Tuy nhiên, có nhiều thông tin về làng Kiêm Long chưa thật chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc còn trình bày sơ lược như một số sự kiện lịch sử, truyền thống, các phong tục, lễ hội, di t
Trang 1Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội Các thầy cô giáo trong trường Đại học Quảng Bình, đã tận tình giảng dạy em trong suốt bốn năm học tại trường và động viên giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Xin chân thành cảm ơn trung tâm học liệu trường Đại học Quảng Bình, đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu để hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng đó là lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Bản thân em mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vì những kinh nghiệm và thời gian có hạn nên khóa luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả khóa luận rất mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè
để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Phan Thị Hiền
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.s Lê Trọng Đại Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3
3.1 Mục đích 3
3.2 Nhiệm vụ 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Nguồn tài liệu 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Dự kiến đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục của khóa luận 6
B NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LÀNG KIÊM LONG (XÃ QUẢNG KIM, HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 7
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Kiêm Long 11
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Kiêm Long 11
1.2.2 Dân cư 15
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 17
Trang 4CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA LÀNG KIÊM LONG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1945 18
2.1 Hoạt động kinh tế 18
2.1.1 Nông nghiệp 18
2.1.1.1 Trồng Trọt 18
2.1.1.2 Chăn nuôi 21
2.1.1.3 Khai thác lâm sản 22
2.1.1.4 Săn bắn 23
2.1.1.5 Đánh bắt và nuôi thủy sản 24
2.1.2 Thủ công nghiệp 24
2.1.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 24
2.2 Di sản văn hóa vật chất 26
2.2.1 Miếu, Nghè thờ 26
2.2.2 Nền thánh 28
2.2.3 Đình làng 29
2.2.4 Điếm 30
2.2.5 Giếng làng 31
2.3 Sinh hoạt vật chất 31
2.3.1 Nhà ở 31
2.3.2 Ăn 32
2.3.3 Mặc 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 38
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA TINH THẦN NỔI BẬT CỦA NHÂN DÂN LÀNG KIÊM LONG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 39 3.1 Cơ cấu tổ chức làng Kiêm Long 39
3.1.1 Bộ máy quản lý 39
3.1.2 Các tổ chức xã hội trong làng trước Cách mạng tháng Tám 1945 41
3.2 Phong tục, tập quán và lễ hội 43
3.2.1 Lễ hội 43
3.2.2 Tết 49
Trang 53.3 Tín ngưỡng, tôn giáo 52
3.3.1 Tín ngưỡng 52
3.3.2 Tôn giáo 53
3.4 Văn học 54
3.4.1 Thổ ngữ 54
3.4.2 Văn học dân gian 58
3.4.3.Văn học viết 65
3.5 Nghệ thuật diễn xướng dân gian 68
3.5.1 Ca Trù (hát nhà trò) 69
3.5.2 Hát Kiều 73
3.5.3 Hò nam nữ giao duyên 75
C KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu văn hóa làng xã là một trong những đề tài hấp dẫn và phù hợp với định hướng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa làng xã truyền thống đang trở thành vấn đề quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, các nhà nghiên cứu và quản lý văn hóa Vậy nên nghiên cứu về văn hóa làng xã là rất cần thiết và bổ ích
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa làng xã, thì việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa như thế nào? để kế thừa được những truyền thống tốt đẹp của văn hóa làng
xã nói chung, vùng đất Kiêm Long xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng, đó là một điều không phải dễ
Văn hóa làng là một thành tố quan trọng của nền văn hóa dân tộc; là nền tảng cơ
sở để xây dựng nông thôn phát triển bền vững Vì vậy, tìm hiểu cặn kẽ, có hệ thống về văn hóa làng Kiêm Long, xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trước Cách mạng tháng Tám 1945 là nội dung cơ bản của luận văn này
Những thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề văn hóa làng xã được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm Các nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII, IX,
X, XI, XII của Đảng đều chủ trương xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đều đề cao nhiệm vụ kế thừa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Bởi trong quá trình phát triển đất nước, xu thế đô thị hóa nông thôn diễn ra mạnh mẽ khiến cho nhiều giá trị văn hóa đã đang và sẽ bị mai một vậy nên nghiên cứu về văn hóa làng xã là một việc làm cấp bách mang tính thời sự, nhằm góp phần gom góp bảo lưu kế thừa và phát triển chúng
Là một sinh viên chuyên ngành khoa học lịch sử tôi quyết định chọn nghiên cứu
tìm hiểu văn hóa làng Kiêm Long trước cách mạng tháng Tám 1945 làm khóa luận tốt
nghiệp Việc nghiên cứu tìm hiểu văn hóa làng Kiêm Long sẽ giúp cho chính tác giả khóa luận mở mang hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa của địa phương, làm hành trang cho cuộc sống và nghề nghiệp sau này
Việc thực hiện khóa luận còn góp phần giới thiệu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của cha ông ta thời xưa
Trang 7Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi chọn vấn đề
“Văn hóa làng Kiêm Long, xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trước Cách mạng tháng Tám 1945” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về văn hóa làng xã không phải là mảng đề tài mới nhưng vẫn luôn
có tính thời sự, hấp dẫn, lý thú riêng Trong thời gian gần đây, với xu thế giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa làng xã trên toàn quốc nói chung, đã có một số công trình đã nghiên cứu riêng về làng Kiêm Long Có thể kế đến một số công trình tiêu biểu sau:
Một số công trình có đề cập đến làng Kiêm Long như: Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Trạch tập 1, 2, 3; Địa lý - Lịch sử Quảng Bình, Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Hợp tập 1, Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Tùng tập 1, Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Phú tập
1, Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Đông tập 1, Cảnh Dương chí lược, Lịch sử Quảng Bình
xuất bản năm 2014 của Tiến sỹ Nguyễn Khắc Thái có đều cập sơ lược đến vấn đề lịch sử hoặc văn hóa của làng Kiêm Long Một số bài viết đăng trên Tuổi trẻ online, Báo Mới.com, báo Nhân dân, báo Quảng Bình, tạp chí Văn hóa Quảng Bình, tạp chí Thông tin Khoa học - Công nghệ Quảng Bình, có các chuyên khảo về một số thành tựu văn hóa của làng Kiêm Long như Hát Kiều, ca trù, Văn hóa ẩm thực của các tác giả như Trần Hữu Danh, Lê Trọng Đại, Mỹ Hiền
Các tài liệu nghiên cứu sâu về lịch sử và văn hóa làng Kiêm Long trước Cách mạng tháng Tám 1945, không nhiều trước hết là tập tài liệu chép tay về lịch sử Đảng
bộ xã Quảng Kim từ khi 1930 đến 1973 dưới dạng sơ thảo Tập tài liệu này đã tái hiên được những nét cơ bản về lịch sử và văn hóa của Kiêm Long Tuy nhiên, có nhiều thông tin về làng Kiêm Long chưa thật chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc còn trình bày sơ lược như một số sự kiện lịch sử, truyền thống, các phong tục, lễ hội, di tích, các nhân vật lịch sử văn hóa của làng.Công trình đầu tiên nghiên cứu quy mô và khoa học nhất về địa lý tự nhiên, lịch sử và văn hóa vùng đất có chứa làng Kiêm Long
tính từ trước tới nay là cuốn Địa chí xã Quảng Kim của nhóm tác giả Lê Trọng Đại -
Trần Hữu Danh - Bùi Thị Nhàn được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tháng 2 năm
2018 Địa chí xã Quảng Kim đã trình bày tương đối cụ thể về lịch sử 3 ngôi làng hợp thành xã Quảng Kim; trong đó có làng Kiêm Long Trong Địa chí xã Quảng Kim các
Trang 8tác giả đã luận giải về các tên làng làm rõ quá trình hình thành và phát triển của 3 ngôi
làng nói trên Địa chí Quảng Kim đã tái hiện lại bức tranh văn hóa phong phú của 3 làng gồm: Kim Long, Hùng Sơn và Xuân Hòa từ khi thành lập đến năm 2017; Địa chí Quảng Kim đã giới thiệu một hệ thống giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và
văn hóa xã hội rất phong phú, đặc sắc từ khi lập làng đến năm 2017 Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của những người đi trước khóa luận của chúng tôi chỉ giới hạn tập trung việc nghiên cứu văn hóa của làng Kiêm Long là một trong ba làng thuộc xã Quảng Kim từ khi làng thành lập đến năm 1945
Mặc dù Địa chí xã Quảng Kim đã đề cập khá toàn diện phong phú về văn hóa Quảng Kim trong đó có văn hóa của làng Kiêm Long, nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào chú ý tới việc đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hóa của vùng đất này Đây chính là lĩnh vực mà các công trình nói trên còn
