1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ lâm thị mỹ dạ

100 1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã đợc bàn luận từ nhiều góc độ khác nhau: t tởng nghệ thuật, thể loại, tác phẩm, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật...Tuy vậy, phần lớn đó đều là n

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đăng

Điệp, ngời đã tận tình hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các GS, PGS, TS Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đạihọc - Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Ngời viết cũng nhận đợc sự quan tâm, giúp đỡ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.Xin gửi tới nữ sỹ lời cảm ơn chân thành

Xin cảm ơn gia đình và ngời thân, cảm ơn sự động viên, khích lệ của bạn bè

và đồng nghiệp

Vinh, tháng 12 năm 2008

Trang 2

Tác giả

Ngô Thị Thuỳ Linh

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Phạm vi t liệu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phơng pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật của Lâm Thị Mỹ Dạ 9

1.1 Lâm Thị Mỹ Dạ qua hai chặng đờng sáng tạo 9

1.1.1 Từ cái nhìn trữ tình đầy chất lãng mạn trớc 1975 9

1.1.2 .đến cái nhìn thế sự đầy màu sắc hớng nội 14

1.2 Quan niệm về thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 22

1.2.1 Thơ là lãnh địa tinh thần của cái đẹp 24

1.2.2 Thơ là “bản tự thuật tâm trạng” của nhà thơ 27

Chơng 2: Thế giới hình tợng trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 29

2.1 Hình tợng không gian 30

2.1.1 Một không gian xanh 31

Trang 3

2.1.2 Một không gian giàu hình ảnh 36

2.1.2.1 Hình ảnh lá 37

2.1.2.2 Hình ảnh hoa 44

2.1.2.3 Hình ảnh trái tim 50

2.2 Hình tợng thời gian 57

2.2.1 Thời gian thiên nhiên 58

2.2.2 Thời gian lịch sử 59

2.2.3 Thời gian tâm lý 61

2.3 Hình tợng đời sống 63

2.3.1 Tổ quốc 63

2.3.2 Gia đình 70

Chơng 3: Nghệ thuật tổ chức ngôn từ, giọng điệu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 75

3.1 Linh hoạt trong sử dụng các thể thơ 75

3.1.1 Thể thơ 75

3.1.2 Thơ lục bát 76

3.1.3 Thơ 5 chữ .81

3.1.4 Thơ tự do .85

3.2 Phong phú và đa dạng trong sử dụng từ ngữ hình ảnh 89

3.2.1 Từ ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu hình ảnh 89

3.2.2 Hình ảnh thơ mềm mại, gợi cảm .93

3.3 Trong trẻo, dịu dàng, đằm thắm trong giọng điệu .97

3.3.1 Giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên 100

3.3.2 Giọng thơ ngọt ngào, đằm thắm 107

Kết luận 111

Tài liệu tham khảo 114

Trang 4

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Là một trong những gơng mặt nữ tiêu biểu của nền thơ trữ tình Việt Nam

hiện đại, tuy số lợng tác phẩm cha thật dồi dào nhng Lâm Thị Mỹ Dạ đợc đánhgiá là một nhà thơ độc đáo Thành công đến với chị từ rất sớm: 14 tuổi đợc giải th-

ởng thơ báo Quảng Bình; giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1972

-1973 với chùm thơ Khoảng trời - hố bom, Gặt đêm, Tin ở bàn tay, Đờng thủ đô Năm 1983, tập Bài thơ không năm tháng đã đem lại cho chị giải thởng của Hội

Nhà văn Việt Nam Lâm Thị Mỹ Dạ tiếp tục khẳng định đợc vị trí của mình khinhận giải A của Uỷ ban toàn quốc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam

1999 Đặc biệt, ngày 13.02.2007 Chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam đã ký quyết

định tặng giải thởng Nhà nớc về Văn học Nghệ thuật cho nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Đây là những thành quả xứng đáng cho một ngời luôn trăn trở và giành trọn tâmhuyết đời mình cho thơ

Bên cạnh việc thu hút đợc sự quan tâm của bạn đọc trong nớc với các thi

phẩm xuất sắc nh: Anh đừng khen em, Chuyện cũ tuổi thơ, Khoảng trời - hố bom,

Chuyện cổ nớc mình, Trắng trong trong những năm gần đây, Lâm Thị Mỹ Dạ

còn đợc bàn bè thế giới biết đến, nhất là khi tập Cốm non (Green rice) của chị đợc dịch sang tiếng Anh Tác phẩm của chị cũng đợc đa vào dạy - học trong nhà trờng,

đợc phổ nhạc và trở thành đối tợng khám phá của nhiều nhà nghiên cứu, phê bìnhtrong và ngoài nớc

1.2 Cho đến nay, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã đợc bàn luận từ nhiều góc độ khác nhau:

t tởng nghệ thuật, thể loại, tác phẩm, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật Tuy vậy, phần lớn đó đều là những bài viết nhỏ lẻ mà cha có một công trình khoahọc nào thật công phu nghiên cứu một cách toàn diện về sáng tác của nữ thi sĩnày Do đó, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cần đợc nghiên cứu một cách quy mô kỹ lỡnghơn Đây cũng là lý do để chúng tôi lựa chọn tiếp cận thơ chị từ góc độ thế giới

nghệ thuật thơ Hy vọng những kết quả nghiên cứu trong luận văn này sẽ góp phần

hữu hiệu vào việc dạy - học, nghiên cứu, phê bình và thởng thức thơ Lâm Thị MỹDạ

2 Lịch sử vấn đề

Trang 5

Đến nay, thơ Lâm Thị Mĩ Dạ đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình vănhọc chú ý và đánh giá cao Theo sự quan sát của chúng tôi, có hai hớng nghiêncứu chính sau đây:

2.1 Hớng phân tích, bình giảng: Chủ yếu đây là những bài viết nghiêng về cảm

thụ, trình bày những cảm nhận của nhà nghiên cứu về những bài thơ cụ thể của

nhà thơ Về bài Khoảng trời - hố bom, Hoài Thanh trong Chuyện thơ, Nxb Tác

phẩm mới, 1978, nhận xét: “Chính những nét mới ấy, tơi mát, dịu dàng, thuỳ mị

đã khiến cho bài thơ một sức gợi cảm rất sâu( ) Có thể xem đó là một tợng đàiliệt sỹ bằng thơ Bằng thơ và đẹp nh thơ” [73; 224] Nhà lí luận Trần Đình Sử chorằng, “nếu muốn kể lại một tấm gơng anh hùng quên mình vì nớc thì chỉ cần khổ

đầu của bài Khoảng trời - hố bom là đủ” [24; 848] Tác giả Đinh Quang Tốn trên báo điện tử Công An nhân dân ra ngày 05.10.2007 đánh giá: “Bài thơ Khoảng trời

- hố bom của chị nh trở thành biểu tợng cho chất thơ, cho cái đẹp của cuộc sống

chiến đấu vô cùng gian nan khốc liệt dới bom đạn giặc Mỹ” [72] Về bài thơ nàycòn có một số bài viết khác đáng chú ý nh bài viết của Lại Thị Minh Đức, Lê Thị

Ngọc Chi trong Cuộc thi viết về văn học cách mạng Việt Nam, của Tạ Đức Hiền

đợc Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn trong cuốn Anh Thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vân Đài,

Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn [66; 193- 217]; của tác giả Hồ Thế Hà trong Tìm trong trang viết [27; 47-50] Bài Chuyện cổ nớc mình cũng thu hút đợc khá

nhiều nhà phê bình, trong đó đáng chú ý nhất là bài viết Một cách lý giải sức sống

của dân tộc từ phiá truyền thống của Trần Hoà Bình Theo tác giả: “Ngôn ngữ thơ

mộc mạc trong nhịp thơ lục bát, lại tựa vào những tích truyện dân gian đã đem lạimột phong vị đồng dao cho những dòng thơ ý tứ sâu sắc mà tiếp nhận của ngời

đọc cứ thoải mái nh không !(…) Nhà thơ - con ngời của thế hệ sau - không chỉbiết tiếp nhận món gia tài tinh thần của ông cha mình, mà còn biết nhân lên nhữnggiá trị gia tài đó trong đời sống hiện tại” [66; 132]

Ngoài ra, có thể kể đến việc phê bình, thẩm định một số bài thơ khác của

Lâm Thị Mỹ Dạ nh bài viết của tác giả Hồ Thế Hà về Anh đừng khen em, Đề tặng

một giấc mơ trong tuyển tập Thơ Huế với lời bình, Nxb Thuận Hoá, 2006 Gần

đây, trên các webside điện tử, các diễn đàn, các tờ báo điện tử đăng nhiều bài viết,lời bình về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Tiêu biểu nh bài viết của tác giả Nguyễn Thu

Thuỷ trên Tuổi trẻ Online với bài Cảm nhận thơ: Tháng giêng Theo Nguyễn Thu

Thủy: “Bài thơ nữ tính một cách kỳ lạ, vừa hồn nhiên lại vừa từng trải, nh một đôi

Trang 6

mắt trong veo đợc đặt trên khuôn mặt ngời đàn bà Khuôn mặt ghi những dấu ấn

của thời gian” [78] Nhà thơ Fred Marchant trong bài viết về Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

ở Mỹ của tác giả Ngô Minh cũng cho rằng “thơ Mỹ Dạ đang là sứ giả hoà bình”

[52] Cũng theo Ngô Minh trong bài viết này, nhà thơ Fred Marchant nhận xét bài

thơ Cốm non miêu tả “cái khoảnh khắc sự vật biến mất mà trí tởng tợng của chị

bắt đợc Thơ của chị là bản chúc th của ngời đàn bà về những nguy hiểm mà họ

đối mặt Đó là cốt lõi của ẩn dụ của Dạ đối với nỗi buồn không tên” [52]

Nh vậy, nét nổi bật trong hớng này là các bài viết đi vào khai thác nhữngbài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho hồn thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Tuy khác nhau về cáchtiếp cận nhng các bài viết đều có sự thống nhất khi khẳng định vẻ đẹp dịu dàng,nữ tính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là sản phẩm của một hồn thơ trong trẻo, hồnnhiên và hết sức tinh tế

2.2 Hớng khái quát những đặc sắc của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ qua các tập

thơ tiêu biểu Ngay từ năm 1984, trong bài viết Nét riêng của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ,

tác giả Hồng Diệu đã có những nhận xét khá tinh tế về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ khi

ông cho rằng: “Âm hởng chính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xuất phát từ những giai

điệu trầm, nhẹ, đằm thắm, không ồn ào Thơ chị có những nét riêng, có bản sắcriêng Bản sắc riêng ấy là phong cách thơ chị” [66;37-39]

Tác giả Bảo Hng cũng nhận thấy: “Thơ của chị nhẹ nhõm, trong sáng, nếu

có buồn thì cũng buồn dìu dịu mà vui cũng không đến nỗi suồng sã, xô bồ Chịnghiêng về phía những cảm xúc tinh tế, tơ mỏng với tấm lòng hồn hậu nhìn ai

cũng thấy yêu thơng” [81;180] Khá thống nhất với những nhận xét trên, nhà thơ

Trúc Thông cũng rất chính xác khi cho rằng: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là một hơi thởnhẹ, và có những khi đằm thắm, không hoang dại, chói nồng…thơ Mỹ Dạ gọnxinh, trong mát” [81;187]

Cùng thế hệ với Lâm Thị Mỹ Dạ, nhà phê bình Vũ Quần Phơng trong lời

giới thiệu tập Lâm Thị Mỹ Dạ - thơ với tuổi thơ, đã viết: “Thơ mang những nét bản

sắc tâm hồn ngời viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khaithác chọn lọc tìm chất thơ trong đời sống” [64;33]

Trên Tạp chí Văn học số 3, 2003, trong bài viết khá công phu Khuynh hớng

hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, tác giả Hồ Thế Hà, cho rằng: “Thơ chị kết hợp

đợc chất thực cuộc sống và ngôn ngữ đa dạng, tạo ra những dồn ép, biến ảo, chồngchéo về hình ảnh, sự việc nh huyền thoại, cổ tích nhng không hề có dấu vết của sự

Trang 7

làm dáng Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, tuân thủ cảm xúc và trái - tim - thi - sỹ

- nhạy - cảm mà thành (…) Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nằmtrong đờng biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và sự tự

nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến; bên cạnh cái h ảo mong manh

ta bắt gặp cái biếc xanh bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh

thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhng luôn phá và

thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ Thơ chị tự nhiên cứ tởng

thốt ra là thành, không cần sửa chữa nhiều lắm nhng đó là cái tự nhiên của mộttâm hồn đã chín, của những tứ thơ câm lặng, lãng quên đợc đánh thức sau giấcngủ mặt trời, lúc mà cái tôi nghệ sỹ đợc lên ngôi cùng với những giấc mơ phátsáng màu huyền thoại” [28; 61- 63- 64]

