Có thể giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về các phương pháp dạy học tích cực PPDHTC, việc vận dụng còn nặng về thành tích, mang tính chất hình thức, chủ yếu vận dụng trong các giờ thao g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Thị Ánh Tuyết
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN,
LU ẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Thị Ánh Tuyết
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN,
Trang 3Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu cúa quý thầy/cô, giá đình, bạn bè và anh/chị đồng nghiệp
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Danh, người hường dẫn khoa học đã tận tâm giúp đỡ, chỉ dẫn và động viên tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy/ cô, anh/chị công tác ở các Khoa, Phòng, Ban trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trân trọng cảm ơn các thầy/cô là chuyên viên phòng giáo dục, Cán bộ quản lý, giáo viên các trường Mầm non ở quận Bình Tân đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện khảo sát, xin ý kiến
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, song chắn chắn rằng luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thấy cô, anh chị em đồng nghiệp và các bạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các
thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết quả
nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 5Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH C ỰC TRONG DẠY HỌC Ở BẬC HỌC MẦM NON 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên Thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.2 Một số khái niệm liên quan đến việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực cho trẻ 5 – 6 tuổi 8
1.2.1 Dạy học 8
1.2.2 Tính tích cực học tập 10
1.2.3 Dạy học tích cực 10
1.2.4 Phương pháp dạy học tích cực 11
1.3 Phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục Mầm non 12
1.3.1 Xu thế đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay 13
1.3.2 Các cơ sở đổi mới phương pháp dạy học 14
1.3.3 Định hướng đổi mới Phương pháp dạy học ở bậc học mầm non 15
1.3.4 Bản chất của dạy học tích cực 17
1.3.5 Đặc điểm của dạy học tích cực 18
1.3.6 Các phương pháp dạy học tích cực ở bậc mầm non 20
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong trường mầm non 28
1.4.1 Mục tiêu dạy học ở bậc Mầm non 28
1.4.2 Tính chất nội dung dạy học ở bậc Mầm non 29
1.4.3 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non 31
Trang 61.4.6 Công tác quản lý 35
Ti ểu kết chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH C ỰC VÀO HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI MỘT S Ố TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục quận Bình Tân 36
2.1.1 Những thành tựu đạt được 36
2.1.2 Những hạn chế 37
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 38
2.2.1 Mục đích khảo sát 38
2.2.2 Nội dung khảo sát 38
2.2.3 Đối tượng khảo sát 39
2.2.4 Tiến trình khảo sát 39
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng vận dụng các PPDHTC vào hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường Mầm non quận Bình Tân 40
2.3.1 Thực trạng cơ sở vật chất của một số trường mầm non quận Bình Tân 40
2.3.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý về các phương pháp dạy học tích cực 42
2.3.3 Thực trạng việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực 49
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các PPDHTC 56
Ti ểu kết chương 2 59
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO TR Ẻ 5 – 6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 62
3.1 Cơ sở đề xuất 62
3.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 63
Trang 73.3.1 Biện pháp 1: 64
3.3.2 Biện pháp 2: 64
3.3.3 Biện pháp 3: 65
3.4 Nhóm biện pháp nâng cao kỹ năng vận dụng các PPDHTC 66
3.4.1 Biện pháp 1: 66
3.4.2 Biện pháp 2: 66
3.5 Nhóm biện pháp hỗ trợ trong việc vận dụng các PPDHTC 67
3.5.1 Biện pháp 1: 67
3.5.2 Biện pháp 2: 68
3.6 Biện pháp thay đổi quan niệm của phụ huynh về dạy học 68
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 74
Trang 8Thỉnh thoảng Thường xuyên
Trang 9Bảng 2.1: Cơ cấu trình độ và thâm niên công tác của mẫu nghiên cứu 42
Bảng 2.2: Tầm quan trọng của các PPDHTC 43
Bảng 2.3: Mục đích của giáo viên khi vận dụng các PPDHTC trong dạy học ở trường Mầm non 44
Bảng 2.4: Mức độ thường xuyên của việc được tập huấn các PPDHTC 46
Bảng 2.5 Các biện pháp cán bộ quản lý khuyến khích giáo viên vận dụng các PPDHTC 47
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng các PPDHTC trong hoạt động dạy 49
Bảng 2.7: Mức độ vận dụng các PPDHTC vào các hoạt động 52
Bảng 2.8: Cách thức các giáo viên vận dụng các PPDH tích cực 53
Trang 10M Ở ĐẦU
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hàng loạt tri
thức mới ra đời và nhanh chóng thay thế tri thức cũ Điều này làm cho quá trình “lão hóa” thông tin diễn ra liên tục Thực tế đó đòi hỏi nhà trường phải liên tục cập nhật
những nội dung và phương pháp vào quá trình đào tạo để có thể tạo ra những con người năng động, tự chủ, sáng tạo, có khả năng thích nghi cao, có thể tự khẳng định mình trong công việc, tự tìm kiếm tri thức mới để có thể không ngừng phát triển năng
lực bản thân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Điều này đặt ra yêu cầu cho giáo dục là không những trang bị cho người học tri
thức hiện đại mà còn phải dạy cho họ cách tìm kiếm tri thức, cách làm mới tri thức chứ không phải học thuộc lòng các kiến thức giáo viên chuyển giao Luật giáo dục nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2005 (điều 5 khoản 2) quy định:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Có nghĩa là nhà trường cần phải đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để thông qua quá trình đào
tạo hình thành khả năng tự học cho học sinh chứ không chỉ quan tâm tới nội dung giáo
dục Bởi vì giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã
hội của thế hệ trước cho thế hệ sau mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực tư duy, thích ứng được với một xã hội học
tập thường xuyên, học tập suốt đời
Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực không chỉ cần thiết đối với bậc
học phổ thông mà còn hết sức cần thiết đối với bậc học đầu tiên đó là bậc học mầm non Vì đây là giai đoạn vàng để tạo bệ phóng thuận lợi cho sự phát triển mọi mặt và thành công của trẻ sau này Đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), là lứa tuổi
cần được chuẩn bị tốt những kỹ năng học cần thiết để chuẩn bị bước vào lớp 1, bước vào bậc học phổ thông Điều này đòi hỏi giáo viên mầm non cũng phải biết ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách khoa học Trên thực tế, giáo dục Mầm non
Việt Nam đã và đang thực hiện đổi mới từ nội dung đến phương pháp từ nhiều năm
Trang 11nay, từ chương trình cải cách sang chương trình đổi mới và đến chương trình mới Phương pháp dạy học tích cực được nhắc đến nhiều trong các hội nghị, hội thảo, chuyên đề về giáo dục Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực tuy có đạt được một số kết quả khả quan, nhưng việc này vẫn còn một số hạn chế mang tính khách quan và chủ quan Có thể giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về các phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC), việc vận dụng còn nặng về thành tích, mang tính
