1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình chuẩn bị căn cứ địa trong cuộc vận động cách mạng tháng tám 1945

68 571 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 197 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình chuẩn bị cho Cách mạng thángTám, ngay từ đầu Đảng ta đã rất coi trọng vấn đề xây dựng địa cách mạng.Bởi, căn cứ địa là chỗ đứng chân an toàn cho cơ quan lãnh đạo các cấp

Trang 1

trờng đại học vinh Khoa lịch sử

===  ===

Ngô Thị Hải

khoá luận tốt nghiệp đại học

quá trình chuẩn bị căn cứ địa trong cuộc vận động cách mạng tháng tám 1945

Chuyên ngành: Lịch sử việt nam

Vinh - 2007

==

Lời cảm ơn

Trong quá trình tiến hành làm khoá luận tốt nghiệp, tôi

đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo, khoa học của Thầy giáo – Tiến Sĩ Trần Văn Thức, cũng nh sự động viên, khích lệ,

Trang 2

giúp đỡ của gia đình, bạn bè và các Thầy Cô giáo trong khoa Lịch sử.

Để khoá luận đợc hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo - Tiến sĩ Trần Văn Thức - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong Tổ Lịch sử Việt Nam nói riêng, trong khoa Lịch sử Trờng Đại học Vinh nói chung, cùng gia đình, bè bạn đã hết lòng giúp đỡ tôi thực hiện khoá luận này.

Khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, vậy tôi rất mong nhận đợc góp ý chân thành của các Thầy Cô và bạn đọc để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 là một trong những sự kiện vĩ

đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX Thắng lợi đó đã đa đến sự ra đời của nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà, thực hiện một cuộc đổi đời của nhân dân ta, mở

ra một kỷ nguyên mới cho đất nớc ta: Kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liềnvới Chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giảiphóng con ngời

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả tổng hợp của nhiều nhân

tố Đó là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam với một

đờng lối cách mạng đúng đắn, khoa học; tinh thần yêu nớc nồng nàn, ý chíkiên cờng và sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta vì độc lập dân tộc Thắng

Trang 3

năm của dân tộc ta, thể hiện trên các mặt: về đờng lối, về lực lợng, về căn cứ

địa cách mạng

Theo Xtalin thì thắng lợi của một cuộc cách mạng không tự nó tới màphải chuẩn bị và giành lấy nó Trong quá trình chuẩn bị cho Cách mạng thángTám, ngay từ đầu Đảng ta đã rất coi trọng vấn đề xây dựng địa cách mạng.Bởi, căn cứ địa là chỗ đứng chân an toàn cho cơ quan lãnh đạo các cấp củacách mạng, của lực lợng cách mạng Căn cứ địa còn là nơi cung cấp sức ngời,sức của cho cách mạng, là nơi xuất phát để đánh địch, đồng thời cũng là nơi

có thể rút lui có thể bảo vệ lực lợng Căn cứ địa là nhân tố thờng xuyên quyết

định thắng lợi của cách mạng

Nhận thức rõ ý nghĩa hết sức quan trọng của căn cứ địa đối với cáchmạng nên trong Cách mạng tháng Tám 1945 Đảng ta đã xây dựng một hệthống các căn cứ địa từ Trung ơng đến địa phơng, từ thành thị đến nông thôn,

từ miền Bắc vào miền Nam Trong đó, có những căn cứ địa cách mạng lớn nh:Căn cứ địa Việt Bắc, An toàn khu Trung ơng, chiến khu Quang Trung, chiếnkhu Trần Hng Đạo, chiến khu Âu Cơ (miền Bắc); căn cứ Vĩnh Sơn - Núi Lớn(miền Trung) cùng các căn cứ địa ở Nam Bộ và nhiều căn cứ địa địa phơngkhác Tại căn cứ địa cách mạng chúng ta tiến hành xây dựng lực lợng chínhtrị, trên cơ sở lực lợng chính trị tiến lên xây dựng lực lợng vũ trang cho cáchmạng

Sự chuẩn bị chu đáo để đa đến thành công của Cách mạng tháng Tám làmột minh chứng cụ thể bác bỏ luận điệu xuyên tạc của một số học giả nớcngoài khi cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chỉ là một

"sự ăn may" của Việt Minh Việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình chuẩn bị để đa

đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là một đề tài hấp dẫn và có ý nghĩa thiếtthực Tuy nhiên, trong phạm vi của khoá luận tốt nghiệp Đại học, do năng lựcnghiên cứu của bản thân và thời gian có hạn, tôi chỉ đề cập đến một trong nhữngnhân tố đợc chuẩn bị cho thành công của Cách mạng tháng Tám

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Quá trình chuẩn bị căn cứ địa trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945" làm đề

tài cho khoá luận tốt nghiệp Đồng thời, hy vọng nó là một nguồn tài liệu quantrọng cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy môn Lịch sử trong giai đoạnlịch sử này Hơn nữa, nếu có điều kiện đi sâu nghiên cứu, phát triển thì nó sẽ

Trang 4

là một nguồn tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu về một hệthống căn cứ địa cách mạng trong lịch sử dân tộc giai đoạn hiện đại.

2 Lịch sử vấn đề.

Thành công của Cách mạng tháng Tám 1945 đã để lại một dấu ấn sâu

đậm, tạo ra một bớc ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc ta.Cách mạng tháng Tám cũng là một sự kiện có nội dung phong phú, đa dạng

nh vấn đề đờng lối, vấn đề lực lợng, vấn đề căn cứ địa cách mạng, vấn đề thờicơ trong cách mạng.v.v Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu,nhiều bài viết về Cách mạng tháng Tám nói chung cũng nh căn cứ địa trongcách mạng tháng Tám nói riêng

Trong cuốn “Căn cứ địa Việt Bắc (Trong cuộc vận động cách mạngtháng 8/1945)” của nhóm tác giả Hoàng Quang Khánh, Lê Hồng, HoàngNgọc La, xuất bản năm 1976 đã trình bày một cách toàn diện, đầy đủ về căn

cứ địa Việt Bắc từ quá trình hình thành, sự phát triển, ý nghĩa và vai trò củacăn cứ trong cách mạng tháng Tám

Trong luận án phó Tiến sĩ Lịch sử “Quá trình hình thành và phát triểncủa căn cứ địa Việt Bắc (Trong cuộc vận động cách mạng tháng 8 –1945)”của Hoàng Ngọc La, xuất bản năm 1993, tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu chitiết về căn cứ địa Việt Bắc Trong đó có rút ra đợc đặc điểm hình thành căn cứ

địa tại Việt Bắc

Trong cuốn “Vai trò của An Toàn Khu I trong cuộc vận động cáchmạng tháng Tám (1940 - 1945)” của Doãn Thị Lợi, xuất bản năm 1998, tácgiả đi sâu vào nghiên cứu toàn diện, chi tiết về An Toàn Khu I từ cơ sở hìnhthành, phát triển mở rộng đến vai trò của An Toàn Khu I trong cuộc vận độngcách mạng tháng Tám

Cuốn “Chiến Khu Trần Hng Đạo” của Bộ T lệnh Quân khu 3, xuất bảnnăm 1993 thì chỉ đề cập cụ thể về chiến khu vùng Đông Bắc của tổ quốc, từquá trình hình thành đến hoạt động của chiến khu trong tổng khởi nghĩa thángTám và công cuộc bảo vệ chính quyền sau cách mạng tháng Tám

Cuốn “Chiến khu Quang Trung” của Bộ T lệnh Quân khu 3, xuất bảnnăm 1990 đã trình bày một cách toàn diện về căn cứ cách mạng tại ba tỉnh:Hoà Bình, Ninh Bình và Thanh Hoá

Trong cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam” của Bộ quốc phòng - Việnlịch sử quân sự Việt Nam, xuất bản năm 2000 đã đề cập một cách tổng quát về

hệ thống căn cứ địa trong cả nớc, từ những căn cứ ban đầu đến những căn cứ

Trang 5

nhỏ ở địa phơng Tuy nhiên, phạm vi đề cập rộng nên chỉ dừng lại ở mức khái quátnhất, căn bản nhất mà cha có điều kiện đi sâu vào từng căn cứ cụ thể.

Trong cuốn “Mấy vấn đề về quân sự của Đảng ta” của Võ NguyênGiáp, xuất bản năm 1970; “Vấn đề xây dựng căn cứ địa” của Ban Tuyên huấn

Xứ uỷ Nam Bộ, xuất bản năm 1950 chỉ chú trọng về cung cấp lý luận để xâydựng căn cứ địa, cha đi vào trình bày các căn cứ cụ thể

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm, nhiềubài viết khác có đề cập đến vấn đề xây dựng căn cứ địa trong cách mạng thángTám (1930 - 1945) Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại đề cập đến những phạm vi,những góc độ khác nhau và cha có tác phẩm nào nghiên cứu một cách chuyênbiệt về hệ thống căn cứ địa cách mạng trong cả nớc trong cuộc vận động Cáchmạng tháng Tám 1945 Song trên cơ sở đó, tác giả đã có sự kế thừa, thamkhảo, chọn lọc để đi sâu vào nghiên cứu một hệ thống căn cứ địa cách mạngtrong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945 một cách tổng quan, toàndiện và có hệ thống hơn

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

Công trình đi vào nghiên cứu về các căn cứ địa đợc xây dựng trongCách mạng tháng Tám bao gồm: Những điều kiện hình thành, quá trình ra đời,hoạt động và vai trò, ý nghĩa của các căn cứ địa trong cách mạng tháng Tám

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Thuộc giai đoạn 1930 – 1945, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời

đến ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lậpkhai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn tài liệu:

Để phục vụ cho khoá luận này, tác giả dựa trên nhiều nguồn tài liệukhác nhau nh sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu khoa học có đềcập đến vấn đề xây dựng căn cứ địa trong giai đoạn lịch sử này

4.2 Phơng pháp nghiên cứu:

Tác giả đã dựa vào nhiều phơng pháp khác nhau khi nghiên cứu nh:phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, lôgic…Trong đó phơng pháp chủ đạo là

Trang 6

5 Bố cục.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận đợc chia làm ba chơng:Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng căn cứ địa cách mạng.Chơng 2: Các căn cứ địa trong Cách mạng tháng Tám 1945

Chơng 3: Hoạt động và ý nghĩa của các căn cứ địa trong Tổng khởi

nghĩa tháng Tám 1945

B Nội dung Chơng 1: cơ sở lí luận và thực tiễn để xây dựng

căn cứ địa cách mạng 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về căn cứ địa cách mạng

Theo lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, chiến tranh là một thách thứclớn đối với một dân tộc và căn cứ vào mục đích khác nhau của cuộc chiếntranh mà có nhiều loại hình chiến tranh với những tính chất khác nhau Cóchiến tranh xâm lợc, có chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng dân tộc,

Trang 7

chiến tranh huỷ diệt.v.v ở đây, chúng ta thấy rằng trong giai đoạn chủ nghĩa

đế quốc, chiến tranh không những mất đi mà càng đợc đẩy mạnh hơn bao giờhết Bởi đó là cuộc chạy đua quyết liệt của các nớc đế quốc nhằm giành dậtthuộc địa, chia nhau thị trờng Vì vậy mà trong lịch sử nhân loại có cuộc

“chiến tranh đế quốc chủ nghĩa” nhằm thôn tính, đặt ách xâm lợc, nô dịch,bóc lột lên các dân tộc yếu hơn, biến họ thành thuộc địa hoặc phụ thuộc vàochính quốc Đồng thời, lịch sử nhân loại cũng diễn ra các cuộc chiến tranhchính nghĩa, "chiến tranh cách mạng" của nhân dân các nớc lệ thuộc, thuộc

địa để chống lại sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc, mở ờng cho tiến bộ xã hội