Tác giả Linh Sơn trong bài viết Lâm Thị Mỹ Dạ - những vần thơ ám ảnh in trên báo Giáo dục thời đại, số đặc biệt tháng mời, 2007, cho rằng: “Lâm Thị Mỹ

Dạ đã nói thay cho tâm sự rất nhiều ngời, trớc hết cũng là ở sự thoát xác vợt lên sựphù phiếm và ma sinh nhọc nhằn này, để thấy tình yêu không chỉ là cõi thực màcòn là cõi mơ và khát vọng Nhng hơn cả, độc giả nhận thấy sự ám ảnh trong thơchị không giống với nhà thơ nào khác, kể cả sự trong trẻo, nồng hậu, đau đáu và

đầy xót xa ấy cũng khác biệt” [69;32]

Trên Tạp chí Nhà văn số 9, 2007, tác giả Lê Thị Hờng với bài Thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ - những giọt buồn, đã viết: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ngày càng mở ra một thế

giới nội cảm đầy xáo động và luôn đan quyện, song hành những cảm xúc đối lập:nồng nàn day dứt, tình yêu ngờ vực, tình yêu nỗi khổ, sự đam mê, niềm đau, nỗinhớ (…) Những câu thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ cứ nhẹ tênh mà trĩu nặng (…) ThơLâm Thị Mỹ Dạ không chao chát ồn ã, không trau chuốt du dơng Cảm xúc thật vàhồn nhiên, trực cảm bén nhạy (…) Giọng thơ thủ thỉ ấy quán xuyến suốt hànhtrình thơ Mỹ Dạ, làm thành một chất giọng riêng (…) Đến với thơ Mỹ Dạ, ngời

đọc không quên những tứ thơ lạ, đẹp, vút lên hồn nhiên trong trẻo mà đau đáu mộtnỗi niềm” [38;56-59]

Nhà thơ Ngô Văn Phú nhận xét: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất

thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính” (dẫn theo http://

www.cinet.gov.vn).

Trang 8

Đọc Hồn đầy hoa cúc dại của Lâm Thị Mỹ Dạ, tác giả Lê Huỳnh Lâm viết:

“Ngôn ngữ của tập thơ là ngôn ngữ của hoa; âm hởng bình dị, tự nhiên nh gió.Tiết nhịp khoan thai, dìu dặt Một số bài có nhạc điệu rất rõ” [42] Tác giả ĐinhQuang Tốn trong bài 35 năm một cuộc thi thơ trên CAND.com cho rằng Cốmnon, tập thơ vừa đợc dịch sang tiếng Anh, “mang hơng vị của thơ Việt, của nữ sĩ

Việt Nam” [72] Trên Tạp chí Văn chơng damau.org, tác giả Đinh Từ Bích Thuý, ngời dịch tập Cốm non sang tiếng Anh cho rằng, “thơ của chị phần nhiều phản

ánh giang sơn quen thuộc của phụ nữ khắp nơi, khai phá tình yêu, bổn phận làm

mẹ, và hành trình trăn trở vào thời đại trung niên của đời ngời đàn bà”

Tại cuộc hội thảo về tập thơ Cốm non trong trại viết văn mùa hè ở Boston,

Mỹ, đã thu hút đợc hàng chục nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Mỹ tham gia Nhàthơ Fred Marchant đã đọc một bài phát biểu đánh giá rất cao về thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ: “Cốm non không chỉ giới thiệu cho ngời Mỹ về kinh nghiệm chiến đấu của

ngời phụ nữ Việt Nam trên 30 năm, qua cách nhìn của một nhà thơ còn nói về hậuquả lâu dài của chiến tranh Có những bài thơ không dễ gì yên lòng với mộtkhoảng lặng hay tự náu mình nh chị mong muốn Có những bài thơ in dấu sự tởngtợng phong phú, mối quan hệ huyền ảo với cảnh sắc Việt Nam Chạy xuyên suốtqua nguồn mạch u buồn, dờng nh nhiều thứ còn ở lại mãi trong tâm hồn nhà thơnày” Nhà thơ Marilin Chin thì nhận xét: “Đứng đằng sau hình thức dờng nh đơngiản, là những tinh tế căng thẳng, giữa sự ẩn nhẫn của đạo Phật và mối lo lắng củathời đại, giữa nỗi buồn lặng lẽ và niềm vui không che dấu Những bài thơ hay nhấttrong tuyển tập mang âm hởng tơi tắn khác thờng đầy sắc thái và lớn lao đángkinh ngạc” Nhà thơ Jonh Balaban, ngời đã dịch thơ Hồ Xuân Hơng ra tiếng Anh(xuất bản ở Mỹ) cho rằng: “Bên ngoài vẻ thú vị của thơ ca Mỹ Dạ - có lẽ đó thực

sự là chuẩn mực của văn chơng ngời Việt” Riêng ngời dịch Cốm non, nữ nhà thơ

Martha Collins khẳng định: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không khác các nhà thơ Mỹ

đ-ơng đại, nhng có lẽ trên một nền tảng văn hoá lâu đời hơn Đó là sự khảo sát giớihạn vai trò của ngời phụ nữ truyền thống, sức mạnh và sự cô đơn” [dẫn theo 52] Ngoài những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, đến nay cómột số luận văn thạc sĩ về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ở các trờng Đại học

Về cơ bản, các công trình trên đây đều đánh giá cao đóng góp của LâmThị Mỹ Dạ cho thơ Việt Nam đơng đại, đồng thời khẳng định chị là một nhà thơ

có bản sắc độc đáo Tuy vậy, vẫn cha có một công trình nào nghiên cứu về thơ chị

Trang 9

một cách công phu, toàn diện Đặt vấn đề tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Lâm

Thị Mỹ Dạ, chúng tôi hy vọng sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về thơ chị

3 Phạm vi t liệu

Lâm Thị Mỹ Dạ không chỉ sáng tác thơ mà còn viết cả văn xuôi Các tác

phẩm văn xuôi của chị là các tập truyện dành cho thiếu nhi, gồm: Danh ca của

đất (1984), Nai con và dòng suối (1989), Nhạc sỹ phợng hoàng (1989) Gần đây

chị còn sáng tác nhạc Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là thơ Lâm Thị Mỹ Dạnên luận văn sẽ tập trung vào khảo sát các tập thơ sau:

- Trái tim sinh nở (in chung với ý Nhi), Nxb Văn học, 1974.

- Bài thơ không năm tháng, Nxb Tác phẩm mới, 1983.

- Hái tuổi em đầy tay, Nxb Đà Nẵng, 1989.

- Đề tặng một giấc mơ, Nxb Thanh niên, 1998.

- Hồn đầy hoa cúc dại, Nxb Thuận Hoá, 2007.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, luận văn có nhiệm vụ:4.1 Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Lâm Thị Mỹ Dạ đã chi phối đến thơ chị

Trên cơ sở khảo sát 178 bài thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, luận văn sẽ cố gắng chỉ

ra những đặc trng của các phơng diện nghệ thuật trong thơ của nữ sỹ

Trang 10

5.4 Phơng pháp phân tích tác phẩm

Luận văn sử dụng phơng pháp này để soi rõ cho những nhận định mà ngời viết

đa ra

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ một cách khá toàn diện, hệ thống nhằm giới thiệu một cách cơ bản và bản

chất nhất nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Từ việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuậtcủa Lâm Thị Mỹ Dạ đã chi phối đến việc sáng tạo hình tợng thơ, giọng điệu vàviệc sử dụng ngôn từ trong thơ của nữ sỹ

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Th mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm bachơng:

Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật của Lâm Thị Mỹ Dạ

Nh các nhà thơ khác cùng thời, con đờng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ gồm hai chặngkhá rõ nét Chặng thứ nhất là trớc 1975 bao gồm các sáng tác viết trong thời kỳchống Mỹ cứu nớc Chặng thứ hai bao gồm những bài viết từ ngày hoà bình lập lại(từ 1975 đến nay) Giữa hai chặng sáng tác này của Lâm Thị Mỹ Dạ có nhiều nétkhác biệt khó rõ nét từ đề tài, cảm hứng, chủ đề cũng nh bút pháp nghệ thuật Tuyvậy, cũng cần nhận thấy rằng, sự phân chia này chỉ có tính chất tơng đối bởi giữacác chặng đờng thơ, giữa các tập thơ có sự tiếp nối một cách tự nhiên mạch cảmxúc

1.1.1 Từ cái nhìn trữ tình đầy chất lãng mạn trớc 1975

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nớc, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hoà vào “dàn đồngca” của các nhà thơ cùng thời Họ cất cao lời ca vẻ đẹp của đất nớc, của dân tộc,

cổ vũ chiến đấu trong cuộc chiến tranh cứu nớc vĩ đại của dân tộc Trong hoàn

Trang 11

cảnh “cả đất nớc có chung khuôn mặt” ấy, các nhà thơ trẻ đến với thơ rất tự nhiênvới khát vọng của tuổi trẻ với t cách là nhà thơ - chiến sỹ Với chiến tranh, họ làngời dấn thân nhập cuộc, cho nên tiếng nói thơ ca của họ là tiếng nói đích thựccủa hiện thực với tất cả sự bề bộn, góc cạnh của nó Số phận của các nhà thơ trẻ

đều ít nhiều gắn với cuộc chiến tranh bằng niềm tin “Đờng ra trận mùa này đẹp

lắm” (Phạm Tiến Duật).

Tuy vậy, mỗi nhà thơ lại có những cách cảm nhận và biểu hiện khác nhaulàm nên những “gơng mặt thơ” khác nhau Nhà thơ Phạm Tiến Duật đến với cuộcchiến tranh trong t thế của một ngời lính đã sẵn sàng chiến đấu Vì vậy, thơ PhạmTiến Duật mang âm hởng lạc quan, bình tĩnh của ngời trong cuộc làm chủ hoàncảnh Hình tợng nhân vật trữ tình có đợc t thế bình thản, tự tin của ngời đã từng

trải bom đạn kẻ thù: “Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật

bom rung kính vỡ rồi/ Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” Còn Xuân Quỳnh không chỉ tiếp nhận cuộc chiến tranh nh một cách đơng

nhiên, hào hứng mà còn nh một trách nhiệm nặng nề phải gánh chịu, một sự thửthách thật lớn lao Vì vậy, thơ chị có sự cảm nhận sâu sắc, da diết về những giây

phút đời thờng không có đợc trong chiến tranh: “Giặc đến phá nhà ta ta phải

đánh/ Thành phố này không có thờng dân”.

Chiến tranh là một thử thách vô cùng nghiệt ngã đối với dân tộc ta Nh ngchính trong trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, phẩm chất anh hùng của con ngời ViệtNam hiện lên đẹp đẽ hơn bao giờ hết Vẻ đẹp ấy khiến Chế Lan Viên phải thốt

lên: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm/ Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này

chăng” Sức mạnh bạo tàn của kẻ thù không huỷ diệt đợc sức sống bền bỉ và quả

cảm của con ngời, dân tộc Việt Nam: “Chúng tôi không còn nhà cửa/ Chỉ có tấm

lòng và cây súng trong tay/ Uống nớc hố bom và đánh giặc đêm ngày/ Và khi ngủ gối đầu lên bao đạn”.