chất hình thức, chủ yếu vận dụng trong các giờ thao giảng, thi giáo viên giỏi… Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích
cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Giáo dục học
của mình
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khảo sát thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình tổ
chức hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận
dụng các phương pháp dạy học tích cực tại các trường Mầm non này
3 KHÁCH TH Ể VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
4 GI Ả THUYẾT KHOA HỌC
Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả nhất định như có nhiều giáo viên hưởng ứng và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt hơn Tuy nhiên việc vận dụng còn thiếu tính hệ thống, đồng bộ
do một bộ phận giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về các PPDHTC và trang thiết bị, đồ dùng dạy học cần thiết vận dụng các PPDHTC còn hạn chế Thực trạng vận dụng các PPDHTC trong hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non Quận
Trang 12Bình Tân được khảo sát đầy đủ, chính xác thì người nghiên cứu sẽ có cơ sở đề xuất các biên pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng các PPDHTC cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non này
5 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi
- Khảo sát thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động
dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non quận Bình Tân,Thành phố
Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng các phương pháp
dạy học tích cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường
mầm non: Phong Lan, Cầm Tú, 19/5, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
6 GI ỚI HẠN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động dạy làm quen với biểu tượng toán và khám phá khoa học cho
trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường Mầm non: Phong Lan, Cẩm Tú, 19/5 quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
7.2 Nhóm p hương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Chúng tôi tiến hành dự giờ để quan sát hoạt động dạy
học làm quen với biểu tượng toán và khám phá khoa học của giáo viên và trẻ lớp 5-6
tuổi tại các trường Mầm non Phong Lan, Hương Sen, 19/5 nhằm khảo sát thực trạng
vận dụng các PPDHTC của giáo viên trong các hoạt động này Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến hành quan sát cơ sở vất chất, đồ dùng, trang thiết bị dạy học để phục vụ cho
việc vận dụng các PPDHTC cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường Mầm non Phong Lan, Cẩm
Tú, 19/5, Hoa Hồng Nhỏ, Hương Sen, Hoa Cúc, Hoàng Anh
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Nhằm thu thập thông tin về vận dụng các PPDHTC vào hoạt động dạy học cho trẻ 5-6 tuổi, chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra
Trang 13dành cho giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường mầm non thuộc quận Bình Tân, chúng tôi có các nhóm câu hỏi sau:
+ Nhận thức của giáo viên và CBQL về các PPDHTC
+ Thực trạng vận dụng các PPDHTC
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các PPDHTC
+ Những thuận lợi, khó khăn, và kinh nghiệm trong khắc phục các khó khăn khi
vận dụng các PPDHTC
+ Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả vận dụng các PPDHTC
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm tìm hiểu sâu hơn về các vần đề liên quan đến
thực trạng vận dụng các PPDHTC cho trẻ 5-6 tuổi, chúng tôi tiến hành phỏng vấn các cán bộ quản lý là hiệu trưởng, hiệu phó; các giáo viên lớp 5-6 tuổi tại các trường Mầm non 19/5, Hương Sen, Phong Lan, Cẩm Tú, Hoa Hồng Nhỏ
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các số liệu thu thập được (tính tỉ lệ phần trăm và điểm trung bình)
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên c ứu trên Thế giới
Từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được quan tâm
Khổng Tử khi dạy học ông thường nêu ra những câu hỏi gợi mở để giúp học sinh nắm
bắt được đầu mối của vấn đề, từ đó kích thích sự ham hiểu biết đến cao độ, khi đó mới
giảng dạy [39] Xocrat có phương pháp Ơcristic , là phương pháp giải quyết vấn đề
dựa vào tri thức kinh nghiệm hơn là lập luận duy lý [18]
Đến thế kỉ XVII, nhà Sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A Komenxky viết
“Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực của người học và cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”[28]
Với J Rutxo “Giáo dục không được áp đặt, người thầy phải đáp ứng mọi yêu
cầu, mong muốn của trẻ” [1]
Montaigne người chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục “học qua hành” Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, kiến hiệu nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều,
thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt Trái lại chủ yếu là yêu cầu trò hoạt động, vận
dụng khả năng xét đoán của mình”
Theo K Barry và King (1993), đặt cơ sở cho lấy học sinh làm trung tâm là những công trình của J Dewey và C Raugio Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, đề xuất việc để người học lựa chọn nội dung học, tự lực tìm tòi, nghiên cứu [18]
R.C Sharma (1988) viết “Trong phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, toàn bộ quá trình học đều hướng vào nhu cầu, khả năng lợi ích của học sinh Mục đích là phát triển ở học sinh kỹ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề Không khí trong lớp linh hoạt và cởi mở về mặt tâm lý Học sinh và giáo viên cùng
Trang 15nhau khảo sát các khía cạnh của vấn đề hơn là giáo viên trao cho học sinh giải pháp
của vấn đề Vai trò của giáo viên là tạo ra những tình huống để phát triển vấn đề, thu
thập các tư liệu, số liệu học sinh có thể sử dụng được, giúp học sinh nhận biết vấn đề,
lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận” [18]
Với R R Singh, “ Giáo viên không chỉ là người truyền thụ những tri thức riêng
rẽ Giáo viên giúp cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh vực học ngày càng rộng lớn hơn Giáo viên đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người làm
mẫu cho học sinh Giáo viên không phải là một chuyên gia ngành hẹp mà là một cán
bộ tri thức, là người học hỏi suốt đời Trong việc thực hiện quá trình dạy học, người
dạy và người học là những người bạn cùng nhau tìm tòi khám phá”[18]
S Ra Zech viết: “ Với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình học tập
tự lực, với sự đề cao trí sáng tạo ở người học thì sẽ khó duy trì mối quan hệ đơn phương và độc đoán giữa thầy và trò Quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự
thụ động và dốt nát của học sinh mà là dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào
sự phát triển tột đỉnh của học sinh thông qua sự tham gia tích cực của các em…Một giáo viên sáng tạo là người biết giúp đỡ học sinh tiến bộ nhanh chóng trên con đường
tự học Giáo viên phải là người hướng dẫn,người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công
cụ truyền đạt tri thức [18]
Thế kỉ XX, J Piaget (1963) viết “ Trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển
nhận thức của mình thông qua sự tương tác qua lại tích cực với cả môi trường tự nhiên
và môi trường xã hội Chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ
