cũng giống nh hình tợng nhân vật nhng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếuhình tợng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo mộtquan niệm nghệ thuật về con ngời và theo tính cách nhân vật thì hình tợngtác giả đợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độthẩm mĩ đối với thế giới nhân vật “Hình t ợng tác giả” trong tác phẩm luôn
là một thực tế không thể phủ nhận, nó hàm chứa một kiểu tác giả bên trong,
là cái đợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W.Gớt nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể dù muốn hay không đều miêu tả chínhmình trong tác phẩm một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảmnhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diễn
đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức của tác phẩm, tạothành sự thống nhất nội tại của tác phẩm" [53, 55]
Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang
đ-ợc nghiên cứu Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở phơng diện ngônngữ, có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp
độ tác phẩm: Từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì, tronglập trờng đời sống đến giọng điệu lời ca Trong giọng điệu thì không chỉgiọng điệu của ngời trần thuật mà cả giọng điệu nhân vật Có ngời xemhình tợng tác giả biểu hiện ở: Cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quátkhông gian, thời gian, cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu tác giả Theo một cách nhìn hợp lý thì hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: Cáinhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t tởng, đạo đức, thị hiếu; giọng
điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả, hìnhdung của tác giả đối với chính mình Nh vậy, có thể nói sự tự biểu hiện, cái
Trang 11nhìn và giọng điệu là ba yếu tố cơ bản tạo thành hình tợng tác giả trong thế
giới nghệ thuật của họ
1.1.2 Các phơng diện biểu hiện cơ bản của hình tợng tác giả trong sáng tác của một nhà văn
1.1.2.1 Trong sáng tác văn học, sản phẩm tạo nên là tác phẩm văn học
nh là sản phẩm cụ thể, xác định Tác phẩm văn học là quá trình tồn tại quanhiều giai đoạn: ý đồ, tởng tợng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ sáng tạo cótính chất ký hiệu và sự cảm thụ của ngời thởng thức Quá trình đó đợc thểhiện ở cái nhìn độc đáo của nhà văn và thống nhất với nó là các phơng tiệnbiểu hiện Đó là sự thống nhất giữa khách thể (hiện thực cuộc sống) và chủthể (cái nhìn của nhà văn), nhà văn lựa chọn thể loại văn học nh là phơngtiện để chuyển tải toàn bộ nội dung trong ý đồ sáng tạo của mình Nhà vănNga Lêônít Lêônốp nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức
và là một khám phá về nội dung” Tác phẩm văn học chứa đựng trong đótoàn bộ quan niệm về thế giới và con ngời Thể loại văn học chứa đựngtrong đó vai trò của hình tợng tác giả, ở bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng
đều tồn tại chứa đựng hai thế giới tồn tại: Thế giới hình tợng mà tác giả xâydựng và hình tợng tác giả Hình tợng tác giả bao giờ cũng đứng cao hơn tácphẩm, đóng vai trò là ngời kể chuyện, dẫn chuyện Có khi điểm nhìn nhàvăn “trùng khít” với hình tợng tác phẩm, nhng nói chung điểm nhìn tácphẩm bao quát hơn để hớng ngời đọc nhận thức theo hớng đi của mình.Trên nét lớn, hình tợng tác giả trong văn xuôi khác hình tợng tác giả trongthơ Hình tợng tác giả vừa là ngời thiết kế, vừa là ngời thi công để tácphẩm có đợc giọng điệu riêng biệt, có tiếng nói riêng, đòi hỏi nhà văn phảitìm kiếm biến đổi các hình thức văn học theo cách nhận thức riêng nhngvẫn đảm bảo tính thống nhất của thể loại
Thơ là hình thái nghệ thuật đặc biệt từ cấu trúc ngôn ngữ đến cách sửdụng vần điệu, âm thanh, ngôn ngữ thơ có tính chất biểu hiện bằng cảmxúc Đặc điểm quan trọng nhất của thơ trữ tình là bộc lộ trực tiếp ý thức củacon ngời, nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua những ấn tợng, ý nghĩ,cảm xúc chủ quan đối với nhân sinh, sự miêu tả ngoại cảnh chỉ phục tùngnhiệm vụ trữ tình Nhng mặt khác, cái tôi trữ tình luôn cảm xúc thực tại trêntinh thần phổ quát chạm đến cái chung tồn tại của con ngời Nhân vật trữtình chính là hình tợng trung tâm của tác giả, có khi cái tôi bộc lộ trực tiếp,
có khi vừa hoá thân, vừa phân thân có khi tự biểu hiện Cái tôi trữ tình - cái
Trang 12tôi tác giả bộc lộ hết sức phong phú và đem lại nhiều cảm xúc mới mẻ cho
độc giả
Hình tợng tác giả là “Phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác gia vềvai trò xã hội và văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò đợc ngời đọcchờ đợi Chẳng hạn tác giả bài cáo, bài chiếu tự thể hiện mình nh một bậc
đế vơng, nhng tác giả bài biểu, bài tấu phải thể hiện mình nh một thần dân,tác giả thiên “sử ký” phải là một “sử công” đầy trách nhiệm khác với tác giảthiên “du ký” Hình tợng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức củatác giả về vai trò xã hội, t thế văn học rất đa dạng của mình Chẳng hạn,hình tợng ngời suy ngẫm và tu dỡng đạo đức trong thơ Nôm Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm Thơ Hồ Xuân Hơng hiện lên một kiểu tác giả trêuchọc, cợt nhả, lật tẩy, còn các khúc ngâm thể hiện một kiểu tác giả giải bàyoán thán trớc cuộc đời” [22, 124- 125]
1.1.2.2 Sự phát triển nghệ thuật không tách rời với sự sáng tạo của
nhà văn, cái nhìn về chiều sâu của nhà văn đối với cuộc sống đó là cái nhìn
có tính phát hiện đem đến cái mới cho văn học Bởi “Nghệ thuật là lĩnh vựccủa cái độc đáo Vì vậy nó đòi hỏi nhà văn phải có phong cách nổi bật, tức
là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”[22, 130] Muốn vậy nhà văn phải có trình độ khái quát để nắm bắt nhữngquy luật tất yếu của cuộc sống Cái nhìn nghệ thuật của tác giả là cái nhìnxuyên suốt bao trùm trở thành đờng nét riêng Sự thật của cuộc sống khôngthể tồn tại ngoài cách nhìn thế giới cá nhân, cách nhìn này vốn có ở ngờinghệ sỹ thực thụ Tính đặc thù của cách nhìn về cuộc sống trong sáng tác tựbản thân nó hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phá cách cơ bản, cái điểnhình trong mọi hiện tợng văn học Cái nhìn sắc bén của nhà văn là khả năngnắm bắt, khám phá cuộc sống, mô tả từ phơng diện mới hoạt động của conngời, tâm lý con ngời Cái nhìn của nhà văn càng tỉnh táo bao nhiêu càngthâm nhập sâu vào thực chất sự vật bấy nhiêu, và từ đó càng có những kháiquát nghệ thuật chân xác, nhiều ý nghĩa Nghệ thuật không thể thiếu cáinhìn M.Khrapchencô nhận xét “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệthuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối vớithế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [53, 65] Nhà văn Pháp Max-xenPrutxt có nói “Đối với nhà văn cũng nh nhà hoạ sĩ, phong cách không phải
là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cách nhìn Đó là sự khám phá mà ngời takhông thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một cách nhìn khám phá
Trang 13về chất, chỉ có đợc trong cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếukhông do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [16, 52].