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, vẻ đẹp của dân tộc ta là vẻ đẹp của thứ “vàng mời”

đã đợc “thử lửa” (Chữ dùng của Nguyễn Tuân) Trong chiến tranh khốc liệt vẫnhiện lên t thế ung dung tự tại của con ngời và của một đất nớc với bề dày văn hoá,

là t thế của cái Đẹp, cái Thiện, của chính nghĩa Lâm Thị Mỹ Dạ ngợi ca Tổ quốc,Bác Hồ, ngợi ca những con ngời xả thân vì đất nớc bằng cái nhìn đầy lạc quan, tintởng vào tơng lai tơi sáng của dân tộc Đó là vẻ đẹp của cảnh lao động trong chiếntranh:

Trang 12

Đã hiện lên những vành nón trắng

Nh khoảng trời trẻ thơ mát êm

Nh cánh cò vỗ nhẹ trong đêm Nón trắng tròn gợi về chân trời rộng

(Gặt đêm)

Bài thơ viết về hoàn cảnh lao động đầy bất thờng trong chiến tranh ác liệt Những

cánh đồng bị rải bom nổ chậm “Màu vàng bom bi lẫn trong màu vàng của lúa”

thế nhng cảnh gặt đêm lại hiện lên đầy thơ mộng, đẹp lãng mạn bởi họ đang gặtmùa vàng Vẻ đẹp của lao động, của lòng can đảm, của tình yêu Tổ quốc, củathiên nhiên, mùa màng cộng hởng, lan toả tạo nên bức tranh đẹp, mềm mại, thơmộng trữ tình

Tuy vậy, cái nhìn của Lâm Thị Mỹ Dạ không phải là cái nhìn đơn giản,một chiều Chị nhìn rõ sự đau thơng, mất mát không gì bù đắp nổi do chiến tranhgây ra Quan trọng hơn, chị sự mất mát đó bằng đôi mắt lạc quan, tin tởng vào t-

ơng lai của cách mạng Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, Lâm Thị Mỹ Dạ thủ thỉ vớimọi ngời nghe câu chuyện hy sinh dũng cảm của cô thanh niên xung phong:

Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đờng

Lối mở đầu giống nh cổ tích, nhà thơ đa ngời đọc vào thế giới của huyền thoại.Bởi, chỉ có những con ngời huyền thoại phi thờng gánh vác cả cuộc chiến tranhthần thánh lên đôi vai của chính mình ở trong thế giới ấy, có sự hoá thân kỳ diệucủa nhân vật

Em nằm dới đất sâu

Nh khoảng trời đã nằm yên trong đất

Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng Những vì sao ngời chói, lung linh

(Khoảng trời - hố bom)

Cái chết không phải là sự mất đi, tan biến mà là sự thăng hoa, đi vào cõi bất tử, tanvào đất nớc, quê hơng, hồi sinh trong lòng thiên nhiên, Tổ quốc Cái chết ấy đợc

đặt trong sự vĩnh hằng, trờng tồn của đất nớc nên đó là sự hoá thân Vì vậy, cáichết ấy đợc đón nhận bằng sự thanh thản, nhẹ nhàng Chính sự bất tử của từng conngời anh hùng hữu danh và lớp lớp những ngời anh hùng vô danh đã làm nên sự

bất tử của Tổ quốc Đây cũng là cảm hứng chung của văn học giai đoạn này: “Tổ

Trang 13

quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Lê Anh Xuân), “Những ngời chết cho mùa xuân ở mãi” (Giang Nam), “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” (Vũ Cao)

Giọng điệu ngợi ca của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ còn thể hiện rõ ở những bài cangợi cảnh sắc quê hơng đất nớc, nh vẻ đẹp của những con đờng thủ đô

Đờng đan bóng lá lung linh

Đờng nh sông rộng chở tình nắng ma

(Đờng ở thủ đô)

Là quê hơng trong Tháng năm: “Đẹp nh câu hát từ lòng đất lên” Giọng điệu

ngợi ca cũng chính là chủ âm của văn học giai đoạn này Trong cái nhìn mangkhuynh hớng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn, con ngời chủ yếu sống với t-

ơng lai Do vậy, sự sống dù có rải trên nền bom đạn huỷ diệt thì vẫn mang mộtmàu hồng, màu xanh tơi mát, non tơ, hồn nhiên, sinh sôi nảy nở Đó là biểu hiện

của sự bất diệt của tinh thần và t thế không thay đổi của con ngời mà “Một triệu

tấn bom không thể nào làm xổ/ Một hạt cờm trên cổ chim tơ’’(Chế Lan Viên).

Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không nghiêng về phía mạnh mẽ, quyết liệt mà nhẹnhàng, sâu lắng Trong chiến tranh khốc liệt, mỗi nhà thơ thờng đi tìm cho mìnhmột miền bình yên để lấy lại sự thăng bằng, sự điềm tĩnh cần thiết để có đợc niềm

tin tất thắng vào tơng lai: ‘‘Suốt thời chống Mỹ, lí ngựa ô hát đến mê ngời’’(Phạm Ngọc Cảnh) ; còn nhà thơ Bằng Việt tìm về với “Mảnh vờn khi nắng xế, nghe ong

rù rì kêu” Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đi về phía những giá trị truyền thống của dân

tộc, tìm về thiên nhiên, quê hơng, tìm về ký ức nh một nhu cầu tất yếu Những bài

nh Biển, Vầng trăng, Tháng năm, Hơng cau, Nghĩ về mẹ khá tiêu biểu.

Khi đi về miền ký ức tuổi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ có những câu thơ thật đẹp:

Mẹ yêu con cho dòng sông biết hát

Cho những ngôi sao biết soi mặt đất cời …Nếu lòng mẹ là một khoảng trời xanh Thì ngôi sao nhất là tình yêu của mẹ

Trang 14

Có khi là sự tìm về với tiếng sáo trúc mộc mạc, giản dị mà thấm đẫm tìnhquê hơng, tình yêu thơng của mẹ.

Sáo ngân hay tiếng quê hơng

Êm nh lời mẹ yêu thơng dặn dò

(Tiếng sáo trúc)

Tiếng sáo gọi dậy tiếng quê hơng, tiếng ru của mẹ Vì vậy, thanh âm ấy cũng

chính là ‘‘lời ru dịu hiền’’ của mẹ, là tiếng vọng của quê hơng theo con trên mỗi chặng đờng đờng hành quân, tăng thêm sức mạnh để ‘‘giáp mặt quân thù’’.

Khi lại là sự tìm về với mảnh vờn thân thuộc:

Khóm cây ngày ấy mẹ trồng Mới đó đã thành bóng mát Bóng mát mỗi ngày mỗi lớn Cái vờn mỗi ngày trẻ ra

(Bóng mát)

Mảnh vờn ấy gắn liền với kỷ niệm tuổi nhỏ, gắn với bàn tay mẹ, với những tìnhcảm thân thuộc, ấm áp Từ những hình ảnh thân thuộc đó, nhà thơ triết về tình mẹcon, về cuộc sống tạo nên chiều sâu cho bài thơ

Khi lại đắm mình trong Tiếng mùa xuân:

Trời lên xanh bỡ ngỡ

Đờng làng thơm bánh chng Tiếng gà ai nhảy ổ

Xao xuyến cả một vùng

Tiếng gà đã gọi dậy, làm sáng bừng cả một vùng, đánh thức kỷ niệm, tình yêucuộc sống, trở thành tiếng gọi của mùa xuân Đó cũng chính là tiếng gọi của sứcsống, của lòng yêu đời

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, ngời đọc nhận thấy quê hơng, mẹ luôn gắn bó, hòaquyện, sóng đôi với nhau, gắn với những kỷ niệm một thời Vì vậy, trở về với quêhơng là trở về với mẹ, là tìm về với những kỷ niệm tuổi nhỏ Mặt khác, từ nhữnghình ảnh thân thuộc gắn với những kỷ niệm ngọt ngào, nhà thơ triết lý về cuộcsống tạo nên sự lắng đọng, sâu sắc cho những bài thơ của nữ thi sỹ Điều này tạonên tính triết lý sâu sắc mà cũng rất tự nhiên trong thơ của chị

Nhờ sự đằm sâu vào kỷ niệm, tuổi thơ, trở về với thiên nhiên mà cái tôi sửthi lại có chiều sâu, sự phong phú về tâm hồn, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn

Trang 15

không gì bẻ gãy Điều đó cũng góp phần tạo nên sự sâu lắng, nét riêng trong thơLâm Thị Mỹ Dạ Nguyễn Bá Thành đã có nhận xét rất chính xác: “Thơ ca cáchmạng lấy hiện thực cách mạng làm đối tợng phản ánh, lấy phục vụ cách mạng làmmục đích(…) Đó là một nền thơ có tổ chức và chịu ảnh hởng lớn của t duy chínhtrị” [76;48] Tuy vậy, trong cái chung của thơ ca cách mạng chúng ta vẫn nhận ranét duyên riêng của gơng mặt thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bởi giọng thơ trữ tình đằmthắm rất nữ của chị.

1.1.2 … đến cái nhìn thế sự đầy màu sắc hớng nội.

Nếu trớc 1975, văn học sống trong khuynh hớng lãng mạn và đậm tính sử thithì sau 1975, văn học vận động theo xu hớng dân chủ hoá, các nhà văn chuyển từ

“hát giọng cao” sang “giọng trầm” Trớc 1975, do nhu cầu cổ vũ tinh thần chocuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giọng điệu các sáng tác thơ văn chủ yếu là ngợi

ca, cái nhìn của các nhà thơ chủ yếu là cái nhìn một chiều, đơn giản, lạc quan Sau

1975, các nhà thơ chủ yếu nghiêng về suy nghĩ, phân tích, lý giải về vị trí, sự ứng

xử của mình và đánh giá đợc nó Nhà thơ Thanh Thảo viết: “Ngời ta không thể

chọn để đợc sinh ra/ Nh chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy”.

Khẳng định mình là thành viên của cộng đồng, dân tộc nhng không hoà tan vàocộng đồng ấy nhờ ý thức chính mình, về số phận thế hệ mình, các nhà thơ không

đơn giản mà nhiều suy nghĩ về cuộc sống, quê hơng, về lơng tâm, nghĩa vụ, sự hysinh

Cùng với xu hớng đó, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chuyển từ giọng điệu ngợi casang suy t trầm lắng Tiếp nối mạch cảm xúc tự nhiên, sau 1975 Lâm Thị Mỹ Dạcũng viết về chiến tranh Tuy vậy, đó không còn là sự nhiệt thành ngợi ca sôi nổi

mà có sự lắng lại, nhìn từ phía mất mát do chiến tranh Cùng với các sáng tác tr ớc

1975, đó nh một sự bổ sung, tạo nên cái nhìn đa diện, nhiều chiều về chiến tranh.Nhà thơ Fred Marchant đã viết về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: “Không chỉ giới thiệu chongời Mỹ về kinh nghiệm chiến đấu của ngời phụ nữ Việt Nam trên 30 năm, quacách nhìn của một nhà thơ nói về hậu quả lâu dài của chiến tranh” [52]

Sau 1975, cái nhìn của Lâm Thị Mỹ Dạ chủ yếu hớng về những hậu quả,những mất mát hy sinh của chiến tranh Cùng với niềm kính phục trớc sự hy sinhcao đẹp của những ngời con u tú của dân tộc là cái nhìn ở phía những hy sinh mất

mát không gì bù đắp nổi Tiêu biểu là những bài nh Một cuộc đời âm vang, Cây

Trang 16

bàng Trớc sự hy sinh của ngời anh hùng Trần Thị Trâm, trong lời ngợi ca, tri ân

của nhà thơ đầy xa xót khi đặt trong khung cảnh:

Tôi đứng trớc nghĩ trang liệt sỹ Những nấm mộ xếp đều bên nhau

Đó là sự mất mát không gì bù đắp nổi do chiến tranh Cuộc chiến còn để lại hậuquả lâu dài với biết bao cảnh đời

Ôi quê hơng ma nắng dãi dầu

Ngời mẹ già lắng chờ con gọi cửa Năm lần hẹn cha một lần gặp gỡ Niềm đợi chờ nh lửa cháy trong tim

(Một cuộc đời âm vang) Ngay cả khi “Máu xơng chị đất đai toả rạng” thì ngời mẹ ấy còn “Ngóng sao trời

ngời mẹ vẫn chờ con” Đó là sự ngã xuống của những ngời còn rất trẻ Họ đều ở

độ tuổi mời tám đôi mơi mà ”Lúc ngã xuống tuổi vừa tròn mời tám” (Cây bàng).

Dù mất mát, hy sinh nhng đó là sự hy sinh cao đẹp Vì thế, cái chết của những

ng-ời con u tú của quê hơng, đất nớc đã đi vào cõi bất tử cùng quê hơng, sông núi tạonên những sự hóa thân kỳ diệu Dù âm điệu thơ có chùng xuống nhng chủ âm vẫnmang tính chất bi tráng ở những dòng thơ này Điều đó thể hiện một cái nhìn tinh

tế, nhiều chiều, đa diện và cũng rất sâu sắc của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Đó là gơng mặt Tổ quốc vơn lên ”bền vững tháng ngày” từ đau thơng, mất

sử của đất nớc Với Lâm Thị Mỹ Dạ, ý thức ấy đã quyện cùng tình cảm một cáchsâu sắc, máu thịt trở thành suy nghĩ và tình cảm thờng trực Vì thế, từ niềm tự hào

Trang 17

đến nỗi đau đều rất chân thành và cảm động tạo nên chiều sâu, sức ám ảnh lớntrong những dòng thơ chị viết về quê hơng, đất nớc.

Chiến tranh để lại hậu quả lâu dài từ hai phía Với Lâm Thị Mỹ Dạ, cái nhìnnhân hậu của chị đợc thể hiện ngay cả với nạn nhân của cuộc chiến từ phía bên kiachiến tuyến Đó là cái nhìn mang tính nhân văn về những ngời lính Mỹ bị điều

động sang cuộc chiến ở Việt Nam và đã chết ở Việt Nam

Xin hãy giở dới lần da chó sói Trái tim nai thắm đỏ, thơ ngây!