và sự giao tiếp tích cực của trẻ, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống và các
vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi” [15] Ông còn cho rằng giáo dục,
đó là làm cho con người thích nghi với môi trường xung quanh Những phương pháp
mới tìm cách tạo sự thuận lợi cho việc thích nghi đó bằng cách tính đến những khuynh hướng riêng của trẻ em, cũng như sự hoạt động chủ động tích cực của trẻ gắn liền với
sự phát triển trí tuệ
Theo Vygotsky (1956), dạy học không phải là sự tác động một chiều từ người
dạy đến người học mà là quá trình hợp tác thực sự giữa người dạy và người học [22]
Trang 16Những nghiên cứu trên đã làm ảnh hưởng nhiều trong việc thay đổi quan niệm về
dạy học của các nhà giáo dục trên Thế giới Quan niệm truyền thống về dạy học lấy người thầy làm trung tâm không còn phù hợp nữa Phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều từ thầy sang trò được thay bằng phương pháp dạy học tích cực
lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tích tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Đặc biệt là với lứa tuổi mầm non, nhiều mô hình dạy học lấy trẻ làm trung tâm, áp
dụng các phương pháp dạy học tích cực ra đời như Montessory, High Scope, Regio Emilia, Dạy học dựa trên dự án… Các mô hình này ngày càng được lan rộng trên thế
giới, mỗi mô hình có những nét riêng, có những ưu, nhược điểm riêng nhưng đều có
một nét chung đó là đều áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và mang tính tích
hợp
1.1.2 Các nghiên c ứu trong nước
Ở nước ta PPDHTC đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Bảo (1997) cho rằng “hoạt động học không phải bằng sự tiếp nhận
những kết quả có sẵn mà người giáo viên truyền đạt cho mà bằng sự tích cực, tự lập
nhận thức và sự sáng tạo của cá nhân Người học là chủ thể nhận thức, tự mình làm ra
sản phẩm giáo dục, chứ không phải người nào khác [2]
Đặng Vũ Hoạt (1998) viết “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò Quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học” [19]
Nguyễn Cảnh Toàn (2001) đã đề cập đến phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong tác phẩm “Quá trình dạy tự học”[27]
Phạm Quang Huân (2007), đã nêu lên thực trạng đổi mới phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh ở các trường phổ thông
và chất lượng đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học qua đó, đề xuất những giải pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao chất lượng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông [3]
Một số đề tài luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ cũng nghiên cứu về các PPDHTC như: Luận án của Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài “Khảo sát thực tiễn đổi mới phương pháp giảng dạy của các giáo viên trong trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM”
Trang 17Trong đề tài này bà đã đề nghị các biện pháp giúp đỡ giáo viên ở các khoa áp dụng các
biện pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên “Thực trạng các
biện pháp quản lý việc dạy học tích cực ở các trường THPT tại quận 11, Tp HCM”
của Nguyễn Thị Tân Lương Đỗ Huy Sơn với đề tài “Vận dụng một số PPDHTC vào
giờ đọc hiểu tác phẩm Đây thôn Vỹ Dạ (Hàn Mạc Tử), Vội Vàng (Xuân Diệu) ở trường THPT”…
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã làm nổi bật bản chất của dạy
học tích cực, tính độc lập nhận thức của học sinh, gia tăng sự tương tác đa chiều trong
hoạt động dạy học, khảo sát và đánh giá thực trạng sử dụng PPDHTC ở một số trường
học Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng vận dụng phương pháp
dạy học tích cực vào tổ chức hoạt động dạy cho trẻ 5-6 tuổi Chính vì thế người nghiên
cứu cho rằng đây là một đề tài có tính thực tiễn để nghiên cứu
1.2 M ột số khái niệm liên quan đến việc vận dụng các phương pháp dạy học tích
c ực cho trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.1 D ạy học
Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy học
Dạy học là sự tác động vào các giác quan và trí nhớ của người học: cung cấp sự
kiện, hình ảnh, tri thức để người học có cảm giác, hình thành các hình ảnh, tạo ra các kích thích để người học xác nhận các mối liên tưởng, giúp người học ôn luyện, củng
cố, khôi phục các mối liên tưởng [22]
Dạy học là quá trình trong đó người dạy truyền thụ tri thức khoa học cho người
học
Dạy học là một quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức và phương pháp hoạt động nhận thức [22]
Dạy học là sự tác động có định hướng và có hệ thống lên người được dạy học
nhằm truyền lại cho người học kiến thức, kỹ năng kỹ xảo nhất định [21]
Các quan niệm trên là phiến diện vì chưa đưa ra được vai trò chủ động, tích cực
của người học
Nhận ra những khuyết điểm của các quan niệm ấy, nhiều quan niệm về dạy học khác tiến bộ hơn đã ra đời
Trang 18Theo Vưgotxky, dạy học không phải là sự tác động một chiều từ người dạy đến người học mà là quá trình hợp tác thực sự của người dạy và người học, trong đó người
dạy tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo, kích thích, khuyến khích hoạt động của người học
Dạy học cũng không có nghĩa là để người học tự khám phá tri thức cho chính họ mà là
tổ chức để mọi thành viên có thể tham gia tích cực vào hoạt động, người học khám phá
với sự giúp đỡ trong quá trình hoạt động hợp tác [36]
Theo cách hiểu của Trương Thị Xuân Huệ thì dạy học là quá trình có định hướng
nhằm tổ chức hoạt động của học sinh để họ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tay nghề, tiếp thu kinh nghiệm hoạt động, phát triển năng lực, nắm bắt kinh nghiệm ứng
dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày và hình thành ở họ động cơ tiếp nhận giáo
hiện đại là triết lý giáo dục hướng vào người học Từ đó họat động dạy học được hiểu
là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất biện chứng giữa hoạt động chủ đạo của người dạy và hoạt động chủ động của người học nhằm thực hiện mục tiêu dạy học
Bản chất của hoạt động dạy học là hoạt động nhận thức độc đáo của người học dưới sự
tổ chức, hướng dẫn sư phạm của giáo viên [22]
Hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của trẻ, cả hai hoạt động này đều
diễn ra trong quá trình dạy học và có sự đan xen với nhau, nhằm đạt được mục đích giáo dục, hoạt động học của trẻ chỉ có hiệu quả khi trẻ tích cực, chủ động, tự nguyện,
tự giác tham gia vào quá trình học Muốn được như vậy, trước hết trẻ phải hứng thú,
có mong muốn được học, được tham gia vào hoạt động tìm hiểu, khám phá, lắng nghe hay thực hành… Giáo viên là người hướng dẫn trẻ cách học sao cho có hiệu quả Ở đây, giáo viên không còn là người thuyết giảng, giảng giải, giải thích nội dung kiến
thức mà là người tổ chức các hoạt động khác nhau cho trẻ: quan sát, chơi, thực hành,
Trang 19làm thí nghiệm; trao đổi, chia sẻ với cô và bạn; biểu đạt những hiểu biết của mình
bằng các cách khác nhau…
Qua các quan niệm hiện đại về dạy học tôi cho rằng dạy học là hoạt động tương tác, biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động tích cực chủ động của
học sinh Trong đó hoạt động dạy của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, hoạt động học
của học sinh đóng vai trò chủ động Hai hoạt động này đều nhằm thực hiện mục tiêu
Tính tích cực học tập làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp
nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực trước hết liên quan đến động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với tư duy độc lập Suy nghĩ,
tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập độc lập, tích cực sáng
tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dưỡng động cơ học tập [3]
1.2.3 D ạy học tích cực
Dạy học tích cực chính là dạy học phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Nói cách khác là dạy học lấy người học làm trung tâm
Trong dạy học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức định hướng của giáo viên,
người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm
giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo
Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, có kỹ năng sư
phạm, đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học mới thành công
Trang 20của giáo viên nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
PPDHTC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học
Trong PPDHTC R.R Singh (1988) nói “giáo viên không chỉ là người truyền thụ
những tri thức riêng rẽ Giáo viên giúp cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh vực học tập ngày càng rộng lớn hơn Giáo viên đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người làm mẫu cho học sinh Giáo viên không phải là một chuyên gia ngành hẹp mà là một cán bộ trí thức, là người học hỏi suốt đời Trong việc thực hiện quá trình dạy học, người dạy và người học là những người bạn cùng nhau tìm tòi khám phá” [18]
R.C.Sharma (1998) viết: “Trong PPDHTC, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng lợi ích của học sinh, mục đích là phát triển ở học sinh kỹ năng
và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề Vai trò của giáo viên là tạo ra tình huống để phát triển vần đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận [18]
Theo Phan Thị Thu Hiền (2007), PPDHTC nhằm mục đích đảm bảo rằng trẻ không thụ động tiếp nhận kiến thức đã được giáo viên đóng gói sẵn mà đóng một vai trò tích cực trong việc kiến tạo tri thức cho chính mình Bà cũng cho rằng dạy học lấy
trẻ làm trung tâm, dạy học tích cực, dạy học tích hợp không phải là những khái niệm
giống nhau nhưng tương thích, gắn liền và hỗ trợ lẫn nhau Dạy học lấy trẻ làm trung tâm có nghĩa là cần sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để tạo điều kiện cho trẻ
chủ động, tích cực sáng tạo của trẻ trong quá trình lĩnh hội kiến thức Sử dụng các
Trang 21PPDHTC cần dựa trên nhu cầu hứng thú, kinh nghiệm và khả năng nhận thức của trẻ [14]
Theo Trần Thị Hương (2012), PPDHTC là cách thức tiến hành các phương pháp, phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm
của các phương pháp dạy học truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phương pháp
dạy học mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học [22]
Nguyễn Thị Cẩm Bích (2013) viết “Phương pháp dạy học tích cực chính là việc
sử dụng và phối hợp một cách khéo léo, hợp lý các phương pháp dạy học khác nhau
nhằm phát huy tối đa các hoạt động tích cực nhận thức và hợp tác của người học”[36] Tuy chưa có sự thống nhất về khái niệm PPDHTC nhưng từ quan điểm của các tác giả trên có thể hiểu PPDHTC có những yếu tố sau:
Phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đai sao cho:
Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của trẻ trong quá trình lĩnh hội tri thức
Dựa trên nhu cầu, kinh nghiệm, khả năng và hứng thú của trẻ
Giáo viên giữ vai trò chủ đạo, trẻ giữ vai trò chủ động
Hình thành cho trẻ năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề
1.3 Phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục Mầm non
PPDHTC là thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ PPDH nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của người học
PPDHTC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Cũng như các bậc học khác, phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà là sử dụng hợp lý và
có hiệu quả các phương pháp dạy học truyền thống như: phương pháp trực quan (quan sát, xem tranh, ảnh, tham quan, xem phim hay băng hình ); sử dụng các giác quan vào khám phá sự vật hiện tượng (sờ mó, ngửi, nếm, nghe ); phương pháp dùng lời (
kể chuyện, đàm thoại, trò chuyện, giải thích, nêu vấn đề, thảo luận, đặt câu hỏi, thuyết trình ); phương pháp thực hành, (dùng tình cảm, chơi trò chơi, làm bài tập, thí
Trang 22nghiệm, thực nghiệm, thực hành trải nghiệm, làm theo mẫu ) Mỗi phương pháp đều
có những ưu việt riêng và chúng đều có khả năng:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ
- Tạo mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ với trẻ, trẻ với giáo viên
- Tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi, khám phá, trải nghiệm, phát triển tư duy sáng tạo
- Khuyến khích trẻ tích cực hoạt động cá nhân và hoạt động trong nhóm/lớp
- Rèn luyện phương pháp tự học, tự đánh giá, tự điều chỉnh bản thân
Như vậy, phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non không phải là
một phương pháp hoàn toàn mới, mà chính là sự kế thừa và phát huy tối đa những ưu
việt và khả năng có sẵn của các phương pháp truyền thống, đồng thời phối hợp các phương pháp đó trong quá trình tổ chức các hoạt động của trẻ một cách hợp lý, nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ
PPDHTC không phải là sự phủ nhận các PPDH truyền thống PPDHTC chính là
việc sử dụng và phối hợp một cách khéo léo, hợp lý các PPDH khác nhau nhằm phát huy tối đa hoạt động tích cực nhận thức và sự hợp tác của người học Trong đó người
dạy là người tổ chức, định hướng, tạo điều kiện; người học là người thực hiện
1.3.1 Xu th ế đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển Chính vì vậy từ
những nước phát triển đến những nước đang phát triển đều nhận thức được vai trò và
vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu phát triển của chính mỗi quốc gia và hòa nhập với thế giới Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo
dục
Quá trình giáo dục gồm các thành tố có liên hệ mang tính hệ thống với nhau bao
gồm mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học, phương tiện giáo dục, tiêu chí đánh giá…Trong đó phương pháp dạy học là một khâu quan trọng của quá trình đó Phương pháp dạy học phù hợp sẽ nâng cao được hiệu quả
Trang 23của việc dạy và học cũng như phát huy được khả năng tư duy sáng tạo của người học
Do đó đổi mới giáo dục trước hết là đổi mới phương pháp dạy học
1.3.2 Các cơ sở đổi mới phương pháp dạy học
1.3.2.1 Cơ sở pháp lý
Trong những năm vừa qua, định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo xác định trong nghị quyết Trung ương khóa VII (1/1993): “Phải khuyến khích tự học”, “áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (12/1996) tiếp tục khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Nghị quyết số 40 năm 2000 của quốc hội đã khẳng định phải đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ Đổi mới phương pháp dạy học cũng đã được thể chế hóa trong luật giáo dục 2005 cũng như đã được thể chế hóa trong các chỉ
thị của Bộ Giáo dục và đào tạo
Điều 5 luật giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[40]
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 cũng nêu “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [37]