để trống Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống đã và đang đứng trước nguy cơ bị mai một Dó đó công tác sưu tầm, khôi phục, bảo tồn và phát triển đã và đang trở nên cấp bách Vì vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tập hợp, phân loại và lựa chọn những thành tựu nổi bật đồng thời kết hợp với điền dã dân tộc học để sưu tầm tư liệu bổ sung và tiến hành phân tích tài liệu làm rõ các đặc điểm đặc trưng văn hóa của làng Kiêm Long, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa của vùng đất này làm nội dung cơ bản của khóa luận tốt nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Thực hiện đề tài này, trên cơ sở khảo cứu nhiều nguồn tài liệu, khóa luận nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển văn hóa của làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm 1945 Trong đó khóa luận tập trung giới thiệu về các giá trị nổi bật về văn hóa vật chất; văn hóa tinh thần của làng Kiêm Long Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, rút ra những đặc điểm, đặc trưng trong văn hóa truyền thống của làng Kiêm Long
3.2 Nhiệm vụ
Đề tài giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau đây:
- Khái lược lịch sử lập làng, định cư, quá trình phát triển của làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm 1945
Trang 9- Giới thiệu các thành tựu nổi bật về văn hóa vật thể và phi vật thể của làng Kiêm Long; Rút ra các đặc điểm, đặc trưng văn hóa làng Kiêm Long; Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của làng Kiêm Long
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khái lược về tự nhiên, lịch sử làm cơ sở đi sâu nghiên cứu văn hóa của làng Kiêm Long, xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình từ khi thành lập đến năm 1945
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Văn hóa làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm 1945
trên 2 phương diện gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
- Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu chính của luận văn được xác định
trong phạm vi không gian của làng Kiêm Long, (nay thuộc xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình)
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu khái lược về tự nhiên, lịch sử, kinh tế của làng
Kiêm Long và tập trung nghiên cứu văn hóa của làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm 1945, cụ thể trên các phương diện: quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức; những thành tựu văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần nổi bật của làng Kiêm Long Mặt khác luận văn mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm kế thừa, bảo tồn và phát huy chúng trong thời gian tới
Những vấn đề nằm ngoài giới hạn về thời gian, không gian và nội dung nêu trên không thuộc phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
* Tài liệu gốc: bao gồm các bộ sử của các triều đại phong kiến như Đại Việt sử
ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Ô châu cận lục của Dương Văn An; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam nhất thống chí Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác các tài liệu như: gia
phả, thúc ước, văn bia của làng Kiêm Long và các dòng họ ở ngôi làng này
Trang 10* Tài liệu nghiên cứu:
Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu lịch sử - văn hóa Đặc biệt là
cuốn Địa chí Quảng Kim do nhóm tác giả Lê Trọng Đại và Trần Hữu Danh biên
soạn
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu giới thiệu thành tựu văn hóa về phong tục, tập quán, tín ngưỡng như: Tạp chí Thông tin văn hóa huyện Quảng Trạch, Tạp chí văn hóa Quảng Bình
* Tài liệu điền dã: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã trực tiếp tiến
hành nhiều cuộc điền dã, gặp gỡ trao đổi với các cụ già trong làng Đây là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng giúp chúng tôi làm rõ hơn về quá trình hình thành, tên gọi cũng như giá trị văn hóa làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm 1945
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Sưu tầm tài liệu: Để có nguồn tư liệu phục vụ cho khóa luận, chúng tôi tiến
hành sưu tầm, tích lũy, sao chép tư liệu ở văn phòng Huyện ủy huyện Quảng Trạch, Sở văn hóa thông tin, bảo tàng Quảng Bình, sử dựng phương pháp phỏng vấn, nghiên cứu, sao chép, chụp ảnh làm tư liệu các đền miếu của làng Kiêm Long
* Xử lý tài liệu: Để hoàn thành khóa luận chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgic là hai phương pháp chủ yếu Với phương pháp lịch sử chúng tôi
cố gắng dựng lại những nét khái lược về lịch sử và đặc biệt đi sâu khôi phục lại bức tranh văn hóa truyền thống của làng Kiêm Long xưa Với phương pháp logic chúng tôi
đi sâu phân tích tài liệu làm rõ đặc điểm, đặc trưng, bản chất các giá trị văn hóa lịch
sử
Ngoài ra, để hoàn thành khóa luận chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành như: phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu để xử lý tư liệu và trình bày các nội dung của luận văn một cách khoa học, có hệ thống
6 Dự kiến đóng góp của khóa luận
- Thứ nhất: Khóa luận phục dựng lại bức tranh có hệ thống về quá trình hình
thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của làng Kiêm Long từ khi thành lập đến năm
1945
Trang 11- Thứ hai: Khóa luận cố gắng khôi phục lại diện mạo các giá trị văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần của làng Kiêm Long; rút ra các đặc điểm, đặc trưng của văn hóa làng Kiêm Long trước Cách mạng tháng Tám 1945
- Thứ ba: Trên cơ sở các thành tựu văn hóa của làng Kiêm Long, chúng tôi tiến
hành phân tích để làm rõ những đóng góp tiêu biểu của nhân dân làng Kiêm Long đối với quê hương Quảng Trạch nói riêng Quảng Bình nói chung Từ đó, góp phần nâng cao sự hiểu biết, lòng yêu quý vốn văn hóa cổ truyền và thành tựu của quê hương, giúp cho thế hệ con cháu ý thức về cội nguồn, về công lao của các thế hệ đi trước; phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn
- Thứ tư: Khóa luận tập hợp một hệ thống tài liệu tham khảo về văn hóa làng
Kiêm Long, cung cấp nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu làng ở Quảng Trạch nói riêng, Quảng Bình nói chung
- Thứ năm: Khóa luận bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa của làng Kiêm Long trong thời gian tới
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Khái quát lịch sử làng Kiêm Long (Xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) trước Cách mạng tháng Tám 1945
Chương 2 Tình hình kinh tế và những thành tựu văn hóa vật chất nổi bật của làng Kiêm Long trước Cách mạng tháng Tám 1945
Chương 3 Những thành tựu văn hóa tinh thần nổi bật của làng Kiêm Long trước Cách mạng tháng Tám 1945
Trang 12B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LÀNG KIÊM LONG (XÃ QUẢNG KIM, HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH) TRƯỚC CÁCH MẠNG
2, thôn 3, thôn 4 và thôn 5 Tuy nhiên trước Cách mạng tháng Tám 1945 làng chỉ có 2 thôn được gọi là giáp Đông và giáp Tây ngay là khu vực Thôn 1 và thôn 2, vị trí thôn
1, thôn 2 được xem là vùng đắc địa ven sông
Phía Bắc làng Kiêm Long giáp với Xuân Hòa; phía Tây Nam giáp với xã Quảng Châu phía Nam giáp Quảng Tùng; phía Tây giáp với thôn Hùng Sơn; phía Đông giáp với xã Quảng Phú và Quảng Đông
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất đai, địa hình
Ở Kiêm Long đất được chia làm 3 nhóm: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp
và đất chưa sử dụng Hoặc có thể chia làm 2 nhóm theo địa hình là: Đất đồi bán sơn địa (đồi núi) và đất phù sa ven sông
Đất đai ở Kiêm Long là một bộ phận của lãnh thổ Quảng Bình và mang những
đặc điểm: “… nhìn chung đất Quảng Bình nghèo dinh dưỡng, diện tích đất phù sa ít Diện tích đất cát, đất lầy thụt và đất than bùn chiếm tỷ lệ khá cao Tuy nhiên khả năng
sử dụng đất còn lớn, đặc biệt là vùng đồi có thể tập trung đầu tư phát triển cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp”[21; 29]
Địa hình Kiêm Long có thể chia ra làm 2 phần: phía bắc gồm đồi và núi chiếm 2/3 diện tích, phía nam là đất phù sa ven sông tương đối bằng phẳng Kiêm Long được dãy Hoành Sơn (núi Phượng) bao bọc, uốn lượn và che chắn từ phía Tây qua Tây Bắc
và Đông Nam Sông Càng một nhánh chính của sông Loan bốn mùa trong xanh chảy
từ tây nam sang phía nam rồi hợp lưu với sông Thai để đổ ra biển Sông núi nơi đây tạo nên một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và tráng lệ:
Trang 13“Ai ra miền Bắc Quảng Bình Xin mời ghé lại quê mình Kiêm Long Quê tôi gò nổi gọng kìm
Hai sông uốn lượn như hình song long Hoành Sơn một dãy cong cong
Tựa hình bán nguyệt núi sông hữu tình”[10]
Kiêm Long ở vào thế trước sông sau núi, núi Phượng và sông Loan được ví như một đôi bạn tình gắn bó với nhau tạo nên một bức tranh sơn thủy diễm lệ:
“Ai đến sông Loan Thấy in hình núi Phượng Như bóng Ngự Bình Lồng giữa Hương Giang Cất giọng hò khoan Nhớ mái nhì mái đẩy…”
Trong Thúc ước làng Kiêm Long xưa đã mô tả phong thủy nơi đây hội tụ khá đủ các yếu tố của một vùng đất địa linh:
“ Tả Thanh Long, Loan thủy dẫn trường sinh Thắm nhuận quốc lộc dồi dào