(Khuôn mặt ẩn kín)

Đó còn là cái nhìn đầy thấu hiểu của trái tim ngời mẹ, “Một trái tim/ Nặng hơn

quả đất!” (Bức tờng đen) Điều này cho thấy cái nhìn đầy bao dung của một trái

tim nhân hậu, vị tha của nhà thơ Nhà thơ đã mạnh dạn bớc qua hàng rào ngăncách để tha thứ, để thấu hiểu cho những nạn nhân chiến tranh nói chung Thực tế,chiến tranh luôn mang lại đau thơng, mất mát không thể bù đắp cho những ngời

dân của cả hai bên tham chiến Với những bài thơ nh Bức tờng đen, Khuôn mặt ẩn

kín… cho thấy cái nhìn mang tính nhân văn sâu sắc của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

Đúng nh nhà thơ Fred Marchant đã nhận định, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trở thành “sứgiả của hoà bình” Đây là một hớng đi mới, một hớng tiếp cận mới thể hiện sự tìmtòi, sáng tạo trong nghệ thuật nhng cao hơn cả là sự nhân hậu, nhạy cảm của mộttrái tim giàu yêu thơng

Nữ thi sỹ tiếp tục viết về quê hơng đất nớc với tình cảm gắn bó thiết tha ởchặng này, hình ảnh đất nớc hiện lên chủ yếu ở phơng diện những giá trị truyềnthống Bởi “truyền thống là điểm tựa và là yếu tố thuộc nội lực của cá tính sáng

tạo” [71;163] Những bài nh Chuyện cổ nớc mình, Tôi nghe đàn đá, Tiếng trống

đồng là rất tiêu biểu Đây cũng là những bài thơ in đậm tài năng, phong cách sáng

tạo của chị Qua những bài thơ này, chiều sâu tâm lý của con ngời đợc phát hiệnthông qua việc đề cao ý thức công dân, ý thức trách nhiệm trớc dân tộc và lịch sử

Nhà thơ còn trực tiếp ca ngợi quê hơng đất nớc nh Bông súng trắng, Quê hơng, Tổ

quốc, Tiếng chim trên đồng lúa, Một ngày Đà Lạt… Đó là một Tiếng chim trên

đồng lúa gọi dậy bao ký ức, khát vọng, mong ớc và trách nhiệm của công dân,

tuổi trẻ

Đất nớc cha yên giặc

Bạn vẫn con xa quê

Trang 18

Trong trẻo trong nỗi nhớ vẫn một niềm mong ớc đến ngày hòa bình xanh mặtruộng đợc trở về, sum họp với niềm hạnh phúc đời thờng Đó chính là khát khaothầm kín mà cháy bỏng của biết bao ngời lính trẻ ra trận cũng nh những con ngời

từ phía hậu phơng Đó cũng là động lực thôi thúc, cổ vũ tinh thần chiến đấu củamỗi con ngời Việt Nam trong những năm chiến tranh để đi đến thắng lợi cuốicùng

Một Quê hơng “còn vất vả gian lao” bởi “nắng rát mặt ngời”, “gió nam

nh thổi từ núi lửa”, bởi “mùa hạn cha qua đã lo mùa úng” Tuy vậy, quê hơng vẫn

vợt qua và rạng ngời “gơng mặt trẻ trung”, vẫn “vững bền sức sống”, thật hồn hậu

trong trẻo

Đồng quê ơi, nắng gió sờn vai Vẫn hồn hậu giọng cời trong trẻo

Đó cũng là vẻ đẹp của dân tộc đợc thể hiện bằng những nét rất riêng của Quê

h-ơng Chính vẻ đẹp riêng của mỗi một miền quê góp phần làm nên vẻ đẹp phong

phú, da dạng của đất nớc

Càng về sau, Lâm Thị Mỹ Dạ càng khơi sâu vào cái tôi nội cảm bởi “bản chấtthơ trữ tình là ý thức về cái tôi, về giá trị bản thân, về quyền sống, quyền làm ng -ời” [62;97] Với Lâm Thị Mỹ Dạ, dù có viết tiếp về quê hơng đất nớc hay viết vềchính mình thì những hình ảnh ấy chủ yếu hiện lên trong ký ức, hoài niệm, chậpchờn giữa thực và ảo Ranh giới chập chờn giữa thực và ảo là một nét riêng trongthơ Mỹ Dạ trong những sáng tác sau 1975 Có lẽ, vì vậy mà thơ chị có sự trong

trẻo khó lẫn Tiêu biểu là Đề tặng một giấc mơ Bài thơ là chùm các hình ảnh, sự

kiện diễn biến đứt nối làm thoả mãn những ớc mơ vô thức của con ngời Nó có cộinguồn từ những gì từng trải, sống qua và dự cảm của ngời đang mơ Cho nên sự

bất ngờ mà vẫn hợp lý ở chỗ “Chú bé là ai/ Chú bé là tôi/ Con chim là ai/ con

chim là tôi/ Giấc mơ là ai/ Giấc mơ là tôi” Đó là sự gặp gỡ của khát vọng ngời mà

trong thế giới tiềm thức, vô thức, nó mới đợc khôi phục một cách êm ái, dịu dàng,bừng ngộ Từ thế giới của giấc mơ ấy, tác giả nhìn ra cuộc đời đầy đam mê, tiếcnuối Đó là sự tiếc nuối, ám ảnh về thời gian Thời gian chảy trôi cuốn theo tuổi

trẻ với bao đam mê, khát vọng và mộng mơ: ‘‘Rồi cỏ sẽ xanh tên tuổi của chúng

ta/ Dòng sông sơng mù trôi mãi” (Những tứ thơ quên lãng) Tác giả nhận ra rất rõ

bằng cảm giác của chính mình “Đời ngời rồi qua mau”, “Đời ngời thoáng chốc

tan vào gió”, “Hạnh phúc mong manh hơng ổi bay” và con ngời bị thời gian cuốn

Trang 19

đi Điều quan trọng là con ngời phải biết mộng mơ Chỉ có nh vậy, con ngời mới

khắc phục đợc cái hữu hạn của đời ngời nhất là sự ngắn ngủi của tuổi trẻ mà LâmThị Mỹ Dạ đã nhiều lần nói tới bằng nhiều lối nói khác nhau

Có một bông đào sau xuân mới nở

Có một bông đào muốn níu lại mùa xuân

(Sau xuân)

Hoặc là nói một cách trực tiếp hơn:

Hoa cho tôi thắm lại Tuổi xuân mình đã phai

(Hoa Hà Nội) Chính nhờ vào biện pháp tâm lý ấy mà ngời thơ tìm lại đợc “thời gian đã

mất” để “cái khoảng đời vô t trong sáng/ Lại rộn ràng từ hoa cỏ mọc lên” nh chị

đã từng tâm sự và tha thiết tìm về

Với những đề tài quen thuộc, Lâm Thị Mỹ Dạ đã có những cách cảm, cách

nghĩ mới và giọng thơ cũng trở nên sâu lắng và tha thiết hơn Từ tập thơ Hái tuổi

em đầy tay, có một số bài thơ của chị đã có sự đổi mới về thi pháp Nhà thơ trở về

với chính mình, lấy mình làm đối tợng khám phá, tự vấn, đối thoại với chính

mình, tạo nên giọng thơ đầy trăn trở Những bài nh Trái tim buốt nhức, Nói với

trái tim rất tiêu biểu cho khuynh hớng này Đó là trái tim đầy trăn trở, trái tim rất

đời thờng với đầy đủ cung bậc tình cảm và sự phức tạp muôn đời vốn có của nó

Buốt nhức vì giận hờn vì yêu

vì nhớ

(Trái tim buốt nhức) Bởi, trái tim với hình dáng đặc biệt của nó, “trái tim mang dáng lỡi cày”, suốt đời

không yên ổn Nhng đó chính là cách tồn tại riêng của nó

Để suốt đời cày lên Cày lên

Đớn đau và hạnh phúc

(Nói với trái tim)

Sự đổi mới về thi pháp đợc thể hiện nổi bật từ tập Đề tặng một giấc mơ.

Từ tập thơ này, Lâm Thị Mỹ Dạ chủ yếu lấy bản thân mình làm đối tợng phản ánh

để nhìn ra cuộc đời Đây cũng là xu hớng chung của các nhà thơ cùng thời Tuy

Trang 20

vậy, giữa họ, ngời đọc vẫn nhận ra sự khác biệt rõ nét Các nhân vật trữ tình của ýNhi là kiểu con ngời phức hợp về trạng thái tình cảm Sự phức hợp đó thờng đợc

thể hiện qua các đối cực đầy mâu thuẫn của số phận: “Trong nỗi chua chát của

tuyệt vọng/ Trong kiêu hãnh của sự khớc từ anh đơn độc’’ Hoặc là: ‘‘Ngọt nh

r-ợu, đắng nh rợu/ Vui nh tiệc cới, buồn nh tiệc cới’’ Đó là sự thống nhất của các

mặt đối lập, tạo nên sự đa dạng, nhiều chiều và chiều sâu nội tâm của con ngời:

‘‘Cam chịu và cuồng nộ/ Mong mỏi và buồn nản/ Giản đơn và rối ren/ Lớn lao và

cạn hẹp”…

Nếu nh ở ý Nhi xuất hiện trạng thái nhiều con ngời trong một con ngời thì

ở Lâm Thị Mỹ Dạ là con ngời đầy cô đơn, tiếc nuối Chị đã tự khơi vào mọi ngõngách sâu kín của tâm hồn mình một cách đầy chân thật Đó là nỗi ám ảnh, tiếcnuối trớc sự trôi chảy của thời gian, là nỗi cô đơn vô tận trong khoảnh khắc đốidiện với bản thân mình, là niềm khát khao hớng tới một tình yêu tuyệt đích

Từ Đề tặng một giấc mơ, Lâm Thị Mỹ Dạ khơi sâu vào cái tôi nội cảm của

mình Chị nói nhiều đến nỗi buồn trớc sự chảy trôi của thời gian cuốn theo bao

đam mê, ớc vọng của tuổi trẻ Vì vậy, khát vọng trở về với tuổi trẻ, níu giữ thờigian cũng là khát vọng thờng trực

Mẹ nh cửa sông nhớ về nguồn trong vắt

Biển kề bên sóng cứ muốn ngợc lên ngàn

(Mẹ ngày xa)

Gặp mình, tìm mình, tự vấn, tự thú, tự thoại về mình là tiếng nói khẩn thiết trongthơ Lâm Thị Mỹ Dạ Nỗi buồn, sự cô đơn khắc khoải ngày càng bàng bạc và trởnên đậm đặc trong thơ chị

nh với Ngời tình h ảo, hoặc Với biển nhng vẫn hoàn toàn là sự cô đơn của nhân vật

trữ tình khi đối diện với biển mênh mông, nỗi đau càng trở nên mặn chát Dù vậy,

Trang 21

đó là sự cô độc cao sang trớc biển đời giông bão Nhiều khi, nỗi cô đơn trở thành

sự đơn độc không thể chia sẻ, giãi bày nhà thơ trở về với chính mình với tất cả sự

cay đắng: một mình khóc, cời một mình, ghét mình, rồi tự thơng bởi “còn ai hiểu

ta bằng ta” “còn ai yêu ta bằng ta” Vẫn là một sự cô độc tuyệt đối.