1.3.2.2 Cơ sở kinh tế - xã hội:
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thích ứng với cơ chế thị trường, chuẩn bị cho cuộc sống và có việc làm ngày càng tốt hơn, người học phải có
sự chuyển biến mạnh mẽ về mục đích, động cơ, thái độ học tập Người học sẽ ý thức được rằng học tập tốt trong nhà trường là hứa hẹn một tương lai tốt đẹp, sự thành đạt trong cuộc đời Với một đối tượng như vậy đòi hỏi nhà trường phải có sự chuyển biến tích cực, sự đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Mặt khác, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có những con người lao động có chất
Trang 24lượng cao, năng động sáng tạo, có đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực
tiễn phát triển của đất nước Vì vậy, có thể nói đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước
1.3.2.3 Cơ sở tâm lý – giáo dục
Việc học tập chỉ có kết quả khi người học tự xác định động cơ học tập đúng đắn, phát huy nội lực để tự phát triển chính mình Nếu không có động cơ học tập và phát huy yếu tố cá nhân thì không thể có được kết quả học tập thành công Nếu trong quá trình học tập, người học không tích cực suy nghĩ, tìm tòi, không có sự nổ lực cao để tự chiếm lĩnh nền tri thức nhân loại thì chỉ có thể tiếp thu hoặc chỉ học kiểu “học vẹt” mà không hiểu bản chất của tri thức đó
Trẻ lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát triển mạnh mẽ cả về thể chất, trí tuệ và cảm xúc Trẻ tương tác tích cực với những gì diễn ra xung quanh chúng Bản chất của việc
học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về
những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt
những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè Trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy và sáng tạo Trẻ tiếp thu kiến thức và hình thành các kỹ năng qua chơi, qua trải nghiệm Trẻ phát triển các khái niệm qua nhiều trải nghiệm phối hợp các giác quan Chơi là hoạt động chủ đạo, và là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển Chính vì
vậy, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau
để khuyến khích trẻ học qua chơi, khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau Đặc điểm tâm lý lứa tuổi này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời đặt
ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đặc điểm phát triển của
trẻ
1.3.3 Định hướng đổi mới Phương pháp dạy học ở bậc học mầm non
Nghị quyết trung ương II Đại hội Đảng lần thứ VIII đã định hướng cho mục tiêu phát triển giáo dục Mầm non đến năm 2020 là: Xây dựng bậc học Mầm non hoàn
chỉnh cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi, phổ biến rộng rãi kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình Đây là một mục tiêu rất lớn lao có sức cổ vũ mạnh mẽ đối với ngành
Mầm non [5]
Trang 25Nghị quyết này cũng đã nêu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách”[42]
Từ năm 1998, nhận thấy chương trình giáo dục Mầm non cũ (chương trình cải cách) không còn đạt được hiệu quả như mong muốn, chúng ta bắt đầu thử nghiệm đổi
mới giáo dục mầm non với mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả Điểm khiếm khuyết ở cách dạy học trước đó là làm cho trẻ thụ động, tư duy rập khuôn, máy móc, trong khi tính sáng tạo và năng động lại rất quan trọng trong cuộc sống và công việc trong thời kỳ đổi mới kinh tế và hội nhập như hiện nay Chương trình đổi mới chú
trọng đặc biệt tới phát triển tính năng động, tích cực, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
ở trẻ Để đạt được mục đích đã đề ra, chúng ta phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấy trẻ làm trung tâm trong dạy học
Năm 2009, Bộ giáo dục bàn hành chương trình khung cho bậc học Mầm non, trong chương trình khung, phần yêu cầu về phương pháp giáo dục mầm non đối với trẻ
mẫu giáo, “phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu,
hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới
tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá,
thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ Kết hợp hài hòa
giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn, với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng
trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá
Trang 26nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của
từng trẻ, và với điều kiện thực tế”[7]
Để đạt được mục tiêu dạy học đòi hỏi phải có sự nổ lực phấn đấu vượt bậc của toàn thể cán bộ, giáo viên trong ngành Giáo viên cần quan tâm đến quá trình học tập, vui chơi, lấy trẻ làm trung tâm Điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp đồng thời cũng đòi hỏi phải có sự đầu tư, quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các lực lượng xã hội đối với sự nghiệp giáo dục Mầm non
1.3.4 B ản chất của dạy học tích cực
B ản chất của dạy học tích cực được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Lấy trẻ làm trung tâm; chuyển trọng tâm từ hoạt động dạy của giáo viên sang
hoạt động tìm tòi, khám phá, trải nghiệm của trẻ
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của trẻ và giáo viên
Phát huy tính năng động, khả năng thích ứng với môi trường; tạo cơ hội phát triển các kỹ năng giao tiếp của trẻ
Kế thừa, phát triển kỹ năng và phương pháp dạy học truyền thống cùng với việc ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại
Giáo viên cùng với trẻ khởi xướng các hoạt động, trẻ được khuyến khích tham gia tích cực vào quá trình giáo dục
Trẻ học chính qua chơi, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm với sự tham gia của các giác quan
Trẻ được chọn góc chơi, thảo luận với bạn, được tạo ra sản phẩm do trẻ sáng tạo
chứ không phải do giáo viên làm hộ
Trẻ học từ trải nghiệm thực tế và gắn với cuộc sống thực Do đó trẻ hiểu bản chất
của sự vật hiện tượng và biết cách áp dụng những hiểu biết mang tính tích hợp và giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống
Giáo viên đóng vai trò trung gian, tổ chức môi trường tạo điều kiện cho trẻ hoạt động nhằm phát huy hứng thú, nhu cầu, kinh nghiệm và mặt mạnh của mỗi trẻ
Giáo viên lập kế hoạch dự kiến chủ đề, gây hứng thú cho trẻ với chủ đề đó, nếu
trẻ hứng thú, cùng trẻ lập kế hoạch để trẻ tự trải nghiệm, tìm hiểu, khám phá, nhận
thức phù hợp với trình độ phát triển của mỗi trẻ [36]
Trang 271.3.5 Đặc điểm của dạy học tích cực
Dạy học tích cực có những đặc điểm cơ bản sau:
D ạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập của trẻ: Trẻ học chính qua chơi,
khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm với sự tham gia của các giác quan Trong quá trình
dạy học, giáo viên tổ chức nhiều hoạt động học tập Người học tự khám phá những điều cần học qua các hoạt động học tập tích cực Các hoạt động tích cực này xuất phát
từ những tình huống thực tế, trẻ trực tiếp quan sát, trao đổi, giải quyết vấn đề, từ đó,
nắm được những kiến thức mới Trong PPDHTC, trẻ – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó, trẻ tự lực khám phá những điều mình chưa
rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, trẻ trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến
thức, kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không
rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn người học hành động và tổ chức môi trường học tập thích hợp Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng [21], [36]