Do vậy, cái nhìn là biểu hiện cách cảm nhận cuộc sống của tác giả, cáinhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó phát hiện ra cái đẹp,cái xấu, cái bi, cái hài Cái nhìn xuất phát từ một cá thể mang thị hiếu tìnhcảm yêu ghét thể hiện t tởng đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật cáchmô tả của nhà văn Cái nhìn tuyệt nhiên không thuần tuý là kỹ thuật thuầntuý hình thức hay chỉ là sở trờng, là kỹ xảo hay những mẹo vặt trong cáchcảm nhận về thế giới mà là năng lực đánh giá, là nét riêng của ngời nghệ sĩ.Phong cách gắn với thế giới quan, gắn bó với phẩm chất, nhân cách, tàinăng của nghệ sĩ chứ không phải là những thao tác kỹ thuật hay trò chơilàm xiếc về ngôn từ Phong cách là cách khám phá về chất chỉ có đợc trongcảm nhận thế giới Cái nhìn thể hiện ở chi tiết nghệ thuật Bởi chi tiết là
điểm rơi của cái nhìn, chi tiết nghệ thuật hớng đến cách tiếp cận cuộc sốngcủa độc giả Khi chúng ta nhìn ra nhà văn này nhìn cuộc sống ở mặt này,nhà văn kia nhìn cuộc sống ở mặt kia tức là ta nhìn ra chân dung của từngtác giả
Mỗi nhà văn có một cái nhìn riêng, độc đáo về con ngời và thế giới.Chẳng hạn Nguyễn Du có cái nhìn thấu suốt nhân tình “Có con mắt trôngthấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới nghìn đời” (Lời Mộng Liên Đờng chủnhân); Nguyễn Thị Hinh (Bà huyện Thanh Quan) quen nhìn thế giới qualăng kính chiều tà; Nguyễn Khuyến quen nhìn con ngời và thế giới qua lăngkính “Tiết” (Biện Minh Điền); Tản Đà hay nhìn thế giới qua lăng kính ái ânphong tình (Trần Đình Hợu) Còn Tú Xơng - một nhà Nho thất thế, ôngnhìn con ngời và thế giới ở quy luật biến đổi, thậm chí là đảo lộn về giá trị
do tác động quái gở của chế độ thực dân nửa phong kiến Dới những cáinhìn nghệ thuật độc đáo ấy, các nghệ sỹ đã phát hiện ra biết bao nhiêu điềumới mẻ về sự đa dạng, phong phú của đời sống và của hiện thực thời đạimình Nh thế cũng có nghĩa nét riêng, tính độc đáo của thế giới nghệ thuậttrong sáng tác của một nhà văn là do nét riêng, tính độc đáo trong cái nhìncủa từng tác giả Muốn vậy, nhà văn không chỉ có năng lực mà còn phải cóphẩm chất cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cao cả “Nói nghệ thuật tức lànói sự cao cả của tâm hồn Đẹp tức là một cái gì cao cả Đã nói đẹp là nóicao cả, có khi nhà văn tả một cái rất xấu, một tội ác, một tên giết ngời nhngcách nhìn, cách tả đó phải cao cả” [24, 85]
Trang 141.1.2.3 Thế giới nghệ thuật không tách rời hình tợng nghệ thuật của
tác phẩm và hình tợng nhà văn Nhà văn vừa là ngời thiết kế đồng thời cũng
là ngời thi công Trong nhiều trờng hợp nh kịch, tác giả vừa là ngời sáng tạokịch bản văn học đồng thời cũng chính là đạo diễn Vai trò nhà văn khi làngời chứng kiến khi lại là ngời dẫn dắt ngời đọc đi sâu vào thế giới hình t-ợng của tác phẩm văn học Ngời phát ngôn (khi là tác giả) dù là khách quan
đến đâu cũng mang dấu ấn cá nhân xuất hiện với t cách là ngời thiết kế sắpxếp theo ý đồ riêng của mỗi nhà văn Có thể thấy bóng dáng của ngời phátngôn qua kết cấu của tác phẩm, qua thái độ của nhà văn thể hiện bằng ngônngữ Trong các tác phẩm trung đại, hình tợng ngời phát ngôn thể hiện rất rõ,vừa là ngời dẫn dắt câu chuyện vừa là ngời tỏ thái độ rõ ràng, chẳng hạn nhhình tợng tác giả trong các truyện Nôm “bác học” Song đến với tác phẩmhiện đại, hình tợng tác giả ít xuất hiện trực tiếp mà thờng hoá thân vào hìnhtợng nhân vật Cũng có lúc tác giả xuất hiện trở thành hình tợng (các tácphẩm của Tú Xơng mà chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau)
Giọng điệu là yếu tố đặc trng của hình tợng tác giả trong tác phẩm.
Nếu trong đời sống ta chỉ nghe giọng nói là nhận ra con ngời thì trong vănhọc cũng vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả, hệ số ấy là giọng điệumang nội dung tình cảm và ứng xử các hình tợng đời sống “Hệ số tình cảmcủa lời văn đợc thể hiện trớc hết ở giọng điệu cơ bản” [22, 128] Giọng điệu
là “Thái độ, tình cảm, lập trờng t tởng đạo đức của nhà văn đối với hiện ợng đợc miêu tả trong lời văn qui định cách xng hộ, gọi tên, dùng từ, sắc
t-điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã,ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu phản ánh lập trờng xã hội, thái độtình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạonên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho ngời đọc Thiếu mộtgiọng điệu nhất định, nhà văn cha thể viết ra đợc tác phẩm, mặc dù đã có đủtài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật” [22, 112-113]
Một tác phẩm mang yếu tố cá nhân trong cách thể hiện chính là giọng
điệu tác phẩm Giọng điệu của tác giả thể hiện trong tác phẩm rất đa dạng,
có giọng kể, giọng tả, giọng than, giọng chửi, giọng tự sự, có giọng trữ tình, cógiọng điệu lãng mạn, giọng sử thi, giọng trữ tình trào phúng, giọng chính luận Mỗi tác phẩm có giọng điệu chính nhng bên cạnh đó có giọng điệukhác Sự thay đổi giọng điệu chính là sự thay đổi không khí của tác phẩm.Giọng điệu là sự thể hiện tình cảm của nhà văn với thế giới hình tợng củatác phẩm Giọng điệu phụ thuộc vào thế giới tâm hồn riêng của nhà văn
Trang 15Với Phan Bội Châu, nhà chí sĩ yêu nớc và cách mạng, giọng thơ của ônghào sảng, sôi trào nhiệt huyết; với Nguyễn Khuyến, giọng trữ tình đằmthắm, nếu có trào phúng thì nhẹ nhàng, hóm hỉnh, thâm thuý Còn với TúXơng, nhà Nho thất thế trong môi trờng thị dân có nhiều biến đổi, giọngcủa ông có đặc sắc riêng: Khi trào phúng nhẹ nhàng, khi cay độc, gay gắt,dữ dội, nhng cũng có lúc trữ tình đằm thắm, ân tình
Giọng điệu chính là chỗ phân biệt thế giới tâm hồn riêng của mỗi nhàvăn, thể hiện thái độ, tình cảm, lập trờng, thể hiện quan niệm về con ngời vàthế giới của nhà văn Giọng điệu là một phơng diện quan trọng của phongcách tác giả
1.1.2.4 Sự tự biểu hiện có nghĩa là sự tự thể hiện mình, tự hình dung
mình của tác giả trong thơ Sự tự biểu hiện này đợc trực tiếp bộc lộ quanhân vật trữ tình - đích thực là hiện tợng của tác giả trong thơ thờng tự xngdanh bằng tên riêng hoặc đại từ nhân xng ngôi thứ nhất Đấy thực sự là sự
tự hình dung của tác giả, tự vẽ chân dung mình của tác giả trong thơ
Sự tự biểu hiện của Tú Xơng trong thơ tỏ ra hết sức mạnh mẽ, táo bạo
Ta sẽ thấy điều này rõ hơn khi nhìn Tú Xơng trong bối cảnh chung của vănhọc trung đại Thực ra, trớc Tú Xơng, một số tác giả đã có ý thức tự biểuhiện mình một cách không giấu giếm Chẳng hạn nh Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến nhng phải đến Tú Xơng, sự tự biểuhiện này mới tỏ ra quyết liệt Ta có thể thấy sự tự biểu hiện này thể hiện ởcách xng danh (tên riêng), tự vẽ chân dung của mình, kể lai lịch mình củanhà thơ trong thơ Có ai tự giới thiệu mình nh Tú Xơng:
Vị Xuyên có Tú Xơng
Dở dở lại ơng ơng Cao lâu thờng ăn quỵt Thổ đĩ lại chơi lờng
(Thói đời)
ở những trờng hợp Tú Xơng tự xng mình bằng đại từ nhân xng ngôi một(ta, tớ, mình, tôi ) và cả ở những trờng hợp Tú Xơng gọi mình bằng "ngôithứ ba", dẫu ở cách nào, ta cũng thấy rõ mồn một một Tú Xơng đầy cá tính
Đọc Tú Xơng, nếu không biết gì về hồ sơ lý lịch, hành trạng của ông (tứcnhìn Tú Xơng với t cách một phạm trù xã hội hay là con ngời lịch sử của
ông) ta cũng thấy đầy đủ tất cả những chi tiết, đặc điểm này của một nhânvật Tú Xơng rõ rệt trong thơ ông Tuy nhiên ở đây ta không đơn giản đồng
Trang 16nhất con ngời lịch sử tác giả và con ngời cá nhân tác giả trong t cách lànhân vật trữ tình trong thơ, nhng rõ ràng mọi thông tin về con ngời lịch sửtác giả dờng nh cũng đợc đa một cách trần trụi, tự nhiên, dễ dàng vào thơ ýthức cá tính trong thơ Tú Xơng, sự tự biểu hiện mình trong thơ Tú Xơng tacha thấy ở đâu trong văn học trung đại rõ đến nh thế Có thể nói sau Tú X-
ơng, đầu thế kỷ XX, Tản Đà sẽ là ngời tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa
ý thức cá tính, tự biểu hiện trong thơ Rõ ràng sự tự biểu hiện của Tú Xơngtrong thơ là một biểu hiện đột phá của ý thức về cái Tôi tác giả trong vănhọc trung đại Tuy nhiên, thời Tú Xơng, văn học trung đại cũng đã vận
động đến chặng cuối cùng của nó Đây cũng là lúc sắp có sự thay đổi phạmtrù từ trung đại sang hiện đại trong lịch sử văn học dân tộc Sự tự biểu hiệncủa Tú Xơng trong thơ là một bớc chuẩn bị quan trọng cho sự xuất hiện củaphạm trù cái Tôi- một phạm trù thẩm mỹ trung tâm trong văn học sau đó,
đặc biệt trong thơ Mới 1932-1945
Ba phơng diện cơ bản: Sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu của TúXơng trong thơ giúp ta có thể hình dung đợc nét đặc trng riêng của mộtkiểu hình tợng tác giả độc đáo
1.2 Đặc điểm loại hình của hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng.