đ-Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh đó diễn ra bằng hình thức nào để có thểgiành đợc thắng lợi một cách triệt để, trọn vẹn? Lý luận Mác - Lênin cũng chỉ

ra rằng “giữa cảnh khủng khiếp của đế quốc chủ nghĩa, giai cấp vô sản hoàntoàn nhận thấy một cách cụ thể cái chân lý lớn lao này, chân lý mà tất cả cáccuộc cách mạng đã dạy chúng ta, chân lý mà các nhà giáo dục vĩ đại của côngnhân, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội hiện đại đã truyền lại cho họ Chân

lý ấy là: Cách mạng không thể thành công đợc nếu không đập tan sự phảnkháng của bọn bóc lột” [28;269]

Có thể thấy rằng, có nhiều hình thức đấu tranh khác nhau: Đấu tranhbằng hoà bình, đấu tranh bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang hay chiến tranhcách mạng.v.v Tuy nhiên, khi kẻ thù đã sử dụng bạo lực để đặt ách xâm lợclên các dân tộc thì buộc rằng phải lấy bạo lực cách mạng để chống lại bạo lựcphản cách mạng Con đờng bạo lực đó có thể diễn ra bằng hình thức "khởinghĩa vũ trang" hay "chiến tranh cách mạng" nhằm lật đổ cho đợc ách thốngtrị của các nớc đế quốc, thiết lập chính quyền về tay nhân dân Nhng cuộckhởi nghĩa vũ trang, khởi nghĩa quần chúng diễn ra khi trong tay “không cóquân đội” và “không chuẩn bị hết sức đầy đủ về mặt kinh tế thì việc tiến hànhmột cuộc chiến tranh hiện đại chống chủ nghĩa đế quốc tiên tiến là điều khôngthể làm đợc đối với một nớc nông nghiệp đã kiệt quệ” [28;222]

Chủ nghĩa Mác cũng cho rằng “khởi nghĩa là một nghệ thuật” và nghệthuật ấy là phải biết tiến hành khởi nghĩa trên “cơ sở thực tế”, “không thể đểmình bị lôi cuốn vào một cuộc xung đột quân sự khi mình không có quân đội,còn kẻ địch thì đợc vũ trang hết sức đầy đủ và đợc chuẩn bị thật chu đáo”[28;221]

Trang 8

Một trong những điều kiện đảm bảo để khởi nghĩa vũ trang giành thắnglợi là phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: kinh tế, tài chính, lực lợng chính trị,lực lợng vũ trang… Đó là một quá trình chuẩn bị lâu dài tại chỗ đứng chân antoàn là căn cứ địa cách mạng Tại nơi đó sẽ hình thành đợc lực lợng chính trị,lực lợng vũ trang, thực hành sản xuất, làm kinh tế phục vụ những yêu cầu cấpthiết của cuộc chiến đấu Cũng tại nơi đây sẽ từng ngày, từng giờ tiến hànhnhững cuộc đấu tranh giành thắng lợi từng phần để đi đến giành thắng lợihoàn toàn

Lý luận Mác - Lênin chỉ cho chúng ta rằng “muốn tiến hành chiến tranhmột cách thực sự phải có hậu phơng đợc tổ chức vững chắc” bởi “trong chiếntranh ai có nhiều lực lợng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực lợng hơn, ai kiêntrì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn thì ngời đó thu đợc thắng lợi”[28;229–334] "Chiến tranh cách mạng" và "khởi nghĩa quần chúng" là haihình thức của cách mạng, để cách mạng giành thắng lợi một cách trọn vẹnviệc xây dựng căn cứ địa phải đợc đặt ra một cách cấp thiết

1.1.2 Quan điểm của Đảng ta và Hồ Chí Minh.

Ngày 3/2/1930 khi Đảng cộng sản Việt Nam thành lập cũng đồng nghĩavới việc cách mạng Việt Nam dứt khoát đi theo con đờng cách mạng vô sản

Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho mọihành động Là học trò tin theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta và Nguyễn

ái Quốc – Hồ Chí Minh rất thấm nhuần t tởng “không đợc đùa với khởinghĩa” và muốn tiến hành khởi nghĩa một cách thực sự thì phải đứng trên “cơ

sở thực tế”, phải có hậu phơng vững chắc Do đó ngay từ đầu, Đảng cộng sảnViệt Nam và Nguyễn ái Quốc đã rất coi trọng việc xây dựng căn cứ địa chocách mạng

Theo đó, Đảng ta quan niệm căn cứ địa một cách cụ thể là: “Khu vựcgiải phóng tơng đối an toàn để nuôi binh lính, để nuôi dạy bộ đội, chữa chạythơng binh và là nơi tịnh dỡng của bộ đội, nơi xuất quân đi đánh giặc, nơi tậptrung lực lợng dự bị và cũng là nơi đặt cơ quan đầu não kháng chiến, đặt côngxởng chế tạo vũ khí và lập những kho dự trữ” [6;2] Hay nói cách khác, căn cứ

địa đợc hiểu là “Vùng lãnh thổ và dân c do lực lợng cách mạng làm chủ, tơng

đối an toàn (Có thể là vùng tự do hoặc căn cứ du kích đã đợc xây dựng, củng

cố vững chắc) Nơi đứng chân và là chỗ dựa để lực lợng cách mạng chuẩn bịmọi mặt cho khởi nghĩa hoặc chiến tranh cách mạng” [9;232]

Trang 9

Hồ Chí Minh nhận định về căn cứ địa là nơi “Đội du kích tích trữ lơngthực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi luyện tập Nơi ấy phải có địa thế hiểmyếu che chở và có quần chúng cảm tình ủng hộ”.

Từ việc nhìn nhận thế nào là một căn cứ địa, Đảng ta còn lu ý ba vấn đềsau:

Thứ nhất, chúng ta có khả năng xây dựng đợc những căn cứ địa trên khắpmọi địa hình: nông thôn, đồng bằng, rừng núi, thành thị Bởi, nhân dân ta trênkhắp mọi miền đất nớc vốn có truyền thống đấu tranh yêu nớc, có tinh thần cáchmạng và sẵn sàng theo cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

Thứ hai, cần phân biệt "căn cứ địa" và "căn cứ điểm" Căn cứ địa nhtrên chúng ta đã trình bày, còn căn cứ điểm là nơi quân ta tạm chiếm lại đợctrong khu vực quân địch kiểm soát

Thứ ba, việc xây dựng căn cứ địa không thể kiến thiết cồng kềnh, nặng

nề, khó cho việc di chuyển lúc cần, khi đóng phải nghĩ đến khi đi, khi xâyphải tính đến lúc bỏ Bởi quân địch luôn tìm mọi cách để tiêu diệt cơ quan đầunão của cách mạng, thủ tiêu trung tâm phản kháng của ta Do đó, việc xâydựng căn cứ địa phải vững chắc, chặt chẽ về mặt tổ chức nhng cũng phải cơ

động, linh hoạt trong mọi trờng hợp [35;5]

Trên cơ sở quan niệm về căn cứ địa nh vậy, dới sự lãnh đạo của Đảng

đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, một hệ thống căn cứ địa, các chiến khulần lợt ra đời trên cả nớc góp phần chuẩn bị cho thắng lợi của cuộc cách mạngtháng Tám

1.2 Cơ sở thực tiễn.

Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử mấy ngàn năm dựng nớc và giữ

n-ớc Nhng có thể thấy rằng , trong quá trình lịch sử ấy, thời gian chúng ta phải

đứng lên cầm vũ khí chống lại ách ngoại xâm của nớc ngoài, bảo vệ nền độclập tự chủ nhiều hơn thời gian xây dựng đất nớc trong hòa bình Vì thế cũng

có thể nói rằng, chúng ta có nhiều kinh nghiệm “giữ nớc” hơn là kinh nghiệm

“dựng nớc”

Con ngời Việt Nam, dân tộc Việt Nam vốn yêu chuộng hoà bình, cuộcsống gói gọn trong một chữ “ hoà” Tuy nhiên, khi sự sinh tử, tồn vong củaquốc gia, dân tộc bị đe doạ thì cũng chính lúc đó những con ngời hiền lành,chất phác, đôn hậu ấy một lòng đoàn kết đứng lên chiến đấu chống kẻ xâm

Trang 10

chỗ đứng chân, chú trọng dựa vào nhân hoà, địa lợi, có khi đặt ở rừng núi, khi

ở đồng bằng, khai thác nhân tài vật lực trong nhân dân để phát triển lực lợng”[19;54]

Hơn một ngàn năm Bắc thuộc (179 TCN - 905) , dới ách thống trị củaphong kiến phơng Bắc, nhân dân Đại Việt đã liên tục đứng lên làm khởi nghĩa

ở đó, chúng ta thấy Hai Bà Trng phất cờ khởi nghĩa từ căn cứ Mê Linh (VĩnhPhúc) chống lại nhà Đông Hán, lập ra nhà nớc độc lập tự chủ, tuy còn sơ khai.Thế kỷ VI, trong cuộc kháng chiến chống nhà Lơng, Lý Bí đã phải lui vàovùng đất Tân Xơng (Phú Thọ) để củng cố lực lợng Nối tiếp Lý Bí, vị tớng trẻTriệu Quang Phục lấy đầm Dạ Trạch (Khoái Châu-Hng yên) làm căn cứ xâydựng lực lợng chờ thời cơ tiêu diệt giặc

Năm 722, tại vùng đất đợc xem là phên dậu, biên viễn – Nghệ An, MaiThúc Loan dựng cờ khởi nghĩa chống nhà Đờng, lấy vùng đất Sa Nam (Nam

Đàn) làm căn cứ hiểm yếu chống giặc và giành thắng lợi vẻ vang

Ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của quân dân nhà Trần(Thế kỷ XIII) cũng là ba lần kinh thành Thăng Long phải thực hiện “vờnkhông nhà trống ” Quân đội phải rút về những căn cứ an toàn để củng cố,phát triển lực lợng, chuẩn bị phản công và cuộc chiến tranh nhân dân diễn ratại các thôn ấp, làng xóm quanh Thăng Long

Sang thế kỷ XV, từ căn cứ địa Lam Sơn (Thọ Xuân- Thanh Hoá) Lê Lợiphất cờ khởi nghĩa chống quân Minh thắng lợi, mở ra sự nghiệp chói lọi củatriều Lê Tiếp đó, ngời anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đại pháquân Thanh làm nên nghiệp lớn (Thế kỷ XVIII) cũng xuất phát từ căn cứ TâySơn (Bình Định)

Thế kỷ XIX, đất nớc phải đối phó với tàu đồng, súng máy của phơngTây, Việt Nam lại nhanh chóng rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp Nhândân ta lại tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh yêu nớc vốn có, liên tiếp

đứng lên khởi nghĩa chống thực dân Pháp Những cuộc khởi nghĩa trong giai

đoạn này tiếp tục truyền thống của cha ông để lại, xây dựng những căn cứ địachống giặc Tiêu biểu nh Trơng Định xây dựng căn cứ ở Gò Công, Tân An(Gia Định), Nguyễn Trung Trực lập căn cứ địa ở Hòn Chông (Rạch Giá) , căn

cứ Ba Đình của Đinh Công Tráng trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình, căn cứ BãiSậy trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, Phan

Đình Phùng dựa vào căn cứ Vũ Quang (Hơng Khê - Hà Tĩnh) để tiến hành

Trang 11

kháng chiến, Hoàng Hoa Thám 30 năm tung hoành ngang dọc, khiến thực dânPháp cũng phải nể sợ, nhờ dựa vào vùng rừng núi hiểm trở Yên Thế (BắcGiang) v.v.