Bầu tạo hóa, thêm công xây tạc Hữu Bạch Hổ, mã sơn bài uốn khí Vùng đạt khôn, duy yếm trấn khách thần tiên”[10]
- Khí hậu
Là một bộ phận của lãnh thổ Quảng Bình nên làng Kiêm Long xã Quảng Kim
cũng nằm trong vùng “khí hậu nhiệt đới gió mùa, luôn bị tác động bởi khí hậu phía Bắc và phía Nam được chia làm 2 mùa rõ rệt”[21; 14]
Mùa mưa từ khoảng tháng 8 đến tháng 11 và hằng năm thường có những cơn bão
ập vào Dù bão đi hướng nào vào khu vực của xã Quảng Kim cũng gặp dãy Hoành Sơn
án ngữ nên dễ gây ra lốc xoáy, làm hư hại cây cối, nhà cửa
Vì thế khí hậu ở đây luôn có ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 7 năm sau với 2 kiểu khí hậu, lạnh và ẩm có gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 3; nắng nóng khô
Trang 14hanh từ tháng 4 đến tháng 7 Hằng năm trung bình khu vực này có từ 1.700 đến 1.900 giờ nắng; 130 đến 150 ngày mưa, nhất là tháng 9 và tháng 10 mưa tầm tã Có năm mưa kéo dài suốt nên thường xảy ra lũ lụt; mưa tập trung cao vào 2 tháng: lượng mưa
đo được vào tháng 9 dao động trong khoảng 460 mm và tháng 10 khoảng 520 mm
- Khoáng sản
Kiêm Long cũng là một vùng đất nghèo khoáng sản Nhìn tổng thể nơi đây chỉ có
3 loại khoáng sản chính: cát sạn sông, đá vôi xây dựng thông thường trên núi Hoành Sơn và sét gạch ngói Mũi Ồm Cát sạn và đá vôi xây dựng có trữ lượng thấp
Sét gạch ngói Mũi Ồm là mỏ khoáng sản đã được Sở tài nguyên và môi trường
Quảng Bình đo đạc và thống kê Thành phần trên là sét, set lẫn ít cát; dưới là cuội sạn thạch anh lẫn với các vón cục oxit sắt Sét có màu xám vàng rất mịn dẻo quánh dùng
để sản xuất gạch ngói rất tốt “Tài nguyên dự báo P2: 8,0 triệu tấn sét Sét có nguồn gốc trầm tích Điểm quặng có triển vọng”.[21; 29]
- Đặc sản
Nói tới đặc sản tiêu biểu của Kiêm Long chúng ta phải kể tới đầu tiên là các loại thực phẩm được chế biến theo cách riêng của người nơi đây như mắm cáy, cà mắm, sào sáo (ngao), canh chua,… Về cây trồng và cây rừng, Kiêm Long có một số loại cây
mà các địa phương khác hiếm thấy như cây chay, cây sấu, quả của hai loại cây này được người dân dùng để nấu canh chua Các loại quả: Thuồi luồi, dâu rừng, sim, dâu
da, hạt dẻ, hạt sót,… cũng là những quả, hạt mà người dân Kiêm Long trước đây thường khai thác để ăn hoặc đem bán ở chợ Dưới đây chúng tôi giới thiệu một số loại quả được coi là đặc sản của núi Hoành Sơn và cũng là những đặc sản thiên nhiên của Kiêm Long
- Quả sim
Người Kiêm Long xưa thường nói: “Trông đến tháng 6 con cháu ăn sim” Khoảng giữa tháng 6 núi rừng ở đây nhuộm một màu đen của trái sim rừng Sim khá nhỏ nhưng có vị ngọt dễ chịu, vỏ ngoài đen mượt và mọng lên nhìn rất hấp dẫn Vừa biết để hái được quả sim không hề dễ
Dụng cụ để đi hái là những cái làn dùng để đi chợ dễ dàng bỏ vào và xách đi lại thuận tiện hơn Phải dậy từ lúc sáng sớm để đi vì đường vừa khó đi vừa xa tận trong rừng sâu Những bụi thấp ngang lưng quần có thể đứng hoặc khom người để hái Có những bụi sim cao trên đầu người thì phải với tay níu xuống mới có thể hái được
Trang 15Sim có vị ngọt, bên trong có nhiều hạt nhỏ Tùy theo cách ăn mà người thì bóc
vỏ đi, người thì để cả cả vỏ rồi ăn, ngoài ra có thể dùng sim ngâm rượu để uống Ngày nay, những người hái sim thường nhập cho các nhà buôn ở Ba Đồn, họ đến tận chân núi để thu mua sim Bởi quả sim có tác dụng chữa được nhiều bệnh chữa được nhiều bệnh nên có rất nhiều người tìm mua
- Quả dâu rừng
Dâu rừng còn có tên gọi là quả “Thanh mai” Loại quả này chỉ xuất hiện đúng một mùa trong năm đó là vào tháng 2 Dâu rừng là loại quả cuốn hút nhiều người với
vị chua chua, ngọt ngọt nên rất nhiều người thích ăn Dâu lúc còn non thì có màu xanh,
vị chua có thể dùng nấu canh chua, thì khó có món canh gì khoái khẩu bằng Lúc dâu chín quả chuyển sang màu đỏ thẫm hoặc màu đen sầm
Với đặc tính thích hợp sống ở nơi sỏi đá đất cằn cỗi, nên dâu thường mọc nhiều tận trong rừng sâu và trên núi cao Lúc mọi người đang say sưa trong giấc ngủ cũng là lúc những người đi hái dâu phải dậy chuẩn bị các thứ cần thiết để vào rừng Hái dâu cũng chẳng khó khăn gì nếu đường đi bớt dốc Người ta thường tuốt cả lá và quả trộn lẫn hoặc có thể bẻ cả cành đem về Người mua dâu chín về có thể ăn xổi hoặc tùy theo
sở thích mỗi người mà bỏ thêm ít muối hoặc ít đường cho dễ ăn hơn Cũng không ít người mua dâu về ngâm thêm ít đường cho lên men đợi đến mùa hè nóng oi bức lấy nước dâu ra uống
- Quả muông
Nếu tháng 6 là mùa của sim, tháng 2 mùa dâu thì tháng 7 lại là mùa của những quả muông chín đen khắp núi rừng Kiêm Long - Quảng Kim Loại quả này kết lại với nhau theo từng chùm, hạt hơi dài Khi còn non quả có màu xanh, ăn có vị chát, ăn phần hạt bỏ phần vỏ Muông khi chín có màu đen, ăn có vị bùi bùi, ngọt ngọt, ăn vỏ bỏ hạt Thường thì muông cũng là loại quả phổ biến của núi rừng nhưng ít được người ưa chuộng bằng sim và dâu Người dân thường nói “được muông sắm đòn xóc, được móc sắm áo tơi” Ý nói rằng năm nào được mùa muông thì sẽ được mùa lúa Còn được mùa móc thì sắp tới sẽ mất mùa, đói kém
- Quả sấu
Khoảng đầu tháng 4 - 5 khi những chùm hoa sấu rụng cũng là sự bắt đầu nhú ra của những quả sấu non Bởi quả sấu có vị chua nên người ta thường dùng để nấu canh
Trang 16chua hoặc có thể ngâm sấu đợi lên men và uống vào những ngày hè nóng nực Có thể nấu canh sấu với các loại cá, tôm bạc Vị chua thanh mát của sấu hòa quyện với vị béo ngọt của cá, tôm tạo nên món ăn vừa ngon miệng, vừa bổ dưỡng trong ngày hè Cách đơn giản có thể hấp cơm 4 - 5 quả sấu, sau đó dầm với nước sôi, thêm gia vị là được món canh chua ngon miệng Còn quả chín được dùng để làm ô mai sấu, tương sấu Cây sấu thường mọc trong rừng sâu trên núi Hoành Sơn là loại cây lâu năm Cây cao
to nhiều cây to bằng 2 vòng tay người lớn ôm lại Vì thế hái được quả sấu phải là những người có kinh nghiệm, leo trèo giỏi và thật không dễ dàng
- Quả móc
Khoảng tháng 9 - 10 là lúc khắp các cồn bãi ở Kiêm Long rộ lên một màu đen của những quả móc Móc là loại cây thân thẳng, ra quả theo từng chùm tầm ngang người nên dễ hái Lúc nhỏ quả móc có màu xanh, hạt nhỏ tròn dài Đến khi chín ngả sang màu đen ăn có vị chát chát Móc là loại quả thường được trẻ nhỏ chăn trâu, chăn
bò ưa chuộng
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Kiêm Long
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Kiêm Long
Trong quá trình khai khẩn vùng đất của xã Quảng Kim suốt từ thời Hậu Lê đến thế kỉ XIX, có nhiều thế hệ tiền nhân của Kiêm Long, đã đổ biết bao công sức bạt đồi, phá đá, khai mương phát rừng để biến vùng đồi núi và rẻo đất phù sa hoang sơ, hiểm trở ven sông thành thôn Kiêm Long (Kẻ Càng) Dưới thời Lê Trung hưng, làng Kiêm Long nằm trong tổng Thuận Hòa của châu Bố Chính thuộc trấn Nghệ An Trải qua những biến thiên của lịch sử, đơn vị hành chính ban đầu này đã có sự thay đổi cả về tên gọi, quy mô và diện tích, dân cư
Sơ thảo lịch sử Đảng bộ xã Quảng Kim chép rằng: những người đầu tiên đặt chân
đến vùng đất Kiêm Long là “Mười một vị tổ tiên khai khẩn từ Nghệ An… Mười một
vị thủy tổ của 8 họ được các triều đại phong kiến sắc phong làm Khai khẩn làng Kiêm Long và một phần đất của xã Quảng Hợp gồm:
1 Họ Giả có Thủy tổ Khai khẩn là cố Giả Huyền Thái
2 Họ Từ Lớn có 3 Thủy tổ khai khẩn gồm các cố: Từ Thượng Tiên, Từ Thượng Phúc (em ông Thượng Tiên), Từ Nhân Khánh (em ông Thượng Phúc)
Trang 173 Họ Từ Vặc có Thủy tổ Khai khẩn là cố Từ Tất Đắc có chép địa danh kèm theo
là “Tiền Đông Hải quận”
4 Họ Chu có 2 vị Thủy tổ Khai khẩn là các cố: Chu Nhân Kiệt (anh), Chu Quang Huy (em)
5 Họ Diệp có Thủy tổ Khai khẩn là cố Diệp Đình Khố
6 Họ Tiếu có Thủy tổ Khai khẩn là cố Tiếu Nhân Hậu
7 Họ Hứa có Thủy tổ Khai khẩn là cố Hứa Công Thành, hiện nay họ Hứa không còn hậu duệ ở Quảng Kim nữa
8 Họ Tạ có Thủy tổ Khai khẩn là cố Tạ Trọng Hợp
Trong số 11 vị kể trên có 2 vị là Giả Huyền Thái và Từ Tất Đắc đến khai khẩn được 8 mẫu ruộng đất tại Quán Tre (Sủng Khế thuộc xã Quảng Hợp), về sau bán cho người Quảng Tùng Sau khi hai vị Thủy tổ khai khẩn ở Quán Tre qua đời con cháu của
họ đã dời về chung sống với con cháu 9 vị thủy tổ của 6 họ ở Kiêm Long Cố Từ Tất Đắc qua đời được mai táng tại làng Vặc, tức thôn Thủy Vực (xã Quảng Hợp), do đó dòng họ này thường được gọi là họ Từ Vặc
“Ruộng đất mà các vị thủy tổ Kiêm Long khai khẩn khá lớn nhưng trong đó có một số xứ được bán, hoặc nhượng cho các làng xã lân cận hoặc bỏ hoang, về sau người dân các làng khác chiếm dụng
Theo các bậc cao niên ở Quảng Kim thì các vị tiền hiền Kiêm Long đã đến khai khẩn khu vực ven sông Càn tạo nên những cánh đồng màu mỡ như Nương Bông, Nương Mạ, Cồn Sim Ta, Mũi Rồng, Đồng Rộôc
Ngoài ra, thủy tổ họ Từ Vặc và họ Giả là các ông Từ Tất Đắc và Giả Huyền Thái
đã khai khẩn được 8 mẫu ruộng đất tại xứ Quán Tre còn gọi là Quán Cũ (Sủng Khế) Khoảng vào những năm 1953 - 1954, số ruộng đất nói trên được nhân dân bán lại cho người xã Quảng Tùng về sau chuyển cho xã Quảng Hợp