1.2.1 Từ đặc trng loại hình tác giả trong thơ Trung đại
Trớc khi xác định loại hình hình tợng tác giả trong văn học Trung đạithiết nghĩ cần hiểu rõ khái niệm thời Trung đại và văn học Trung đại
Thời Trung đại là khái niệm mà các nhà Nhân văn chủ nghĩa Châu Âu
đa ra từ thế kỷ XV Họ dùng khái niệm này để chỉ một thời kỳ lịch sử trong
đời sống các dân tộc Châu Âu, kể từ khi đế chế Tây La Mã sụp đổ (thế kỷV) đến bắt đầu thời kỳ Phục hng (thế kỷ XV) Các nhà khoa học, tiêu biểu
là N.I.Cônrad xác định thời Trung đại là thời kỳ kể từ sau khi tan rã chế độchiếm hữu nô lệ, bắt đầu hình thành và phát triển chế độ phong kiến cho
đến khi chế độ phong kiến bị thay thế bởi một chế độ khác có kinh tế hànghoá và phát triển cao hơn Khái niệm “Thời Trung đại” ở Châu Âu và phơngTây thờng bị gọi với hàm ý mỉa mai là “đêm trờng Trung cổ” đầy tăm tối, vì
đây là thời kỳ ngự trị tuyệt đối của quân quyền và thần quyền
Khái niệm “Thời Trung đại” cũng đợc vận dụng ở phơng Đông tuynhiên cần phải xét đến tính đặc thù của từng khu vực và từng quốc gia ThờiTrung đại ở cả phơng Tây và phơng Đông, theo N.I.Cônrad đều có cùng
Trang 17một nội dung lịch sử Đấy là thời đại hình thành và phát triển của chế độphong kiến
Tác giả văn học Trung đại thuộc loại hình tác giả độc đáo không lặplại trong lịch sử văn học dân tộc Xét loại hình hình tợng tác giả văn họcTrung đại Việt Nam, nếu xuất phát từ góc nhìn loại hình - loại thể văn họcthì ta thấy có hai kiểu tác giả chủ yếu: Kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn(trong đó kiểu tác giả thơ là chủ yếu) Kiểu tác giả văn trong Văn học Trung
đại kiêm rất nhiều t cách khác nhau, có khi là t cách quan chức, có khi lại là
t cách của một nhà sử học, có khi t cách của một nhà triết học (điều này đểlại dấu ấn rất rõ trong sáng tác của họ, ta thờng gọi "văn- triết-sử bất phân"trong văn học là do xuất phát từ điều này) Cũng có khi với t cách là nhàvăn gần nghĩa nh t cách nhà văn sau này Trong kiểu tác giả thơ thì có thểnói kiểu nhà thơ ngôn chí, cảm hoài là kiểu nhà thơ cơ bản, kiểu nhà thơnày kéo dài mãi cho đến hết thế kỷ XIX ở kiểu tác giả này, việc “ngônchí” đợc đa lên hàng đầu nh một nhu cầu khẳng định lẽ sống và lý tởng.Nhà thơ trung đại họ thờng làm thơ trong những hoàn cảnh mà cái tâm, cái
chí, cái đạo thôi thúc, họ làm thơ để bộc lộ chí hớng của mình:
Còn có một lòng âu việc nớc
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung
(Quốc âm thi tập - Thuật hứng, bài 23)
Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến đạo làm tôi, nghĩa quân thần và nói một cáchthiết tha đến lòng u ái: ái u vằng vặc: Trăng in nớc
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa
(Bạch Vân quốc âm thi tập, bài I)
Với Cao Bá Quát là chí khí, là tâm huyết: Đất trời đau nỗi bàn tay lẽ
Mây khói che đờng chí khí to!
Hay nh Nguyễn Công Trứ: Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nguyễn Đình Chiểu: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Trang 18Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
v.v
Đến Tú Xơng, ta thấy màu sắc ngôn chí đã nhạt đi nhiều, trong khi
đó màu sắc cảm hoài lại dờng nh tăng lên:
Sông xa rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tởng tiếng ai gọi đò
(Sông lấp)
Từ góc độ này ta thấy Tú Xơng vẫn cha thoát khỏi mô hình của kiểu nhàthơ Trung đại Tuy nhiên, qua tác phẩm của ông, ta có thể thấy dấu hiệucách tân của tác giả là không nhỏ
Thời Trung đại ở Việt Nam đợc xác định là từ thế kỷ X đến hết thế kỷXIX Khái niệm Văn học Trung đại Việt Nam chỉ văn học hình thành vàphát triển trong thời kỳ này (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) Có thể nhậnthấy Trần Tế Xơng (bên cạnh Nguyễn Khuyến) là tác giả của Văn họcTrung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối cùng
Văn học Trung đại Việt Nam vừa mang những đặc điểm loại hình củaVăn học Trung đại (mà rõ nhất là Văn học Trung đại Trung Hoa) vừa mangnhững đặc điểm riêng không giống Văn học Trung đại của bất cứ một nớcnào khác Điều chúng tôi quan tâm ở đây chính là chủ thể tác giả của loạihình văn học Trung đại này Có thể thấy loại hình tác giả chủ yếu của Vănhọc Trung đại Việt Nam là nhà Nho Từ kiểu nhà Nho này lại có thể phânthành ba loại: Kiểu nhà Nho hành đạo; kiểu nhà Nho ẩn dật và kiểu nhàNho tài tử Về ba mẫu hình nhà Nho này, đã có một số tác giả, tiêu biểu nhTrần Đình Hợu, Trần Ngọc Vơng, Phan Ngọc đề cập đến và đi sâunghiên cứu trên một số phơng diện (các công trình đáng kể nh Nho giáo và
văn học Việt Nam trung cận đại của Trần Đình Hợu [18], Nhà Nho tài tử
và văn học Việt Nam của Trần Ngọc Vơng [51], Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiêù của Phan Ngọc [33]) ở đây chúng tôi chủ yếu tổng hợp
lại và nhấn mạnh những vấn đề cần thiết liên quan đến công trình của mình
Về kiểu nhà Nho hành đạo:Con đờng tiến thân của các nhà Nho xa, lã
đi học, đi thi, thi đậu thì ra làm quan để “phò vua giúp dân”, để hành đạo
Trang 19giúp đời - thực thi đạo lý của ngời quân tử Văn học của những nhà Nho này
là thứ văn học “chí thiện”, phải hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức,
đợc đo bằng thớc đo đạo đức “Vì là bộc lộ tâm, chí, thơ trở thành một bộphận lớn nhất, trữ tình thành một nét chủ đạo trong văn học Nhng trữ tìnhkhông phải là bộc bạch cái Tôi cảm xúc mà bộc bạch cái Ta đạo lý (ngônchí) Vì nhằm mục đích giáo hoá văn học có chức năng truyền đạt chứkhông có chức năng phát hiện, phản ánh nhận thức Nó hớng về bắt chớcthể hiện Đạo” [18, 56] Với nhà Nho hành đạo, chiếu, biểu, cáo, tấu, sớ,thơ, phú, văn, sách, cùng các thơ văn chép sử đợc xếp lên hàng các thể loạinghiêm túc nhất Tuyệt đại đa số nhà Nho trớc khi rời khoa cử không traudồi thứ văn chơng gì hơn là văn chơng cử tử Cả sau khi đỗ đạt, ra làm quan,nhà Nho hành đạo vẫn còn nặng nợ với thứ văn chơng ấy, họ phải sử dụng
đến chúng rất thờng xuyên trong công việc hàng ngày Với họ, văn chơng dĩnhiên là công cụ chính trị, là phơng tiện để thực thi giáo hoá Tuy nhiên,sáng tác của nhà Nho hành đạo không phải không có tác động tích cực đến
sự phát triển của văn học
Về kiểu nhà Nho ẩn dật: Thực ra kiểu nhà Nho này cùng một nguồn
xuất phát nh kiểu nhà Nho hành đạo (nghĩa là cũng đi học, đi thi, thi đỗ
và cũng có thể đã làm quan - hành đạo) nhng gặp thời loạn hoặc bất
đắc ý, chủ trơng lùi về sống ẩn dật, quyết tránh xa vòng danh lợi để bảo toàn danh tiết ở Việt Nam, từ thế kỷ XVI trở đi, càng ngày càng có nhiều nhà Nho đi ở ẩn (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ) Thơ văn họ đặc biệt đề cao tiết trong sạch của nhà Nho, ca ngợi thú nhàn tản, ca ngợi cuộc sống ngèo mà cao khiết của ngời ẩn sĩ Khác với các sáng tác của nhà Nho hành đạo, sáng tác của ngời ẩn dật (theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu nh Trần Định Hợu [18], trần Ngọc Vơng [51]) không bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hoá trực tiếp, chúng ta có thể tìm thấy ở họ những tâm sự, những xúc cảm thành thực hơn, mang sắc thái chiêm nghiệm của con ng-
ời cá nhân một cách rõ ràng hơn Chán nản với thực tế của chế độ chuyên chế, chán nản cảnh chông gai bụi bặm của con đ“ ” ờng công danh, họ rút lui về nông thôn “cày ăn, đào uống, yên đòi phận” (Nguyễn Trãi) ở những tác giả nào đó, sự lựa chọn của họ là dứt khoát, quyết liệt, triệt để, ta thờng bắt gặp sự phủ định không chỉ đối với ông Vua cụ thể, một nhóm quan lại cụ thể mà là sự ngoảnh mặt, quay l“ ng đối với toàn bộ thể chế chính trị Tự nhận mình là ngời bất tài, vô dụng l“ ” “ ời biếng, ngu dốt , họ tự cho cái quyền sống với thiên nhiên, với cây cỏ ”
Trang 20hoa lá Trong sáng tác của ngời ẩn dật, ta bắt gặp một thiên nhiên trữ tình:
Gió trăng chứa cả một thuyền đầy
Của kho vô tận biết ngày nào vơi
(Nguyễn Công Trứ)
Hay Nguyễn Trãi trong bài Côn Sơn ca:
Côn Sơn thông tốt nhất trời
Thảnh thơi ngày tháng ta thời tiêu dao
Một cuộc sống có thể nói là ung dung, tự cho mình phóng túng hơn trongsinh hoạt, tự do thởng thức cái đẹp của tạo vật, cái lạc thú bình dị của đờisống: an nhàn, bình ổn, không lo âu, không vớng bận vì bổn phận, tráchnhiệm, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn
Giang hồ lăng miếu trời đôi ngã
Bị gậy cân đai đất một hòn
Với họ, “nghìn vàng khôn chuộc đ ợc chữ nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Thay cho sự giao thiệp rộng rãi, sự xớng hoạ thù tạc nơi chốn công môn, họtìm lấy cho mình một ngời tri âm tri kỷ." Thảnh thơi vui với ráng chiều
Mai là bạn cũ, Hạc là ngời quen" (Trang Tử).Hay "Sào, Do hai bạn tơng tri
" (Nguyễn Trãi) Họ chỉ mong đợc hoà mình vào, càng nồng đợm càng hay,
với “núi láng giềng, chim bầu bạn, mây khách khứa, nguyệt anh tam (em)”(Nguyễn Trãi)
Nghèo khó không làm họ phiền muộn, lo âu Trái lại, đó còn là một sự thoả mãn:
sàng vứt bỏ cả quan tớc, từ chối cả thiên chức “minh đức, tân dân” để về
“ngắm ba luống cúc” ôm “đàn không dây” hát ngêu ngao, uống rợu saymặc sức rồi ngủ tít: "Thoát trần một gót thiên nhiên Tấm thân ngoại vật là
tiên trên đời" (Đào Tiềm) Họ không cần biết ngoài kia là triều đại nào Thế sự hay chăng đã Hán, Tần
thậm chí dùng sự biến đổi của thời tiết, sự đổi thay của cảnh vật làm “lịch”
("Trong núi lâu nay không có lịch, nhìn hoa cúc nở biết trùng dơng") Xa
Trang 21lánh đời sống cộng đồng, đời sống chính trị - xã hội, ngời ẩn sĩ không baogiờ là mối đe doạ, ngợc lại nhiều lúc trở thành vật trang sức cho chế độchuyên chế Sáng tác của họ đi xa hơn sáng tác của nhà Nho hành đạo, đa lạinhững phơng diện bổ sung không thể thiếu cho sự phát triển của văn học Hai bộ phận văn chơng trên đây không bao hàm trong nó toàn bộ nềnvăn chơng nhà Nho Một giai đoạn mới của sự phát triển VHVN lại có mốiliên hệ chặt chẽ với một loại hình nhà Nho - tác giả văn học mới khác - NhàNho tài tử.