Chúng ta thấy rằng các căn cứ địa là chỗ dựa an toàn cho nghĩa quântiến hành khởi nghĩa nhng cha đa các cuộc đấu tranh đó đi đến thắng lợi Bởingời lãnh đạo cha đề ra đợc một đờng lối đúng đắn cũng nh cha có phơngpháp đấu tranh phù hợp Song, qua đó cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệmquý báu cho Đảng ta sau này

Thât vậy, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) đã chấm dứt thời

kỳ khủng hoảng về đờng lối, về lãnh đạo của cách mạng Việt Nam Ngay khi

ra đời, Đảng đã xác định đờng lối đúng đắn, khoa học cho cách mạng nớc tathông qua Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt do Nguyễn ái Quốc soạn thảo

Đó là đờng lối “Làm t sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đitới xã hội cộng sản ”, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Cách mạngViệt Nam vừa làm nhiệm vụ phản đế, vừa làm nhiệm vụ phản phong và đợcthực hiện bằng bạo lực của quần chúng nhân dân, trong đó giai cấp công nhân– nông dân là “gốc cách mạng”, là động lực cơ bản, chủ yếu nhất của cáchmạng

Trong buổi đầu tiến hành con đờng cách mạng ấy, có thể nói rằng dớichân chúng ta không có một tấc đất tự do nào cả và “vấn đề đặt ra đối với

Đảng ta là làm thế nào từ hai bàn tay trắng và cha hề có một tấc đất tự do ấylàm chỗ đứng chân, trong điều kiện một nớc đất không rộng, ngời không

đông, kinh tế nông nghiệp lạc hậu mà lại có thể lãnh đạo nhân dân đứng lên

đấu tranh để tự giải phóng, xây dựng đợc căn cứ địa và hậu phơng vững mạnh

”[19;53]

Khi xác định “công- nông là gốc cách mạng” có nghĩa rằng , Đảng vừaxác định động lực của cách mạng nhng đồng thời cũng chú ý đến việc xâydựng căn cứ cho cách mạng ở cả hai vùng địa bàn chiến lợc: thành thị và nôngthôn

Tại thành thị, đó là các vùng trung tâm kinh tế – chính trị, địch tậptrung đông với các cơ quan quan trọng đóng tại đó, việc xây dựng các căn cứ

an toàn là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự liên lạc của Trung ơng Đảng vớiquần chúng nhân dân tại đó đợc liên thông Còn ở các vùng nông thôn, nôngdân sống tập trung với lực lợng đông đảo (90%), phải chịu hai tầng áp bức,

Trang 12

bóc lột nặng nề của chủ nghĩa đế quốc và phong kiến Họ khao khát đợc hởng

độc lập tự do và đợc cày cấy trên chính mảnh ruộng của mình Đảng ta đã rasức động viên, giác ngộ, đa họ vào tổ chức, trang bị lí luận cách mạng , tập dợt

đấu tranh để xây dựng đội quân chính trị hùng mạnh cho cách mạng Trên cơ

sở lực lợng chính trị đó tiến hành xây dựng lực lợng vũ trang và có căn cứ địavững mạnh ở nông thôn

Nh vậy, khi vạch ra phơng pháp bạo lực cách mạng bằng hình thức khởinghĩa của quần chúng thì Đảng ta cũng đặt vấn đề chuẩn bị cho cuộc đấutranh bằng hình thức bạo lực ấy lên hàng đầu Bởi “sự thắng lợi của một cuộccách mạng không bao giờ tự nó tới Sự thắng lợi ấy cần phải có dự bị và tranhlấy, chỉ có Đảng vô sản cách mạng mới có thể dự bị và tranh lấy đợc”[28;158]

Tuy nhận thức đợc vai trò của việc chẩn bị chu đáo để tranh lấy thắnglợi nhng trong giai đoạn cách mạng 1930 - 1939, chúng ta vẫn cha xây dựng

đợc những căn cứ địa cách mạng theo đúng nghĩa của nó

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã khơi dậy đợc tinh thần đấu tranhquật cờng của nhân dân ta, lãnh đạo nhân dân dấy lên một cao trào cách mạngmạnh mẽ:1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh Từ trong phong trào

1930 - 1931, một mô hình nhà nớc kiểu mới sơ khai đợc hình thành và đã thựchiện nhiều biện pháp phục vụ lợi ích cho nhân dân lao động Nhà nớc Xô Viếtthực sự là một nhà nớc của dân, do dân, vì dân Nếu nó tồn tại đợc thì cáchmạng nớc ta sẽ có đợc một căn cứ, một hậu phơng tự do vững mạnh tại dải đấtmiền Trung Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, thực dân Pháp đãkịp huy động lực lợng đàn áp, khủng bố, dìm phong trào trong biển máu Nhànớc sơ khai, hậu phơng an toàn cho cách mạng đã bị đè bẹp ngay từ trongtrứng nớc

Thời kỳ “khủng bố trắng” 1932 - 1935, chúng ta phải chịu sự tổn thấtnặng nề về nhiều mặt: Đảng viên bị bắt, các tổ chức quần chúng cũng nh tổchứ đảng bị tan vỡ…Vì cha có đợc một căn cứ an toàn làm điểm tựa nên khi cơ

sở quần chúng bị đàn áp thì Ban lãnh đạo Trung ơng cũng không có chỗ đứngchân trong nớc Trên thực tế, Ban Trung ơng không còn vì các đảng viên đã bịbắt, số khác có rút ra đợc bên ngoài và lập đợc Ban Chỉ huy ở ngoài (Ban Hảingoại) tiếp tục cố gắng liên lạc về trong nớc để lãnh đạo phong trào cáchmạng

Trang 13

Ban Chỉ huy ở ngoài phải hoạt động trong những điều kiện kinh tế chính trị hết sức khó khăn, thiếu thốn: thiếu tiền để duy trì hoạt động lại “xaquê hơng, thiếu cán bộ, luôn có những sự phản bội và khiêu khích dồndập”[29; 57] Dù đã có nhiều cố gắng nhng liên lạc giữa Ban Lãnh đạo vớiquần chúng nhân dân , phong trào cách mạng trong nớc vẫn đứt quãng:

-“không có tin tức gì về Trung kỳ ” hay “ Nam kỳ không bao giờ có thể nhận

đợc tài liệu của Ban chỉ huy ở ngoài ”

Năm 1935, mặc dù tổ chức Đảng đã đợc phục hồi đánh dấu bằng sựkiện Đại hội lần thứ nhất của Đảng đợc tổ chức vào tháng 3/1935 tại Ma Cao(Trung Quốc), nhng trong một thời gian dài sau đó chúng ta vẫn gặp rất nhiềukhó khăn về cán bộ cũng nh chỗ đứng chân cho lực lợng cách mạng Đến năm

1938, Ban Trung ơng ở ngoài của chúng ta cũng chỉ gồm 11 ngời, trong đó 9ngời trong xứ, riêng ngời lãnh đạo quan trọng là Nguyễn ái Quốc lại ở bênngoài

Trong thực tế, giai đoạn 1930- 1939, cách mạng đã đạt đợc một sốthắng lợi nhất định Đồng thời, qua đó cũng vạch ra cho Đảng ta thấy rõ sựcần thiết phải xây dựng căn cứ địa làm nơi đứng chân cho Ban Lãnh đạo, hìnhthành quân đội và đảm bảo tiềm lực thiết yếu cho cách mạng Vấn đề này đãgấp rút đợc thực hiện khi Nguyễn ái Quốc từ nớc ngoài trở về trực tiếp lãnh

đạo cách mạng nớc ta (2/1941)

1.3 Những điều kiện hình thành căn cứ địa.

Việc xây dựng căn cứ địa chỉ ra rằng, theo đơn vị hành chính có thể xâydựng thành căn cứ địa Trung ơng, căn cứ địa địa phơng hay căn cứ địa cơ sở.Theo địa hình và lãnh thổ có căn cứ địa ở đồng bằng, ở rừng núi, ở đô thị,sông rạch Ngoài ra, còn có căn cứ địa vùng sau lng địch (căn cứ lõm)…Dù ởtrên địa bàn nào, với hình thức ra sao thì việc xây dựng một căn cứ địa cáchmạng phải đảm bảo các điều kiện sau:

* Về địa lý: Đó là nơi có điều kiện tự nhiên hiểm trở, kín đáo, có thể

đảm bảo đợc chỗ đứng chân tơng đối an toàn cho quân đội, cho ban lãnh đạo,

đảm bảo giao thông liên lạc thuận lợi thông suốt Cùng với nhân dân thì địahình, địa lợi là bạn đồng minh tin cậy của đội quân cách mạng

* Về kinh tế: Tại nơi ấy có đặc điểm tự nhiên đảm bảo đợc nền kinh tế

tự cấp, tự túc không chỉ cho đồng bào địa phơng mà còn có khả năng cung cấp

Trang 14

nguồn lơng thực, thực phẩm nuôi dỡng quân đội, đặc biệt là trong thời gianphòng ngự, cầm cự hay bị địch vây hãm.

* Về chính trị: Nơi đó đông đảo quần chúng nhân dân đợc giác ngộ và

có cảm tình cách mạng, một lòng trung thành với cách mạng và sẵn sàng giúp

đỡ bộ đội mọi mặt trong mọi tình huống xảy ra

* Về quân sự: ở đó có vị trí chiến lợc quan trọng mà lực lợng vũ trang

có thể tiến công địch hoặc cũng có thể rút lui bảo toàn lực lợng, phòng thủ lâudài

Ngoài ra trong t tởng Hồ Chí Minh, cần phải xây dựng cho đợc chínhquyền tại căn cứ địa, bởi theo Ngời cha thành lập đợc chính quyền địa phơngthì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố đợc Mặt khác, tại căn cứ

địa phải xây dựng đợc quân đội chính quy dựa trên cơ sở đội quân chính trịhùng hậu, rộng lớn

Với những điều kiện nh trên không phải nơi nào cũng có thể hội đủ mộtlúc các yếu tố cần và đủ để xây dựng căn cứ địa Do đó, với những vùng cha

có đầy đủ các điều kiện thì phải tìm cách khắc phục để có đợc những căn cứtốt cho cách mạng ở những địa phơng nào đã có đủ điều kiện về địa lí, quân

sự, kinh tế thuận lợi nhng lại thiếu cơ sở chính trị thì phải cử cán bộ cáchmạng đến động viên, tuyên truyền, giác ngộ gây dựng cơ sở quần chúng vữngmạnh làm điểm xuất phát xây dựng căn cứ, phát triển lực lợng vũ trang Ngợclại, ở những nơi nào có các điều kiện về kinh tế, chính trị, quân sự nhng lạithiếu điều kiện địa lí thì căn cứ khó tồn tại bền vững đợc Vì vậy, với nhữngnơi này cần khắc phục khó khăn bằng cách khơi dậy truyền thống đấu tranhcách mạng của quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh vĩ đại của đội quânchính trị, xây dựng thành “rừng ngời”, “núi ngời” thay cho rừng núi tự nhiênhiểm trở Còn những nơi nào có yếu tố chính trị, quân sự, địa lí mà không cóyếu tố kinh tế thì căn cứ dù có xây dựng đợc cũng khó tồn tại lâu dài

Từ những phân tích trên ta thấy rằng việc xây dựng căn cứ địa phải dựatrên nhiều điều kiện cụ thể nhng không “bất biến” mà phải vận dụng một cáchsáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt Trên cơ sở cái chúng ta có đợc để xây dựng cáicha có, nơi nào có điều kiện thuận lợi thì phải gấp rút xây dựng căn cứ địa dù

ở bất cứ địa hình nào Do đó mà trong cách mạng tháng 8/1945, chúng ta đãxây dựng đợc một hệ thống căn cứ địa ở trên những địa bàn khác nhau với

Trang 15

những vai trò, vị trí, những đóng góp nhất định cho thành công của cáchmạng.