Tra cứu các tài liệu có tính chất pháp quy của quốc gia và địa phương gồm các loại bản đồ, sách lịch sử, tự điển, địa phương chí, hương ước, thúc ước từ thế kỷ XV đến nay, có thể khẳng định thêm một số thông tin sơ lược về quá trình hình thành, phát triển và thay đổi của làng Kiêm Long như sau: Trong Hồng Đức bản đồ chưa có các
địa danh của Kiêm Long Trong phần bản đồ của sách Ô châu cận lục do Tiến sỹ
Dương Văn An chép vào năm 1555 ở châu Bố Chính vẫn chưa có một trong các danh xưng của Kiêm Long
Trang 18Chưa rõ là căn cứ vào tài liệu nào các tác giả của Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Kim chép rằng:‘Thời Tự Đức năm thứ 27 (1875), đặt lại tên thôn, Càng Kiêm đổi thành thôn Kiêm Long Lúc bấy giờ thôn Kiêm Long có có 5 xóm: xóm Nam, xóm Điếm, xóm Chỉ, xóm Tây, xóm Cồn” Theo tộc phả tộc Từ Đỏ biên soạn năm 1932, thì
ở Kiêm Long các xóm lúc đó được gọi là lân Trong tộc phả có nhắc tới tên các xóm gồm Trung Lân (cố Từ Đề từng giữ chức lân trưởng), Nam Lân (cố Từ Đoan từng giữ chức Lân trưởng), cố Từ quý công tự Đức Nghĩa Nam là giáp trưởng giáp Tây Như vậy đầu thế kỷ XX, riêng Kiêm Long đã có từ 3 xóm trở lên
Đến cuối thế kỷ XIX, thôn Kiêm Long được nâng lên thành xã Theo sách Đồng Khánh dư địa chí khắc in năm 1888 thì Kiêm Long được chép là một xã trong số 20
đơn vị hành chính cơ sở thuộc tổng Thuận Hòa, huyện Bình Chính, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình “Sở dĩ có sự thay đổi này là vì quy mô dân số của thôn Kiêm Long
đã gia tăng lên mức trên 300 hộ nên chính quyền phải nâng lên thành đơn vị xã Trong
tuyển tập Đồng Khánh toàn đồ, Kiêm Long được chép là một đơn vị hành chính cấp
xã trong tổng Thuận Hòa, huyện Bình Chính” [17; 50-53]
Đến thời nhà Nguyễn thôn Kiêm Long được nâng lên thành xã Kiêm Long Khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trang Xuân Hòa xảy ra đại dịch lớn (Xuân Hòa là một làng tiếp giáp với Kiêm Long và nằm trên đất xã Quảng Kim) Cư dân Xuân Hòa chết gần hết chỉ có một vài gia đình nhờ đi lánh nạn ở các địa phương khác
mà sống sót Trong số đó có “hai cha con ông Lê Tân (Lê tân con là Lê Sum) chạy về
cư trú ở xã Kiêm Long ở nhà ông Tổng Quạch Họ được cưu mang và giúp đỡ, làm lụng nuôi nhau do đó cha con ông Lê Tân đã tự nguyện hiến toàn bộ sổ sách, trích lục điền thô sát nhập trang Xuân Hòa vào xã Kiêm Long Vì thế đầu thế kỉ XX đến tháng
8 năm 1945, trên vùng đất Quảng Kim chỉ còn lại 2 đơn vị hành chính là xã Kiêm Long và thôn Hùng Sơn
Số ruộng đất của trang Xuân Hòa cha con ông Lê Tân mang về sáp nhập vào xã Kiêm Long gồm có: Đồng Phú, Mỏ Nốt, nửa Đồng Biền, Mồ Ôn, Hói Sách, Khe Me, Sủng Khế, Sau Làng, Đồng Bạc, Khe Cháy, Khe Bé, Bến Mít, Vũng Sồi, Bạc Cũ, Đồng Dầm dưới (Cây Cừa), Đồng Dầm trên (Thạch Dầm), toàn bộ vùng từ Đá Bạc ra đến Vũng Cu Xã Kiêm Long cho phép cụ Lê Sum giữ lại 6 sào ruộng đất để sản xuất hàng năm lấy hoa lợi thờ cúng tổ tiên
Trang 19Do đó đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 trang Xuân Hòa không còn tồn tại nữa; trên vùng đất Quảng Kim chỉ còn lại 2 đơn vị hành chính cơ sở là xã Kiêm Long và thôn Hùng Sơn thuộc tổng Thuận Hòa của Phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Xã Kiêm Long thời gian này bao gồm đất đai của hai làng Kiêm Long và Xuân Hòa trước đó
Tên làng Kiêm Long
Dựa vào số liệu nghiên cứu điền dã ban đầu cho thấy tên gọi thuần Việt ban đầu của Kiêm Long là Kẻ Càn, nhưng theo cách phát âm của người dân nơi đây thì chữ
“Càn” thêm phụ âm “g” vào cuối nên phát âm thành “Càng” Sau khi công cuộc khai khẩn đồng ruộng, kiến thiết thôn ấp ở vùng đất này cơ bản hoàn thành, các vị khai khẩn của Kiêm Long dâng tấu lên triều đình đề nghị lập làng mới Triều đình nhà Lê trung hưng đã giao cho quan lại địa phương tiến hành các thủ tục lập làng mới bao gồm: đo đạc ruộng đất, thống kê dân đinh để lập đinh bạ, địa bạ, và khai lập xã hiệu
(đặt tên làng – tên Hán Việt hay còn gọi là tên chữ) Theo sơ thảo lịch sử Đảng bộ xã Quảng Kim thì tên chữ đầu tiên của Kẻ Càng là thôn “Càng Long” Sau một thời gian
đổi thành thôn “Càng Kiêm” Dưới thời nhà Nguyễn thôn Càng Kiêm được nâng lên thành xã và đổi thành “xã Kiêm Long.” Theo cách cắt nghĩa của người dân Quảng Kim thì các vị tiền nhân đã căn cứ vào đặc điểm điều kiện địa lý để đặt tên làng là
“Kiêm Long” nghĩa là “rồng nổi” Bởi vì giữa làng nhô lên 4 cồn đất, gồm: Cồn Dài,
Cồn Giữa, Cồn Chùa và Cồn Nghè Các cồn đó được ví là 4 đầu rồng (tứ long đáo địa)
4 cồn đất đã tạo nên thế địa linh cho vùng đất trung tâm của thôn Kiêm Long và cả xã
Quảng Kim Danh xưng “Kiêm Long” còn có cách cắt nghĩa thứ hai đó là chữ “Kiêm’
xuất xứ từ cách phát âm của người Quảng Kim khi biểu đạt chữ “Kim” phát âm lệch thành chữ “Kiêm” Theo cách cắt nghĩa này thì “Kim Long” là “rồng vàng” theo cách thứ hai đó cũng là một cái tên với ý nghĩa tốt đẹp và gần nghĩa với cách cắt nghĩa thứ nhất Tuy có 2 cách cắt nghĩa khác nhau, nhưng ta nhận thấy cách cắt nghĩa thứ nhất là hợp lý nhất Do đó danh xưng Kiêm Long có nghĩa là “Rồng nổi” là cách giải thích được đa số người dân làng này chấp nhận
Trang 201.2.2 Dân cư
Sau khi các vị tiền hiền hoành thành việc khai khẩn và lập ra làng Kiêm Long thì ban đầu Kiêm Long chỉ là một thôn Đến thời Tự Đức với sự phát triển của dân số nên Kiêm Long được nâng thành xã
Xã Kiêm Long xưa có khá nhiều họ bao gồm: họ Từ Lớn, họ Từ Vặc, họ Chu, họ Giả, họ Tạ, họ Hứa, họ Diệp, họ Tiếu, họ Nguyễn, họ Lê là những họ có công khai canh lập làng Trong số họ nói trên thì họ Hứa nay không còn hậu duệ ở đây nữa Có một số họ đến sau nhưng nay có con cháu tương đối đông và có nhiều người thành đạt như họ Phan, họ Hồ… Theo tài liệu truyền khẩu thì số lượng các họ này đều từ các tỉnh phía Bắc Đèo Ngang di cư vào
Từ khi thành lập đến năm 1945 thì Kiêm Long là một làng thuần nhất về tộc người và tôn giáo Toàn thế cư dân Kiêm Long đều là người Việt không theo tôn giáo nào Cùng theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thành hoàng và chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho học
Dân cư ở Kiêm Long nói riêng và xã Quảng Kim nói chung chủ yếu sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác lâm sản Ngày nay nông nghiệp vẫn giữ vị thế chủ đạo song lâm sản không còn có vị trí quan trọng như xưa nữa Thay vào đó các ngành nghề trở nên đa dạng hơn như trồng rừng, kinh doanh dịch vụ, nuôi trồng thủy sản
Đáng tiếc là các hương phả và phần lớn tộc phả của Kiêm Long được lập dưới chế độ phong kiến và thực dân nửa phong kiến đến nay đều không còn Làng này chỉ còn lại một cuốn tộc phả bằng chữ Hán của chi họ Từ (Đỏ) ở Kiêm Long được lập năm Bảo Đại thứ 7 (1932) Trong tộc phả này bên cạnh các vị hoàng sơ tổ, thủy tổ, hậu tổ đều kèm theo 4 chữ: “Tiền Đông Hải quận” mà không có thông tin gì thêm về quê hương của các vị đó
Kiêm Long là một ngôi làng có phong tục thuần hậu chứa dựng nét đẹp dung dị của miền thôn dã Con người nơi đây có tiếng là trai tài hoa hiếu học; gái chăm việc nữ
công gia chánh với nét đẹp khỏe khoắn và tràn đầy sức sống Trong Thúc ước làng
Kiêm Long đã phản ánh chân thực và khá bao quát những đặc điểm nổi bật trong tính cách con người Quảng Kim xưa rất đáng trân trọng:
Trang 21“Dân thuần chất noi bề thuận tắc Một mạch thuận hòa ùn thói tốt Đức Càng Kiêm nên được thuần phong…
Văn mỗi bề thọ sách uẩn tán
May mắn khi phù phượng mây rồng…
Võ ghi dạ lược thao súc tích…
Đường công danh mong thỏa chí tang bồng
Sỹ hôm mai trực tiếp sân Trình…
Nông ngày tháng cày mây nội vũ
Công kéo khôn thắng mực sánh công du
Tài Lương Đống so tài đáng giá
Thương tính toán, đấu thưng so quán tử
Cơ phú cường gặp hội nên dùng…
Tiều quảy gánh cương thường đủng đỉnh…
Mà đa phú đa nam mạnh khỏe " [24]
Trang 22TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 nói về đặc điểm địa lý tự nhiên và cư dân của làng Kiêm Long đặt trong tổng thể điều kiện tự nhiên, khí hậu và cảnh quan khu vực Roòn huyện Quảng Trạch và tỉnh Quảng Bình Kiêm Long có điều kiện địa lý tự nhiên tươi đẹp có sông núi diễm lệ, có sản vật đặc sắc có con người chất phác giản dị mà giàu tình cảm Phong cảnh làng Kiêm Long như một bức tranh sơn thủy hữu tình, phải chăng cũng từ
đó biết bao thế hệ con cháu Kiêm Long đã sinh ra lớn lên đã bỏ bao công sức cùng nhau khai khẩn cải tạo để làng có được cảnh quan như bây giờ
Từ khi lập làng đến Cách mạng tháng Tám 1945, có rất nhiều thứ ở Kiêm Long dần phát triển và thay đổi, riêng có lẽ khung cảnh và diện mạo của làng vẫn vẹn nguyên, ít khi bị sức mạnh của thời gian bào mòn Hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của làng, cũng là một bước đệm lớn để nghiên cứu văn hóa làng Kiêm Long nói riêng và tổng thể làng Việt nói chung
Trang 23CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA LÀNG KIÊM LONG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
a) Làm ruộng:
- Trồng lúa