Về kiểu nhà Nho tài tử: Nhà Nho tài tử, trớc hết vẫn là nhà Nho kể từ
nguồn gốc xuất thân, học vấn và quy trình đào tạo, lẫn hệ thống cơ bản trong nhân sinh quan và thế giới quan Để tự nhận và coi mình là ngời tài tử, họ từng phải là ngời học trò xuất sắc, nếu không toàn diện thì cũng là trên một số phơng diện chính của Khổng môn.Ngời tài tử luôn tâm niệm về tính trội của mình và luôn lăm le sử dụng chúng khi có “ ”
dịp
Điểm khác biệt cơ bản giữa ngời tài tử với ngời hành đạo và ngời ẩndật là ở chỗ ngời tài tử coi “tài” và “tình” chứ không phải đạo đức làm nêngiá trị con ngời Ngời tài tử quan niệm “tài” theo nhiều cách Có thể đó làtài “trị nớc cầm quân” (kinh luân), có thể là tài trong học vấn Nhng dẫu cótài năng ấy vẫn nhất thiết phải có thêm tài văn chơng “phun châu nhả ngọc”rộng hơn nữa là “cầm kỳ thi hoạ”, những thứ nghệ thuật tài hoa, tài năng đóphải gắn với “tình” nữa mới thành ngời tài tử Ngời tài tử cậy tài, mơ ớckhông phải chỉ công danh phú quý mà còn lập nên những sự nghiệp phi th-ờng:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể
(Nguyễn Công Trứ) Thay con Tạo xoay cơn khí số
(Cao Bá Quát)
Trang 22Trong điều kiện chế độ chuyên chế, muốn có sự nghiệp tất phải quacon đờng công danh, làm theo mệnh Vua “Dù kiêu ngạo, thị tài đến đâu,ngời tài tử cũng không thể qua mặt đấng chí tôn mà có sự nghiệp phi thờng
đợc” Nhng “Trí quân trạch dân, đối với họ là để trổ tài, thử tài, chứ họkhông quan tâm nhiều đến nghĩa vụ, không coi đó là mục đích cuộc đời nhnhà Nho hành đạo Mối quan tâm của họ ở cuộc đời là việc thoả mãn hoàibão cá nhân:
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
(Nguyễn Công Trứ)
Tự thấy mình hơn ngời về tài năng, ngời tài tử cũng công khai phô ra cái tật dễ thơng -
đa tình Họ cũng từng mơ ớc,
nh các thế hệ nhà Nho trung nghĩa, chính thống trớc đây, cho l “ ơng tớng gặp đ ” ợc minh quân Nh
Trang 23chế độ chuyên chế lẫn trong học thuyết nho giáo, tài năng không phải là cái
để coi trọng Đúng nh một tác giả đã viết “Chế độ đó sống bằng tô thuế nên
điều nó quan tâm hơn cả là giữ gìn an ninh hay mở rộng lãnh thổ, nó cũngcần đến tài năng và các tớng lĩnh, các nhà quản lý, trong cuộc sống tháibình, nó cũng cần đến một số nhà văn, nhà thơ để ca tụng, mua vui Nhngnói chung, mối lo hàng đầu của Vua chúa là giữ gìn cơ nghiệp cha ông,ngăn chặn kịp thời những hành động đổi thay để giữ yên sự thống trị củadòng họ Nó cần đến trớc tiên là những phần tử trung thành, ngoan ngoãn,phục tùng, cẩn thận giữ lễ Ngời tài tử thờng cậy tài, trổ tài, thờng bất mãnvới cái họ có sẵn, muốn xáo trộn, muốn hành động, phá phách trật tự Họcũng thờng tự cao, tự phụ, ngông nghênh, vòi vĩnh, không chịu yên mệnh.Cho nên chế độ chuyên chế thờng sợ tài, nghi kỵ ngời có tài, tìm cách ứcchế họ" [18, 138] Bằng cách này hay cách khác tuyệt đại đa số ngời có tài
và đã lẫy lừng một thời kẻ trớc ngời sau đều nếm trải những nỗi đau xót màchế đội chuyên chế "dành" cho họ
Tú Xơng không ra làm quan, bởi với ông “Tám khoa ch a khỏi phạm ờng quy” Có thể xếp Tú Xơng vào loại hình nhà Nho tài tử, nhng là nhà
tr-Nho tài tử thất thế trong môi trờng thị dân có nhiều biến đổi Xã hội thựcdân nửa phong kiến đã dần thay thế xã hội phong kiến với tất cả những biếncải, lộn sòng, đảo ngợc các giá trị tác động sâu sắc đến kiểu nhà Nho nh TúXơng (Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đi sâu vào phần sau)
1.2.2 Đến đặc trng loại hình hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng
Nhà Nho tài tử đợc hình thành khi xã hội mà anh ta đang sống có đôthị, ý thức về con ngời cá nhân (ý thức hởng thụ, khẳng định cái Tôi, ý thức
về cái tài, cái tình cá nhân) phát triển Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ XuânHơng, Trần Tế Xơng, Tản Đà đều xem tài - tình là hai yếu tố quan trọng
ở đời, yếu tố làm nên giá trị con ngời
Trần Tế Xơng là một nhà Nho sống ở thành thị khi chế độ thực dân nảphong kiến đang bắt đầu hình thành Ông là nạn nhân đồng thời là sảnphẩm của thời đại ấy Ông giữ lề lối của một nhà Nho muốn tiến thân bằngcon đờng khoa cử chân chính, không chịu uốn nắn theo những luật lệ trờngthi mà ông cho là vô lý, kỳ quặc Bởi thế, Tú Xơng suốt đời không đổ cửnhân, suốt đời sống trong cảnh túng thiếu Thật ít ngời cay cú đối với thi cử
nh ông Ông không đỗ nhng những kẻ dốt nát lại đỗ Ông tự coi mình là
ng-ời có tài, nhng vì thng-ời thế mà không đỗ đạt, trong khi bao kẻ dốt nát uốn
Trang 24mình theo khuôn khổ của chế độ mới sống xênh xang với đồng tiền bấtchính, địa vị khả ố lại đỗ Tú Xơng căm ghét chế độ thi cử và cái chế độ đã
đẻ ra chế độ thi cử ấy, song vẫn không thoát ra khỏi đợc cái quy luật củachế độ này Đấy là một tấn kịch, “bi - hài kịch” của đời ông Bị xã hội bất l-
ơng gạt bỏ ra ngoài, ông nhìn cuộc đời xấu xa, giả dối ấy bằng con mắt thùghét, khinh bỉ Văn thơ ông bởi thế có những nét hiện thực sâu sắc, nhất làtrong những bài mô tả cái xã hội quan lại do thực dân mới đẻ ra và nhữnglớp ngời mới có đồng tiền, tấp tễnh học làm sang
Chúng ta biết rằng về chính trị, Tú Xơng thuộc tầng lớp phong kiếnhạng dới, nhng sinh hoạt của ông là sinh hoạt của một thị dân Ông nhìncon ngời và thế giới qua lăng kính của một nhà Nho tài tử thất thế trong môitrờng thị dân Tâm sự của Tú Xơng chính là tâm sự của một con ngời thấtthế, tâm sự chung cho những ngời thất thế bị xã hội đen bạc gạt ra ngoài.Dẫu rất nghèo nhng Tú Xơng đã sống - hay nói đúng hơn muốn sống - mộtcuộc đời “Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn
xanh Ra phố nghênh ngang quần tố nữ, bít tất tơ, giầy Gia Định bóng ” Đời
Tú Xơng là đời “Lắm phen đi đó đi đây thất điên bát đảo” và “Chơi liều chơi lĩnh, tứ khố tam khoanh”
Có thể thấy tính chất “đô thị hoá” khá mạnh ở một số thành phố ViệtNam hồi cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Cái quá trình thị dân hoá này đãkhông lọt khỏi con mắt của nhà Nho tài tử Tú Xơng Là một nhà Nho tài tửnhng đặc điểm nhà Nho tài tử ở Tú Xơng có khác các nhà Nho tài tử truyềnthống ở khá nhiều điểm cơ bản Thứ nhất, nh chúng tôi đã trình bày, Tú X-
ơng sinh ra trong một môi trờng, một bối cảnh xã hội khác trớc quá nhiều
Đây là thời kỳ mà phong kiến Việt Nam đã gần đi đến chỗ sụp đổ, chế độthực dân nửa phong kiến hình thành, Tú Xơng lại sống trong một môi trờng
đô thị sớm bị thực dân hoá, tính chất thị dân ở trong Tú Xơng khác nhiều sovới các nhà Nho tài tử trớc đó Thứ hai, bản thân Tú Xơng lại hoàn toàn bếtắc trớc mọi hớng đi, Tú Xơng rơi vào khoảng trống của lịch sử Thứ ba, cá