Nh vậy, việc xây dựng căn cứ địa tuy cần nhiều điều kiện khác nhaunhng ít nhất phải có yếu tố địa lí, con ngời Trong đó, con ngời là yếu tố có ýnghĩa quyết định nhất Có thể nói rằng yếu tố địa lí và yếu tố con ngời là “điềukiện cần” cho sự ra đời của một căn cứ địa Song nh thế cũng cha đủ, bởi căn

cứ địa này phải hoạt động phục vụ cho mục đích cách mạng Do đó, nó cần có

sự lãnh đạo của Đảng để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững Vì vậy, sựlãnh đạo của Đảng là “điều kiện đủ” để một căn cứ địa đợc xây dựng hoànchỉnh

Chơng 2: Các căn cứ địa trong cách mạng tháng Tám 1945

2.1.Chủ trơng xây dựng căn cứ địa cách mạng của Đảng

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1939, chúng tacha xây dựng đợc các căn cứ địa theo đúng nghĩa của nó Có chăng cũng chỉmới có các vùng tơng đối an toàn đợc gọi là “an toàn khu” Thực tế đó cũngcho thấy rằng cách mạng gặp rất nhiều khó khăn, tổn thất Nguyên nhân sâu

xa là do Đảng đã không đi đúng với cơng lĩnh 3/2/1930 do Nguyễn ái Quốcvạch ra Đồng thời, những ngời lãnh đạo cũng rút ra đợc bài học rằng “phảinghĩ cách bảo vệ Trung ơng, Xứ uỷ nên đã tổ chức ra những an toàn khu (căn

cứ địa)” [25;12] Nhng chủ trơng xây dựng căn cứ địa đợc Đảng ta thực sự đặt

Trang 16

thành vấn đề trong chơng trình nghị sự của Hội nghị lần thứ 6, 7, 8 của Trung

ơng Đảng

Năm 1939, khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, Đông Dơng là thuộc

địa của Pháp cũng bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh một cách gián tiếp Tại

Đông Dơng, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế, áp bức vềchính trị, nô dịch về văn hoá, vơ vét của cải, huy động nhân lực cho chiếntranh ở chính quốc Nhân dân Đông Dơng (trong đó có Việt Nam) quằn quạidới ách thống trị của thực dân Pháp Tình hình mới đặt ra cho Đảng ta phải có

đối sách mới Do đó, tháng 11/1939, tại Bà Điểm ( Hóc Môn- Gia Định), Hộinghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng đợc triệu tập đã phân tíchtình hình và đa ra sách lợc cho giai đoạn mới Hội nghị đã giơng cao ngọn cờgiải phóng dân tộc lên trên hết và tất cả những vấn đề khác kể cả cách mạng

điền địa cũng nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc Nhiệm vụ cáchmạng ruộng đất chỉ đề ra ở mức độ “tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và địachủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày nghèo” Lúc này, chuyểntrọng tâm công tác về nông thôn và “phải dự bị những điều kiện bớc tới bạo

động làm cách mạng giải phóng dân tộc” [29;552]

Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ơng đảng có ý nghĩa mở

đầu cho sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc cách mạng của Đảng ta và đợc bổsung, hoàn thiện tại Hội nghị Trung ơng lần thứ 7 và 8 Tuy rằng, hội nghị nàycha trực tiếp đa vấn đề xây dựng căn cứ địa vào chơng trình nghị sự nhng quahội nghị đã nhấn mạnh việc chuẩn bị về lực lợng cũng nh căn cứ địa cho cáchmạng

Sang năm 1940, lợi dụng lúc thực dân Pháp thất bại ở chính quốc, NhậtBản nhảy vào Đông Dơng âm mu chiếm Đông Dơng của Pháp Nhân dân

Đông Dơng lúc này “một cổ hai tròng” dới hai tầng áp bức phát xít Pháp –Nhật ở Việt Nam, trong phong trào cách mạng đã xuất hiện những hình thức

đấu tranh cao hơn, quyết liệt hơn Trớc sự chuyển biến của tình hình thế giới

và trong nớc, Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng đợc tổchúc vào tháng 11/1940 tại Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) Hội nghị tiếp tụcgiơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc vì rằng trong lúc này nếu không giải quyết

đợc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc độc lập tự do cho toàn thể quốcgia dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựatrâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đợc

Trang 17

Đối với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), Hội nghị nhận định cuộc khởinghĩa ấy nổ ra là đúng và chủ trơng duy trì ảnh hởng của nó đối với cáchmạng cả nớc, củng cố và duy trì đội du kích Bắc Sơn Đội có nhiệm vụ dùnghình thức vũ trang công tác, phát triển cơ sở cách mạng tiến tới thành lập căn

cứ địa cách mạng lấy Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm do Trung ơng trực tiếpchỉ đạo

Nh vậy, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ơng Đảng tiếp tục bổ sung sựchuyển hớng chỉ đạo chiến lợc cách mạng đề ra từ Hội nghị lần thứ 6, “lần

đầu tiên từ khi Đảng ra đời, trung ơng Đảng đã thảo luận và thực sự bắt tayvào xây dựng căn cứ địa cách mạng”[23;23]

Công tác xây dựng căn cứ địa tiếp tục đợc Hội nghị lần thứ 8 của Trung

ơng Đảng nhấn mạnh và hoàn toàn nhất trí với việc xây dựng hai trung tâmcăn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng Từ hai cơ sở căn cứ ban đầu này,

Đảng ta và Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo xây dựng và phát triển, sau

mở rộng thành căn cứ chính của cách mạng ở Việt Bắc

Trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám 1945, ngay trớc khi Tổngkhởi nghĩa bùng nổ, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Hội nghị quân sự cáchmạng Bắc Kỳ đợc triệu tập (15/5/1945) Một trong những nhiệm vụ cần kíp vàquan trọng lúc này là xây dựng căn cứ địa kháng Nhật, chuẩn bị tổng khởinghĩa khi thời cơ đến Hội nghị chủ trơng xây dựng 7 căn cứ địa trong cả nớcgồm: Căn cứ Lê Lợi, căn cứ Hoàng Hoa Thám, căn cứ Quang Trung, căn cứTrần Hng Đạo (ở Bắc Kỳ); căn cứ Trng Trắc, căn cứ Phan Đình Phùng (TrungKỳ); căn cứ Nguyễn Tri Phơng (Nam Kỳ) Giữa các căn cứ, các chiến khu phải

đợc đánh thông liên lạc [30;392]

Nh vậy, chủ trơng xây dựng căn cứ địa của Đảng đợc trực tiếp đặt ra từHội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng (11/1940) Đến trớcngày tổng khởi nghĩa bùng nổ, một hệ thống các căn cứ địa đợc xây dựngkhắp cả ba miền đất nớc và có đóng góp to lớn cho thắng lợi của cách mạngtháng Tám

Trang 18

“vùng đất thánh của Việt cộng” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lợc Tại vùng đất này đã hội đủ những yếu tố để có thể xây dựng căn cứ

địa vững mạnh cho cuộc vận động cách mạng

Việt Bắc có diện tích đất tự nhiên khoảng 5 vạn km2, chiếm 15% diệntích cả nớc, bằng 32% diện tích miền Bắc và có địa hình hết sức đa dạng ở

đây, núi chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, có nhiều cao nguyên đá vôi và nhiều dãynúi trùng điệp Giữa các dãy núi lại có những thung lũng có thể tiến hành sảnxuất nông nghiệp, ở trong núi lại có nhiều hang động để cất dấu lơng thực hay

ẩn náu khi có biến động Địa hình Việt Bắc cao về phía Bắc nhng lại thấp dần

về phía Nam, Tây Nam

Phía Bắc Việt Bắc giáp với Trung Quốc, với “tuyến biên giới dài 751km

đi qua 15 huyện, 97 xã với nhiều cửa khẩu và hàng trăm lối mòn thông thơng”[24;17] Qua bên kia biên giới Việt - Trung là vùng hoạt động, những căn cứ

địa của cách mạng Trung Quốc Nhờ vậy mà lực lợng cách mạng Việt Nam vàlực lợng cách mạng Trung Quốc có thể nơng tựa vào nhau, hỗ trợ, giúp đỡnhau hoạt động Đồng thời, phong trào cách mạng Việt Nam có thể liên lạc đ-

ợc với cách mạng quốc tế,vừa tranh thủ đợc sự lãnh đạo của Ban Chấp hành ởngoài vừa tranh thủ đợc sự chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ơng từ dới xuôi

ở phía Nam, Việt Bắc giáp vùng đồng bằng trung du - nơi có trung tâmkinh tế, chính trị, văn hoá của cả nớc (Hà Nội) Từ Việt Bắc có thể liên lạc với

Hà Nội bằng các con đờng bộ nh quốc lộ số 2, 3,…

Phía Đông, Việt Bắc có thể liên lạc đợc với cảng Hải Phòng Phía Tâyliên lạc thuận tiện với khu Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Thợng Lào

Có thể thấy rằng, Việt Bắc có địa hình phức tạp, hiểm trở nhng kín đáo,không bị chia cắt, cô lập mà nối liền thành một dải với trung châu và đồngbằng, tạo thành một địa bàn chiến lợc cơ động Hơn nữa, ở đây có thể duy trìnền kinh tế tự túc, tự cấp nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên, lâm thổ sản dồidào, phong phú Nhân dân chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít ngời (Tày, Nùng,Dao…) sẵn sàng theo ánh sáng của cách mạng

Xuất phát từ điều kiện địa lí tự nhiên, kinh tế, chính trị, quân sự thuậnlợi ở Việt Bắc mà Trung ơng Đảng đã quyết định xây dựng Việt Bắc thành căn

cứ địa vững mạnh, hậu cứ an toàn phục vụ cho sự nghiệp giải phóng đất nớc.Cơ sở ban đầu của căn cứ địa Việt Bắc là hai trung tâm căn cứ Bắc Sơn - Võ

Trang 19

Nhai và Cao Bằng, sau đó phát triển rộng khắp 6 tỉnh ở Bắc Bộ, đa đến sự ra

đời của “Khu giải phóng”- trung tâm đầu não của cách mạng cả nớc

2.2.1.1 Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai.

Bắc Sơn vốn là một phần đất của châu Võ Nhai thuộc tỉnh TháiNguyên nhng năm 1894, thực dân Pháp đã tách vùng đất này lập ra châu BắcSơn thuộc tỉnh Lạng Sơn Vì vậy mà giữa hai châu Bắc Sơn và Võ Nhai từ lâu đãcùng chung một đơn vị hành chính và có mối quan hệ khăng khít với nhau [1;5]

Do đó, từ Bắc Sơn có thể đánh thông xuống Bắc Giang để sang Thái Nguyên rồi vềxuôi, đồng thời có thể liên lạc với bên ngoài qua biên giới Việt – Trung

Dới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Bắc Sơn đã cùngvới nhân dân cả nớc phát huy tinh thần yêu nớc, tinh thần đấu tranh cáchmạng, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cách mạng Đặt biệt thấm nhuần tinhthần của Hội nghị lần thứ 6 của Trung ơng Đảng “ dự bị những điều kiện bớctới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc” Nhân dân Bắc Sơn, Đảng bộBắc Sơn đã không ngừng “tổ chức lực lợng tự vệ, tổ chức huấn luyện quân sự,tích trữ vũ khí, tìm địa điểm bí mật để phòng khi lộ có thể rút lui thuận lợi”[1;32]

Sang năm 1940, khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai ngày càng lanrộng, nớc Pháp nhanh chóng thất bại và đầu hàng Đức, bị phát xít Đức chiếm

đóng Lợi dụng lúc nớc Pháp suy yếu, phát xít Nhật liền nhảy vào Đông Dơngchiếm thuộc địa của Pháp Pháp đi từ nhân nhợng này đến nhân nhợng khácnhằm cứu vãn quyền thống trị ở Đông Dơng nhng vẫn không ngăn đợc bớctiến của Nhật

Ngày 22/9/1940, quân đội Nhật tràn vào Việt Nam qua Lạng Sơn vànhanh chóng đánh bật các đồn Pháp dọc biên giới Việt – Trung, chiếm thị xãLạng Sơn Quân Pháp chỉ chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng, rút chạyqua châu Bắc Sơn để về Thái Nguyên Trên đờng rút chạy chúng vứt bỏ cảsúng đạn, quân trang, quân dụng, một số làm tay sai của chính quyền Pháp bỏtrốn nh: tri châu Điềm He, tri phủ Bình Gia… Trớc tình hình đó, Đảng bộhuyện Bắc Sơn đã lãnh đạo đồng bào với vũ khí hiện có tiến hành khởi nghĩagiành chính quyền (27/9/1940) Quân khởi nghĩa tiến đánh đồn Mỏ Nhài,châu lị Bắc Sơn nhng lại không tổ chức thành lập chính quyền cách mạng đểcủng cố những thành quả đạt đợc Vì vậy, sau đó thực dân Pháp và Nhật đã

Trang 20

tạm thời thoả hiệp với nhau, quay trở lại đàn áp cuộc khởi nghĩa, lập lại chínhquyền tay sai.