Càng về sau, tính chất tự sự đợc tăng cờng, giọng thơ trở nên khắc khoải,khẩn thiết hơn và thấm đợm màu sắc triết lý Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm cuộc hànhtrình trở về với chính mình đầy trăn trở và chân thật Đằng sau những câu thơ là dựcảm lớn về khát vọng vĩnh hằng, mang tính nhân văn sâu sắc Đi cùng với sự cô

đơn là sự mong ớc có đôi, đi hết nỗi buồn, niềm vui sẽ bừng sáng trên khuôn mặt.Hơn nữa, nỗi buồn trong thơ chị luôn dìu dịu, nhè nhẹ, là nỗi buồn sáng trong ởchị, nỗi buồn và nỗi cô đơn cũng là một lựa chọn nghệ thuật

Sự chuyển biến trong con đờng thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ là một tất yếucùng với xu hớng vận động chung của văn học dân tộc Dù vậy, ở mỗi chặng đờngthơ ngời đọc luôn nhận ra nét riêng đáng yêu trong thơ chị bởi những khám phánghệ thuật đặc sắc, bởi “thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thốngnhng luôn phá và thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ” [28;64].Trải qua các chặng đờng thơ khác nhau nhng Lâm Thị Mỹ Dạ luôn nhất quán với

vẻ đẹp chung Đó là vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm, dịu dàng, đầy nữ tính

1.2 Quan niệm về thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ

Những ngời sáng tác nghệ thuật bao giờ cũng dựa trên một “tôn chỉ” nghệthuật nhất định trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình Có ngời phát biểutrực tiếp quan niệm sáng tác của mình qua báo chí, diễn đàn nh Vũ Trọng Phụng

Có ngời thể hiện quan điểm sáng tác của mình qua các sáng tác nghệ thuật củamình nh Thế Lữ, Xuân Diệu, Nam Cao Có những trờng hợp, nhà văn vừa phátbiểu trực tiếp vừa phát biểu gián tiếp nh trờng hợp của nhà thơ Chế Lan Viên Hầuhết, sáng tác của các nhà văn đều thống nhất với quan niệm nghệ thuật của họ.Tuy nhiên, cũng có trờng hợp, sáng tác của họ hẳn lúc nào cũng trùng khít vớiquan niệm sáng tác thậm chí còn đối lập với quan niệm do họ đa ra nh NguyễnTuân Dựa vào những phát biểu của Nguyễn Tuân, ngời ta có thể xếp ông vào tr-ờng phái ”nghệ thuật vị nghệ thuật” nhng trên thực tế, ông lại là ngời ”vị nhânsinh” trên cơ sở “vị nghệ thuật” Thực chất, ở Nguyễn Tuân vẫn có sự thống nhấtgiữa quan điểm sáng tác và thực tiễn sáng tác bởi những lời phát biểu của ông chỉ

là kiểu “nói phẫn” rất Nguyễn Tuân

Trang 22

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, ta nhận thấy chị là ngời luôn trăn trở về thơ, nhất làtrong một thời gian dài, thơ có vị trí rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt, sảnxuất và chiến đấu trong suốt hai cuộc chiến tranh cứu nớc vĩ đại của đất nớc nhnghiện nay bối cảnh văn hoá xã hội có nhiều thay đổi thì vai trò, vị trí của thơ cóphần mờ nhạt Trong thực tế sáng tác của mình, chị là ngời đã giành trọn tâm hồnmình cho thơ Trớc cuộc sống xô bồ, hối hả, Lâm Thị Mỹ Dạ chạnh buồn trớc

thực cảnh “Đời nặng thế mà thơ thì nhẹ quá” Nữ thi sỹ vẫn không tin rằng “thơ

có ngày tận thế” bởi, thơ chính là điểm tựa tinh thần cho mỗi con ngời tìm về sau

những cuộc mu sinh đầy vất vả

Thơ xanh biếc quả địa cầu xanh biếc Quay dịu dàng giữa vũ trụ tình yêu

(Tôi không tin thơ có ngày tận thế)

Sự trăn trở đó thể hiện rõ nét qua các chặng đờng sáng tác của mình Càng về sau,

đặc biệt là từ tập Đề tặng một giấc mơ chị càng có nhiều bài thơ nói về thơ, thể

hiện sự không thôi trăn trở của một ngời đã giành trọn tâm hồn mình cho thơ Quan niệm sáng tác của Lâm Thị Mỹ Dạ vừa đợc phát biểu trực tiếp quadiễn đàn, báo chí, vừa thể hiện khá hệ thống trong các bài thơ qua các chặng đờngthơ của mình Chúng tôi nhận thấy một số điểm nổi bật trong quan niệm sáng táccủa chị Theo Lâm Thị Mỹ Dạ, thơ là “bản tự thuật tâm trạng” của nhà thơ và thơ

là lãnh địa tinh thần của cái đẹp cao sang, thánh thiện

1.2.1 Thơ là lãnh địa tinh thần của cái đẹp

Đây là quan niệm chung của giới văn nghệ sỹ Tuy vậy, biểu hiện của nólại vô cùng phong phú đa dạng trong thực tế Có khi lãnh địa tinh thần ấy gắn bó,gần gũi với tôn giáo nh trong thơ Tago, thơ Hàn Mặc Tử Tuy nhiên kiểu thơ tôngiáo của Tago cũng rất khác biệt với thơ tôn giáo Hàn Mặc Tử Có khi thơ là lãnh

địa tinh thần của cái đẹp cất lên từ cuộc sống vốn phong phú, da dạng, bề bộn và

đầy phức tạp của nó Đến với thơ là đến với hoạt động sáng tạo tinh thần hớngthiện, hớng tới cái đẹp Với Lâm Thị Mỹ Dạ, thơ là lãnh địa tinh thần của cái đẹpcao sang, thánh thiện Chị tâm sự: “với tôi, thơ là cái đẹp, mãi mãi nh vậy Khôngthể lấy một bài thơ nào làm tiêu chuẩn chân lý cho thơ Mỗi thi nhân đích thực

đều có sự lấp lánh riêng, không ai giống ai Ngời có bản lĩnh thơ là ngời biết chấp

Trang 23

nhận sự thách đố của thời gian chứ không phải là sự thách đố nào khác Đam mêthơ, đam mê cái đẹp là sự thành công một nửa của ngời làm thơ” [16].

Trong sáng tác của mình, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng trung thành với quan niệm

đó Với chị, đến với thơ là đến với cái đẹp thanh cao, trong sáng không vụ lợi Thơluôn là sự trong lành quá đỗi, là nơi để con ngời tìm về để thanh lọc tâm hồn Đó

là vẻ đẹp của sự hồn nhiên, trong sáng, tĩnh tại Và vì vậy, đó là chỗ nơng tựa tâmhồn cho Lâm Thị Mỹ Dạ trong cuộc đời này

Vì cái đẹp Vì thơ

Ta sống

Nhà thơ Nguyện cầu đầy khẩn thiết: “Tâm hồn ơi/ Đừng hóa thạch/ Xin đừng!”.

Nhà thơ luôn hớng tới thơ nh một nhu cầu để chia sẻ, bộc lộ, giãi bày cõi lòngmình Hớng tới thơ cũng chính là hớng tới cõi cao sang, thánh thiện để giữ cholòng mình đợc thanh sạch, tránh khỏi mọi vớng bận của cuộc đời Do đó, đến vớithơ cũng chính là trở về với mình đầy chân thật Nhà thơ tự thú với thơ, với chínhmình để rồi giữ cho tâm hồn đợc trong sáng để có thể đến với thơ cho trọn con đ-ờng cũng chính là cách để nhà thơ sống thật với chính mình

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, cái đẹp của thơ là cái đẹp đợc chng cất lên từ hiệnthực đa dạng, phức tạp, bề bộn của cuộc sống Nhà thơ cho rằng: “Cuộc sống đadạng, và mỗi ngời có quan niệm riêng về nó Tôi yêu cuộc sống, dẫu số phận mìnhkhông đợc suôn sẻ Cuộc sống là rất đẹp, đẹp trong sự rực rỡ hạnh phúc và đaukhổ, cô đơn Cuộc sống giàu có cho tôi nhiều cảm xúc trong sáng tạo Yêu cuộcsống để làm những gì cho cuộc sống đẹp, đó chính là quan niệm của tôi” [17] Từ

đó quan niệm đó về cuộc sống, Lâm Thị Mỹ Dạ đa ra ý kiến của mình về thơ:

“Thơ không chỉ viết về tình yêu Ngời ta có thể làm thơ về nỗi khổ, về bất hạnh.Chỉ cần có một tấm lòng và một trái tim, và còn rung động trớc đời sống” [55] Vì

vậy, trớc thực trạng “Đời nặng thế mà thơ thì nhẹ quá”, Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn trọn

niềm tin vào sự bất diệt của thơ

Nếu thế giới còn khổ đau cái đẹp

Thì thơ ca nh hạt cứ lên mầm Thơ xanh biếc - quả địa cầu xanh biếc Quay dịu dàng giữa vũ trụ tình yêu

(Tôi không tin thơ có ngày tận thế)

Trang 24

Với sứ mệnh cao cả đó, ngời làm thơ là: “Bao thân phận thơ đi tìm cái đẹp/ Rong

ruổi qua mọi đắng cay vui buồn” (Thân phận tơ trời) Đó là cái đẹp đợc vút lên từ

mọi đắng cay, vui buồn của cuộc sống Do vậy, quan niệm thơ là lãnh địa tinhthần cao sang của cái đẹp là không phải là quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật mà

đó là thuộc tính quan trọng cần thiết vốn có của thơ Nói nh Hoài Thanh là “nghệ

thuật trớc hết phải là nghệ thuật đã” Tuy vậy, Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn dành “ Những

câu thơ hay nhất/ Về hạnh phúc, tình yêu’’ Ước mong, khao khát ấy cũng thật dễ

hiểu đối với trái tim của một ngời phụ nữ luôn khao khát yêu thơng

Cũng có lúc, Lâm Thị Mỹ Dạ đã rơi vào bế tắc trớc thực cảnh trớ trêu:

“Thơ trên cao - tầm tay với chênh vênh” (Bi kịch của riêng tôi) Theo chị, muốn

“mở cánh cửa thi ca”, “ngời thơ” trớc hết phải có tâm hồn trong sáng, thuần khiết Những lúc tâm hồn trở thành “những ốc đảo” cũng là lúc:

Tự thiêu chính mình Giơ cao lá cờ trắng Trớc thơ

(Lá cờ trắng)

Trong “lâu đài thơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ, cái đẹp ấy chính là nỗi buồn caosang khắc khoải mà ấm áp Chị tâm sự: “Nỗi buồn hầu nh có sẵn trong tâm trạngthơ tôi, nh một định mệnh Tôi rất ngạc nhiên trớc những ai sống trên đời màkhông biết buồn Nỗi buồn theo tôi là rất đáng trân trọng (…) Nỗi buồn là ngôinhà ở đời của nhà thơ” [15] Với chị, nỗi buồn không đơn thuần là trạng thái tâm

lý, cảm xúc mà mang tính quan niệm, tính thẩm mỹ, trở thành tiêu chuẩn của cái

đẹp trong thơ Tuy nhiên, đây không phải là quan niệm mới mà các nhà thơ ViệtNam đã nói nhiều về nỗi buồn nhng nỗi buồn nh một quan niệm thẩm mỹ thì phải

đến thời đại thơ mới Tất nhiên ở thơ mới là “nỗi buồn thế hệ” nh nhà thơ HuyCận đã từng tâm sự còn là nỗi buồn mang tính quan niệm Thớc đo cái đẹp của thơmới chính là cái buồn Cái đẹp là cái buồn, càng buồn càng đẹp Nỗi buồn ấy vừa

có nguyên nhân xã hội vừa có nguyên nhân cá nhân ngời nghệ sỹ vừa có nguồngốc từ chính quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ mới

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, nỗi buồn có nguồn gốc từ chính miền quê, tuổi thơkhông êm đềm và cả quãng đời của một ngời phụ nữ xinh đẹp nhng đa đoan Nỗibuồn ấy đã đeo đẳng quan niệm về thơ và đi vào sáng tác của nữ thi sỹ Chị đãtừng bộc bạch: “Miền quê của thơ tôi là nỗi buồn Thơ của tôi đợc cấy trồng trên

Trang 25

nỗi buồn dằng dặc có từ kiếp nào” [55] Tác giả Ngô Minh cũng nhận thấy: “Nỗi

đau trờng cửu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là hệ quả của việc Mỹ Dạ đã sống với thơbằng trái tim tổn thơng không thành sẹo” [53] Tuy vậy, thơ Mỹ Dạ không đơnthuần là nỗi đau cá nhân mà giá trị nhân văn là ở chỗ nỗi đau buồn ấy không bịbiến thành rên xiết mà chị luôn tìm đợc cho mình những điểm tựa nâng đỡ tinhthần để vợt qua, lấy lại cân bằng Đó là nỗi buồn mang tính nhân bản sâu sắc.Những lúc rơi vào bi quan, tuyệt vọng chị tìm đến với thiên nhiên, trở về với ký

ức, tuổi thơ Có lẽ, vì vậy mà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dù đợc cấy trên nỗi buồn dằngdặc nhng vẫn nhẹ nhàng, trong sáng Đó là “nỗi buồn sáng trong” hay là “nỗibuồn biếc xanh” nh cách gọi quen thuộc của chị

1.2.2 Thơ là “bản tự thuật tâm trạng” của nhà thơ

Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã từng nói: “Ngời thơ phong vận nh thơ ấy” Lâm Thị