tính Tú Xơng lại tỏ ra ngông ngạo, thích nếm mùi thế tục nhng lại khôngchịu bán rẻ nhân phẩm của mình, ông sẵn sàng đối lập và thách thức vớichế độ thực dân nửa phong kiến Đấy chính là một khối mâu thuẫn lớntrong con ngời ông
Trang 25Có thể nói: Tú Xơng thuộc kiểu nhà thơ trung đại, nhng ở ông vừa cónét truyền thống lại vừa có nét phi truyền thống, báo hiệu một kiểu nhà thơ
ít nhiều muốn đi ra ngoài quỹ đạo của kiểu nhà thơ trung đại Hình tợng tácgiả ấy nh là một hình tợng trung tâm trong thế giới nghệ thuật thơ Tú Xơng
và có quan hệ hữu cơ biện chứng với nhiều yếu tố khác trong thế giới nghệthuật thơ Trần Tế Xơng
1.3 Đặc trng hình tợng tác giả trong thơ Trần Tế Xơng
1.3.1 Sự tự thể hiện của Trần Tế Xơng
Sự tự thể hiện của Trần Tế Xơng đợc bộ lộ rõ trên hai phơng diện cơbản: ý thức về vai trò xã hội, vai trò văn học của tác giả, và Nhân vật trữtình - tác giả trong thơ
1.3.1.1 Là chứng nhân và cũng là nạn nhân của một giai đoạn bi thơng
nhất của đất nớc, Tú Xơng phải gánh chịu nhiều nỗi buồn đau Thực dânPháp từng bớc đặt ách thống trị lên đất nớc ta, các phong trào chống Phápdiễn ra sôi nổi đều lần lợt thất bại Đặt ách thống trị lên đất nớc ta, thực dânPháp đồng thời nắm quyền điều khiển một cuộc đổi thay lớn về tình hìnhkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Việt Nam Xã hội phong kiến lỗi thời, cổ
hũ, phản động đợc thay thế bằng xã hội thực dân nửa phong kiến mới ló mặt
ra đã thấy đầm đìa bùn và máu Bộ mặt thống trị quan liêu kiểu phong kiến
đợc thay thế bằng bộ máy quan liêu kiểu mới do quan chức thực dân cầm
đầu Sự giao tranh giữa hai chế độ cũng là sự giao tranh giữa hai nền vănhoá phơng Đông cổ truyền và văn hoá phơng Tây tân thời Hệ t tởng, vũ trụquan, nhân sinh quan và ứng xử văn hoá xây dựng từ lâu đời trong cuộc
đụng độ lịch sử này thực sự bị bật gốc Cái mới ra đời từ những đô thịthuộc địa là những yếu tố ngoại lai đang giao thoa và lấn lớt yếu tố dân tộc
cổ truyền Ông sống trong sự giao tranh ấy, ông cảm thấy mình thật sự bấtlực vô nghĩa trớc thời cuộc Tú Xơng luôn ý thức mình sáng tác thơ ca đểlàm gì, và đã dùng thơ ca nh là một hình thức, một phơng tiện nhận thứcphản ánh cuộc sống
Thế nhng rồi, Tú Xơng nhận thấy văn chơng trong thời đại mình thựctrở nên vô nghĩa: Nghĩ việc văn chơng thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra gì
(Buồn thi hỏng)
Trang 26Đà, kể cả trong sáng tác của Nam Cao sau đó (hình tợng nhà văn Hộ trong
“Đời thừa”))
Cái Tôi trong thơ Trần Tế Xơng hiện ra rõ rệt không chỉ với t cách làcái tôi trữ tình mà còn với t cách là ngời tổ chức văn bản tác phẩm thơ - mộtnhà thơ đã chán chờng cho vai trò nhà thơ của mình Có những trờng hợp
ông muốn thẩm định tác phẩm của mình bằng cách tạo dựng tình huống,cho vợ là ngời bình phẩm tác phẩm của mình (ông trao quyền thẩm bìnhcho vợ)
Viết vào giấy dán ngay lên cột Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay
(Tết dán câu đối)
Đứng trớc bớc ngoặt lịch sử, Tú Xơng đồng thời cũng đứng trớc sựchuyển mình của văn học có tính chất giao thời chuẩn bị vào chặng quá độ
từ trung đại sang cận hiện đại Văn học giai đoạn này (nửa sau thế kỷ XIX)
là một giai đoạn có vị trí và vai trò đặc thù khép lại một chặng đờng dài củavăn học trung đại - văn học phát triển trong hoàn cảnh xã hội phong kiếnvới một hệ thống thi pháp riêng mà nét bao trùm là chủ nghĩa qui phạm;chịu sự chi phối sâu sắc của văn hóa mỹ học, ý thức hệ phong kiến vàtruyền thống văn hoá, t tởng dân tộc Về mặt lý thuyết, sự khép lại hay kếtthúc một thời kỳ cũng có nghĩa là sự báo hiệu hay chuẩn bị cho một thời kỳmới tiếp theo
1.3.1.2 Đã làm thơ, nhất là thơ hay, ai mà chẳng để lại trong tác phẩm
của mình một nhân vật trữ tình - tác giả Chúng ta biết rằng, nhân vật trữtình có quan hệ mật thiết với con ngời tác giả nhng không hoàn toàn đồngnhất với tác giả “Nhân vật trữ tình là con ngời “đồng dạng” của tác giả -nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình nh một con ngời có đờng
Trang 27nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nộitâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung” [22, 201].
Tú Xơng đã đa chính mình vào thơ nh một nhân vật khách thể: Nhânvật Tú Xơng có cá tính rõ rệt và ít nhiều có ý nghĩa điển hình sâu sắc cho cảmột lớp ngời - lớp ngời Tú Xơng - trong một thời buổi - thời buổi Tú Xơng.Nhân vật trữ tình đó, dù đợc khách thể hoá, nhng trớc hết cũng là thuộc thếgiới trữ tình của Tú Xơng Nhân vật ấy với Tú Xơng vừa là một, vừa không
là một, vì nó đã là một nhân vật của văn học, đợc xây dựng theo qui luậtsáng tạo của nghệ thuật vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, vừa thực, vừa h, nh-
ng tất cả là trên một nền tâm trạng thực, nhân cách thực của Tú Xơng Nhân vật Tú Xơng đã tự xng khi thì bằng “tôi”, bằng “ta”, bằng “min”,bằng “tớ”, khi thì bằng “thằng tôi”, bằng “bác”, bằng “ông”, bằng “thầy” và
có khi bằng "em" nữa Ông tự xng danh rất nhiều trong thơ của mình (69lần) Nhân vật Tú Xơng tự nói về mình, về cuộc sống tâm t tình cảm củamình thật khác lạ cứ nh là cố bôi cho đen kịt mình đi vậy (Tự cời mình, Tự
vịnh, Hỏng khoa Canh tí ) Một Tú Xơng nh vậy phải là lên án, phải chê
trách Nhng đằng sau cái lem luốc đó, ở Tú Xơng lại là cả một đời sống tâmhồn phong phú, một nhân cách thật đáng trân trọng Tú Xơng sinh ra trên
đời vốn là ngời hồn nhiên thật thà Tú Xơng có tật này tật khác đáng chêtrách, nhng ông không hề giấu diếm, ngợc lại cứ tự thồi phồng lên nh thế,trớc hết là cho vui sự đời, dù là vui gợng, nhng quan trọng là muốn đợc táchmình ra khỏi lớp ngời ô uế của thời buổi không may mình phải sống Có thể
ông cha tìm đợc một lý tởng sống cao đẹp nhất, tích cực nhất, song ít racũng tạo đợc cho mình một triết lý sống trong sạch của một kẻ không chịunhập vào dòng đời ô trọc kia Chú Mán trong bài thơ “Nghèo mà vui” chính là
Tú Xơng chứ chẳng phải ai khác
Cũng giống nh nhân vật Mẹ Mốc của Nguyễn Khuyến, chú Mán trongthơ Tú Xơng là một con ngời thực ở thành phố Nam Định bấy giờ, nhngtrong thơ Tú Xơng, nó lại mang hình bóng của chính tác giả Nếu nh ởNguyễn Khuyến, một nhà thơ trọng đạo đức, cho nên nhân vật mẹ Mốc của
ông là một phụ nữ rất đạo đức, khí tiết, thì ở Tú Xơng, một nhà thơ muốnlấy sự ăn chơi của mình để cời vào mũi của xã hội, cho nên hình ảnh chúMán của nhà thơ cũng rất ăn chơi:
Khi cao lâu, khi cà phê, khi nớc đá, khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe
(Chú Mán)
Và cũng cời đời: Chẳng nhuộm răng để trắng dễ cời đời
Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai
Trang 28Ngoài cơng toả thảnh thơi ai đã biết ?