Nhận đợc tin về khởi nghĩa Bắc Sơn, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã cử đồng chí Trần

Đăng Ninh lên Bắc Sơn chỉ đạo phong trào Ngày 14/10/1940, cuộc họp các

đảng viên Bắc Sơn đợc triệu tập tại làng Sa Khao (Vũ Lăng) Hội nghị đãquyết định “Thành lập đội du kích Bắc Sơn, lấy vùng Đon Uý, Sa Khao, MỏTát, Bản Me làm căn cứ địa của đội du kích” [23;4] Đồng thời cử ra ban chỉhuy đội du kích do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách

Ngay sau khi thành lập, đội du kích đã đẩy mạnh các hoạt động chống

địch khủng bố, làm chủ lại Khon Ràng, Nam Nhi, Vũ Lăng, tiêu diệt bọn taysai đầu sỏ, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân, giữ vững phong trào cáchmạng Để biểu dơng lực lợng, động viên tinh thần cách mạng của quần chúngnhân dân, ngày 28/10/1940, tại Vũ Lăng đã diễn ra cuộc mít tinh do đảng bộ

tổ chức Sau cuộc mít tinh, đợc sự chỉ đạo của dới xuôi, quân du kích chuyểnvào hoạt động bí mật trong rừng sâu và “tạm thời mất liên lạc với quần chúng,thiếu lơng thực thực phẩm, chịu đói, chịu rét” [24;39]

Giữa lúc đội du kích Bắc Sơn gặp khó khăn, bế tắc vì không có địa bàn

đứng chân hoạt động thì cách đó không xa (100 km) tại làng Đình Bảng (TừSơn – Bắc Ninh) Hội nghị Trung ơng lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ơng

Đảng đợc triệu tập (tháng 11/1940) Hội nghị quyết định duy trì đội du kíchBắc Sơn, đề ra phơng hớng hoạt động cho đội là kết hợp hình thức vũ trangtuyên truyền, vừa chiến đấu chống khủng bố vừa bảo vệ và xây dựng cơ sởquần chúng, tiến tới thiết lập những căn cứ địa rộng lớn lấy Bắc Sơn – VõNhai làm trung tâm Sau hội nghị, Trung ơng đã bổ sung thêm cho Bắc Sơn –

Võ Nhai nhiều cán bộ dới xuôi lên, đồng thời kêu gọi cả nớc ủng hộ cho khởinghĩa Bắc Sơn Đến tháng 12/1940, Ban lãnh đạo đội du kích và khu du kích

đợc thành lập do đồng chí Hoàng Văn Thụ phụ trách chỉ đạo chung, đồng chíPhùng Chí Kiên làm chỉ huy trởng, phụ trách căn cứ địa

Nhờ có sự lãnh đạo của Trung ơng Đảng, của Xứ uỷ Bắc Kỳ, phong tràocách mạng ở Bắc Sơn – Võ Nhai đã vợt qua đợc khó khăn, thử thách Sangnăm 1941, khu căn cứ du kích đã mở rộng ra các xã: Vũ Lăng, Hữu Vĩnh, H-

ng Vũ, Bắc Sơn, Vũ Lễ, Gia Hoà (thuộc Lạng Sơn); các xã Lâu Thợng, PhúThợng, Tràng Xá, Làng Mời, La Hiên (thuộc Võ Nhai); Cây Thị, Đông Hỷ(Thái Nguyên) [23;5] Tại Bắc Sơn, lực lợng du kích không ngừng phát triển,

Trang 21

đã thành lập đội Cứu quốc quân (2/1941) tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ – BắcSơn).

Nh vậy, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra khi thời cơ tại đó đã chín muồinhng trên phạm vi cả nớc thì khả năng đó cha có Do đó, cuộc khởi nghĩathiếu sự hởng ứng mạnh mẽ của phong trào chung của cả nớc nên cha giành đ-

ợc thắng lợi cuối cùng Tuy nhiên, từ trong cuộc khởi nghĩa đã hình thành căn

cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai, cơ sở để Đảng ta xây dựng, mở rộng và phát triểnthành căn cứ địa rộng lớn cho cách mạng sau này

2.2.1.2 Sự ra đời căn cứ địa Cao Bằng.

Tỉnh Cao Bằng có biên giới giáp Trung Quốc dài gần 300 km, đây là địabàn sinh sống của các dân tộc ít ngời và có địa thế thuận lợi cho việc xây dựngcăn cứ địa

Sau phong trào 1936 – 1939, Cao Bằng cũng nh phong trào cách mạngcả nớc bị khủng bố, đàn áp và gặp tổn thất nặng nề: nhiều cán bộ đảng viên bịbắt, cơ sở cách mạng bị vỡ… Trong lúc phong trào cách mạng trong cả nớc

đang gặp khó khăn thì Nguyễn ái Quốc cũng đang tìm đờng về nớc (cuối1938) nhng Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ đã làm gián đoạn hànhtrình của Ngời Ngời buộc phải lu lại hoạt động trong đội quân cách mạng củaTrung Quốc, chờ thời cơ thuận lợi để về nớc

Năm 1940, Pháp thua Đức là điều kiện thuận lợi cho ta, khi Ngời về đếnTĩnh Tây (Quảng Tây – Trung Quốc) thì gặp đồng chí Hoàng Văn Thụ ra đón

và đợc nghe báo cáo tình hình trong nớc từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến Hội nghịlần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng Ngời thấy rõ rằng muốn hoạt

động cách mạng thì phải có chỗ đứng chân trớc đã Lúc đầu, Ngời định chọnLào Cai làm nơi xây dựng căn cứ địa nhng sau khi tìm hiểu, xem xét và lựachọn Ngời đã quyết chọn Cao Bằng để xây dựng thành căn cứ địa cho cáchmạng Ngời nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớnlao cho cách mạng nớc ta, Cao Bằng có phong trào tốt từ trớc lại kề sát biêngiới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi Nhng từ Cao Bằng cònphải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc vớitoàn quốc đợc Có nối đợc phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi

Trang 22

phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn cóthể giữ” [21;43].

Có thể thấy rằng, ngay từ khi cha đặt chân về nớc lãnh tụ Nguyễn áiQuốc đã đặt vấn đề xây dựng căn cứ địa cho cách mạng lên trớc hết Từ điểmtựa ban đầu ấy tiến hành xây dựng lực lợng và làm bàn đạp cho khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền

Để có căn cứ địa phải có cán bộ tuyên truyền, động viên, giác ngộ quầnchúng theo cách mạng Do đó, để chuẩn bị đội ngũ cán bộ đi xây dựng căn cứ

địa, ngay trên đất Tĩnh Tây (Trung Quốc) Ngời đã mở lớp huấn luyện chính trịcho 40 đồng chí trớc đó đã rút khỏi Cao Bằng sang Trung Quốc khi thực dânPháp khủng bố năm 1940 Nội dung học bao gồm những vấn đề về tình hìnhthế giới và trong nớc, về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiệntại, chơng trình, điều lệ, cách thức tổ chức các hội cứu quốc của Mặt trận ViệtMinh, các bớc công tác: điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấutranh Hồ Chí Minh, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Phạm Văn

Đồng trực tiếp giảng dạy lớp học này [24;44]

Sau khi lớp học kết thúc, đoàn cán bộ này trở về nớc hoạt động, tiếnhành xây dựng thí điểm Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng.Chỉ sau ba tháng đã có hơn 1000 hội viên ở ba huyện Hoà An, Hà Quảng,Nguyên Bình và mỏ thiếc Tĩnh Túc Riêng Hoà An có 7 tổng thì 6 tổng đã cócơ sở hội cứu quốc, Hà Quảng có 10/27 xã có hội cứu quốc [23,35] Từ bahuyện này, địa bàn hoạt động của lực lợng cách mạng không ngừng củng cố,

mở rộng để chỉ một thời gian sau đó Cao Bằng trở thành một trong những căn

Trang 23

Sau Hội nghị Trung ơng lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng,

đặc biệt từ tháng 3/1941, Trung ơng liên tục gửi cán bộ lên để chỉ đạo phongtrào cách mạng tại căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai Tại đây đã diễn ra nhiều hoạt

động sôi nổi nh: học tập chính trị, luyện tập quân sự, vũ trang tuyên truyền,mít tinh, tiễu trừ những tên phản động, duy trì trật tự trị an… [1;42 – 44] Saukhi Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng kết thúc, đội Cứuquốc quân tại đây đã bảo vệ cho các đồng chí trong Ban thờng vụ Trung ơng

Đảng về xuôi an toàn trớc sự vây quét ráo riết của địch

Tại Bắc Sơn, thực dân Pháp cha đạt đợc mục đích đề ra là tiêu diệt Banlãnh đạo cách mạng, tiêu diệt lực lợng Cứu quốc quân và phá cơ sở cách mạngcủa ta nên chúng càng tăng cờng khủng bố, lùng sục hơn nữa Trớc tình hình

đó, tháng 8/1941 lực lợng Cứu quốc quân chia thành hai bộ phận rút lui, phântán lên Cao Bằng hoặc xuống Thái Nguyên Địch lại tập trung lực lợng vâyquét Võ Nhai (Thái Nguyên), chúng tăng cờng xây dựng và củng cố lực lợngthêm cho các đồn bốt, dồn dân vào các trại tập trung thực hiện âm mu “tát nớcbắt cá” tách Cứu quốc quân ra khỏi nhân dân để dễ dàng tiêu diệt Tuy nhiên,

nỗ lực bỏ ra nhiều mà kết quả thu đợc không nh mong muốn Trong vòng vâykhủng bố của địch, Cứu quốc quân vẫn tồn tại và phát triển dới sự đùm bọc,che chở của nhân dân Tại khu rừng Khuôn Méng (Tràng Xá - Thái Nguyên)trung đội Cứu quốc quân II đợc thành lập (15/9/1941)

Sang tháng 10/1941 đầu 1942, địch tập trung lực lợng mở cuộc càn quétquy mô lớn nhằm giành thắng lợi dứt điểm Hoạt động của Cứu quốc quânngày càng khó khăn, thiếu thốn Đến tháng 3/1942, Ban chỉ huy Cứu quốcquân chủ trơng "hoá chỉnh vi linh" – chia Cứu quốc quân thành nhiều đơn vịnhỏ rút khỏi vòng vây, phân tán về trong nhân dân, giữ gìn, phát triển lực lợng,

mở rộng căn cứ địa hơn nữa

Sau 8 tháng tiến hành chiến tranh du kích (7/1941 đến 3/1942) trong

điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ, thiếu thốn lại bị địch khủng bố gắt gaoCứu quốc quân vẫn duy trì sự tồn tại, củng cố đợc căn cứ địa Cuộc chiến đấunày đợc coi là cuộc đấu tranh bằng quân sự dài ngày nhất của một đội quâncách mạng trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền Đồng thời,qua đó cung cấp cho Đảng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựnglực lợng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, tiến hành chiến tranh du kích Nó

Trang 24

cho thấy rằng chúng ta có khả năng thành lập đợc những căn cứ địa cáchmạng ở vùng nông thôn, rừng núi và đánh du kích lâu dài [23;49] và [24;55].