Mỹ Dạ cũng bộc bạch đầy chân thành và nhiệt huyết: “Muốn có thơ hay phải sốngthật với chính mình” [17] Để sống thật, sống hết mình cho thơ, chị tâm sự: “Cáikhổ của ngời làm vợ, làm mẹ là cái khổ của thân xác đồng hành cùng hạnh phúc,

là cái khổ, niềm hạnh phúc có thể san sẻ đợc Còn cái khổ cũng nh hạnh phúc củangời làm thơ là tự biết mình, không ai chia, không ai gánh, tìm kiếm, trăn trở, dằnvặt nên đã có lúc tôi đã giơ cao lá cờ trắng đầu hàng thơ” [16]

Đọc thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chính là ngời đọc đang đợc tiếp xúc với chân dungtinh thần của nhà thơ Nhà thơ Ngô Minh đã cho rằng: “Nhờ trực cảm mạnh, thơ

Mỹ Dạ là thơ thốt lên sự buốt nhói của con tim, chứ không phải là “chuyện đời lựa

mà viết” nh nhiều ngời khác Thơ ấy luôn chân thật mà mới mẻ, xúc động lòngngời” Tác giả viết thêm: “Cái trực cảm thơ ấy do số phận và sự từng trải của nhàthơ tạo nên, không thể học ở sách vở hay trờng lớp mà có đợc” [53] Tuy vậy,

“bản tự thuật” ấy không có nghĩa là sao chép, mô phỏng hiện thực cuộc sống, tâmtrạng một cách dễ dãi Chị thú nhận: “Tôi đã từng đốt 45 bài thơ đầu đời vì sợ sáomòn” Chị cho rằng: “Muốn có thơ hay là phải sống thật với chính mình” và nóithêm “Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thờng, nhìn thấy nó đã khó, mà diễn tả đ-

ợc nó càng khó Ngời ta chỉ đạt đến thơ nh một quả trứng nóng bức tới mức tự nóphải tách vỏ nở ra đời sống - một đời sống sinh động, có hình hài Nếu vội vã bóclớp vỏ đi khi cha đến độ thì sẽ chẳng bao giờ đạt đến thơ mà chỉ có những ngôn từchết Vì vậy, có đợc một bài thơ hay vô cùng khó” [17]

Trang 26

Từ đời thơ của mình, Lâm Thị Mỹ Dạ hiểu rõ những ngời phụ nữ làm thơ là

những Thân phận tơ trời với trăm cái khổ để òa vỡ “Cảm xúc thơ - Nức nở phận

mây, tơ” Lao động nghệ thuật yêu cầu khắt khe, nghiêm túc Lâm Thị Mỹ Dạ

cũng ý thức thờng trực về sự khắt khe đó trong sáng tạo thơ ca

Đi cuối đất cùng trời mới tìm ra ngôn ngữ

Ngôn ngữ thơ, đau đáu những đêm trờng Xin cảm nhận Ngời từ trái tim lên não Để cho thơ đi trọn con đờng

(Bi kịch của riêng tôi)

Điều đó trở thành nỗi đau đáu thờng trực, ngay từ những sáng tác đầu tay của chị

Bài Chuyện cũ tuổi thơ có thể xem là tuyên ngôn nghệ thuật của nữ thi sỹ ngay ở

chặng đờng đầu sáng tác Bài thơ đợc viết ra một cách tự nhiên về hồi ức kỷ niệm

đáng nhớ thời thơ ấu Vợt lên trên tính chất tự sự của câu chuyện là thông điệpnghệ thuật sâu sắc mà nhà thơ muốn gửi gắm về công việc làm thơ của mình Ngờisáng tác chỉ có tác phẩm nghệ thuật đích thực khi sự thai nghén đó thực sự đã chínmuồi nếu không đó chỉ là lớp ngôn từ chết mà thôi Tác giả Hồ Thế Hà đã rấtchính xác khi nhận xét: “Thơ chị tự nhiên cứ tởng thốt ra là thành, không cần sửachữa nhiều lắm nhng đó là cái tự nhiên của một tâm hồn đã chín, của những tứ thơcâm lặng, lãng quên đợc đánh thức sau “giấc ngủ mặt trời”, lúc mà cái - tôi - nghệ

- sỹ đợc lên ngôi cùng với những giấc mơ phát sáng màu huyền thoại” [28;64]

Chơng 2: Thế giới hình tợng trong thơ Lâm

Thị Mỹ Dạ

Hình tợng nghệ thuật là trung tâm của tác phẩm văn học T tởng của nhàvăn đợc gửi gắm trong tác phẩm nghệ thuật thông qua hình tợng nghệ thuật Sựchiếm lĩnh đời sống của nhà văn chỉ đợc thể hiện qua hình tợng nghệ thuật Vìvậy, nhà văn bao giờ cũng sáng tạo nên một thế giới hình tợng nghệ thuật riêngbiệt để phản ánh hiện thực, để gửi gắm tâm t, tình cảm cũng nh t tởng của mình.Hình tợng nghệ thuật không chỉ giới hạn ở hình tợng nhân vật, hình tợng phongcảnh… mà “Bất cứ một sự vật nào tồn tại chỉ để ngời ta nhận ra một cái khác, vợt

ra ngoài nó thì đó là hình tợng (…) Hình tợng văn học chỉ để cho ngời ta thể

Trang 27

nghiệm một ý niệm phổ quát về tinh thần” [24;256] “Hình tợng nghệ thuật trongtính chỉnh thể thể hiện thành thế giới nghệ thuật ( ) Thế giới nghệ thuật có các

tọa độ của nó, không gian, thời gian của nó, có con ngời, xã hội, lịch sử, thiên nhiên, đồ vật… của nó, để hoàn toàn phân biệt với tọa độ, các chiều, số đo, … của thế giới thực tại ngoài nghệ thuật” [24;258] “Hình tợng nghệ thuật là tồn tại bản

thể của nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Hình tợng nghệ thuật là tiêu

điểm sáng tạo của nhà văn, làm cho văn bản ngôn từ trở thành tác phẩm nghệthuật” [34;262]

Tác giả Lại Nguyên Ân cũng cho rằng “Bất cứ hình tợng nào đợc xây dựnglại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật, đều là hình tợng nghệ thuật (…).Hình tợng nghệ thuật là kết quả hoạt động tởng tợng, nhằm tạo ra một thế giới ứngvới nhu cầu và định hớng về tinh thần của con ngời, ứng với hoạt động có chủ

đích, với lý tởng của con ngời” [2;142-143]

Nh vậy, hình tợng nghệ thuật là cách thức khái quát hiện thực của nhà vănvừa là nơi để nhà văn kí thác t tởng, gửi gắm tình cảm, ớc mơ và lý tởng của mình.Hay nói khác đi, hình tợng nghệ thuật là sự thống nhất giữa nhân tố nhận thức -khách thể và nhân tố sáng tạo - chủ thể Hình tợng nghệ thuật mang tính chỉnhthể, tính độc đáo và tính không lặp lại của các hiện tợng Thế giới hình tợng củamột nhà văn là một chỉnh thể nghệ thuật sinh động, riêng biệt, không lặp lại vàcũng rất thống nhất Thế giới nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận là sông dài, trờirộng, bến cô liêu; ở nhà thơ Hàn Mặc Tử là không gian đầy trăng vừa tinh khiếtcủa một cõi trời thơm tho, vừa rất trần thế; ở Xuân Diệu là một thế giới đầy sứcxuân và tình yêu với khát khao giao cảm cháy bỏng; ở Nguyễn Bính là không gianmiền quê miền Bắc với những hình ảnh thân thuộc; ở Hoàng Cầm là không gianvăn hóa Kinh Bắc với những phong tục, hội hè, đình đám, những ngôi chùa cổkính, thấp thoáng bóng dáng của những cô thôn nữ đẹp tình tứ…

Nh vậy, hình tợng nghệ thuật là tiêu chí quan trọng và đáng tin tởng để tìmhiểu t tởng nghệ thuật của một nhà văn Tuy vậy, không phải hình tợng nào cũng

là hình tợng nghệ thuật Chỉ có hình tợng nào đợc đẻ ra từ máu thịt, tâm hồn nhàvăn nhằm thể hiện một quan niệm, t tởng nhất định nào đó về cuộc đời, con ngờimới trở thành hình tợng nghệ thuật

Trang 28

Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi nhận thấy một

số hình tợng nổi bật: một không gian đầy màu sắc và hình ảnh; hình tợng thời gianvới các chiều kích của nó; hình tợng đời sống nổi bật với hình tợng Tổ quốc, hìnhtợng gia đình Vì vậy, chúng tôi tập trung đi vào khảo sát các phơng diện này để

từ đó chỉ ra phong cách và t tởng của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

2.1 Hình tợng không gian

Không gian nghệ thuật là phơng thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệthuật Không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn với cảm xúc của ngời nghệ sỹ, chonên nó mang ý nghĩa chủ quan và ý nghĩa nhân sinh Trong nghệ thuật, ngời nghệ

sỹ không chỉ làm sống dậy một không gian vật chất cảm tính mà chủ yếu là đểnhận thức về không gian tâm hồn con ngời Hay nói khác đi, đó là hình tợng nghệthuật “Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểmnhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính đợc bộc lộ quảng tínhcủa nó (…) tạo thành viễn cảnh nghệ thuật” [30;134-135] Là một hiện tợng nghệthuật, không gian nghệ thuật là một hiện tợng ớc lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, ngoàikhông gian vật thể (không gian bên ngoài) có không gian tâm tởng (không gianbên trong) Do đó, không gian nghệ thuật có tính độc lập tơng đối Về tính chất,không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm vănhọc mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay củamột giai đoạn văn học Không gian nghệ thuật là mô hình về thế giới mà con ngời

đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó Không gian nghệthuật gắn với quan niệm về con ngời và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy Vìvậy, tìm hiểu không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là cơ sở để tìm hiểuquan niệm về thế giới và con ngời của một nhà văn

Đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, ngời đọc đợc đắmmình trong một không gian độc đáo, lãng mạn đầy màu sắc và hình ảnh Đó làkhông gian của mơ ớc, hoài niệm và của cả những điều khao khát, là không gian

để cái tôi trữ tình tìm về nh một chỗ dựa tinh thần để lấy lại sự cân bằng cần thiết

để thanh lọc tâm hồn

2.1.1 Một không gian xanh

Màu sắc nghệ thuật là hiện tợng khá phổ biến Ta biết đến màu xuân xanh,

màu dơng liễu… trong Chinh phụ ngâm, màu hồng, màu vàng… trong Truyện

Trang 29

Kiều của Nguyễn Du… Từng có những cách nói đặc biệt về màu nh màu sơng

(Truyện Kiều), màu thời gian, màu Tổ quốc (Chế Lan Viên); màu ẩn sỹ, màu kiêu

hãnh, màu thanh khiết, màu áo cới (Tố Hữu)… Theo tác giả Trần Đình Sử, “màu sắc trong văn học chẳng những là phơng tiện miêu tả thế giới, mà còn là phơng

tiện thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang đậm màu sắc thời đại vàcá tính Màu sắc trong tác phẩm có thể giàu, nghèo, đậm, nhạt, thực, ảo phụ

thuộc vào cái nhìn của nghệ sỹ” [69;381] Những màu sắc trong thơ ca có khả

năng phản ánh cả những màu sắc bên ngoài lẫn những “màu sắc bên trong” củathiên nhiên và con ngời Từ đó, có thể xác định những quan điểm, cái nhìn nghệthuật của mỗi một nhà thơ về con ngời và xã hội

Bớc vào thế giới thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là bớc vào không gian của sắc màu

D-ới cái nhìn của chị, không chỉ thiên nhiên cảnh vật, mà không gian, thời gian thậmchí cả tâm trạng con ngời cũng mang màu sắc Đó là màu sắc mang tính quanniệm rõ nét của chị về con ngời và thế giới Chúng tôi chỉ đi vào khảo sát một sốmàu sắc đã trở thành ám ảnh nghệ thuật, tạo thành không gian nghệ thuật độc đáotrong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Màu sắc trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ rất đa dạng, chủ yếu là màu sắc nguyênmàu, nguyên khối, ở trạng thái tự nhiên của nó Đó là các màu xanh, đỏ, trắng,hồng, đen, tím, nâu, bạc, bạch kim, mận chín, và còn có cả “sắc trầu bà nội”.Trong đó, một số màu trở thành điểm nhấn, là nét đậm trong bức tranh muôn màucủa Mỹ Dạ: trắng, đỏ, vàng, hồng, đặc biệt là màu xanh Trong tổng số 178 bài

thơ của chị từ Trái tim nỗi nhớ, Bài thơ không năm tháng đến Hái tuổi em đầy tay,

Đề tặng một giấc mơ và Hồn đầy hoa cúc dại, màu trắng có mặt trong 33 bài,

màu đỏ là 26 bài, màu vàng xuất hiện ở 25 bài, màu hồng ở 14 bài và màu xanh cómặt ở 95 bài chiếm tỷ lệ khoảng 53,37% Đó là một bảng màu khá tơi sáng, làbiểu hiện của cái nhìn lạc quan, tin tởng vào cuộc sống mặc dù có lúc chị đã từng

buông xuôi: “thả hết thả hết/ tôi về với tôi” (Tôi về với tôi).