(Nghèo mà vui)
Tú Xơng giống nh nhiều ngời khác, ông rất yêu vợ Thái độ của Tú Xơng
đối với vợ “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó” thật cởi mở, đầy nghĩa tình Ôngcảm nhận sâu sắc công ơn của vợ đối với mình, với con mình
Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng
(Thơng vợ)
Thơng vợ bao nhiêu, ông thấy mình vô tích sự bấy nhiêu Trong cơn hốihận, chẳng có gì tạ lại công ơn của vợ, Tú Xơng buột lên một tiếng chửi,chửi cái anh chồng “dài lng tốn vải” là mình, chửi luôn cả thói đời bạc bẽo
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ;
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ.
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo ai dám chê rằng béo rằng lùn; Ngời ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mời;
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
(Văn tế sống vợ)
Ông đùa vợ, âu yếm vợ cho bớt nỗi vất vả quanh năm
Thế nhng cũng có đôi lúc mơ màng:
ớc gì ta hoá ra da
Trang 29Để cho ngời tắm nớc ma châụ đồng!
vợ Sống trong một xã hội “trai năm thê bảy thiếp”, tài tử thờng phong tình,thì thái độ, việc làm của Tú Xơng trở nên hiếm và thật đáng quý
Nói đến tình bạn của Tú Xơng, cũng là phong phú, hấp dẫn, cũng làchân tình cao cả Với ngời bạn Tú Xơng cho là tri âm, tri kỷ nh Huấn Mĩ,
Cử Thăng, Tú Tây Hồ thì chủ yếu là ông lấy cái đùa, cái tếu ra mà đãi nhaucho vui sự đời trong chốc lát! Còn bạn là bậc đáng kính đáng tôn thì cái tìnhcủa Tú Xơng gắn bó hồn nhiên và tha thiết vô cùng Tú Xơng có những nỗinhớ bạn đến cháy bỏng:
Đi đâu một bớc một chờ, Vắng nhau một khắc một giờ không khuây
Trang 30Cha thằng nào có, tiếc không cho!
Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc,
Ai xét soi cho cảnh học trò
(Thề với ngời ăn xin)
Tú Xơng là con ngời của trần gian, cũng biết ăn ngon mặc đẹp, biết nếmmùi vị của sự đời:
Nghiện chè nghiện rợu, nghiện cả cao lâu;
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng
Quanh năm phong vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh;
Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng
(Hỏng khoa thi Canh Tí)
Trong thơ, Tú Xơng đã cờng điệu hoá cái ham muốn trần gian củamình nhng vẫn để lộ cái hồn nhiên Có điều cái hồn nhiên của Tú Xơng đãkhông đợc cuộc đời bấy giờ dung nạp Nghèo đói đã bám riết Tú Xơng, kếtquả là Tú Xơng cũng phải vất vả, cay cú, buồn phiền nh ai
Cái khó theo nhau mãi thế thôi,
Có ai, hay chỉ một mình tôi?
(Than nghèo)
Cái nghèo của Tú Xơng là cái nghèo cùng cực:
Bức sốt nhng mình vẫn áo bông
(Mùa nực mặc áo bông)
Thêm vào cái nghèo đó là nạn đông con:
Gạo cứ lệ ăn đong bữa một
Trang 31Điều đáng quý là Tú Xơng không để cái nghèo tha hoá mình Tú Xơng nói:
“Biết thân thủa trớc đi làm quách Chẳng ký không thông cũng cậu bồi”cũng chỉ là một lối nói nhất thời trong cơn quằn quại mà thôi
Cùng với cái nghèo, chuyện thi cử của Tú Xơng cũng là một bầu tâm
sự đầy bi kịch, ông trợt thi không phải vì dốt mặc dầu ông vẫn nói:
Rõ thật Nôm hay mà Chữ dốt Tám khoa cha khỏi phạm trờng quy
(Buồn thi hỏng) Học đã sôi cơm nhng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
(Mai mà tớ hỏng)
Ông đã cực tả nỗi đau đớn trong bài “Phú hỏng thi :”
Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng;
Tủi bút tủi nghiên, hổ lều hổ chõng
Và đến lần hỏng cuối đời thì Tú Xơng đã cáu, đã ức, đã nản và nạntrợt thi đó ông đành quy vào số mệnh
Trách mình phận hẩm lại duyên ôi!
Đỗ suốt hai trờng, hỏng một tôi
Nhân vật trữ tình trong thơ Tú Xơng cũng thờng băn khoăn, thao thức
đối với vận mệnh non sông đất nớc Những bài thơ thể hiện tâm sự yêu nớccủa Tú Xơng thờng có bối cảnh mù mịt của đêm tối, trong đêm tối và nhàthơ thì buồn não ruột:
Trang 32Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã hồi chuông
(Đêm buồn)
Cái buồn của Tú Xơng là cái buồn đến nẫu ngời mà đâu chỉ có một
đêm “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn ” Có thể nói, toàn tâm trạng của TúXơng là tâm trạng của một bộ phận trí thức Nho sĩ, trong cơn vận hạn của
đất nớc, trong cuộc đổi thay nghịch chiều của thời cuộc vào những nămcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX này, cha tìm đợc hớng đi đúng đắn nhất,chân chính nhất Do đó, họ là con ngời đầy bi kịch, con ngời của bi kịch ởnhân vật bi kịch Tú Xơng điều mà muôn đời vẫn quý trọng là còn có chữtâm, lại cộng thêm chữ tài Tâm, tài cố gắng gắn bó với vận nớc, vận dân,không chịu buông trôi cho kẻ thù, không chịu để cho dòng đời cuốn vào ôuế
Trở lên, ta thấy, nhân vật trữ tình và cái tôi tác giả trong thơ Tú Xơnghiện lên rất rõ, mang nhiều nét cá tính riêng, đặc điểm riêng của Tú Xơng(từ lai lịch đến hành vi, tính cách, từ hình thức bên ngoài đến tâm hồn, sởthích, yêu ghét ) không thể lẫn lộn với ai khác Tất cả con ngời Tú Xơng
đều hiện lên đầy đủ ở Tú Xơng ta thấy mang nhiều nét phi truyền thống,
Trang 33dấu hiệu của một kiểu tác giả muốn phá bỏ mọi tính quy phạm chuẩn mựccủa loại hình tác giả trong thơ Trung đại.