Nghề trồng lúa nước ở thôn Kiêm Long được du nhập qua những cư dân từ miền Bắc vào nhưng đã có cải tiến nhất định cho phù hợp với điều kiện của địa phương Trước cách mạng tháng Tám, ở Kiêm Long thời điểm này ruộng đất tính theo đầu người cũng khá nhiều nhưng vì thiếu nước và chủ yếu là ruộng bậc thang nên người dân nơi đây thường sản xuất lúa 1 vụ Vụ mười người dân Kiêm Long trước đây chỉ có làm lúa vãi Những ruộng sâu (làm lúa 2 vụ) rất ít chỉ có hơn chục mẫu là những nơi gần khe suối gần cánh đồng: Sủng Xá, Đồng Biền, Đồng Bạc, Khe Me… Số ruộng đất còn lại chủ yếu trồng khoai, ngô, đậu, vừng và làm lúa vãi với các giống lúa dài ngày, thường tháng 5 gieo, tháng 10 gặt Những giống lúa được trồng vụ mười ở Kiêm Long xưa thường là lúa mành, lúa hẫm, lúa hẻo, nếp đa, gạo rất ngon nhưng cho năng suất thấp Làm lúa vụ mười người dân thường phải đối mặt với thiên tai Đầu vụ thường gặp hạn, khi lúa trổ đòng thì gặp bão lụt ập đến, do đó dưới chế độ thực dân nửa phong kiến nhiều năm mất mùa, đời sống của nhân dân hết sức khó khăn Bởi vậy ở thời điểm đó lương thực chính của cư dân nơi đây thường là cơm độn khoai sắn Thậm chí thời điểm giáp hạt ngày ba tháng tám, người nông dân thường phải ăn củ chuối, củ mài, rau rừng thay cơm
Trang 24Trước đây, người dân chủ yếu dùng sức trâu bò để cày bừa nhà nào không có trâu bò thì dùng cuốc để làm đất Kinh nghiệm trồng lúa dần dần được người dân nơi đây đúc rút từ đó Những kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp lâu đời của người Việt được cư dân thôn Kiêm Long áp dụng đầy đủ như: ruộng cạn thì làm lúa gieo, ruộng
sâu thì cấy lúa hay “thứ nhất cày ải,thứ nhì rải phân”, “nhất nước, nhì phân, tam cần,
tứ giống” Ở thời điểm đó, do kĩ thuật canh tác thủ công nên năng suất các loại cây lương thực đều thấp, người nông dân phải làm lụng rất vất vả khó nhọc
Ngày nay, nhờ những áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, sản xuất nông nghiệp được thực hiện cơ giới hóa, sản lượng lương thực tăng lên đáng kể Cụ thể theo thống kê toàn xã Quảng Kim sản lượng lương thực năm 2015, đạt 1.977 tấn Tuy năng suất khá cao so với thời kì thực dân phong kiến hay trước cách mạng tháng Tám nhưng giá trị hàng hóa của sản phẩm nông nghiệp rẻ nên thu nhập của nông dân vẫn rất thấp Việc nghiên cứu chuyển đổi hướng trong nông nghiệm đã được xúc tiến
và áp dụng mạnh mẽ Lúc đầu còn có rất ít hộ gia đình mạnh dạn áp dụng mặc dù đã được chính quyền và hợp tác xã khuyến khích
- Trồng bông
Dưới thời phong kiến trên một số ruộng cạn, bên cạnh việc trồng các hoa màu và trồng dâu để nuôi tằm thì người dân Kiêm Long còn trồng bông Làng Kiêm Long xưa dùng hẳn cả một cánh đồng để chuyên trồng bông nên cánh đồng này được đặt tên là Nương Bông Bông của làng Kiêm Long thu hoạch về ngoài việc sử dụng để làm gối, chăn bông thì chủ yếu là được bán cho người Kẻ Hạ (thuộc xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch) Dưới chết độ thực dân phong kiến, bông của Kiêm Long trở thành một trong những mặt hàng có tiếng và rất được thương nhân ở các nơi khác ưa chuộng
Trang 25- Trồng hoa màu
Đến thế kỉ XIX, hầu hết ruộng đất công của Kiêm Long đã rơi vào tay của các nhà hào phú Đa số nông dân ít có ruộng hoặc không có ruộng, do đó phải vào lèn rừng khai hoang trồng nhiều loại hoa màu, cây củ quả khác nhau như ngô, khoai lang, khoai sọ, khoai tía, khoai môn, dong riềng, lạc, bầu bí, sắn… hoặc phải cày thuê cuốn mướn cho địa chủ Do ruộng lúa ít nên phần lớn nông dân chủ yêu sống dựa vào các loại lương thực khác như ngô, khoai, sắn; đó là những thứ độn cơm trong bữa ăn hàng ngày Hầu hết số nông dân nghèo không có ruộng lúa nên phải lên đồi, núi phát đất làm nương rẫy trồng hoa màu, rau quả là chính Hoa màu, rau quả trở thành cứu cánh của nông dân nghèo ở Kiêm Long vào các thời điểm giáp hạt
b) Làm rẫy
Vì nhiều lý do khác nhau, nên ở thời điểm trước cư dân nghèo Kiêm Long thường phải lên núi phát cây làm rẫy Chờ trời mưa xuống cho đất mềm mới phát rẫy Sau khi phát xong để cho các loại cây cỏ khô rồi sau đó đốt thành tro, mùn thay phân Sau đó dùng cuốc hoặc dùng cọc nhọn để chọc lỗ trồng các loại cây như thuốc lá, đậu,
cà, vừng, khoai, sắn hoặc trồng cải… Tuy có nhiều loại cây nhưng giống cây được cư dân Kiêm Long trồng nhiều nhất đó là thuốc lá Một số khu vực trên núi được người dân trồng cải, chuối, mít, dứa hoặc trồng chè tùy vào từng khu vực và từng thời điểm Các hoạt động kinh tế này được người dân đúc kết thành các câu thục ngữ:
“Trồng chuối thì vào An Bang Trồng chè thì sang Mái Rậm”
Trang 26Các khu vườn thường có diện tích không lớn chủ yếu là chỉ góp phần bổ sung thêm thực phẩm trong gia đình và có không gian đẹp, thoải mái Vì thế thu nhập của các khu vườn Kiêm Long thường không cao so với một số vùng khác trong tỉnh Quảng Bình
a) Chăn nuôi gia súc
- Chăn nuôi trâu bò
Kiêm Long là một thôn lớn trong xã Quảng Kim, ở đó đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc chăn nuôi Do đó chăn nuôi là ngành thế mạnh và có tiềm năng phát triển cao
Ở Kiêm Long chăn nuôi trâu bò là một trong những nghề phổ biến Sỡ dĩ có sự phát triển như vậy ở Kiêm Long là vì ở đây có nhiều loại thức ăn cho trâu bò; trên núi
có nhiều khu đât rộng, bằng phẳng, ít có gió, cỏ mọc nhiều và có nhiều loại khác nhau,
do đó người dân Kiêm Long thường làm chuồng trại để nuôi trâu bò ở trên núi Do đặc điểm này cho nên có ngọn núi được nhân dân Kiêm Long đặt tên là núi Trại Trâu Người Kiêm Long thường có câu tục ngữ:
“Nuôi trâu thì vào O Gió Nuôi bò thì vào Trại Trâu”
Vùng O Gió phù hợp với việc chăn thả trâu vì đây là vùng đất bằng phẳng, ít gió, nhiều loại cỏ phù hợp làm thức ăn cho trâu Còn vùng Trại Trâu thì có nhiều loại cỏ để phù hợp làm thức ăn cho bò
Nghề chăn nuôi trâu bò từ xa xưa rất được người dân nơi đây coi trọng, vì thế mà Kiêm Long trở thành một trong những làng xã nuôi trâu bò nhất nhì Quảng Bình
Trong sách Địa lý - lịch sử Quảng Bình nhà nghiên cứu Lương Duy Tâm viết: “Những miền có nhiều đàn bò là: Kiêm Long, Cương Hà, Thuận Lý, Thủy Liên” [17]
Trong các lễ tết hàng năm thôn Kiêm Long và thôn Hùng Sơn thường có tục tết trâu bò tại cửa rừng ngày mồng Một Tết Nguyên đán
Trang 27Việc chăn nuôi tuy còn ở dạng bán thâm canh nhưng việc bố trí chuồng trại và giữ gìn vệ sinh môi trường hết sức khoa học Làng Kiêm Long xưa có quy định chuồng trại trâu bò không được để trong khu dân cư mà bố trí ở một khu vực riêng, chủ yếu là ở Cồn Dài
- Nuôi chó
Từ xa xưa người dân Kiêm Long đã nuôi chó để giữ nhà Mặt khác một bộ phận
cư dân còn nuôi chó săn để phục vụ việc săn bắn thú rừng Chó săn ở Kiêm Long nếu tham gia đợt săn cũng được tính công để phân chia thành quả lao động, và thành quả
đó sẽ do người nuôi chó nhận
- Chăn nuôi lợn
Lợn là loài gia súc được chăn nuôi nhỏ lẻ khá phổ biến ở Kiêm Long xưa Trước đây mỗi gia đình đều nuôi hàng năm ít nhất 1, 2 con chủ yếu là tận dụng sản phẩm trồng trọt Cũng có một số hộ chuyên nuôi lợn nái để cung cấp lợn con, lợn giống Chăn nuôi lợn được xem là một hình thức bỏ tiền tiết kiệm Chỉ cần bỏ ra ít vốn để mua lợn về nuôi khoảng 7 - 8 tháng là sẽ bán Và số tiền thu được từ việc nuôi lợn sẽ phụ không ít vào các khoản sinh hoạt chung của gia đình
b) Chăn nuôi gia cầm
Từ xa xưa ở Kiêm Long nhà nào cũng nuôi gà, nhiều hộ gia đình nuôi thêm vịt, ngan, ngỗng… Gia cầm chăn nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu ăn uống hằng ngày như lấy trứng ăn và giết thịt phục vụ các ngày tết, giỗ, chạp, cưới hỏi, đám đình của gia đình hoặc lễ hội của làng xóm và cũng được nuôi để mang ra chợ bán để mua sắm những vật dụng khác
c) Nuôi chim
Kiêm Long là một làng ở sát chân núi Và trên dãy Hoành Sơn có rất nhiều loại chim muông sinh sống, do đó những ngày trước đàn ông Kiêm Long cũng có thú nuôi chim Các loại chim được nuôi phổ biến như: cu gáy, chào mào, khướu, sáo ngà, sáo sậu… Hiện nay, số lượng các loài chim cũng giảm bớt nên số người nuôi chim không còn phổ biến như xưa
2.1.1.3 Khai thác lâm sản
Có rất nhiều hình thức khai thác lâm sản như đẵn gỗ, tre làm vật liệu kiến trúc, đốt than, chặt củi, lấy măng, bóc mây, lấy dược liệu, hái rau, bứt tranh, cỏ làm thức ăn cho lợn trâu bò, bứt lá dong riềng gói bánh các dịp Lễ Tết
Trang 28Người dân khai thác lâm sản tùy vào từng thời điểm,thời gian sinh trưởng và phát triển của động thực vật Ví dụ mùa hè khoảng tháng 3 – 4 âm lịch người dân sẽ vào rừng để lấy mật ong Tháng 5 tháng 6 lên rừng hái sim, hái dâu; mùa đông họ thường
đi lấy mây và nhặt hạt dẻ… bởi vậy người dân trong địa bàn thường có câu tục ngữ:
“Trông đến tháng sáu con cháu ăn sim” xuất phát từ đấy
Việc khai thác lâm sản đã nói đến ở trên có nhiều hình thức tuy nhiên có hai nghề: đốt than và hái củi là phổ biến và cũng là nghề phụ của người dân lúc nông nhàn Việc người ta đốn củi bán để đổi lấy lương thực cũng là một trong những cách giúp người dân vượt qua các kì giáp hạt hoặc những khi hạn hán, mất mùa Đó cũng là một nghề chính của những người dân nghèo có ít hoặc không có ruộng đất Lượng củi đốn về được người dân mang ra chợ Càng để bán hoặc đổi hàng, hay những ngày không có phiên chợ thì các tiều phu lại gánh củi về các chợ Phú Lộc, Cảnh Dương hay