Trong cái nhìn nghệ thuật của Mỹ Dạ, cuộc sống là muôn màu Do vậy, từ

cảnh vật đến tâm trạng đều mang màu sắc Đó là “màu sắc cuộc đời” (Những

ngày không anh) Không chỉ vậy mà con ngời cũng mang đủ “ánh cầu vồng bảy sắc” nên lúc hiểu nhau cũng là lúc “Anh nhận ra em với tất cả sắc màu” Màu sắc

ấy là màu sắc tâm trạng với các cung bậc của nó

Niềm vui có màu

Trang 30

Nỗi buồn trong vắt

(Tôi về với tôi)

Đó còn là ‘‘màu hạnh phúc’’ toát lên nụ cời của Ngời bạn Căm - pu- chia Ngay cả khi nói về niềm hạnh phúc của “đôi lứa bên nhau” cũng “trong chiếc ô màu”.

Khi nói về tình bạn nhà thơ cũng ví von:

Tôi mang theo tình bạn Qua bao cuộc hành trình Kho báu này đâu cạn

Nh sắc trời lung linh

(Bạn gái)

Nh vậy, màu sắc trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ mang tính quan niệm, thể hiện

rõ nét cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ về cuộc đời, về con ngời Màu sắc ở đâykhông còn đơn thuần là sắc màu mà là sự biểu hiện phong phú, đa dạng của conngời, của sự vật hiện tợng trong cuộc sống, là màu của tâm trạng, của mơ ớc, làmàu sắc mang tính quan niệm Đó là màu sắc thể hiện “cái nhìn tơi xanh” về cuộc

đời, về quê hơng đất nớc Do vậy, cũng thật dễ hiểu khi trong thơ Mỹ Dạ chủ yếu

là màu sắc nguyên màu tơi sáng khác hẳn thứ màu sắc pha trộn trong thơ Chế LanViên, nhà thơ triết lý Điều đó thể hiện tính chất tự nhiên nh chính cuộc sống vậy

và tạo nên một không gian thơ mộng, muôn màu góp phần làm nên vẻ đẹp chonhững trang thơ trong trẻo hồn nhiên của Lâm Thị Mỹ Dạ

Nổi lên trên không gian đầy màu sắc ấy, màu xanh là gam màu chủ đạo.Gam màu đó là “màu của ruộng đồng dân dã” (chữ dùng của Trần Đình Sử), màucủa sự sống, của tuổi trẻ, của hy vọng, của yên bình ở một đất nớc nông nghiệplại có khí hậu nhiệt đới thì màu xanh bao phủ quê hơng đất nớc Nhà thơ Tố Hữucũng nói đến khá nhiều về màu xanh Trong thơ của “nhà thơ của lý tởng cộng

sản” này, màu xanh đợc nhắc đến là gam màu tơi mát Đó là “màu xanh quê

h-ơng”, “màu xanh của tình yêu đằm thắm”, “màu xanh chiến thắng” (Chiếc áo xanh), màu xanh hy vọng (Xuân 69) Tuy vậy, nổi bật trên gam màu tơi sáng thể

hiện cái nhìn đầy lạc quan cách mạng của Tố Hữu lại là một màu đỏ sáng chói rựcrỡ: màu đỏ của cách mạng, của sự hy sinh đẹp đẽ, màu đỏ của đất nớc và con ngờigiải phóng, và thật nổi bật, rực rỡ trong màu đỏ của cờ cách mạng, cờ Tổ quốc.Với Lâm Thị Mỹ Dạ, màu xanh trở thành gam màu chủ đạo Chị đã thể hiện đợc

Trang 31

màu sắc ấy của Việt Nam khá phong phú, sinh động Đó là xanh trời, xanh biển,

xanh tre trúc, xanh của đồng ruộng: “Biển xanh đến tận sắc trời” (Trớc Nha

Trang); “Tiếng chim gù xanh biếc đồng quê” (Mẹ ngày xa) Thậm chí hạt sơng,

mặt trăng cũng có màu xanh:

Vầng trăng xanh với con ngựa trắng

Đêm bình yên ngựa gặm cỏ trên đồi

(Giấc ngủ mặt trời)

Và một màu xanh bao trùm:

Thơ xanh biếc - quả địa cầu xanh biếc

Quay dịu dàng giữa vũ trụ tình yêu

(Tôi không tin thơ có ngày tận thế)

Ngay cả khi nói về màu xanh của thiên nhiên thì màu sắc ấy cũng đã thể hiện rõcái nhìn nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống Với Lâm Thị Mỹ Dạ, màu xanh baophủ không gian của quê hơng, đất nớc Điều đó vừa phù hợp với thực tế đất nớcvừa thể hiện sự lựa chọn nghệ thuật của nhà thơ Màu xanh ấy tợng trng cho sựsống, cho cuộc sống yên bình, cho không gian của mộng mơ

Phổ biến trong thơ Mỹ Dạ là màu xanh tâm lí hoá Điều đó tạo nên mộtkhông gian nghệ thuật độc đáo trong thơ của chị Đó là không gian của mộng mơ,của ký ức

Theo bài ca tôi về tìm lại Khoảng thời gian xanh biếc dới cỏ mềm

(Khoảng thời gian xanh biếc)

Gắn với màu xanh của thời gian là xanh không gian:

Bài thơ tâm hồn anh

Nh một khoảng biếc xanh Xao động hồn chiến sỹ

(Bài thơ không năm tháng)

Với không gian, thời gian, màu xanh trong thơ Mỹ Dạ gắn liền với quá khứ êm

đềm của tuổi trẻ, của khát khao, sự yên bình Xanh thời gian, không gian xanh làbiểu hiện của một thời nhiều khao khát, mộng mơ không chỉ của cá nhân nhà thơ

mà còn gắn liền với ớc vọng bình yên của đất nớc Sự bao bọc bởi màu xanh trongthơ Lâm Thị Mỹ Dạ cho thấy ớc vọng cháy bỏng của nhà thơ về một cõi yên bình

Đó cũng là cách nhà thơ tạo ra cho mình một không gian riêng, đối lập với không

Trang 32

gian đổ vỡ, mất mát của chiến tranh, không gian của cuộc sống với bao vất vả lotoan bề bộn trong cuộc sống mu sinh hằng ngày Bằng màu xanh, nhà thơ đã tạonên một không gian riêng để tìm về, thanh lọc, lấy lại sự cân bằng cần thiết chotâm hồn Đọc thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, ngời đọc đợc đắm mình trong một không gianyên bình, thỏa sức hoài niệm về những gì trong trẻo và mơ ớc

Các cung bậc tình cảm cũng mang màu xanh: khi là “nỗi buồn biếc xanh”; khi chuyển biến tâm trạng thì “Trái tim cỏ xanh dịu dàng đến nỗi/ Bao khổ đau

cũng hoá biếc nõn nà” (Tởng nhớ Attila Jozep); khi mơ ớc khát vọng cũng mang

màu xanh và nhiều nhất là màu xanh biểu hiện cho sức sống, sự trẻ trung: “Tởng

t-ợng một ngời/ Hồn xanh nh cỏ/ Hồn đầy nụ xanh’’ Màu xanh còn gắn với hạnh

phúc, tuổi xuân: “Chiến tranh còn đó/ Hạnh phúc còn xanh” (Những ngày không

anh) tạo thành không gian của chờ đợi, mong ớc.

Màu xanh cũng là biểu hiện cho sự sống, cho hoà bình Lâm Thị Mỹ Dạ

đã nhiều lần nói đến “Trái đất biếc xanh” hoặc là “Hoà bình xanh mặt ruộng”

(Tiếng chim trên đồng lúa).

Màu xanh trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đợc nhắc đến bằng các từ khác nhaunh: xanh, xanh non, xanh mát, xanh biếc, xanh trong, tơi xanh, biếc, biêng biếc,ngọc…Chỉ có một bài xuất hiện trong kết hợp từ “xanh xao” Điều đó cho thấy cáinhìn trong sáng của một tâm hồn trẻ trung yêu đời, “cái nhìn xanh biếc”, ngay cả

khi đã “thành trái mà hồn còn nh lá, Cứ xanh hoài chồi biếc thuở non tơ” Đồng

thời, tài năng của Lâm Thị Mỹ Dạ trong việc sử dụng từ ngữ, khả năng quan sát vàmiêu tả phong phú của chị tạo nên sự phong phú trong cách nói gây hiệu quả thẩm

mỹ nghệ thuật cao

Màu xanh trong thơ Mỹ Dạ mang nhiều hàm nghĩa Có những nét nghĩa là

sự kế thừa truyền thống, có những hàm nghĩa là sáng tạo riêng của chị, nhng tựuchung màu xanh là biểu hiện của một tâm hồn trẻ trung, đầy sức sống và là biểuhiện của cái nhìn tin tởng vào cuộc sống Đó là không gian với màu xanh baotrùm tạo thành không gian của mơ ớc, hy vọng và tin yêu cuộc sống

Tần số xuất hiện của màu xanh qua các tập thơ của chị khá ổn định: Trái

tim nỗi nhớ màu xanh xuất hiện ở 14 bài trên tổng số 25 bài, chiếm 56%; Bài thơ không năm tháng tỷ lệ ấy là 13/25, chiếm 52%; Hái tuổi em đầy tay là 16/40,

chiếm 40%; Đế tặng một giấc mơ là 29/46, chiếm 63,04% và Hồn đầy hoa cúc

Trang 33

dại có tỷ lệ là 32/42 chiếm khoảng 54,76% Điều đó cho thấy tính nhất quán trong

cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ về cuộc đời và con ngời Càng về sau, thơ LâmThị Mỹ Dạ càng đào sâu cái tôi cô đơn nhng không vì thế mà mang t tởng bi quan,ngợc lại đó vẫn là một màu hy vọng đầy lạc quan của một tâm hồn trẻ trung, tin t -ởng vào cuộc sống vào tơng lai Có lẽ, thơ Mỹ Dạ không chỉ đợc yêu thích bởi vẻ

đẹp dịu dàng nữ tính mà còn bởi nhãn quan nghệ thuật tơi sáng của chị

2.1.2 Một không gian giàu hình ảnh

Hình ảnh chính là một đặc trng rất nổi bật của thơ Chế Lan Viên cho rằng

Công việc làm thơ “phải viết những hình ảnh có ý tởng, hay phải diễn tả những ý

tởng dính hình ảnh Đó là hai mặt của một công việc là làm thơ, nh bật một ngọnlửa lên vừa có một hình ảnh ánh sáng, vừa có một sức nóng, không thể bảo cái nàotrớc cái nào sau đợc” [82;72] Thuỵ Khuê cũng viết: “Về mặt cấu trúc, văn lấy ýnghĩa làm biểu tợng, thơ gợi trí tởng tợng bằng hình ảnh” [40;71]

Bớc thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là bớc vào không gian củahình ảnh Hình ảnh thơ là một trong những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc góp phần

làm nên nét duyên của thơ chị Trong hành trình thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ từ Trái

tim sinh nở đến Hồn đầy hoa cúc dại, có khá nhiều hình ảnh nh hình ảnh Tổ quốc,

hình ảnh ngời mẹ, hình ảnh biển, hình ảnh khoảng trời, hình ảnh vầng trăng…trong đó nổi bật và tiêu biểu là hình ảnh hoa, lá, trái tim Đây là một không giannghệ thuật độc đáo của Lâm Thị Mỹ Dạ

Qua khảo sát của chúng tôi về năm tập thơ của chị với tổng số 178 bài thìhình ảnh lá xuất hiện trong 34 bài, chiếm 19,10%, hình ảnh trái tim xuất hiện ở 47bài chiếm 26,40%, hình ảnh hoa xuất hiện trong 53 bài, chiếm 29,77%

2.1.2.1 Hình ảnh lá

Hình ảnh lá là một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơLâm Thị Mỹ Dạ Trong thơ chị, hình ảnh lá xuất hiện khá nhiều và với những ýnghĩa rất khác nhau Lá vừa là hình ảnh của thiên nhiên, không thể thiếu đợc cho

sự sống của trái đất, lá là hình ảnh mềm mại làm dịu mát tâm hồn con ngời trongcuộc sống bận bịu mu sinh, lá còn là biểu tợng của niềm hạnh phúc trong sáng, làhình ảnh của sự chở che, nâng đỡ đùm bọc, cu mang…

Trang 34

Trớc hết, lá là hình ảnh của thiên nhiên, làm cho không gian trở nên mềm

mại, dịu mát, êm đềm và thơ mộng hơn: “Cánh rừng xanh lá nõn ánh trời xuyên”,

“Đờng đan bóng lá lung linh” (Đờng ở thủ đô) Hoặc là:

Thủa nhỏ nhìn sao

Soi nghiêng kẽ lá

(Hơng cau)

Có khi, hình ảnh lá trong thơ chị thật đặc biệt Đó là: “Những chiếc lá phát sáng

màu huyền thoại” (Đề tặng một giấc mơ) Đó là chiếc lá của giấc mơ đến từ trong

giấc mơ, trong ớc vọng của cõi thực để đợc bay bổng, để đợc sống trong khônggian của huyền thoại, của những điều kỳ diệu Đó là chiếc lá của huyền thoại, của

Rng rng cây lá, nao nao tháng ngày

Khi mùa xuân về, những chiếc lá xôn xao đầy tâm trạng:

Mùa xuân ơi, cây lá xôn xao

(Cây bàng)

Hơn cả, lá trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xuất hiện nh một nỗi ám ảnh nghệ thuật với

ý nghĩa biểu tợng Lá là sự sống của trái đất, thiết yếu, dịu dàng và bất diệt

Con ngời không có tình yêu

Nh trái đất này không có lá

Là hơi thở đất đai không thể thiếu Lá dịu dàng, sâu thẳm của tôi ơi!