D ạy học chú trọng phương pháp tự học: hoạt động của giáo viên không chỉ
dừng lại ở việc tổ chức hoạt động lĩnh hội tri thức mà còn có tác dụng định hướng giúp
trẻ hình thành, rèn luyện phương pháp, thói quen tự học DHTC xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho trẻ không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
mà còn là mục tiêu dạy học
Nếu rèn luyện cho trẻ có phương pháp tự học, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho trẻ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ
tốt hơn gấp bội Bởi vì trong các phương pháp học thì tự học là phương pháp cốt lõi
Do đó, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nổ
lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát
Trang 28triển tự học ngay trong trường học, không chỉ tự học ở nhà mà còn tự học ở trường,
lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Tăng cường học tập cá nhân, hoạt động nhóm, tạo điều kiện cho trẻ phát tri ển mối quan hệ giao tiếp trong các hoạt động của trẻ: DHTC một mặt căn cứ vào
hứng thú, năng lực, nhu cầu của trẻ để lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù
hợp, mặt khác giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ phát huy được năng lực bản thân đồng
thời phát huy các mối quan hệ hợp tác với bạn Trong một lớp học mà trình độ kiến
thức, tư duy của trẻ không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích
cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học
tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn
Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác
giữa các cá nhân trên con đường học tập thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể,
ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng lên
một trình độ mới
Ph ối hợp đánh giá thường xuyên giữa giáo viên và tự đánh giá của trẻ: Giáo
viên hướng dẫn và tạo điều kiện để trẻ tự đánh giá, tự điều chỉnh cách học đồng thời tham gia đánh giá lẫn nhau Trong dạy học, việc đánh giá trẻ không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Trước đây giáo viên hoàn toàn giữ vai trò độc quyền trong việc đánh giá Trong DHTC, giáo viên là người hướng dẫn trẻ phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điểu
chỉnh Do đó, giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ được tự đánh giá và tham gia đánh giá
lẫn nhau Lưu ý, việc đánh giá không nên dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp
lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc
giải quyết những tình huống thực tế
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để người học tự lực chiếm lĩnh
Trang 29nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu
của chương trình [22], [36]
1.3.6 Các phương pháp dạy học tích cực ở bậc mầm non
1.3.6.1 Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ
Dạy học theo nhóm nhỏ là cách thức giáo viên chia học sinh thành từng nhóm
nhỏ để thảo luận về một vấn đề học tập hoặc thực hiện một nhiệm vụ chung dưới sự tổ
chức, hướng dẫn của giáo viên
Trong dạy học theo nhóm nhỏ, một lớp được chia thành các nhóm nhỏ (3-6 trẻ), trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cở sở phân công và hợp tác làm việc
sẽ thực hiện những nhiệm vụ chung của cả nhóm
Đặc điểm của phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ
Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên một cách tích cực
Hoạt động học tập của người học trong nhóm là hoạt động tập thể hợp tác
Thể hiện sự tương tác trực tiếp giữa người học trong nhóm với nhau
Tranh luận và trao đổi trực tiếp
Có sự lắng nghe và phản hồi tích cực
Ưu điểm
Dạy học nhóm nhỏ nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tính cực, tính trách nhiệm; tính kỹ luật, phát triển năng lực cộng tác và năng lực giao tiếp của trẻ
Học theo nhóm nhỏ đem lại cho trẻ cơ hội được sử dụng các kiến thức, kỹ năng
của mình đã được lĩnh hội và rèn luyện ứng dụng vào các hoạt động thực tiễn; trẻ được
Trang 30diễn đạt những ý tưởng, khám phá của mình; đồng thời mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp )
Giúp nâng cao mối quan hệ giữa trẻ với nhau
Rèn luyện kỹ năng xã hội như biết tin tưởng, chấp nhận và hổ trợ lẫn nhau đồng
thời biết cách giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Bên cạnh
đó là kỹ năng nghe và nói, diễn đạt ý kiến của mình
Hạn chế
Mất nhiều thời gian cho một nội dung tri thức
Một số thành viên có tâm lý ỷ lại các thành viên khác
Kết quả toàn nhóm sẽ khó khách quan cho từng thành viên trong nhóm
Vận dụng
Dạy học nhóm nhỏ thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ
đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới
Có thể áp dụng phối hợp với phương pháp dạy học giải quyết vấn đề [3], [22], [36]
1.3.6.2 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là một hệ phương pháp dạy học, trong đó giáo viên nêu ra vấn đề học tập, tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức hướng dẫn người học tự tìm tòi cách giải quyết vấn đề, qua đó người học tự lực lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới, hình thành, phát triển năng lực sáng tạo
Đặc điểm của dạy học giải quyết vấn đề
Giáo viên là người nêu lên vấn đề hoặc trẻ tự đưa ra vấn đề cần giải quyết liên quan đến đề tài trẻ đang tìm hiểu
Trẻ được đặt vào tình huống có vấn đề
Trẻ là người giải quyết vấn đề bằng cách tìm tòi các phương án giải quyết, lựa
chọn phương án tối ưu, dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Ưu điểm
Tạo điều kiện cho trẻ nắm tri thức và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ một cách sâu sắc và vững chắc, đặc biệt là phát triển năng lực tư duy độc lập sáng tạo
Trang 31Nâng cao hứng thú học tập, rèn luyện năng lực tìm kiếm, phát hiện vấn đề, năng
lực vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, bước đầu làm quen với phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học
Biết thu thập, phân tích, xử lý thông tin, biết giải quyết vấn đề
Nhược điểm
Tốn nhiều thời gian
Đòi hỏi giáo viên về trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức, hướng dẫn
Trong một số trường hợp đòi hỏi thiết bị, phương tiện, hỗ trợ thì phương pháp này mới có hiệu quả
Vận dụng
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong hoạt động dạy cho trẻ mầm non đặc
biệt là hoạt động làm quen với biểu tượng toán, hoạt động khám phá khoa học [3], [22], [36]
1.3.6.3 Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là cách thức dựa vào một câu chuyện kể hoặc một tình
huống trong mối quan hệ giữa người với người, trẻ đóng vai các nhân vật khác nhau trong cốt truyện, đối thoại, trò chuyện và tranh luận với nhau, qua đó rút ra kết luận về
vấn đề học tập
Đây là phương pháp nhằm giúp trẻ suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà trẻ vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau
phần diễn ấy
Đặc điểm của phương pháp đóng vai
Thể hiện tức thời một tình huống thành hành động mà trẻ sử dụng một cách sáng
tạo ý nghĩ và óc tưởng tượng của mình
Khác với loại hình kịch thông thường ổ chỗ không có kịch bản, không cần thuộc vai, không cần diễn tập
Ưu điểm
Phù hợp với trẻ mầm non, trẻ chỉ cần nhập vai và thể hiện theo ngôn ngữ của trẻ
chứ không cần thuộc kịch bản, không cần diễn tập