xa hơn là các phiên chợ của chợ Ba Đồn để đổi gạo, mắm muối, tôm cá
Và đặc biệt hơn nữa việc khai thác lâm sản của thôn Kiêm Long và một số thôn khác trong khu vực đã dẫn đến sự ra đời của hội rú mây và hội sấu Hội rú mây là tổ chức tự nguyện của những người thường xuyên lên rừng khai thác mây về bán để kiếm sống Hội sấu cũng là một tổ chức mang tính chất nghề nghiệp của nhũng người chuyên khai thác quả sấu (rừng có rất nhiều sấu) để bán
Ngoài ra trên dãy Hoành Sơn có rất nhiều cây lá dong và cây lá nón, người ta thường lên đây hái lá nón về để bán cho các vùng đan nón, các dịp lễ tết họ hái lá dong
để làm bánh và bán ở các vùng lân cận
2.1.1.4 Săn bắn
Thôn Kiêm Long được coi là một vùng đất bán sơn địa nên ngày xưa có rất nhiều loài thú rừng sinh sống như: hổ, báo, cáo, các loài linh trưởng, nhím… Lúc đầu việc săn bắn thú rừng chỉ là để bảo vệ loài người và tránh các loài phá hoại mùa màng, về sau họ săn bắn để phục vụ nhu cầu thực phẩm; mặt khác việc khai rừng bừa bãi đã cho làm rừng thu hẹp, môi trường sống của động vậ không còn nên dần dần nhiều loài động vật bị tuyệt diệt
Người dân Kiêm Long dưới chế độ thực dân nửa phong kiến họ tổ chức nên các phường săn Họ nuôi chó để tổ chức săn bắn, đặt bẫy để đơm thú rừng Các loài động vật săn bắn thông thường là, gấu, lợn lòi, cáo, cầy hương, nai hoẵng, sơn dương, nhím, chim chóc…Việc săn bắn là một trong những hoạt động mang tính tập thể và thượng
võ của nam giới
Trang 292.1.1.5 Đánh bắt và nuôi thủy sản
Khu vực thôn Kiêm Long nằm gần các sông hồ mà cụ thể đó là sông Càn, sông Đuồi Người dân thường sử dụng nhiều phương thức và dụng cụ khác nhau để đánh bắt thủy sản nhằm cải thiện chế độ dinh dưỡng cho bữa ăn
Các hình thức chủ yếu gồm: cất rớ, thả lưới, đơm đó, thả câu dặm, thả trúm, đi nơm, đi đũi, cất tép, tát đìa, bắt ốc, mò cua đồng, bắt ếch, xúc si si, bắt ngao (nơi đây gọi là sào sáo), bắt hến Chính những nghề phụ này cũng đã cung cấp cho người dân Kiêm Long nguồn thực phẩm giá trị
2.1.2 Thủ công nghiệp
Nghề mộc
Làm mộc củng chỉ là một nghề phụ của một số cư dân Kiêm Long lúc nông nhàn
Ở Kiêm Long xưa không có thợ mộc chuyên nghiệp, thợ mộc Kiêm Long vốn chỉ là những người nông dân khéo tay, họ chỉ có thể làm được những ngôi nhà đơn giản, đóng dường,tủ, bàn ghế, cửa Tuy vậy ở Kiêm Long xưa vẫn có một số thợ mộc khéo
tay đã được Thúc ước của làng ca ngợi:
“Công khéo khôn thẳng mực sánh công du
Tài Lương Đống so đà đáng giá”
Tuy nhiên, các công trình lớn như đình, chùa nhà tréng thì phần mộc trước đây dân làng cũng phải thuê thợ các nơi về để thi công
2.1.3 Hoạt động buôn bán trao đổi
Thương nghiệp
Chợ Càng: Trên địa bàn thôn Kim Long, chợ Càng là chợ làng nói riêng và các
thôn xã khu vực hai bên sông Roòn nói chung Chợ Càng xuất hiện từ thời gian nào
đến nay vẫn chưa xác định được một cách chính xác Trong Ô châu cận lục hay Đại Nam nhất thống chí ở phần chợ, quán ghi chép tất cả các chợ, quán theo từng phủ,
huyện nhưng không thấy chép tên chợ Càng Mặc dù khi mới xuất hiện chợ Càng chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán của người dân Kiêm Long và Hùng Sơn, nhưng dần dần chợ ngày càng thu hút được thương khách nhiều xã xung quanh đến mua bán Vì thế
chợ Càng đã trở thành chợ khu vực của người dân các làng, xã vùng Roòn
Căn cứ vào thúc ước làng Kiêm Long thì đến đầu thế kỉ XX (1907), chợ Càng đã trở thành một trong những trung tâm mua bán sầm uất ở phía bắc phủ huyện Quảng
Trang 30Trạch Nằm ở vị trí thuận lợi bên cạnh sông Loan, chợ Càng tạo nên một khung cảnh
rất nhộn nhịp “trên bến dưới thuyền” Chợ họp vào buổi sáng từ sớm (khoảng 5 giờ
đến khoảng 8 giờ 30 là chợ tan) cứ hai ngày chợ họp một phiên vào các ngày lẻ hàng tháng (lịch âm) Trước cách mạng tháng Tám 1945 chợ họp ngay tả ngạn sông Càn Trước đây vốn cách trở đò giang cho nên thương nghiệp ở đây không phát triển Chợ càng không chỉ là trung tâm giao thương chính của người dân Kiêm Long, Hùng Sơn mà còn cả các vùng lân cận như Phú Lộc (Quảng Phú), xã Quảng Châu, trang Thủy Vực (thuộc xã Quảng Hợp ngày nay) Riêng mặt hàng Bông người dân Kiêm Long thường bán cho thương nhân từ Kẻ Hạ ra mua (xã hạ Trạch, huyện Bố Trạch)
Các loại hàng hóa và hình thái giao thương
Ngày trước những mặt hàng mà người dân Kiêm Long mang ra chợ bán thường
là các loại lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, vừng, đỗ, các loại rau quả hái từ vườn ruộng, núi rừng Họ còn bán các loại thực phẩm có xuất xứ từ săn bắn và chăn nuôi Và đặc biệt đó là các đặc sản nổi tiếng được người dân nơi đây chế biến và thu hái như cà mắm, mắm cáy, bánh đúc, bánh xèo, bánh ú, bánh đa, hạt dẻ, sim, hạt sót, dâu rừng, quả thuồi luồi, quả sấu, quả chay…
Từ thời kì phong kiến đến Cách mạng tháng Tám 1945, Kiêm Long và các thôn như Hùng Sơn, Xuân Hòa là những làng, xã có rừng núi chiếm phần lớn diện tích; ruộng đất canh tác chủ yếu tập trung vào tay địa chủ Sản xuất nông nghiệp với phương thức canh tác hết sức thô sơ và lạc hậu nên cho năng suất thấp; nông dân nghèo vào các kì giáp hạt lâm vào tình cảnh thiếu thốn lương thực thực phẩm và nhu yếu phẩm
Trước Cách mạng tháng Tám, ở Kiêm Long xuất hiện hai hình thái giao thương:
Mua: thông thường trên 90% dân cư ở Kiêm Long luôn có xu hướng tự cấp, tự
túc lương thực, thực phẩm Đời sống xưa còn có khá nhiều khó khăn nên nhu cầu mua của người nông dân ở chế độ cũ rất hạn chế Họ chủ yếu mua những thứ thiết yếu cho sinh hoạt như: dầu đèn, nồi niêu, chiếu, quần áo, bát đĩa, ấm chén…; Một số loại thực phẩm như: muối, nước mắm, mắm tôm, thủy hải sản Mua các nông cụ, sản phẩm của nghề rèn như: dao, rìu, búa, liềm, hái, cuốc, xẻng… phụ nữ thì mua kim chỉ, vải để may, vá, thêu thùa
Trang 31Bán: những mặt hàng mà người dân Kiêm Long bán ra đa phần là các mặt
hàng nông sản: Lương thực, thực phẩm, rau củ quả những nông phẩm họ sản xuất ra, hoặc thu hái ở rừng như lúa gạo, ngô khoai, than củi, song mây, lá dong, lá nón, quả sim, quả sấu quả dâu rừng, thịt gà, thịt lợn, thịt các loài thú rừng,… Những sản phẩm
mà họ đem bán đa phần là đều dư ra so với nhu cầu sử dụng của gia đình song cũng có những trường hợp ngược lại, vì quá cần quy ra tiền hay những vật dụng mà gia đình không sẵn có nên bắt buộc họ phải tham gia bán, trao đổi hàng hóa
Ngoài ra cư dân Kiêm Long còn bán những mặt hàng thủ công như: đồ đan từ tre (rổ rá, nong nia, dần sàng…)
2.2 Di sản văn hóa vật chất
2.2.1 Miếu, Nghè thờ
- Miếu Cao Các Mạc Sơn
Khu vực của toàn địa phận xã Quảng Kim trước đây từng có 2 miếu thờ Sơn thần của làng Kiêm Long và Xuân Hòa Miếu Cao Các Mạc Sơn của làng Kiêm Long được xây dựng ở Quán Cũ nhưng đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại miếu Cao Các Mạc Sơn của trang Xuân Hòa được xây dựng ở xứ Đồng Bạc (hiện nay ở góc đông nam đập thủy lợi của hồ chứa sông Thai)
- Miếu Bà Càn
Trước đây miếu thờ bà Đại Càn quốc gia Nam Hải được xây dựng tại phía Nam làng Kiêm Long, nằm sát ngay bên bờ sông Càn Kiêm Long là một làng nông nghiệp nhưng các bậc thủy tổ, tiên tổ, hậu tổ của các dòng họ khai khẩn sau khi hoàn thành các thủ tục thành lập làng đã cử người ra đền Cờn ở xã Quỳnh Phương (Quỳnh Lưu, Nghệ An) dâng lễ vật để xin phép được rước Bà Đại Càn quốc gia Nam Hải về Kiêm Long để tôn làm phúc thần và lập các miếu thờ Những lúc làng gặp thiên tai hoạn nạn người dân Kiêm Long thường mang các lễ vật đến miếu Bà để xin bà phù hộ Sau này khi thôn Kiêm Long xây dựng nên đình làng thì người dân đã cho rước Bà vào đình để thờ Quá trình tổ chức lễ Kỳ Phúc dân làng Kiêm Long thường tổ chức rất trang trọng tại đình, có tổ chức cầu đồng…
Do sự phong hóa của thời gian và sư tàn phá của chiến tranh, miếu Bà Càn bị đổ nát và hư hại Do đó hiện nay miếu không còn
Trang 32- Miếu Bà Hỏa
Miếu Bà Hỏa là miếu mà người dân dựng lên để thờ thần lửa Bởi ngày trước nhà của người dân Kiêm Long đa số là nhà lợp mái tranh, nhà gỗ Vào mùa hạ, trong những ngày hè nắng nóng, khô hanh kèm theo những đợt gió phơn tây nam, rất dễ xảy
ra hỏa hoạn Do đó người dân Kiêm Long từ xưa đã cho xây dựng nên miếu Bà Hỏa để thờ thần lửa và hàng năm đều tổ chức lễ cầu cúng thần lửa để mong thần lửa che chở cho bà con trong làng tránh khỏi hỏa hoạn và luôn giữ ngọn lửa ở trên bếp
Miếu Bà Hỏa của Kiêm Long xưa được xây dựng tại góc phía nam của khuôn viên Trạm Y tế xã Quảng Kim Trải qua phong hóa của thời gian và chiến tranh miếu
đã bị đổ nát
- Miếu Ngũ Phương
Đó là tên gọi của gồm 5 ngôi miếu được xây dựng ở đầu 5 con đường dẫn vào làng Kiêm Long Miếu Ngũ phương đóng vai trò trấn hưng 5 phương cho làng Về mặt địa lý, lúc xưa làng Kiêm Long có vị trí gần như là cô lập, tách biệt với xung quanh, lượng dân cư thì thưa thớt Vì vậy nếu ở Kiêm Long có xảy ra các nạn như cướp bóc hay hỏa hoạn thì chỉ có đơn độc trong làng đối phó, khó có thể nhận được các sự cứu trợ từ các làng xum quanh Bởi vậy, ngoài các quan niệm về phong thủy thì miếu Ngũ phương với 5 vị thần trấn hưng còn tạo cảm giác cho những người từ nơi khác đến Kiêm Long khi đi qua đó có cảm giác dè chừng và e ngại Vậy nên, khi vào làng những người nơi khác đến đều có ý thức là phải kiêng dè trong cả lời nói và hành động