(Nh lá)

Vì vậy, khi ớc muốn đợc “vẽ chiếc hôn dới ánh mặt trời” nhà thơ “sẽ vẽ chiếc hôn

nh lá” Chiếc hôn ấy sẽ mãi trẻ trung, ngọt ngào nh là kết tinh của tình yêu đẹp vàquan trọng hơn, nó là kết quả của tình cảm tự nhiên và ớc mong của nhà thơ vềmột tình yêu tuyệt đích và vĩnh cửu Có lẽ, đó cũng là khát vọng của những tìnhyêu chân chính

Khi lá là biểu tợng cho hạnh phúc trong sáng:

Khi mùa xuân đến

Trang 35

Trái tim nh hạt sơng Trong chiếc lá của hạnh phúc

rung động trong trẻo ngân vang

(Hạt sơng)

Lá còn là biểu tợng của sự chở che, đùm bọc, yêu thơng:

Lá xanh ôm ấp quả tròn Dịu dàng nh mẹ ấp con tháng ngày (Cây na)

lần nhà thơ ví mình nh “lá biếc”, “chồi non”.

Tôi nh lá biếc, chồi non

Trớc vẻ đẹp của những con đờng ở thủ đô, tâm hồn nhà thơ trở nên trẻ trung,

đầy háo hức, bỡ ngỡ khám phá nh một đứa trẻ lần đầu khấm phá thế giới Đâycũng là tâm trạng thờng trực trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Tôi nh lá biếc, chồi non

Đờng nh cây lộc véo von tiếng đời

(Đờng ở thủ đô)

Lâm Thị Mỹ Dạ từng tâm sự : ‘‘Muốn có thơ hay (…) phải sống thật với chínhmình’’ Vì vậy, việc a dùng những hình ảnh của tự nhiên nh hình ảnh lá để thể

Trang 36

hiện tâm trạng, suy nghĩ của mình về cuộc sống, về chính mình cũng chính là mộtcách để chị thể hiện tự nhiên, chân thật nhất cõi lòng mình

Với một trái tim mang dáng lỡi cày luôn “cày lên đớn đau và hạnh phúc”,

nỗi buồn ngày càng trở nên đậm đặc trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Chiếc lá xuất hiệntrong thơ chị còn nh một biểu tợng của nỗi buồn

Giá mà ta đợc làm cây

Để khóc nh lá rơi gầy giọt xanh Rơi thanh thản, rơi yên lành Chỉ đất thấu hiểu ngọn ngành nỗi đau

Tìm đến lá để nói về nỗi buồn, tâm trạng ấy trở nên dịu êm, đỡ buốt nhức hơn

Nỗi buồn cũng dịu êm nh lá

(Nhớ Xêđôi với ca khúc Chiều Matxcơva)

Lá nh một ngời bạn “đồng hành” cùng nỗi buồn, chia sẻ nỗi buồn

Chiếc lá nhẹ rơi bên lối Nỗi buồn sao cứ ngân vang

(Hội An)

Chiếc lá trở thành hình ảnh thờng trực trong t duy nghệ thuật của nhà thơ

Trớc Ngời tình h ảo, nhà thơ ớc mình đợc là chiếc lá để đợc gần anh hơn, mềm

Trang 37

Và một ngày tia mặt trời không nở khép Trên hàng - mi - lá - biếc của Ngời

(Không đề)

Lá xuất hiện trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ với nhiều màu sắc khác nhau Lúc

là “lá biếc”, có khi lại xuất hiện với màu xanh, khi lại là “lá thắm”, “lá vàng”, “lá

đỏ” Đó cũng là những màu sắc tự nhiên của lá và cũng là những biểu trng chonhững sắc màu tự nhiên của cuộc sống và các cung bậc tình cảm khác nhau củacon ngời Sử dụng hình ảnh thiên nhiên với những màu sắc ở trạng thái tự nhiêncủa nó, nữ thi sỹ đã thể hiện đợc một cách chân thành nhất cõi lòng mình Chị haynói về “lá xanh”, bởi nó gắn liền với ớc mơ, sức sống, sự tơi trẻ

Rồi tất cả lại trở về im lặng Nỗi im lặng của trăng non và lá xanh

(Không đề)

Có khi “lá xanh” là biểu tợng của niềm hy vọng, của cuộc sống tơng lai

Tôi nghe

Và tôi biết tiếng chim có màu xanh của lá

(Anh thơng binh kể chuyện)

Mỹ Dạ cũng nói đến “lá thắm” nh là biểu tợng của tình yêu đậm đà, son sắc

Xôn xao thời gian tình đời nh lá thắm

(Khoảng thời gian xanh biếc)

Còn “lá đỏ” rực cháy nh tình yêu bất tử của của ngời cậu gửi lại cho đời

Hai mơi năm cậu không về nữa Cây bàng cậu trồng vẫn đứng đó cậu ơi Mỗi lá rực lên đỏ một mặt trời

(Cây bàng)

Có khi, chiếc “lá vàng” xuất hiện nh sự chuyển hoá của sự vật với bao suy t và tiếcnuối của nhà thơ

Lá vàng ? sẽ rơi Lá vàng nh cánh cửa Khép đất xa cách trời

(Có một đờng long não)

Lá còn là thớc đo của thời gian:

Bốn mùa đi qua

Trang 38

Bốn mùa thay lá

(Những mảng màu nhức nhối)

Với Lâm Thị Mỹ Dạ, hình ảnh lá rất phong phú, gắn liền với nhiều loài câykhác nhau Ví nh lá chanh, lá sen, lá lúa, lá trầu không Tất cả tạo nên một khônggian gần gũi, thân thuộc để nhà thơ tìm về, để xoa dịu vết thơng không thành sẹocủa trái tim Lá chanh gắn liền với hơng thơm của những mảnh vờn quê, mái tóccủa con gái, tạo nên nét đẹp dịu dàng, duyên dáng của những cô thôn nữ

Đạn bom thù chẳng sợ đâu Chỉ e sơng ớt mái đầu lá chanh

Với lá lúa, hình ảnh này gợi nên sự đổi thay của vạn vật

Vàng tơi lá lúa, mịt mù là mây

(Trái tim sinh nở)

Lá trầu gắn bó với ngời bà, ngời mẹ:

Lá trầu không xanh vô t nhờng kia

Ai hiểu đợc mẹ một đời mất mát Chín đứa con tám đứa đã hy sinh

(Đêm cuối với Cửa Tùng)

Có thể nói rằng, hình ảnh lá là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơLâm Thị Mỹ Dạ Lá - một sự vật gần gũi, bình dị và thiết yếu đối với sự sống củatrái đất, của con ngời - trở thành một hình ảnh nghệ thuật độc đáo, với nhiều ýnghĩa phong phú, đa dạng, mới mẻ Trong thơ chị, lá trở thành hình ảnh mang ýnghĩa biểu tợng Nổi bật hơn cả, lá là biểu tợng cho sự non tơ, trẻ trung Đến với lá

là đến với không gian mềm mại, trẻ trung để làm vơi bớt những nỗi đau, những lotoan, vớng bận của cuộc đời thờng Điều này cũng dễ hiểu đối với một hồn thơtrong sáng, yêu đời nh Lâm Thị Mỹ Dạ Lá dờng nh trở thành một điểm tựa tinhthần để nỗi đau đáu của nhà thơ có phần diệu vợi hơn Sự mềm mại của lá thể hiệncái nhìn của một tâm hồn thơ giàu nữ tính

Trang 39

2.1.2.2 Hình ảnh hoa

Trong truyền thống văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, hoa làhình ảnh rất quen thuộc Với Lâm Thị Mỹ Dạ, chị đã đem đến nhiều điều mới mẻcho hình ảnh không còn mới này Hoa là sự vật của tự nhiên, là vẻ đẹp của thiênnhiên rất phong phú, đa dạng Tiêu biểu hơn cả trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, hoa làbiểu tợng của vẻ đẹp con ngời, là niềm tin yêu, là biểu tợng của tuổi trẻ, quá khứ

êm đềm, tơi đẹp và là đối tợng để nhà thơ chia sẻ, giãi bày tâm sự Đến với thơ củachị là đến với không gian của những loài hoa Chị a sử dụng hình ảnh hoa nh mộtthứ ngôn ngữ để nói về cuộc sống, để giãi bày cõi lòng mình Tiếp nối truyềnthống, hoa xuất hiện với t cách là sự vật hiện tợng của tự nhiên, là vẻ đẹp của thiênnhiên

Tháng năm đến tự bao giờ

Mà dòng sông mát đôi bờ cỏ hoa

(Tháng năm)

Có khi là những loài hoa đặc trng của mùa hè khiến lòng ngời bao ngây ngất:

Thoảng một mùi hơng nghe lòng nao nao

Ta bỗng nhận ra mùa sen đã nở Thành phố với bao sắc màu rực rỡ Phợng đỏ sôi nh trong nhịp ve ran

Trang 40

Để bông xu xi ngẩn ngơ mãi thế

(Một ngày Đà Lạt)

Có khi là loài hoa gần gũi, thân thuộc với bao ngôi nhà, làng quê Việt Nam

Hoa cau nở những bồi hồi

(Hơng cau)

Sự phong phú, đa dạng của hoa trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ chothấy tình yêu quê hơng, đất nớc, sự nhạy bén trớc những vẻ đẹp của mỗi một vùngmiền quê hơng đất nớc Đó cũng chính là biểu hiện sự quan tâm rất riêng của chị.Chị thờng dừng sự chú ý của mình trớc những cái gì tinh tế, mềm mại Thế giớihoa trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tạo nên không gian nên thơ, lãng mạn để con ngời

có thể mộng mơ, thởng ngoạn, để thanh lọc tâm hồn Tuy vậy, đó không phải làkhông gian siêu thực bởi nó đợc tạo nên từ những loài hoa quanh ta, trên mỗi miềnquê của đất nớc và nhiều hơn cả là những loài hoa bình dị Vì vậy, khi đắm mìnhtrong không gian đó, ngời đọc nh đang đợc sống trong một không gian thân thuộcnhng lại vừa rất mới mẻ

Phổ biến nhất trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là hình ảnh hoa mang ý nghĩa biểutợng Có khi, hoa là biểu tợng cho cái đẹp “mọc lên”, “nở ra” từ những vất vả nhọcnhằn, thậm chí từ những mất mát hy sinh Đó là những “bông hoa cuộc đời” Nhà

thơ đặt tên cho loài hoa ấy là “hoa chắt chiu”- Hoa của mẹ.

Con gọi hoa chắt chiu là hoa của mẹ Bởi tên hoa nh đời mẹ, mẹ ơi!

Có khi lại là hoa của “niềm tin yêu”:

Và mỗi năm hoa xơng rồng lại nở

Niềm tin yêu trắng ngát cả thời gian

(Một cuộc đời âm vang)

Hoa còn là biểu tợng của tuổi trẻ, của quá khứ êm đềm, tơi đẹp

Cái quãng đời vô t trong sáng Lại rộn ràng từ hoa cỏ mọc lên

(Khoảng thời gian xanh biếc) Hoặc là một “đồng cúc dại chập chờn vàng mơ gió” ẩn hiện trong kí ức Những

bông hoa trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chập chờn giữa thực và ảo, giữa quá khứ vàhiện tại, hiện lên rất kỳ lạ

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w