1.3.2 Cái nhìn nghệ thuật của Trần Tế Xơng
1.3.2.1.Cái nhìn nghệ thuật là một phơng diện, một thành tố quan
trọng thuộc phạm trù tác giả (trong tác phẩm là một hình tợng tác giả) Sángtác nghệ thuật thực chất là phản ánh của một cái nhìn Cái nhìn phụ thuộcvào nhiều yếu tố, trong đó có điểm nhìn, góc nhìn hay thế đứng, vị thế quansát, bao quát của ngời nghệ sĩ Trần Tế Xơng không có đợc một vị thế maymắn trong xã hội Nhng có lẽ nhờ thế mà cái nhìn nghệ thuật của ông cótầm bao quát riêng, độc đáo về hiện thực thời đại bấy giờ Cuộc đời Tú X-
ơng gặp nhiều thất bại đắng cay Gia cảnh của ông cũng đầy khó khăn thiếuthốn Mọi việc trong nhà, ông đều trông cậy vào ngời vợ đảm đang “Quanh năm buôn bán ở mom sông” là bà Tú Tú Xơng cũng từng tự thấy mình là
không có một "chỗ đứng" nào trong xã hội Khác Nguyễn Khuyến - ngờicũng gần nh cùng thời với Tú Xơng, Tú Xơng đã mất hết mọi chỗ dựa, mọiniềm an ủi Nhìn chung, cuộc đời Tú Xơng là cuộc đời của một nghệ sĩ biếtbám chắc vào mảnh đất quê hơng mình, lấy đó làm điểm xuất phát để theodõi và quan sát mọi hiện tợng của đời sống
Sinh ra và lớn lên trên quê hơng Nam Định, hồn thơ Tú Xơng đợc ơmtrồng và nảy nở từ đây Không phải tất cả những gì của quê hơng cũng ảnhhởng tới cuộc đời và hồn thơ của Tú Xơng Nhng chắc chắn phần ảnh hởngcủa nó tới con ngời Tú Xơng là không nhỏ Điều đáng quý là Tú Xơng đãbiết đền ơn trả nghĩa bằng cách đem tài thơ của mình gắn bó với quê hơngtới mức thành ra một hiện tợng nghệ thuật độc đáo “Đọc thơ Tú Xơng thấybật lên một địa phơng trong thơ Tú Xơng, trong phú Tú Xơng, chỉ có rặtcảnh Nam Định, sự Nam Định, lời Nam Định, ngời Nam Định” (NguyễnTuân) Có thể nói, ít có đợc nhà thơ nào lại gắn chặt với địa phơng của mình
nh Tú Xơng gắn chặt với Nam Định
Cuộc đời Tú Xơng thật ngắn ngủi, và lại nằm trọn trong một giai đoạn
bi đát nhất của lịch sử dân tộc Thực dân Pháp xâm lợc và đặt ách thống trịlên đất nớc ta Các phong trào kháng chiến đều lần lợt thất bai Tú Xơng đãsinh ra và lớn lên trong cái không khí sôi sục đấu tranh nhng bi thơng nặng
nề đó của đất nớc Sự đổi thay đất nớc cũng từ đây Xã hội phong kiến lỗithời, cổ hũ, lạc hậu, phản động đợc thay thế bằng xã hội thực dân nửaphong kiến Bộ máy thống trị quan liêu của phong kiến Trung cổ phơng
Trang 34Đông đợc thay bằng bộ máy thống trị quan liêu kiểu mới do quan chức thựcdân cầm đầu kéo theo một hệ thống tay sai gồm quan lại phong kiến kiểu
cũ và thông ngôn, ký lục, viên chức mới, đặc biệt là sự đổi thay về chữ viết
và những áp đặt văn hoá phơng Tây với lối sống “T bản hoá”, “Âu hoá” dầndần hình thành, tấn công các lối sống cổ truyền, lối sống phong kiến Tú X-
ơng vừa là chứng nhân, vừa là nạn nhân của cuộc đổi thay này Lớn lên trênbối cảnh thất bại của dân tộc và tầng lớp mình, chính trên cơ sở đó, tâmtrạng, tình cảm và cuộc đời Tú Xơng càng đáng để chúng ta thông cảm.Lịch sử đời riêng của Tú Xơng, nh ta đã biết, cũng lại là một lịch sửthất bại, lịch sử của một con ngời suốt đời long đong, lận đận vì thi cử màchẳng bao giờ toại nguyện Hỏng thi, không tiến thân đợc bằng con đờngkhoa cử, Tú Xơng vẫn không tiến thân bằng con đờng nào khác Trớc sauchúng ta vẫn thấy Tú Xơng là con ngời trong sạch Nhng vì hỏng thi, Tú X-
ơng bị xã hội đơng thời loại ra khỏi hàng ngũ “thợng lu” của thời đại và đẩyxuống một chỗ đứng “thấp kém” Có thể gọi Tú Xơng là một nhà Nho tài tửthất thế trong chế độ thực dân nửa phong kiến Ông không có cái may mắncủa Cao Bá Quát - Cử nhân của trờng Hơng thí Hà Nội, cái may mắn củaNguyễn Thợng Hiền, đỗ Tiến sĩ, hay cái tài giỏi của Tam nguyên Yên Đổ-Nguyễn Khuyến, đi thi hơng, thi hội, thi đình, ở đâu cũng đỗ Cái nhìn thờicuộc của những nhà Nho có thế chắc hẳn sẽ có những điều khác với Tú X-
ơng - một nhà Nho thất thế Với Tú Xơng “Tám khoa ch a khỏi phạm trờng quy” thế nhng, chính từ chỗ đứng đó, Tú Xơng chẳng những thấy đợc cái
thân phận buồn tủi của một kẻ hỏng thi, mà còn thấy đợc cái nhục của bọnthi đậu, cái nhục của ngời mất nớc Chính từ chổ đứng đó mà cái ông “Tútài” suốt đời hỏng “Cử nhân” ấy, đã thấy đợc bao nhiêu điều mới lạ trongmột xã hội đang biến đổi chóng vánh
Với cái nhìn tinh nhạy, sắc sảo, cái nhìn của ngời trong cuộc và vớimột bút lực dồi dào, Tú Xơng thực sự đã đóng vai “Ngời th ký giỏi” để nếucha ghi chép phản ánh đợc bao nhiêu cái mâu thuẫn cơ bản trung tâm củathời đại thì cũng đã ghi chép đợc nhiều mặt của cuộc đổi thay xã hội đó
“Nếu hình dung thơ Tú Xơng nh tiếng hát của con ngời thất bại thì chínhtrong sự thất bại của kiểu nho sĩ kiểu truyền thống, ở vào một tài năng nh
Tú Xơng đã tạo ra nhiều biến đổi quan trọng trong văn chơng nhà Nho thế
kỷ XIX" [37, 233]
1.3.2.2 Trần Tế Xơng nhìn con ngời và thế giới qua lăng kính của nhà Nho tài tử thất thế trong môi trờng thị dân Tú Xơng là một nhà Nho
Trang 35phong kiến Nhng những cảm nhận về con ngời và thế giới của Tú Xơng bộc lộ trong thơ lại mang đậm tính chất thị dân Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự trào, tự vịnh, Tú Xơng đã tạo nên một kiểu hình nhà Nho thị dân Trong dòng thơ trào phúng của nhà Nho, chất tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xơng là đậm nét và sinh động nhất Nguyễn Khuyến tự trào một cách trực tiếp (tự trào, tự thuật, tự giễu mình ) có khi tự trào một cách kín đáo, ý nhị (Vịnh tiến sĩ giấy (I và II), Vịnh Kiều ) Nhng dù trong hình thức nào thì kiểu tự trào ngôn “
chí của Nguyễn Khuyến cũng có sự khẳng định bản ngã - sự khẳng ”
định của một nhà Nho theo những chuẩn mực nhà Nho, cha thoát khỏi quy phạm của văn chơng nhà Nho Tú Xơng không nh vậy, ông tự trào một cách trực tiếp, khi thì phủ định, khi thì khẳng định ở trờng hợp nào cũng độc đáo Ông tự hoạ chân dung bằng lối hý hoạ “Râu rậm nh chổi,
đầu to tày giành” (Phú thầy Đồ) và tự giễu, bôi xấu mình “ở phố Hàng Nâu có phổng sành, mắt thời thao láo, mặt thời xanh” (Tự cời mình I)
Ông lôi tất cả cái dốt nát của mình ra mà cợt nhã “ý hẳn thầy văn dốt
vũ dát, cho nên thầy luẩn quẩn, loanh quanh” (Phú thầy Đồ) Tuy nhiên,
giễu cái dốt nát của mình là ông giễu cái "dốt nát", nhếch nhác của nhà Nho phong kiến, chế giễu tính chất ăn bám của đức ông chồng trong chế
độ gia trởng phong kiến Với kiểu tự trào phủ định này, Tú Xơng đã chế giễu, phê phán tính chất hủ lậu của kẻ sĩ phong kiến và phủ nhận những khuôn phép lỗi thời của xã hội phong kiến.
Bên cạnh đó, kiểu tự trào khẳng định lại hoàn toàn khác (Tự đắc, Phú thầy
đồ, Văn tế sống vợ ), ở đây có một Tú Xơng tài hoa phong lu ở chốn thị thành:
Kìa thơ tri kỷ đàn anh nhất,
Nọ khách phong lu bậc thứ nhì.
ăn mặc vẫn ra ngời tiệp thế,
Trang 36Giang hồ cho biết bạn tơng tri
(Tự đắc)
Một Tú Xơng ân tình, nồng hậu
trong cách làm chồng: "Mình
đi tu cho thành tiên thành phật,
để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ; Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ" (Văn tế sống vợ)
Một Tú Xơng tha thiết với vận nớc:
Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nớc nhà!