có cảm giác hình như thần Ngũ phương luôn theo dõi mình Đó cũng chính là một trong những sáng tạo độc đáo của người dân Kiêm Long để hạn chế những nguy cơ đe dọa từ bên ngoài, đồng thời giúp người dân Kiêm Long vững tin để duy trì cuộc sống bình yên
Theo cụ Từ Đình Ngoãn thì ở Quảng kim có tới 5 miếu, đều gọi là miếu Ngũ phương, trấn giữ 5 con đường đi vào làng Kiêm Long xưa bao gồm:
Miếu thứ nhất: được xây ở đầu con đường từ bến đò Thai đi vào làng Kiêm Long
ở phía đông Hiện nay miếu nằm trong khuôn viên Trạm y tế xã Miếu còn có tên gọi
là miếu Bà Hỏa
Miếu thứ hai: xây ở đầu con đường từ Kiêm Long sang trang Xuân Hòa, miếu nằm ở phía bắc địa phận thôn 1 hiện nay (giáp Đông xưa)
Trang 33Miếu thứ ba: nằm ở ngã tư Trường THCS Quảng Kim Miếu này trấn giữ con đường làng từ thôn 2 (giáp Tây) đi sang thôn 4 hiện nay
Miếu thứ tư: trấn giữ con đường từ phía Tây nam Kiêm Long từ giáp Tây (nay là thôn 2) hướng đi Hùng Sơn
Miếu thứ năm: trấn giữ con đường từ bến đò Càn đi vào làng kiêm Long xưa ở khu vực đông nam của giáp Tây (thôn 2) Miếu nay còn được gọi là miếu Bà Càn (Đại Càn quốc gia Nam Hải, tứ vị Thánh nương) được đề cập ở tiểu mục trên
- Nghè Nương Kho
Trong Sơ thảo lịch sử Đảng bộ xã Quảng Kim chép: nghè Nương Kho đã được
xây dựng để thờ Đức Bản thổ Thành hoàng Kiêm Long Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn chưa có đủ cơ sở khoa học để xác định nghè Nương Kho là nơi thờ Đức Bản thổ Thành Hoàng Kiêm Long Nghè này bị hủy hoại hoàn toàn nay không còn dấu vết
- Nghè Giếng Mội
Trong Sơ thảo lịch sử Đảng bộ xã Quảng Kim chép: khu vực Gò Giếng Mội xưa
là nơi các bậc tiền nhân làng Kiêm Long xây dựng hai nghè để thờ Đương Niên và Đương Cảnh Nhưng theo cụ Từ Đình Ngoãn thì hai nghè ở khu vực Giếng Mội thờ Hầu Chấn (Đồng Chòi trên) và Hầu tả (Đồng Chòi dưới)
2.2.2 Nền thánh
Một trong những nét khác biệt của Kiêm Long so với nhiều làng xã ở Quảng Bình đó là trong tổ chức của hội đồng quan viên cùng lúc có cả Văn hội và Võ hội Các tổ chức này đều xây dựng nền thánh, để thờ thánh và làm nơi sinh hoạt Hội
- Nền thánh văn: Được xây dựng tại xứ Nương Kho của Kiêm Long Nền thánh Văn là nơi Văn hội tiến hành cúng tế Khổng Tử và tổ chức các hoạt động của văn hội
Ở khu vực nền Thánh Văn là một khu đất không có mái che mà chỉ đắp nền cho bằng phẳng sạch sẽ với diện tích đủ để đặt mâm cỗ và tiến hành các nghi thức cúng tế, hội họp của Văn hội Ngày trước lễ tế của Khổng Tử được Văn hội Kiêm Long tổ chức hằng năm vào lúc 2 giờ sáng của ngày đầu năm mới
- Nền Thánh Võ: Là nơi sinh hoạt của Võ hội và cũng là nơi cúng tế khao vọng
của Võ hội Kiêm Long trước Cách mạng tháng Tám 1945 Nền Thánh Võ được Võ hội xây dựng ở phía Bắc khu cư trú của làng Kiêm Long - nơi có một cây gõ lớn Có lẽ ban đầu nền Thánh Võ cũng chỉ là một khu đất bằng phẳng như nền Thánh Văn nhưng
Trang 34về sau đã được hội xây dựng thành một khu có mái ngói và tường xây Theo cụ Từ Xây miêu tả thì nhà Võ hội có diện tích khoảng 100m2 Khuôn viên có tường bao quanh Cổng rộng 195 cm, hai bên cổng có hai cột nanh có kích thước khoảng 0,5m x 0,5m, cao khoảng 2,5m Trên đỉnh của mỗi cột đều có gắn một con nghê đá Phía sau cổng là một bức bình phong rộng khoảng 2,1m, cao 1,6m Hai mặt bình phong đều dược đắp hình chúa sơn lâm ngồi đối mặt nhau, thể hiện tinh thần thượng võ của cư
dân Kiêm Long
2.2.3 Đình làng
Đình làng Kiêm Long ban đầu được xây dựng ở xứ Nương Mạ, nay là trường trung học cơ sở xã Quảng Kim vốn là một gò đất cao ráo, cây cối mọc um tùm Ở đây xưa kia có rất nhiều cây đa cổ thụ Năm 1897, đình làng được dời về địa điểm mới nay
là khu vực trường mầm non và bên cạnh trụ sở Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Đình được tân tạo với tường xây, mái ngói với kết cấu 3 gian 2 hồi Đình Kiêm Long ở vị trí mới có quy mô đồ sộ, hoành tráng hơn cũ rất nhiều Nhờ đó trước Cách mạng tháng Tám, đình Kiêm Long là ngôi đình lớn nhất ở khu vực Bắc Quảng Trạch Do đó đình làng Kiêm Long vinh dự được chọn làm địa điểm tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Trạch lần thứ II năm 1950 Đến năm 1962 đình làng Kiêm Long đã được tháo gỡ để làm 4 phòng học cho trường phổ thông của xã Quảng Kim Tuy nhiên qua kí ức của các vị cao nhân xưa, ta phần nào hình dung ra được kiểu kiến trúc của ngôi đình như sau:
Đình gồm hai phần: Đình tiền và đình hậu Đình tiền có kích thước khoảng 20m
x 6m, với kết cấu 3 gian 2 hồi Mỗi vì có 5 hàng cột, giữa các vì liên kết với nhau bằng một hệ thống xuyên (xà ngang) ở trên và ngạch ở dưới chân cột Các bộ phận băng, xuyên, xà và kèo đều được chạm trổ hoa văn hình các con vật trong bộ tứ linh gồm: long (2 rồng chầu mặt nguyệt), ly vờn mây, phượng múa Ở gian giữa, trên băng có
bức hoành phi to chạm nổi 4 chữ: “Vạn cổ anh linh”? bằng chữ Hán Dưới bức hoành phi treo bức Đại tự: “Đinh Dậu niên” rất lộng lẫy Mái đình lợp ngói âm dương, trên
nóc đắp nổi hình lưỡng long chầu nguyệt Theo các bậc cao niên thì cột đình được làm bằng gỗ lim rất to, cột mệ (cái) có đường kính khoảng 1m, đòn tay có kích thước cỡ 0,4m x 0,4m, mỗi đòn 4 người khiêng Nối đình tiền và đình hậu là tả hữu hành lang Đình hậu cũng có kết cấu 3 gian 2 hồi, 4 mái cấu trúc gần giống với đình tiền, trên mái lợp ngói âm dương và cũng đắp hình lưỡng long chậu nguyệt
Trang 35Sân đình khá rộng rãi có tường xây bao quanh Phía trước sân là cửa Tam Quan, gồm 1 cửa chính và 2 cửa phụ (tả hữu) Cửa chính ở giữa 2 cột nanh vuông vức cạnh rộng 0,4m x 0,4m Trên đỉnh cột nanh có đắp con nghê đá nhìn ra trước cửa vừa oai
vệ, vừa trang nghiêm Trên 2 mặt tiền và của cột nanh đều có câu đối khảm bằng sành
sứ Hai cửa phụ cũng có 2 cột nanh ở hai bên, cột nanh ở của phụ cũng một mô típ với cột nanh chính nhưng thấp và nhỏ hơn, không có câu đối và trên đỉnh 2 cột nanh cửa phụ cũng đắp hình 2 con nghê đá Phía trong cổng đình 1,3m là một bức bình phong lớn 2 mặt đều được trang trí hình kì lân ngồi theo 2 hướng đối diện nhau Trong sân ở phía trước 2 gian hồi của đình tiền có 2 cây phượng Khi mùa hè đến hoa phượng đỏ rực sân đình Ở bên ngoài đình còn thồng 3 cây phượng Hai bên ngoài khuôn viên đình trồng 2 cây đa lớn tỏa bóng mát vào bên trong sân đình
Đình hậu là nơi thờ tự, ở giữa phía sau được xây các bệ thờ gồm ba bậc Bậc cao nhất thờ các thiên thần, gồm Đức vua, Cao Các Mạc Sơn, Thần Nông, Bà Hỏa Bậc thứ hai thờ các vị nhân thần, gồm Bà Đại Càn, Thành hoàng, các vị Thủy tổ khai khẩn của cả 2 làng Kiêm Long và Xuân Hòa Bậc thứ ba thờ các vị hậu thần được dân làng vinh danh Đình tiền là nơi diễn ra các nghi thức tế lễ Mỗi gian có một hương án, hai bên có giá đựng lọng, tàn, cờ, quạt, gươm, giáo Trên các cột đình tiền được treo các câu đối bằng gỗ sơn son thiếp vàng
2.2.4 Điếm
Hầu hết tất cả các làng xã ở Quảng Bình trước Cách mạng tháng tám đều lấy đình làng để làm nơi làm việc của tất cả các quan viên, chức dịch nhưng làng Kiêm Long lại xây dựng điếm làm trụ sở làm việc của Hội đồng Quan viên và chức dịch xưa Đó cũng là một trong những nét đặc trưng không thể trộn lẫn được của làng Kiêm Long so với các làng khác trong khu vực
Điếm Kiêm Long không chỉ là nơi làm việc của quan viên, chức dịch mà còn là nơi xét xử các trường hợp vi phạm lệ làng phép nước Điếm làng cũng là một điếm canh, để canh phòng ban đêm và những khi làng có việc lớn như các kì sưu thuế, bắt lính, đón quan trên, truy lùng tù nhân trốn trại giam, người làm quốc sự… Cùng với mái đình, cây đa,ngôi chùa, bến nước, cổng làng, lũy tre, ngõ xóm, cầu ao… Điếm cũng là một trong những thiết chế vật chất văn hóa vật thể của làng Việt xưa
Trang 362.2.5 Giếng làng
Ngày xưa ở Kiêm Long có 3 giếng nước bao gồm: giếng Chợ, giếng Đông và giếng Mội Giếng cung cấp nước sinh hoạt cho cả làng và cũng là một điểm diễn ra các sinh hoạt cộng đồng cả ngày và đêm Ban ngày người dân ra giếng gánh nước, giặt giũ Buổi tối những đêm trăng sáng, giếng là nơi vui chơi của các trẻ nhỏ nam nữ thanh niên Giếng Kiêm Long xưa có đáy hình vuông được ghép bằng gỗ Trong 3 giếng thì giếng Mội nước ngon nhất, tầng nước cạn nên phải chờ lâu; còn nguồn nước giếng Đông luôn dồi dào nhưng thuộc dạng nước cứng, nấu với chè xanh không ngon Bởi thế dân làng thôn Kiêm Long vẫn truyền tụng câu ca dao:
“Muốn uống nước ngon thì gánh giếng Mội Muốn uống nước vội thì gánh giếng Đông”
2.3 Sinh hoạt vật chất
2.3.1 Nhà ở
Nhà ở của người dân Kiêm Long cũng tương tự các làng xã khác ở Quảng Bình Gồm 3 kiểu: nhà trếnh, nhà băng, nhà chữ đinh Nhà trếnh thường được các gia đình giàu chọn xây; Gia đình có thu nhập thấp thường làm nhà băng hoặc nhà chữ đinh
- Nhà Trếnh