Trang 32Tạo cơ hội cho trẻ tìm hiểu và thể hiện thế giới nội tâm của con người
Trẻ bộc lộ những lời nói, ý tưởng, việc làm theo vai diễn, qua đó thu nhận kiến
Trẻ hay nhút nhát có thể sẽ dừng đóng vai của mình giữa chừng
Trẻ chưa có đủ kinh nghiệm, vốn từ, kỹ năng diễn sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của phương pháp này
Lớp học mầm non ở Việt Nam thường đông, không yên tĩnh, nếu trẻ đóng vai nói không đủ to thì khó để cả lớp nghe thấy
Vận dụng
Nên vận dụng với lớp học có ít trẻ (khoảng 10 trẻ)
Có thể áp dụng phương pháp này vào những giờ dạy trẻ các quy tắc, hành vi chuẩn mực đạo đức của xã hội [3], [22], [36]
1.3.6.4 Phương pháp tổ chức trò chơi
Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho trẻ tìm hiểu một vấn đề hay
thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó
Trong giáo dục mầm non, đây là phương pháp dạy học hiệu quả , phù hợp nhất
Vì trẻ học qua chơi, chơi mà học
Đặc điểm của phương pháp trò chơi
Trò chơi phù hợp bản chất va khuynh hướng của trẻ mầm non
Khi chơi trẻ cảm thấy thích thú và tràn ngập niềm vui
Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ngay trong bản thân hành động chơi
Trong trò chơi có sự hiện diện của mầm mống sáng tạo
Nếu được tổ chức tốt trò chơi sẽ tạo điều kiện tích cực hóa quá trình tư duy của
trẻ [15]
Khi tổ chức trò chơi yêu cầu:
Trang 33Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề, với đặc điểm và trình độ của trẻ, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng
thời phải đảm bảo an toàn cho trẻ
Trẻ nắm bắt được quy tắc chơi và luật chơi và phải tôn trong luật chơi
Phải phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi
Trò chơi phải tạo được hứng thú, sự vui thích cho trẻ
Ưu điểm
Phù hợp với lứa tuổi mầm non
Phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của trẻ
Tạo được niềm vui, hứng thú tham gia hoạt động của trẻ
Hình thành kỹ năng hợp tác khi chơi
1.3.6.5 Phương pháp dạy học theo tình huống
Phương pháp dạy học theo tình huống là cách thức giáo viên tổ chức cho người
học tự lực nghiên cứu và giải quyết các tình huống từ thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp gắn với những chủ đề học tập, qua đó người học tự lực lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới, hình thành, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn và nghề nghiệp… Vì vậy có thể xem phương pháp dạy học theo tình huống là phương pháp đặc thù của dạy học giải quyết vấn đề theo tình huống, trong đó, các tình huống dạy học là đối tượng của quá trình dạy học
Đặc điểm của phương pháp dạy học theo tình huống
Tình huống dạy học là đối tượng chính của hoạt động dạy học
Trang 34Tình huống trong dạy học là những tình huống mang tính điển hình, miêu tả
những sự kiện, hoàn cảnh có thật hay hư cấu nhằm giúp người học hiểu và vận dụng tri
Tạo ra những khả năng vận dụng đa dạng, phong phú
Góp phần tạo ra sự hứng thú, say mê học tập, sáng tạo ở người học
Tạo cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về điều đó Phát triển các kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, kỹ năng trình bày trước tập thể, kỹ năng tranh luận,
bảo vệ ý kiến…
Tạo điều kiện để người học có thể trao đổi lẫn nhau và trao đổi với giáo viên Phương pháp này cũng giúp giáo viên tiếp thu được kinh nghiệm, cách nhìn, giải pháp từ người học
Hạn chế
Đòi hỏi nhiều thời gian, chỉ phù hợp cho việc vận dụng tri thức, không thích hợp cho việc truyền thụ tri thức mới một cách hệ thống
Gia tăng khối lượng làm việc của giáo viên, bên cạnh đó còn đòi hỏi giáo viên
phải luôn chấp nhận đổi mới, cập nhật các thông tin, kiến thức và kỹ năng mới
Người học khó thích ứng nếu đã quen với lối học truyền thụ
Vận dụng
Phương pháp dạy học theo tình huống có thể vận dụng cho trẻ làm quen với
những chủ đề về nghề nghiệp, những tình huống thực tế trẻ đã gặp hoặc có thể gặp, giúp trẻ có những kỹ năng sống cần thiết [3], [22], [36]
1.3.6.6 Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẽ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một các tích cực, không hạn chế các ý tưởng
Trang 35Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề
Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề
Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau [3], [22], [36]
1.3.6.7 Phương pháp dạy học theo dự án
Các nhà sư phạm Mỹ từ đầu thế kỷ XX đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học theo dự án và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm dạy học truyển thống “coi giáo viên là trung tâm”
Hiện nay, phương pháp dạy học theo dự án đã được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học, đặc biệt là các nước phát triển Trong dạy học ở bậc học
phổ thông và đại học, phương pháp dạy học theo dự án được hiểu là phương pháp dạy
h ọc trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn người học tự lực thực hiện một nhiệm vụ
h ọc tập phức hợp thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực
ti ễn – dự án [22]
Trong giáo dục mầm non, phương pháp dạy học theo dự án được xây dựng như
một mô hình dạy học bởi Lilian Kazt (2001), theo quan điểm của bà thì dạy học theo
d ự án là hoạt động khám phá sâu về một chủ đề liên quan đến môi trường xung quanh
tr ẻ em Trẻ em thực hiện một dự án dựa trên những sở thích, kinh nghiệm, ý tưởng của chúng và nhi ều vấn đề trong các nhóm nhỏ hoặc đôi khi là những vấn đề của chính
b ản thân chúng [26]
Đặc điểm của dạy học theo dự án
Trang 36Dạy học theo dự án có ba đạc điểm cốt lõi: định hướng người học, định hướng
thực tiễn và định hướng sản phẩm
- Định hướng người học: Người học được tham gia chọn đề tài, nội dung học
tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong
đa số các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu [43]
Ưu điểm
Giúp trẻ hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết trong thời đại ngày nay như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm…
Phát huy cao độ tính tích cực của trẻ
Không chỉ giới hạn trong một lĩnh vực phát triển mà có sự liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau
Tạo cơ hội cho trẻ phát triển mạnh mẽ khả năng tư duy sáng tạo, tích cực, chủ động trong suốt tiến trình thực hiện dự án
Trẻ được trực tiếp khám phá thế giới tự nhiên và xã hội để giải quyết vấn đề đặt
ra, qua đó hình thành và phát triển ở trẻ tình cảm với thiên nhiên, biết quý trọng và bảo
vệ thiên nhiên, đồng thời hiểu giá trị của đời sống xã hội, điều này có ý nghĩa đạo đức đối với trẻ
Đòi hỏi giáo viên phải hiểu kỹ về bản chất của dạy học theo dự án
Hầu hết tài liệu về dạy học theo dự án của Lilian Kazt đều bằng tiếng Anh
Vận dụng
Trang 37Dạy học theo dự án có thể vận dụng cho trẻ khám phá sâu những đề tài/ vấn đề gì
đó trong cuộc sống thực của trẻ, có thể là một vấn đề cần giải quyết hay một hiện tượng thiên nhiên
Vận dụng PPDHTC vào hoạt động dạy học góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại.Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, các phương pháp dạy học dù là tích cực cũng có những ưu điểm và
hạn chế riêng Không có một phương pháp dạy học tích cực nào là vạn năng, do vậy
cần lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt và sáng tạo [3], [22]
1.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong trường mầm non
1.4.1 M ục tiêu dạy học ở bậc Mầm non