* Tại Cao Bằng

ở Cao Bằng, ngay sau khi căn cứ đợc thành lập thì không phải trải quaquá trình đấu tranh du kích nh ở Bắc Sơn – Võ Nhai Tại đây lại diễn ranhững hoạt động chính trị – văn hoá sôi nổi nhằm củng cố căn cứ địa vữngmạnh

Ngay khi về Cao Bằng, việc làm trớc tiên của Hồ Chí Minh là tiếp tục

mở các lớp huấn luyện chính trị tại Pac Pó (Hà Quảng), Lam Sơn (Hoà An),hang Kéo Quảng (Nguyên Bình) Mỗi khoá huấn luyện khoảng một tuần, có

đọc, dễ nhớ và dễ thuộc Xuất phát từ thực tế đồng bào các dân tộc ít ngời đa

số nhân dân mù chữ nên Ngời sử dụng thơ để phục vụ cho nhiệm vụ cáchmạng; tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân tham gia các đoàn thểcủa Viêt Minh Một số tác phẩm đợc các đồng chí dịch ra tiếng dân tộc nên dùkhông biết chữ mọi ngời vẫn có thể đọc truyền miệng cho nhau thuộc

Cùng với việc mở các lớp huấn luyện cán bộ, Ngời còn chủ trơng xuấtbản tờ báo “Việt Lập” Bởi trong những năm bôn ba hoạt động ở nớc ngoài,Ngời thấy rõ báo chí là công cụ phục vụ đắc lực cho mục đích cách mạng.Chính Ngời cũng tham gia viết bài, vẽ tranh, lấy tin cho tờ báo Báo “ViệtLập” với lời văn giản dị, cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ củacán bộ cũng nh đồng bào các dân tộc ít ngời Do đó, tờ báo nhanh chóng đợcphổ biến rộng rãi, số đoàn thể mua báo ngày càng nhiều, có lúc xuất bản 600

số cũng không đáp ứng đủ nhu cầu Cùng với báo “Việt Lập”, sách “Ngũ tựkinh” cũng đợc xuất bản và dịch sang các tiếng dân tộc để phục vụ cho côngtác tuyên truyền, vận động cách mạng

Tại Cao Bằng, còn thực hiện xây dựng nếp sống mới, nâng cao trình độdân trí, mở mang văn hoá cho nhân dân Nhiều lớp học chữ Quốc Ngữ đợc tổchức với tinh thần “ngời biết chữ dạy ngời cha biết chữ, ngời biết ít học ngời biếtnhiều hơn” (Hồ Chí Minh) Phong trào học tập mở mang dân trí đợc đông đảo quần

Trang 25

chúng nhân dân hởng ứng tham gia, có những lớp học có cả “già, trẻ, gái, trai, cólớp có cả vợ chồng, anh em hay bố mẹ cùng học” [24;64].

Những hoạt động sôi nổi, phong phú của mặt trận Việt Minh tại CaoBằng đã từng bớc cải thiện đời sống, văn hoá của nhân dân các dân tộc, xâydựng đời sống mới cho nhân dân ngay trong cảnh nô lệ tối tăm của ách thựcdân xâm lợc Dân trí đợc mở mang, tình đoàn kết giữa các dân tộc đợc tăng c-ờng củng cố, xoá đi sự ngăn cách, nghi kị do chính sách “chia để trị” của thựcdân Pháp gây ra Cách mạng thực sự “đã đem lại cho nhân dân quyền bình

đẳng giữa các dân tộc, quyền học tập văn hoá và mu cầu hạnh phúc Sự cảithiện bớc đầu một số mặt sinh hoạt văn hoá - xã hội đã tạo nên những yếu tốmới làm cho bộ mặt căn cứ địa từng bớc đổi thay, căn cứ địa ngày càng đợccủng cố vững chắc” [24;71]

Trên cơ sở căn cứ địa đợc củng cố vững mạnh, theo chỉ thị của Hồ ChíMinh, tiểu đội du kích Cao Bằng đợc thành lập cuối năm 1941 gồm 12 ngời

do đồng chí Lê Quảng Ba làm đội trởng Đồng thời, một tổ sửa chữa vũ khícũng đợc thành lập nhằm trang bị vũ khí cho đội du kích: súng, bộc phá, Quán triệt t tởng của Hồ Chí Minh, ngay từ khi xây dựng căn cứ Cao Bằng, từCao Bằng phải phát triển xuống nữa, phải mở rộng địa bàn hoạt động của độiquân cách mạng xuống trung du, đồng bằng và đô thị theo các hớng Đôngtiến, Tây tiến, Nam tiến

Bớc sang năm 1943, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bớc vào năm thứ

t, cục diện chiến tranh đã có sự thay đổi Hồng quân Liên Xô và lực lợng dânchủ đang chuyển sang phản công quân phát xít, mở ra triển vọng thắng lợi củaphong trào giải phóng dân tộc ở các nớc lệ thuộc và thuộc địa trên thế giới,trong đó có cách mạng Việt Nam ở trong nớc, công tác xây dựng căn cứ địa,xây dựng lực lợng tiếp tục đợc đẩy mạnh và đạt kết quả khả quan

Các đội xung phong “Nam tiến”đựơc thành lập do Võ Nguyên Giáplãnh đạo bao gồm thanh niên các dân tộc có tinh thần cách mạng cao, đợcchọn lựa từ các hội viên Cứu quốc quân, xung phong tình nguyện thoát li gia

đình đi hoạt động cách mạng Bằng nhiều biện pháp khác nhau: thông qua ờng dây họ hàng, ăn thề, lối “nhảy cóc”, “vết dầu loang” các đội “Nam tiến”

đ-đã xây dựng đợc các hội cứu quốc, đội tự vệ ở các châu: Ngân Sơn, Chợ Rã,Bạch Thông, Chợ Đồn Đến cuối 1943, đã hình thành nên khu Quang Trung

Trang 26

– khu vận động cách mạng của đồng bào dân tộc Dao, nối liền Cao Bằng vớiTuyên Quang và Thái Nguyên [23;61].

Phong trào “Tây tiến” gây đợc cơ sở cách mạng ở đồng bào H’Mông ởHoà An, Hà Quảng, Nghĩa Bình đã đa đến sự ra đời khu Thiện Thuật – khuvận động cách mạng của đồng bào H’Mông (tháng 9/1943) Khu Thiện Thuật

có tác dụng mở đờng sang Hà Quảng và là nơi đặt cơ quan lãnh đạo của CaoBằng Cuối 1943, một chuyến vũ khí đợc vận chuyển từ Trung Quốc qua khuThiện Thuật về Cao Bằng an toàn

Về phần Cứu quốc quân sau hơn một năm rút lên biên giới đã trở về nớc

để hoạt động và bắt liên lạc đợc với các đội xung phong Các mũi “Bắc tiến”của Cứu quốc quân từ Đại Từ, Định Hoá, Sơn Dơng về Bắc Cạn để đón “Namtiến”, từ Bắc Sơn lên Tràng Định đón “Đông tiến” đã gặp nhau ở nhiều địa

điểm Nh vậy, địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân đợc mở rộng từ “biêngiới Việt - Trung vào Tràng Định, Thoát Lãng, Bình Gia, Bắc Sơn (Lạng Sơn),xuống Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lơng, Đại Từ, Định Hoá (Thái Nguyên), SơnDơng, Yên Sơn (Tuyên Quang) rồi lên Chợ Đồn (Bắc Cạn) Kết quả là bêncạnh trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai và Cao Bằng, một trung tâmcăn cứ địa nữa đợc thành lập: Đại Từ - Định Hoá - Sơn Dơng - Yên Sơn”[16;23] Các trung tâm căn cứ địa này đã đợc đánh thông với nhau và liên lạcvới Trung ơng thông qua các con đơng “Nam tiến”, “Đông tiến”, “Tây tiến”,

“Bắc tiến”, tạo thành một hành lang chính trị mạnh mẽ, tạo cơ sở cho sự ra đờicủa “Khu giải phóng” sau này

Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại căn cứ Việt Bắc đãlàm thực dân Pháp phải chú ý tới Từ 1943 đến hết 1944, chúng huy động lựclợng khủng bố, đàn áp, ngày đêm lùng sục trong các xóm làng mà chúng nghingờ có cán bộ, lực lợng cách mạng Các đồn bốt đợc tăng cờng xây dựng,củng cố, kiểm soát chặt chẽ mọi con đờng và cùng với bọn tay sai tìm mọicách để tiêu diệt cho đợc lực lợng cách mạng Lực lợng cách mạng tại các căn

cứ địa đợc chỉ thị biên chế thành các “tiểu tổ bí mật”rút sâu vào trong rừngnúi, tiếp tục giữ mối liên hệ với quần chúng nhân dân để lãnh đạo, động viênnhân dân đấu tranh

Trớc sự khủng bố tàn bạo của kẻ thù, tinh thần cách mạng, lòng căm thùcủa quần chúng nhân dân càng lên cao, nhân dân muốn có một hình thức đấutranh cao hơn Giữa lúc đó, Trung ơng có chỉ thị “Sửa soạn khởi

Trang 27

nghĩa”(7/5/1944) và kêu gọi “Sắm vũ khí đuổi thù chung”(8/1944), nh lời thúcdục nhân dân tiến lên đấu tranh Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng đã quyết địnhchuyển từ chiến tranh du kích sang khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền,kêu gọi nhân dân ra sức chuẩn bị, tích trữ lơng thực, vũ khí, luyện tập quânsự Khi cuộc khởi nghĩa sắp nổ ra thì đúng lúc đó Hồ Chí Minh thoát ra khỏinhà tù Tởng Giới Thạch trở về đã kịp thời đình chỉ cuộc khởi nghĩa Ngời chỉ

ra rằng nếu tiến hành khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng thì chỉ mới thấy đợc bộphận chứ cha thấy đợc toàn bộ Hơn nữa, “nếu phát động mà mỗi khi địch đếnnhân dân lại phải tản c cả vào rừng núi thì sẽ gặp nhiều khó khăn Phải làmsao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cờngcanh gác đề phòng, không để địch bắt hại những ngời hoạt động”[21;129-239]

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của Ngời mà Cao - Bắc - Lạng tránh đợc nhữngtổn thất khó lờng trớc Đồng thời, Ngời chỉ thị thành lập đội “Việt Nam tuyêntruyền Giải phóng quân” hoạt động với phơng châm “chính trị trọng hơn quânsự” nhằm chuẩn bị những cơ sở chính trị cũng nh quân sự tiến lên khởi nghĩa

vũ trang sau này Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hng Đạo (Cao Bằng),

đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đợc thành lập gồm 34 chiến sĩ do

đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy Hai ngày sau khi thành lập, đội đã thu đợcthắng lợi trong trận Phay Khắt và Nà Ngần làm nức lòng nhân dân, động viêntinh thần cách mạng cho nhân dân

Tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, hai căn cứ Bắc Sơn Võ Nhai và Đại Từ