(Lễ xớng danh khoa Đinh Dậu)
Có thể thấy nh Đoàn Hồng Nguyên, rằng: “Tự phô mình ra ở mọi góccạnh, Tú Xơng phác hoạ nên một hình ảnh của chính ông: Một kẻ thị dân
đầy bản ngã Không chấp nhận xã hội t sản cũng nh lối sống t sản ở chốnthị thành, nhng Tú Xơng lại tỏ ra khá nâng niu con ngời thị dân này - không
đợc lý tởng hoá theo bút pháp miêu tả nhân vật anh hùng trong văn chơngnhà Nho, nhng nhân vật thị dân của Tú Xơng cũng đợc tác giả miêu tả trong dáng
vẻ hiên ngang, đầy tự tin, đầy khí phách thị dân” [37, 359]
Tú Xơng nhìn mình, rồi nhìn ra cuộc đời, con ngời, thế giới quanhmình với muôn màu muôn vẻ của đời sống đa dạng và phong phú ở thànhNam lúc giao thời Cuộc sống đi vào thơ ông bằng cái vẻ nguyên sơ vốn cócủa nó Cuộc sống tự nó Không chỉ cụ thể, tự nhiên mà còn ồn áo náo độngbởi những cảnh, những ngời, những lời, những tiếng Đó là tiếng “chê nhỏ cời to , khua múa trống chiêng , xì xèo tôm tép , ỏm tiếng Hà Đông ,” “ ” “ ” “ ”
nó chúc nhau , nó mừng nhau
cực tả với một âm sắc cụ thể, rất riêng và đặc biệt chính xác: âm thanh rờirạc và ảm đạm của cái tết nghèo, âm thanh chát chúa của sự học đòi khoesang đầy đủ âm thanh đặc trng đan cài nhau một cách ồn ào rất đặc trngcủa lối sống đô thị hoá Cái gì cũng chi tiết đến tận chân tơ kẻ tóc; màu sắcthì đen kịt, đen thủi đen thui, loẹt loè Con ngời thì cá biệt, cụ thể đếntừng đặc điểm riêng biệt nhất: “Mũi nó gồ , trán nó dô” “ ”, "mốc thếch nh
Trang 37trăn gió", "đen kịt", "lang" Ta thấy trực tiếp trong thơ ông bức tranh toàn
cảnh của xã hội từ những thay đổi lớn trên bề mặt đến những thay đổi nhỏtrong cuộc sống, mọi hiện tợng trong đời sống đều đáng cời và lố bịch: Sựsuy sụp của đạo học, của chữ Thánh Hiền Đạo học ngày nay đã chán rồi.“
Mời ngời đi học chín ngời thôi ;” Kẻ sĩ mất giá trở nên nực cời “Lôi thôi sĩ
tử vai đeo lọ ;” quan trờng thoái hoá biến chất “chỉ quen phê một chỉ tiền ”
Đáng cời hơn, đồng tiền làm chủ, mọi thứ đều có thể mua bán, chốn quantrờng trở thành cái chợ để ngời ta “tranh nhau cái thủ khoa” Sản phẩm của
sự mua bán đó là những ông cử Nhu “vừa dốt lại vừa ngu”, những cái phố
nh phố Hàng Song “thật lắm quan”, “đất nhiều quan” Thuần phong mỹtục, luân lý truyền thống cũng suy đồi Quan hệ thầy trò, cha con, vợ chồng,trở thành trái đạo “vợ chán chồng , con khinh bố” “ ” Tất cả đều đáng cời và
lố bịch Tết, ngời ta đốt pháo mừng xuân, Tú Xơng cũng nhìn thấy cái đángcời “Một mâm mứt rận mới bày ra ” Đặc biệt là năm mới thiên hạ chúcnhau “trăm tuổi bạc đầu râu” Đến cái chết của cô Ký - chính trong sự chếtchóc cũng chứa đựng cái đáng cời, cái sự lố bịch của kẻ sống với ngời chết
là phát hiện đau đớn của Tú Xơng về hiện thực thời đại mình
Phải là nhà Nho chân chính, có lòng tự trọng, tinh thần tự tôn dân tộccao mới thấm thía hết trớc những đổi thay quái gỡ không sao ngờ tới Phải
là ngời có vị thế nh Tú Xơng mới có cái giọng cay cực chua chát nh thế Làmột nhà Nho tài tử sống trong một môi trờng thị dân nhiều biến đổi, bảnthân Tú Xơng không biết mình nên nh thế nào, ớc mong cái gì, phong lu lànên hay không nên, thi cử, vợ con là nghiêm túc hay để đùa giỡn Tất cả
đều đảo lộn Tất cả đều trở thành trớ trêu, vô nghĩa Vậy thì cứ sống ngôngnghênh, cứ đem tất cả ra mà trào lộng
1.3.3 Nhà thơ trào phúng - trữ tình với một giọng điệu riêng
1.3.3.1 Âm hởng chung của giọng điệu thơ Trần Tế Xơng
Trong cuộc sống cũng nh trong văn học xa nay, cái vui, cái buồn, cáicời, cái khóc thờng đan xen nhau, hoà lẫn vào nhau và đều xuất phát từ nỗiniềm tâm sự, từ cái tình của mỗi con ngời Vôn te, nhà văn nổi danh của n-
ớc Pháp từng nói: “Con ngời là loài duy nhất biết khóc và biết cời” Vậy thì
Trang 38trong thơ văn, dù trào phúng hay trữ tình cũng là từ một gốc nhân bản
“Cành kia cũng ở cội này mà ra” Từ trớc đến nay, Tú Xơng đã nổi tiếngtrên văn đàn với t cách là một nhà thơ trào phúng kiệt xuất Điều đó rất
đúng, nhng cha đủ Trong thơ văn Tú Xơng không chỉ có tiếng cời châmbiếm, đả kích mà còn có tiếng than, tiếng thở dài Tú Xơng không chỉ làmột nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ đậm chất trữ tình Trữ tình
và trào phúng trong thơ Tú Xơng chỉ là mặt này hay mặt khác của cùng mộthiện tợng, chỉ là sự khúc xạ vào những lăng kính khác nhau của cùng mộttâm hồn và nó thể hiện rõ ở giọng điệu
“Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thờng đa dạng, có nhiều sắc tháitrên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu” [22, 113].Với Tú Xơng, giọng điệu có khi là phê phán, trào phúng, mỉa mai, cay độc,
có khi là giọng tự trào chua chát, buồn bã ngao ngán cho mọi biến đổi đángbuồn ở cuộc đời, khi thì giọng nanh nọc, bốp chát khó chịu Dờng nh ôngmuốn tống tiễn tất cả mọi hiện tợng lố bịch của đời sống xã hội thực dân nửaphong kiến vào "vơng quốc của bóng tối", của cái chết
Mỗi một nhà thơ đều có giọng nói riêng, hoà vào tác phẩm tạo nên vănkhí, hơi văn, tạo nên giọng “trời phú” Với Tú Xơng, giọng thơ sắc, mạnh,
đầy cá tính, thiên về trào phúng nhng luôn gắn với trữ tình Tiếng cời nhngluôn để lại d vị, thấm đậm nớc mắt
1.3.3.2 Giọng điệu trào phúng
Tú Xơng là nhà thơ trào phúng có biệt tài Ông ghi chép lại nhữngcảnh đời lố lăng bằng những hình ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén Giọngthơ của Tú Xơng biến đổi nhiều vẻ từ bài này sang bài khác, có những nụ c-
ời nhẹ nhàng dí dỏm, có những nụ cời mỉa mai, cay độc, chua chát, đậpthẳng vào bọn xu thời, tục rởm; cũng có những tiếng cời đau lòng, cời ra n-
ớc mắt Trong một số bài tự thuật, Tú Xơng tự giễu hoặc là khoác lác mộtcách tình tứ Vịnh cảnh thất nghiệp nằm nhà chơi cái trò “Bốn con làm lính,
bố làm quan”, ông kết thúc hóm hỉnh:
Hỏi ra quan ấy ăn lơng vợ,
Đem chuyện trăm năm giở lại bài
(Quan tại gia)
Ông khoe có lần đợc vợ khen trong mấy câu thơ giản dị, ý vị:
Rằng hay thì thật là hay Không hay sao lại đỗ ngay tú tài!
Trang 39Xa nay em vẫn chịu ngài
(Tết dán câu đối)
Có hôm “Đi hát mất ô” ông có mấy câu tình tứ, nhẹ nhàng:
Hỏi ô, ô mất bao giờ, Hỏi em, em cứ ậm ờ không tha, Chỉn e rầy gió mai ma,
Lấy gì đi sớm về tra với tình?
Nhng trong thơ Tú Xơng, tiếng cời hài hớc vô t nh thế thực ra cũngkhá hiếm hoi! Tiếng cời thờng gặp trong thơ Tú Xơng là một tiếng cời hoàntoàn khác hẳn
Nếu Yên Đổ thiên về lối mỉa mai bóng gió, thâm thuý:
Anh mừng cho chú đỗ ông nghè Chẳng đỗ thì trời chẳng dám nghe
Cời cái giả dối, h danh của khoa cử chữ Hán thời mạt vận, NguyễnKhuyến chỉ cời theo giọng mỉa mai chua chát và cũng ở mức nhẹ nhàng:
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi.
Tú Xơng thì chửi ra chửi: Cử nhân: cậu ấm Kỷ,
Tú tài: con đô Mỹ
Thi thế mới là thi!
Trang 40ới khỉ ơi là khỉ!
(Than sự thi)
Ông chửi vào mặt một viên quan chấm thi dốt nát gian dối:
Thánh cắt ông vào chủ việc thi,
Đêm ngày coi sóc chốn trờng quy.
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy Bá ngọ thằng ông biết chữ gì.
(Chế ông Huyện)
Ông nói toạc cả một sự thực một cách tàn nhẫn:
Thọ kia mày có biết hay chăng?
Con vợ mày kia xiết nói năng!
Vợ đẹp, của ngời không giữ đợc,
Chồng ngu, mợn vợ để chơi nhăng
(Để vợ chơi nhăng)
Khi Tú Xơng giễu những kẻ khoe giàu, khoe sang, hợm mình hoặcnhững tục rởm, giọng trào phúng của ông trở nên châm chọc, sâu cay hoặcmát mẻ Đó là cái cảnh:
Khăn là bác nọ to tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
(Năm mới)
Đó là con những ông nghị viên:Dù ai bóp bẹp cũng vê tròn
Ông s: Quảng đại từ bi cũng phải tù
Những tiếng Tú Xơng dùng thật đã làm tan nát cái danh của bọn khoa cử,làm tiêu tan mọi sự khoe giàu, khoe Tết của bọn hợm của
Thơ trào phúng của Tú Xơng dù dí dỏm hay mỉa mai, bao giờ cũng trôichảy, tự nhiên Giọng văn nhanh nhẹn, dễ dàng, dùng tiếng cụ thể, chínhxác, mô tả sự vật, sự việc một cách sắc gọn, hình ảnh rõ rệt, dễ in vào trínhớ ngời đọc Thờng thì Tú Xơng làm thơ trớc một sự việc xẩy ra, trớc mộthoàn cảnh oái oăm, một nhân vật nhố nhăng Những câu mở đầu thờng cụthể, đi ngay vào đề một cách rất tự nhiên, mạnh mẽ Giới thiệu một ông cử,
Tú Xơng viết: Sơ khảo khoa này bác cử Nhu