Mục đích giáo dục mầm non
Mục đích giáo dục mầm non là chính là mô hình nhân cách trẻ em lứa tuổi mầm non mà xã hội cần đào tạo và thường được xác định trong các lương lĩnh, các chương trình, kế hoạch quốc gia và nó được thể hiện thành một hệ thống các mục tiêu giáo dục
mầm non và nhiệm vụ giáo dục mầm non [16]
Mục đích giáo dục mầm non là sự mong muốn là dự kiến về kết quả cần đạt được
của quá trình giáo dục mầm non Những mong muốn này mang tính chất lý tưởng, là cái mà con người đang hướng tới, đang phấn đấu để đạt được Nó có tác dụng định hướng, điều khiển hoạt động giáo dục mầm non trong giai đoạn nhất định
Mục tiêu giáo dục mầm non
Là một bộ phận của mục đích giáo dục mầm non, là mô hình nhân cách trẻ mầm non phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn nhất định Nó cũng là
những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục mầm non trong một thời gian nhất định
Mục tiêu của giáo dục mầm non phải là điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu
ở các giai đoạn sau Nó vừa mang tính định hướng, vừa mang tính định tính, định lượng để giúp cho việc đánh giá sự phát triển trẻ một cách khách quan và thuận lợi
Trang 38Đổi mới mục tiêu giáo dục mầm non trong giai đoạn đổi mới hiện nay phải hướng tới xã hội hóa đứa trẻ, hình thành một số kỹ năng cần thiết để trẻ tham gia thuận
lợi vào cuộc sống của bản thân, cộng đồng xã hội Mục tiêu của giai đoạn này phải là điều kiện thuận lợi để thực hiện lục tiêu ở giai đoạn sau
Những quan niệm mới về mục tiêu giáo dục mầm non phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới hiện nay và là mô hình dự kiến vươn tới trong tương lai
Tại điều 22 Luật giáo dục (2005) của nước Việt Nam xác định: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1
Luật giáo dục sửa đổi bổ sung (2009) nêu thêm các mục tiêu “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ
cập trong những năm tiếp theo [8]
Bước sang thời kỳ đổi mới, giáo dục mầm non nói riêng và giáo dục nói chung
cần có sự đổi mới trong mục tiêu giáo dục của mình Mục tiêu giáo dục mầm non phải hướng tới việc đáp ứng và phù hợp với đặc điểm phát triển nhu cầu cơ bản của trẻ trong từng giai đoạn, sự chăm sóc và giáo dục trẻ phải nằm trong một khối thống nhất,
bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau
Phương pháp dạy học chịu sự chi phối, quy định trước hết của mục đích giáo
dục, mục tiêu dạy học Phương pháp dạy học phải đảm bảo vạch ra được cách thức
hoạt động để đạt tới mục đích nhất định Trong dạy học theo hướng tích cực hóa, mục tiêu bài học được thiết kế một cách cụ thể, rõ ràng, khả thi, thể hiện các mức độ cần đạt của trẻ về mức độ nhận thức (biết, hiểu, vận dụng), về kỹ năng (làm được và thành
thạo) về thái độ (niềm tin, ý thức, thói quen, tính cách, hành vi…) Như vậy tùy theo các mục tiêu dạy học cụ thể mà phương pháp dạy học cần sử dụng phải khác nhau,
hoặc phải thay đổi một cách thích hợp
1.4.2 Tính ch ất nội dung dạy học ở bậc Mầm non
Nội dung chính là cấu trúc, tổ chức bên trong của hệ - những bộ phận, những mối liên hệ cấu tạo nên hệ, nội dung dạy học phản ánh cái khách quan (hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo…) còn phương pháp dạy học là cái chủ quan, là hình thức,
Trang 39cách thức, con đường nhằm chuyển tải nội dung dạy học đã xây dựng Rõ ràng cấu trúc của nội dung quy định cách thức tổ chức của nó, tức là quy định phương pháp
Nội dung nào, phương pháp ấy, không có phương pháp vạn năng ứng với mọi nội dung Khi nội dung dạy học thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi phương pháp dạy học vì bao giờ phương pháp dạy học cũng chỉ là cách thức lĩnh hội những tri thức nào đó
hoặc những cách thức hoạt động trí óc và thực hành nào đó Mỗi phương pháp dạy học
chỉ phù hợp với từng bài dạy nhất định
Trong dạy học tích cực hóa, việc thiết kế, tổ chức nội dung không phải chỉ tuân
thủ theo trình tự logic cấu trúc nội dung của bài học truyền thống mà phải thiết kế nội dung kiểu phân nhánh dưới dạng câu hỏi, bài tập, tình huống…cho người học giải quyết
Trong chương trình giáo dục mầm non 2009, yêu cầu về nội dung giáo dục mầm non “Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó, đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ mẫu giáo và cấp tiểu học;
thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống; phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ
em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp
với tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo,
cô giáo; yêu quý anh chị em, bạn bè, thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học” [7]
Chương trình giáo dục mầm non 2009 là chương trình khung do bộ giáo dục và đào tạo ban hành, chương trình không quy định nội dung giáo dục nào phải gắn với phương pháp giáo dục ấy Dó đó, giáo viên được độc lập lựa chọn phương án thực
hiện chương trình giáo dục thông qua việc tổ chức các dạng hoạt động trẻ em dưới các hình thức và phương pháp dạy học khác nhau sao cho phù hợp với hứng thú và đặc điểm lứa tuổi của trẻ nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục cụ thể [21] Điều này tạo điều
kiện thuận lợi cho việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực ở bậc học mầm non
Trang 401.4.3 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non
Khi sử dụng các PPDHTC, đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức của trẻ là
một thách thức lớn đối với giáo viên Các PPDHTC đều có một ưu điểm chung là phát huy cao độ tính tích cực học tập của người học, có nghĩa là các phương pháp cũng đặt
ra yêu cầu nhất định đối với khả năng, trình độ của người học Vì vậy khi lựa chọn và
vận dụng các PPDHTC cần căn cứ vào từng loại đối tượng
Theo nghiên cứu của A.A.Liubinxkaia (1980), lứa tuổi mẫu giáo đã xuất hiện tính tích cực ở bình diện cao nhất đó là tính tích cực hoạt động trí tuệ (tính tích cực
nhận thức) “Trẻ em hoàn toàn có khả năng hoạt động trí tuệ, nó biết suy nghĩ về những điều mắt thấy, tai nghe, biết giải đáp các câu đố, biết sáng tác cốt truyện và kể chuyện theo trí tưởng tượng của mình”[10] Điều này cho thấy việc áp dụng các PPDHTC vào
bậc học mầm non là hết sức cần thiết và phù hợp
Tuy nhiên để việc vận dụng được hiệu quả, giáo viên phải xác định đúng khả năng hiện tại của trẻ, nhu cầu, hứng thú của trẻ, từ đó lựa chọn một cách phù hợp các PPDHTC
Như chúng ta đã biết, PPDHTC nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của trẻ, hình thành tư duy linh hoạt trong mọi tình huống, khi giải quyết vấn đề
Để phát huy được những điều đó chúng ta cần hiểu rõ việc học tích cực cũng như
những biểu hiện tích cực của trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non
Học tích cực của trẻ ở trường mầm non được thể hiện qua hoạt động trên các đồ
vật, đồ chơi và tương tác với các sự kiện và với con người…trong môi trường gần gũi xung quanh để hình thành nên những hiểu biết của bản thân Học tích cực trong giáo
dục mầm non biểu hiện:
Trẻ tự do lựa chọn nội dung, chủ đề muốn tìm hiểu
Trẻ tự do lựa chọn phương pháp tìm hiểu
Trẻ sử dụng vật liệu theo nhiều cách
Trẻ tìm hiểu, thao tác, kết hợp, làm biến đổi các vật liệu một cách tự do
Trẻ mô tả những gì trẻ đang làm, phản ánh trên các hành động bằng ngôn ngữ
của trẻ
Trực tiếp hành động trên đồ dùng, đồ chơi