-Định Hoá - Sơn Dơng - Yên Sơn đợc thống nhất lại thành chiến khu Hoàng HoaThám do đồng chí Chu Văn Tấn trực tiếp phụ trách Đến cuối năm 1944, chiếnkhu Hoàng Hoa Thám lại chia thành hai phân khu để dễ bề hoạt động

Phân khu A (khu Quang Trung) gồm Bắc Sơn, Bình Gia (Lạng Sơn),VõNhai, nửa Đồng Hỷ (Thái Nguyên), Yên Thế, Hữu Lũng (Bắc Giang) VõNhai là trung tâm của phân khu A, nơi đóng cơ quan lãnh đạo của phân khu vàtrung đội Cứu quốc quân

Phân khu B (khu Nguyễn Huệ) gồm Phú Lơng, Đại Từ, Định Hoá, nửa

Đồng Hỷ (Thái Nguyên), Nam Chợ Mới, Chợ Đồn, thị xã Bắc Cạn, Yên Sơn,Sơn Dơng, Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Lập Thạch (Vĩnh Yên) Tạiphân khu B, trung đội Cứu quốc quân II đợc thành lập trong tháng 2/1944.Sông Cầu đợc lấy làm ranh giới tự nhiên giữa hai phân khu

Trang 28

Lực lợng Cứu quốc quân ở cả hai phân khu tiếp tục tiến hành nhữngcuộc chiến đấu quyết liệt chống lại sự vây quét đàn áp của thực dân Pháp,nhằm bảo vệ lực lợng, bảo vệ căn cứ địa Đồng thời, không ngừng phát triểnlực lợng, mở rộng căn cứ địa để Việt Bắc có thể “sẵn sàng cho bớc nhảy vọt vĩ

đại” của dân tộc [24;9]

2.2.1.4 Khu giải phóng

Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật nổ súng tiến hành đảo chính lật đổ Pháp,

độc chiếm Đông Dơng Cùng lúc đó, Ban thờng vụ Trung ơng Đảng họp tạilàng Đình Bảng (Từ Sơn- Bắc Ninh) đã phân tích tình hình và cho ra đời bảnchỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”(12/3/1945) để hớng

đạo nhân dân đấu tranh Hội nghị quyết định phát động chiến tranh du kích,giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa “sẵn sàng chuyển qua hình thứctổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”[23;92- 93]

Hởng ứng chỉ thị của Trung ơng Đảng, cả nớc đã dấy lên một cao tràokháng Nhật cứu nớc tiền khởi nghĩa hết sức mạnh mẽ Tại Việt Bắc, bằngnhiều biện pháp khác nhau nh: binh vận, tiến công, chặn đánh quân giảiphóng đã làm chủ nhiều châu, huyện mới, thành lập các Uỷ ban cách mạnglâm thời Lúc đó, hạ tuần tháng 5/ 1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào và chỉ thị

“chia các tỉnh ra nhiều chiến khu nh thế rờm rà quá, không lợi cho việc chỉhuy chung Nay vùng giải phóng ở miền ngợc đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng,Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liềnvới nhau, nên lập một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng”[21;210] Đồngthời, Ngời còn chỉ thị thống nhất lực lợng vũ trang lại lấy tên là Quân giảiphóng

Trên tinh thần chỉ đạo của Ngời, ngày 4/6/1945, Hội nghị cán bộ ViệtMinh đợc triệu tập và đã nhất trí thành lập “Khu giải phóng”, xây dựng thànhmột căn cứ kháng Nhật kiểu mẫu, vững mạnh dới sự chỉ đạo của Uỷ ban chỉhuy lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu Tân Trào đợc chọn làm thủ đô lâmthời của “Khu giải phóng” Tại đây, Mời chính sách của Mặt trận Việt Minhtiếp tục đợc thực hiện trên mọi lĩnh vực:

* Về chính trị : Uỷ ban nhân dân các cấp đợc thành lập, củng cố bằngphổ thông đầu phiếu Những uỷ ban nhân dân đã đợc thành lập trớc đó thì đợckiện toàn, củng cố thêm Còn ở những địa phơng đã đợc giải phóng nhng cha

có điều kiện thành lập uỷ ban nhân dân thì nay đợc bầu chính thức Nhiều nơi

Trang 29

uỷ ban nhân dân cách mạng đã đợc thành lập từ cấp xã đến cấp tỉnh nh :Chiêm Hoá, Sơn Dơng (Tuyên Quang), Định Hoá (Thái Nguyên), [23;121].Ban chấp hành cách mạng, ban chấp hành các đoàn thể cứu quốc cũng đợcthành lập.

* Về quân sự : Một hệ thống uỷ ban quân sự đợc thành lập từ cấp khu

đến cấp châu, uỷ ban quân sự “Khu giải phóng” đặt dới sự lãnh đạo của uỷban chỉ huy lâm thời “Khu giải phóng” Uỷ ban quân sự khu giải phóng cónhiệm vụ thống nhất chỉ huy cuộc chiến đấu chống Nhật, tiễu phỉ trừ gian, mởrộng các căn cứ địa, xây dựng và phát triển lực lợng vũ trang nhân dân, huấnluyện, đào tạo đội ngũ cán bộ thông qua việc thành lập các Trờng quân chínhkháng Nhật công tác huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ đơc tăng cờng Tạimỗi xã có một “tiểu tổ du kích” hoạt động với phơng châm “quân sự đi đôi vớichính trị” [21;44]

* Về kinh tế : Các uỷ ban nhân dân cách mạng tiến hành lãnh đạo, độngviên nhân dân tích cực sản xuất, tiết kiệm, ổn định đời sống Nông dân đợctạm chia ruộng đất lấy đợc từ bọn địa chủ đồn điền Pháp, bọn Việt gian đểtiến hành cày cấy, sản xuất Ruộng công đợc chia lại, giảm tô, giảm tức,khuyến khích nhân dân khai hoang, cấy hết diện tích, cùng giúp đỡ nhau sảnxuất.Những hoạt động sản xuất đợc đẩy mạnh đã đảm bảo đợc vấn đề kinh tế -tài chính tại Khu giải phóng

* Về văn hoá - xã hội : Các lớp học đợc tiếp tục mở để xoá nạn mù chữ,nhiều trờng lớp sơ cấp cứu quốc đợc thành lập, mở trờng S phạm sơ cấp để đàotạo giáo viên cho các châu [23;130] Nhiều tờ báo đợc phát hành rộng rãi nh:Việt Lập, Cờ Giải Phóng, Chặt Xiềng, Cứu Quốc, Các hoạt động văn hoá -nghệ thuật diễn ra sôi nổi, thực hiện đời sống mới, bài trừ các tệ nạn xã hội,

đảm bảo vệ sinh môi trờng

Dới dự lãnh đạo của Uỷ ban lâm thời khu giải phóng đứng đầu là Chủtịch Hồ Chí Minh, nhân dân các dân tộc đã phát huy cao độ lòng yêu nớcnồng nàn, thi đua thực hiện Mời chính sách của Mặt trận Việt minh, xây dựngcăn cứ địa vững mạnh về mọi mặt Ngay trong bão táp cách mạng đang nổidậy, hơn một triệu nhân dân Bắc Bộ đã đợc hởng cuộc sống tự do, độc lập docách mạng mang lại Khu giải phóng đợc xem là “ hình ảnh thu nhỏ của nớcViệt Nam mới”, những thắng lợi đạt đợc tại đây đã cổ vũ,củng cố thêm niềmtin của quần chúng nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

Trang 30

2.2.2 An toàn khu.

Cùng với việc xúc tiến xây dựng căn cứ địa Việt Bắc thành căn cứ chínhcủa cách mạng cả nớc, Trung ơng Đảng còn chủ trơng xây dựng các An toànkhu ở một số địa phơng có điều kiện Đặc biệt, Trung ơng rất quan tâm đếnviệc xây dựng An toàn khu Trung ơng (ATK1) ở ven thủ đô Hà Nội, dọc theohai bên bờ sông Hồng, nơi giáp ranh của ba tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, PhúcYên

Xung quanh Hà Nội là vùng nông thôn đồng bằng rộng lớn có nhiều

điều kiện thuận lợi và cơ sở tốt cho việc xây dựng vùng An toàn khu cho cáchmạng Đây không những là nơi đảm bảo nhu cầu lơng thực, thực phẩm chonhân dân địa phơng mà còn cung cấp cho thành thị và các khu công nghiệptrong thành phố Các địa phơng nằm kề sát nội thành Hà Nội, có nơi chỉ cáchtrung tâm thành phố 10 - 15 km lại có giao thông thuỷ, bộ và đờng sắt liênhoàn nên đảm bảo đợc giao thông liên lạc thuận lợi Nhờ đó, Trung ơng có thểnắm bắt đợc nhanh chóng tình hình trong nớc và quốc tế thông qua Hà Nội đểkịp thời có chủ trơng, chính sách phù hợp

Tại đây, tình hình chính trị – xã hội tơng đối phức tạp nhng có Xứ uỷBắc Kỳ vững mạnh lại có các “cơ sở bí mật” của trung ơng vốn đã đợc xâydựng từ trớc trên địa bàn một số huyện, xã ở hai bên bờ tả ngạn và hữu ngạnsông Hồng nh : Liên Mạc, Thợng Cát, Phú Thợng, Cổ Nhuế, Đông Anh, TừSơn, Yên Lãng [25;23] Vì vậy, xây dựng An toàn khu 1 là việc làm cần thiết

và hoàn toàn có cơ sở

An toàn khu 1 đợc xúc tiến thành lập vào khoảng cuối năm 1941 đầunăm 1942 và công tác cán bộ đợc đi trớc một bớc Ban thờng vụ Trung ơng đãthành lập một “đội công tác dặc biệt”gồm những ngời đã trải qua thử tháchvừa có khả năng tuyên truyền, vận động quần chúng vừa làm đợc mọi côngtác, đảm bảo đợc hoạt động bí mật và an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cũng

nh cơ quan đầu não của Đảng Đội này gồm một số cán bộ chủ chốt nh : TrầnThị Sáu, Nguyễn Trọng Tỉnh, Nguyễn Quyết, Lê Đức Thọ [25;24]

Đội công tác đặc biệt này trớc khi đi vào hoạt động trong quần chúngphải quán triệt các nguyên tắc sau :

An toàn khu phải đợc tổ chức nghiêm ngặt, quy định nơi đóng cơ quan làmviệc, nơi hội họp liên lạc, nơi in ấn tài liệu, nơi ăn ở, đi lại của cán bộ Đảng

Trang 31

Việc tuyên truyền giác ngộ quần chúng phải thận trọng, kín đáo, đảmbảo đợc nguyên tắc bí mật, không bộc lộ lực lợng.