Hay còn có tên gọi khác là nhà rường Nhà thường có 2 loại: nhà trếnh 5 gian và nhà trếnh 3 gian Nhà trếnh 5 gian gồm có 3 gian chính và 2 gian phụ (còn gọi là 3 gian 2 chái) Nhà 3 gian gồm có 1 gian chính và 2 gian phụ (còn gọi là 1 gian 2 chái) Nhà 5 gian thường có 6 vì; nhà 3 gian có 4 vì Với các gia đình giàu có họ chạm trổ hoa văn, ghép xuyên ba, đố thượng luồn ván để ngăn ô tách biệt giữa các bàn thờ và vách ngủ Hiện nay, ngôi nhà còn giữ được nét cổ xưa nhất đó là nhà bà Từ Thị Hớn ở thôn 2
- Nhà băng (nhà trốn cột)
Còn được gọi là nhà tiền khách hậu chủ Về cơ bản nhà băng có kết cấu gần giống với nhà trếnh Điểm khác ở chỗ nhà băng người ta giảm bớt các cột mệ ở phía trước Đồng thời thay trếnh là một cái băng cụt nối từ cột mệ sau tới cột con phía trước Ở trên băng ngay tại vị trí cột mệ trước là một cột đội chống nối từ kèo đến băng cụt
Trang 37- Nhà chữ đinh
Nhà chữ đinh có nhiều kết cấu khác nhau như nhà một gian 2 chái, ba gian,hai gian Sở dĩ kết cấu đơn giản vì họ quan niệm đây chỉ là một ngôi nhà phụ,thường là nhà bếp hoặc là nhà ở của nhiều gia đình còn thiếu thốn Nhà chữ đinh thường không chú ý đến gỗ Tuy nhiên cột mệ được ưu tiên thường là gỗ lim hoặc táu để chôn cất làm trụ cho cả nhà Nhà chữ đinh thường có 3 cột gồm 1 cột mệ và 2 cột con, 2 kèo 1 băng
Hiện nay, khu vực thôn Kiêm Long ngoài những ngôi nhà theo kiến trúc cổ nói trên thì đã dần xuất hiện những ngôi nhà theo kiểu thiệt kế mới, hiện đại và đa dạng hơn về mẫu mã Xu thế đô thị hóa đã, đang và sẽ diễn ra một cách vô cùng mạnh mẽ thì các kiểu nhà mới sẽ dần dần thay thế
2.3.2 Ăn
a) Làm bánh:
Phụ nữ Kiêm Long xưa rất quan tâm đến việc nấu nướng, chế biến thức ăn để phục vụ cuộc sống thường ngày và các dịp lễ tết Những người phụ nữ thường rất tâm huyết trong các món ăn mà mình chuẩn bị cho gia đình hay phục vụ lễ lạc Qua đó thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu dâng lên tổ tiên, ông bà đồng thời cũng là dịp
để phụ nữ Kiêm Long thể hiện sự tài hoa, đảm đang, tháo vát Và dưới đây là một số bánh mà phụ nữ Kiêm Long thường làm
- Bánh chưng, bánh tét (bánh đòn)
Nguyên liệu để gói các loại bánh này là gạo nếp và đỗ xanh Người Kiêm Long thường dùng đỗ xanh để làm nhân bánh Những gia đình có điều kiện thì họ dùng thêm thịt ba chỉ thái mỏng, và ướp gia vị như tiêu, muối, bột ngọt, hành cây thái mỏng để làm nhân Bánh được gói bằng lá dong, lá chuối và lạt buộc Lạt buộc được làm từ bẹ chuối, từ tre non hoặc giang, các loại này đều chẻ mỏng cho dễ gói Bánh chưng gói hình vuông, bánh tét gói hình trụ tròn nên các địa phương khác còn gọi là bánh đòn
Trang 38vị, có thể dùng tôm, thịt… cắt vừa phải xào với mỡ tiêu hành Bột làm bánh vo viên bằng quả trứng gà so dàn mỏng, bỏ nhân vào giữa, vo kín bột và gói bằng lá chuối 2 lớp, lớp trong có xoa ít dầu mỡ để dễ gói và khi bánh chín dễ bóc ra hơn Người ta thường đun nước sôi rồi mới thả bánh vào đảo qua đảo lại vài phút (trụng) là gắp bánh
ra do đó có tên gọi là bánh trụng Có người cũng giải thích rằng “trụng” là ngôn ngữ địa phương giống như từ “nhúng” trong “nhúng bánh” hay “trụng bánh”
- Bánh mật
Nguyên liệu là loại bột nếp như làm bánh ít, bột được pha với mật mía hay nước đường; đậu xanh đánh trộn đường, rắc hạt tiêu làm nhân bánh, bánh gói đơn giản bột vắt hình chữ nhật có kích thước cỡ 4 x 7cm gói lá chuối đem hấp bánh có vị ngọt vì bột đã được trộn mật nên gọi là bánh mật
- Bánh gai
Loại bánh này gần tương tự giống về bánh mật về nguyên liệu cũng như cách thức Bột làm bánh bằng gạo nếp có thêm lá gai Lá gai chọn lá non, tước gân lá, luộc chín, vắt ráo nước, bỏ vào cối giã nhuyễn Sau đó trộn với bột nếp khô, đường cùng giã sao cho hỗn hợp này vừa dẻo vừa đủ ngọt Nhân bánh gai cũng làm giống nhân bánh mật Người xưa thường rang vừng vàng, dã mịn, trộn với đường Bánh gai được gói dạng hình vuông Người dân Kiêm Long thường dùng lá chuối để gói bánh Cuối cùng, xếp bánh từng lớp vào nồi hấp và hấp cách thủy chừng 30 phút là bánh chín
- Bánh Cốm
Là một trong những món ăn phổ biến mà người dân của vùng này vẫn thường làm vào dịp Tết từ xưa cho đến nay Cách làm bánh cốm cũng rất đơn giản Nếp mới gặt về, tuốt xong thì đem rang tươi Chờ nguội rồi bỏ vào cối giã sau đó tách vỏ rồi đem rang Lạc cũng rang chín và xát vỏ Bắc nồi lên nóng thhì cho đường vào, khi đường tan chảy đúng độ thì trộn cốm với lạc vào đúc thành khuôn, gói vào những giấy bánh xanh đỏ ngũ sắc Bánh cốm thường được dùng để dâng cúng tổ tiên, những người
đã khuất, đó là tấm lòng thảo hiền, biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà Bánh cốm là một loại bánh đặc trưng và để được lâu hơn các loại bánh khác nên rất được người dân nơi đây ưa chuộng, nhất là trẻ con
Trang 39b) Muối cà
- Cà mắm
Trong tất cả các món ăn mà người dân nơi đây chế biến có lẽ món cà mắm là món ăn nổi tiếng nhất của làng Kiêm Long Hầu như nhà nào ở Kiêm Long trước đây cũng làm cà mắm Vào mùa đông thường khan hiểm rau củ nên cà mắm chủ yếu để làm thức ăn mặm vào những ngày mưa rét Cà mắm ăn về mùa lạnh lại càng bắt miệng, ngon và ăn được nhiều cơm Trước đây về các mùa thu đông bữa ăn của người dân Kiêm Long thức ăn phổ biến chỉ có 3 món gồm: cơm, cà mắm và một tô canh Tuy đơn sơ nhưng cà mắm đã trở thành đặc sản của miền quê này
Cách muối cà mắm phụ thuộc vào từng người và từng hộ gia đình để có các cách khác nhau phù hợp với gia vị nhưng có lẽ muối theo cách này là ngon nhất:
Nguyên liệu của món này đã xuất hiên ở cái tên đó là mắm và cà Muốn mắm ngon đậm đà và ngọt nên dùng cá tho hoặc cá cơm để làm mắm Cá thường được đánh bắt vào khoảng tháng 2 âm lịch sau đó muối vại phơi nắng 3 tháng là “chín” Mắm nguyên chất chỉ lọc bỏ xương rồi cho vào lọ riêng để trộn với cà Cà có 2 loại là cà to
và cà pháo Cả 2 loại đều được rửa sạch tách cuống; cà to chẻ to hơn miếng cau còn cà nhỏ bổ đôi để ráo Sau đó cho vào vại sành và trộn mắm với cà sao cho vừa độ, thường thì theo tỷ lệ 5 bát cà 1 bát mắm Dùng vi tre đằn kĩ đậy kín rồi dùng miếng vải màn thưa để bưng miệng vại Sau đó phơi vại cà ngoài nắng khoảng 10 ngày, khi cà đã ngấm mắm chỉ cần gắp và thưởng thức với cơm nóng Tùy theo gia vị mà người ta cho thêm ớt, tỏi, đường
Người dân Kiêm Long thường nói muối cà không phải “bở ăn”, cứ ngỡ là dễ muối nhưng thực ra còn phụ thuộc vào tay người muối và phụ thuộc vào nắng; cà có ngon, dòn, vừa vị hay không là ở đó
- Cà muối trường
Là cà muối dài ngày, chua nhưng có vị mặn hơn cà mắm Cà được trộn với muối theo tỷ lệ 3 cà 1 muối; đảm bảo muối vừa đủ mặn để cà không bị hỏng Món cà muối trường này thường được người dân Kiêm Long sử dụng vào những dịp khan hiếm thức
ăn như trong mùa mưa lũ và mùa đông
Với món cà muối này người dân Kiêm Long thường có 2 cách để chế biến món
ăn Thứ nhất đó là “ăn xổi” tức là ăn ngay sau khi lấy ra khỏi vại hay có thể trộn vớ tỏi, ớt đường như cà mắm Thứ hai đó là kho với cá lộn, hoặc thịt mỡ Và với người dân nơi đây món cà kho cá hay thịt thường là món ăn chính của gia đình
Trang 40c) Các món ăn chế biến từ cá choạc:
Cá choạc là một loài cá sống phổ biến ở vùng thượng nguồn sông Thai Đặc biệt
có nhiều ở khu vực tháp Tam Cấp Cá rất giống cá đối nhỏ, vị đắng, ngọt Cá choạc to bằng ngón tay, dài khoảng 5 cm, đầu nhọn, vảy trắng sáng lấp lánh ánh bạc, miệng rộng, thường sống ở những nơi nước trong di chuyển theo đàn
- Cá Choạc nấu canh chua (nấu giấm)
Cá choạc vừa mới đánh ở khe lên, rửa sạch để nguyên con không mổ ruột, để như vậy cá sẽ có vị nhẫn nhẫn (hơi đắng) mới ngon Hái lá da non, rửa sạch; cá thì ướp với nước mắm, ớt, bột ngọt… Sau đó lấy nước khe lên đun sôi thả lá da non và cá vào chờ sôi lại là có thể thưởng thức
- Cá Choạc kho rim
Cá choạc kho rim với lá nghệ là một món ăn rất ngon Cá đánh về rửa nguyên con sau đó sắp vào nồi nêm gia vị, nước mắm, muối hạt nêm, bột ngọt, đường, lá nghệ thái sợi ướp khoảng 20 phút để cá ngấm gia vị, bắc lên bếp sau đó cho thêm 1 ít dầu
mỡ cho có vị béo Cá được đun lửa vừa cho đến khi cạn dầu cho cá cứng lại xương dòn cho lửa nhỏ sôi liu riu Cá choạc kho rim thường ăn với cơm nóng vừa thơm mùi
lá nghệ vừa có vị béo ngọt của cá
d) Sao sáo
Sao sáo là tên gọi một loài hến của người dân Kiêm Long Và đây là một món ăn khá ngon và đặc trưng của người dân thôn Kiêm Long xưa và nay
- Sao sáo nấu canh dưa đen
Sao sáo bắt về đem rửa cho sạch, sau đó ngâm qua đêm bằng một ít muối (làm sạch đất bên trong vỏ) ngày sau mới chế biến Khi bỏ chúng trong bóng tối thì những cái chân của sao sáo thò ra bên ngoài giẫm đạp lên nhau chỉ thấy một màu trắng dưới nước Đến hôm sau chỉ việc rửa lại với nước lạnh và mổ ra Sao sáo có dáng tròn dài, một đầu to tròn, đầu còn lại dẹp hơn Dụng cụ để cạy chỉ cần 1 con dao nhỏ Dùng mũi dao tách vỏ ra và lấy ruột sao sáo, khi mổ sao sáo nên mổ phía dẹp sẽ lấy ra nguyên con và không bị dập Sau khi mổ xong rửa qua cho sạch đất Xào qua hành và sao sáo kèm gia vị, đun nước sôi rồi đổ vào và bỏ dưa Nêm gia vị cho vừa ăn sau đó thưởng thức