Mọi việc liên lạc phải đợc giữ bí mật, an toàn, không liên lạc ngang,mỗi ngời chỉ biết một phạm vi nhất định

Trong An toàn khu có tổ chức những chi bộ Đảng từ 3 đến 7 ngời đơntuyến, chỉ quan hệ trực tiếp với đội công tác

Nắm vững những nguyên tắc trên, đội công tác đã phân tán về các địaphơng, nghiên cứu địa thế, nắm bắt tình hình và đi vào quần chúng để tuyêntruyền, vận động, giáo dục, động viên nhân dân tham gia cách mạng Trải quamột quá trình hoạt động lâu dài, kiên trì, sáng tạo, đội công tác đã xây dựngcơ sở ở hàng trăm gia đình thuộc hai huyện Từ Liêm và Đông Anh (Hà Nội)

Trên địa bàn huyện Đông Anh, cơ sở cách mạng đợc xây dựng ở 11 xã:Võng La, Vĩnh Ngọc, Hải Bối, Vân Nội, Việt Hùng, Xuân Canh, Cổ Loa, ĐạiMạch, Liên Hà, Đông Hội, Xuân Trạch

Tại huyện Từ Liêm, đội công tác đã xây dựng cơ sở trên địa bàn của 8xã : Thợng Cát, Liên Mạc, Thụy Phơng, Phú Thợng, Xuân Đỉnh, Nghĩa Đô,

Đông Ngạc, Cổ Nhuế [33;33] (Xem phụ lục)

Từ cuối năm 1941 đến tháng 8/1945, những cơ sở và phạm vi của Antoàn khu không ngừng đợc mở rộng, trở thành địa bàn an toàn để các cán bộ lãnh

đạo thờng xuyên qua lại và nơng nhờ tại các gia đình cơ sở để hoạt động

Cùng với việc xây dựng An toàn khu Trung ơng (ATK1), đến đầu năm

1943, An toàn khu dự bị (ATK2) cũng đợc thành lập trên địa phận của cáchuyện Hiệp Hoà (Bắc Ninh), Phú Bình và Phổ Yên (Thái Nguyên) và một sốxã của huyện Kim Anh, Đa Phúc (Phú Yên) An toàn khu 2 trở thành cầu nối,nối liền ATK1 với khu giải phóng rộng lớn

ATK1, ATK2 cùng với ATK của thành uỷ Hà Nội đã tạo thành mộtvùng đệm trung gian hết sức quan trọng, một vùng an toàn rộng lớn, “mộtvành đai đỏ” bao quanh Hà Nội đánh thông liên lạc, sự chỉ đạo từ Việt bắcxuống Hà Nội và đến các địa phơng trong cả nớc Nó càng chứng minh chochủ trơng thành lập các ATK của Trung ơng Đảng là rất đúng đắn, sáng tạo

2.2.3 Chiến khu âu Cơ (Vần – Hiền Lơng)

Chiến khu Vần – Hiền Lơng đợc xây dựng trên địa bàn hai tỉnh YênBái và Phú Thọ Đây là hai tỉnh liền kề nhau, vốn có truyền thống đấu tranh vũtrang từ trớc Trong thời kỳ chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đã có nghĩa

Trang 32

quân của phong trào văn thân Cần Vơng hoạt động Đến những năm 1929

-1930, Phú Thọ, Yên Bái là trung tâm của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do tổ chứccách mạng Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo

Hai tỉnh Yên Bái, Phú Thọ tiếp giáp căn cứ địa Việt Bắc nên các huyệngiáp Tuyên Quang nh: Đoan Hùng, Thanh Ba, Phù Ninh và Hạc Trì (Phú Thọ),Lục An Châu (Yên Bái) đều có lực lợng vũ trang từ căn cứ địa Việt Bắc sangphối hợp hoạt động, dìu dắt lực lợng vũ trang địa phơng ở hai tỉnh thêm lớnmạnh

Chiến khu Hiền Lơng thuộc huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ ở đây, phongtrào Việt Minh đợc gây dựng sớm (1941 – 1943) do đồng chí Hoàng QuốcViệt, sau đó là đồng chí Trần Quang Bình xây dựng Tại đây, đã thành lập đợc

đội du kích Âu Cơ lấy trung tâm hoạt động tại Đồng Yến và đợc nhân dân hếtlòng giúp đỡ Tuy nhiên, hoạt động của lực lợng vũ trang Âu Cơ không quamắt đợc bọn Nhật, chúng phái một đội quân đến càn quét chiến khu Cuộcchạm trán giữa nghĩa quân và quân Nhật diễn ra chớp nhoáng tại Đèo Giang.Sau trận này, ta thu đợc một số vũ khí và đạn dợc Đội du kích Âu Cơ pháttriển lên đến 60, 70 ngời, trong đó có cả phụ nữ

Trung tuần tháng 6/1945, đội du kích chuyển sang Vần – một thôncách Đồng Yến 4 km, tiếp giáp với chiến khu Hiền Lơng (Phú Thọ) "Đây làmột vị trí hiểm trở, có ba dãy núi lớn cao từ 200 – 300m làm hàng rào chechở, rất lợi về quân sự Nơi đây còn có tới sáu đờng giao thông toả đi các nẻoNghĩa Lộ, Phú Yên, đờng số 13, Hạ Hoà (Phú Thọ), Sơn La, thị xã Yên Bái, rasông Hồng" [7;347] Nhân dân lại có tinh thần cách mạng, tích cực ủng hộlực lợng vũ trang, sẵn sàng góp đủ gạo nuôi quân

Tại chiến khu Vần, khi thấy Việt Minh phá kho thóc Vân Hội chia chodân nghèo, bọn Nhật đã sai bọn tay sai là tuần phủ, tri phủ đa quân đến chốnglại Việt Minh Ngày 5/6/1945, cuộc tấn công của gần 90 tên lính tay sai Nhật

bị lực lợng vũ trang chiến khu chặn đánh ở Bãi Gia và Dốc Quéo Căn cứ địa

đợc bảo vệ, lực lợng vũ trang trong căn cứ có điều kiện đẩy mạnh hoạt động

Đến đầu tháng 7/1945, một toán quân Nhật đang trên đờng rút về Vần thì rơivào trận địa phục kích của ta, ba tên Nhật bị giết Lực lợng quân du kích đợc

bổ sung lên đến 500 ngời gồm thanh niên địa phơng, có cả bảo an, lính dõng.Lớp đào tạo cán bộ trong 15 ngày cũng đợc tổ chức đã đào tạo đợc nhiều cán

bộ cho địa phơng

Trang 33

Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, lực lợng vũ trang Vần – Hiền Lơng đợcchia làm hai đội:

Đội thứ nhất gồm hai bộ phận: Một bộ phận do đồng chí Trần QuangBình chỉ huy tiến đến xuống Phú Thọ, chuẩn bị giành chính quyền ở Phú Thọ.Một bộ phận tiến xuống Sơn La, diệt đồn Vàng để giải phóng châu lị

Đội quân thứ hai do đồng chí Trần Đức Sắc chỉ huy ra Bản Hẻo, tuyểnthêm 100 quân, luyện tập, chuẩn bị phối hợp đánh Nhật trong Tổng khởinghĩa

Đến tháng 8/1945, chiến khu Vần – Hiền Lơng đã giải phóng mộtphần lớn đất đai thuộc ba tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La, sẵn sàng cùng cả n-

ớc bớc vào tổng khởi nghĩa

2.2.4 Chiến khu Quang Trung (Chiến khu Hoà - Ninh - Thanh, Đệ tam chiến khu).

Chiến khu Quang Trung đợc xây dựng trên địa bàn ba tỉnh: Hoà Bình,Ninh Bình, Thanh Hoá Trong đó, Hoà Bình là một tỉnh miền núi rộng lớn nằm

ở Nam Bắc Bộ Ninh Bình là một tỉnh nửa miền núi, nửa đồng bằng cũngthuộc nam Bắc Bộ, sát phía Tây - Nam tỉnh Hoà Bình Thanh Hoá là một tỉnhrộng lớn, đông dân c, địa hình gồm cả rừng núi, trung du và đồng bằng lại có

bờ biển, nằm ở Bắc Trung Bộ, giáp liền phía Nam hai tỉnh Hoà Bình và NinhBình, tạo thành một dải từ miền núi đến ven biển

Dới ách đô hộ của thực dân Pháp cùng với chính sách “chia để trị”đãlàm cho giữa ba tỉnh thêm có sự khác biệt sâu sắc ở Hoà Bình, chế độ lang

đạo vẫn đợc duy trì phổ biến ở Ninh Bình và Thanh Hoá, đồng bào ngời Kinhchiếm đa số, bộ máy chính quyền thực dân trực tiếp nắm tới tận các làng xã.Hoà Bình và Ninh Bình thuộc xứ “nửa Bảo hộ”Bắc Kỳ, khác với Thanh Hoáthuộc xứ “Bảo hộ”Trung Kỳ Mỗi nơi khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội,

có hệ thống chính quyền riêng, giấy tờ đi lại riêng Tuy nhiên, trong thực tế

đấu tranh cách mạng ba tỉnh đã hợp nhất thành một căn cứ cách mạng quantrọng trong cuộc vận động Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Có thể thấy rằng, địa hình của ba tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoáhết sức phong phú, đa dạng: có đồng bằng, rừng núi, trung du lại có bờ biển vàcác trục giao thông nhỏ thuận tiện Đặc biệt, sự xen kẽ các đồng bằng giữa núitạo nên địa hình thuận lợi cho lực lợng vũ trang hoạt động, luyện tập và tácchiến

Trang 34

Về mặt địa lý, từ địa bàn này về phía Đông và Đông Bắc có thể tiến racác tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội Phía Tây có thể tiến sangLào Phía Nam có thể qua Nghệ An, Hà Tĩnh để tiến sâu xuống các tỉnh Nam

Bộ và Trung Bộ Phía Bắc và Tây Bắc có thể tiến lên vùng rừng núi Tây Bắc vàViệt Bắc

Nhân dân ở đây gồm cả ngời Kinh và các dân tộc ít ngời, nhng từ quầnchúng nhân dân lao khổ cho đến những ngời thuộc tầng lớp trên, ít nhiều đều

có mâu thuẫn với chính quyền thực dân Do đó, với đờng lối cách mạng giảiphóng dân tộc, chính sách cứu nớc đúng đắn của Đảng có thể đi sâu vào tuyêntruyền, vận động và giác ngộ quần chúng đứng lên đấu tranh, sẵn sàng nổi dậycớp chính quyền khi thời cơ tới

Nh vậy, việc chọn Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá để thành lập chiếnkhu là điều cần thiết và hoàn toàn có cơ sở Một mặt, tạo nên một căn cứ địacách mạng vững chắc cho các tỉnh nam Bắc Bộ, mặt khác còn tạo nên một địabàn chiến lợc, cơ động cho cách mạng cả nớc [10;10] và [16;142]

* Xây dựng chiến khu:

Chiến khu Quang Trung về cơ bản là sự hợp nhất của ba chiến khu nhỏ:Mờng Khói (Hoà Bình), Quỳnh Lu (Ninh Bình) và Ngọc Trạo (Thanh Hoá)

Tại Thanh Hoá, trong cuộc khủng bố của chính quyền thực dân vàocuối 1939, phong trào cách mạng tại đây gặp rất nhiều tổn thất Nhiều cán bộ,

đảng viên bị bắt, tổ chức tỉnh uỷ bị vỡ Đến giữa năm 1940, phong trào mớichắp nối lại đợc với nhau, Mặt trận phản đế cứu quốc và lực lợng tự vệ phản

đế cứu quốc tiếp tục phát triển mạnh mẽ Đến tháng 2/1941, Hội nghị đại biểu

Đảng bộ Thanh Hoá đợc triệu tập tại làng Phong Cốc (phủ Thiệu Hoá) đãquyết định thành lập Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh do đồng chí Trần Hoạt làm

bí th Hội nghị còn chủ trơng “xây dựng và mở rộng vành đai căn cứ cáchmạng ở vùng trung du và rừng núi, từ Đông Bắc tỉnh vòng xuống Tây Namtỉnh, tiến tới xây dựng chiến khu để chuẩn bị về mặt quân sự cho cuộc khởinghĩa sau này”[10;12] Sau đó, tại Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng tháng 6/1941,tiếp tục bàn về vấn đề xây dựng chiến khu đã quyết định xây dựng vành đaicăn cứ cách mạng liên hoàn gồm: vùng căn cứ Đông Bắc thuộc Vĩnh Lộc,Thạch Thành, Hà Trung, vùng căn cứ giữa thuộc Thiệu Hoá, Yên Định, ThọXuân và vùng căn cứ Tây Nam thuộc Nông Cống, Nh Xuân

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w