Đối với trẻ MG 5 - 6 tuổi, lứa tuổi cần chuẩn bị tốt về mọi mặt để chuẩn bị cho giai đoạn mới – giai đoạn học tập ở trường phổ thông, môi trường vui chơi MTVC được xây dựng thích hợp sẽ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Thanh Hạnh
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI
CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Thanh Hạnh
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI
CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC (Giáo dục Mầm non)
Mã số : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THANH HÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ trong công trình nào khác
Người cam đoan
Bùi Thị Thanh Hạnh
Trang 4Để có được kết quả học tập ngày hôm nay, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô giáo trường Đại học Sư Phạm TP.HCM Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Mầm non, Hội đồng Khoa học thuộc trường Đại học Sư Phạm TP HCM, cùng quý Thầy Cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới
trình nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn CBQL và GV của 12 trường Mầm non Công lập trên địa bàn Quận Bình Tân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MG 5- 6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MN 7
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu môi trường vui chơi của trẻ MN 7
1.2 Lý luận về MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN 8
1.2.1 Môi trường vui chơi – một phần của môi trường giáo dục ở trường MN 9
1.2.2 Đặc điểm MTVC của trẻ 5-6 tuổi 14
1.2.3 Những yêu cầu đối với MTVC của trẻ ở trường mầm non 15
Chương 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MG 5-6 TUỔI TRONG CÁC TRƯỜNG MN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 23
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 23
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 23
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng môi trường vui chơi của trẻ MG 5-6 tuổi trong một số trường MN Quận Bình Tân 29
2.2.1 Kết quả quan sát MTVC trước giờ chơi 29
2.2.2 Kết quả nghiên cứu hành vi của trẻ trong MTVC được khảo sát 38
2.2.3 Kết quả phân tích Kế hoạch tổ chức hoạt động vui chơi của GV các lớp khảo sát (Phần Xây dựng MTVC) 47
2.2.4 Kết quả phân tích Phiếu trưng cầu ý kiến GVMN và CBQL về MTVC của trẻ 5-6 tuổi 48
Chương 3 THỬ NGHIỆM XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI THEO HƯỚNG KHUYẾN KHÍCH TRẺ MG 5-6 TUỔI TỰ DO SÁNG TẠO 58
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THỬ NGHIỆM 58
3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 58
3.1.2 Mục tiêu và nội dung thử nghiệm 58
3.1.3 Tổ chức Thử nghiệm: 61
Trang 63.2.1 Kết quả quan sát: 63
3.2.2 Ý kiến của QL-GV tham gia thử nghiệm: 67
Kết luận chương 3 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7MG: Mẫu giáo
MN: Mầm non
MTVC: Môi trường vui chơi MTGD: Môi trường giáo dục HĐVC: Hoạt động vui chơi GVMN: Giáo viên mầm non CBQL: Cán bộ quản lý
GVHD: Giáo viên hướng dẫn TCĐV: Trò chơi đóng vai TCXD: Trò chơi xây dựng
Trang 8Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả quan sát MTVC ở lớp 5-6 tuổi 29 Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả phân tích cách sắp xếp đồ chơi dành cho các trò
chơi sáng tạo ở lớp MG 5-6 tuổi 35 Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả phân tích biện pháp tổ chức của GV và hành vi
của trẻ đầu giờ chơi 38 Bảng 2.4 Sơ đồ tình hình trẻ lựa chọn góc chơi 39 Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả phân tích nội dung các TCĐV và TCXD trong
MTVC khảo sát 40 Bảng 2.5 Tập hợp kết quả quan sát hành động chơi đóng vai của trẻ trong
MTVC khảo sát 43 Bảng 2.6 Tổng hợp kết quả phân tích kế hoạch xây dựng MTVC của các lớp
MG 5-6 tuổi 47 Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả phân tích phiếu hỏi nội dung ý kiến về vai trò của
MTVC đối với trò chơi của trẻ 49 Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả phân tích phiếu hỏi 49 Bảng 2.9 Tổng hợp ý kiến của GVMN và CBQL về mức độ cần thiết của các
yêu cầu đối với MTVC 50 Bảng 2.10 Tổng hợp ý kiến của GVMN và CBQL về vai trò tích cực của trẻ
trong việc xây dựng MTVC 52 Bảng 2.11 Tổng hợp ý kiến của GVMN và CBQL về khác biệt trong sắp xếp
đồ chơi ở lớp MG 5-6 tuổi 53 Bảng 2.12 Tổng hợp ý kiến của GVMN và CBQL về TT 02 những thuận lợi,
khó khăn và kiến nghị 54 Bảng 3.1 So sánh hành vi của trẻ trong MTVC hiện tại và MTVC thử nghiệm 63
Trang 9Hình 2.1: Trẻ lớp 5-6 (2)- trường MN Hoa Đào chơi trò chơi “xây ngã tư đường
phố có mô hình gợi ý” 34
Hình 2.2: Góc đọc lớp MG 5-6 tuổi (2)-trường MN Hương Sen 34
Hình 2.3: Góc làm tóc của lớp 5-6 tuổi 1- trường MN Hương Sen 37
Hình 2.4: Góc xây dựng lớp 5-6t (2)- trường MN Hương Sen 37
Hình 2.5: Góc gia đình lớp 5-6 tuổi(1)- trường MN Ánh Mai 42
Trang 10toàn diện của trẻ nhỏ đã được đảm bảo bởi bộ Luật quan trọng về giáo dục
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non Hoạt động này ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lý của trẻ [2, tr 19] Trong các Chương trình giáo dục mầm non (GDMN) của Việt nam từ trước đến nay, HĐVC luôn giữ vị trí trung tâm trong số các hoạt động giáo dục trẻ và được xem là phương tiện để giáo viên tổ chức sinh hoạt của trẻ [3, tr 215]
Tuy nhiên, HĐVC của trẻ có thể phát huy được vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục trẻ ở trường MN hay không, phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của giáo viên về trò chơi của trẻ, về khả năng chơi của trẻ ở mỗi độ tuổi, về phương pháp hướng dẫn của người giáo viên, về những điều kiện cần thiết cho HĐVC mà người lớn cần đáp ứng Thực tế hiện nay cho thấy còn có những hạn chế nhất định trong
đó có vấn đề đảm bảo MTVC của trẻ
Đảm bảo MTVC phù hợp không chỉ là việc cung cấp những đồ chơi cần thiết
cả về số lượng và thể loại mà còn bao gồm cả việc sắp xếp đồ chơi thuận tiện cho trẻ sử dụng và hoạt động tương tác của giáo viên với trẻ trong quá trình chơi [14, tr 93] Xây dựng MTVC hợp lí tạo ra các cơ hội để trẻ mở rộng nội dung các trò chơi, hình thành và phát triển ở trẻ kỹ năng chơi, khả năng phối hợp với bạn và khả năng
tự chơi, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của trẻ về mọi mặt [14, tr92] Có thể thấy, việc xây dựng MTVC dành cho trẻ các độ tuổi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên khi tổ chức các giờ chơi của trẻ ở trường MN đồng thời cũng là biện pháp để phát triển khả năng chơi của trẻ về nhiều mặt
Trang 11Đối với trẻ MG 5 - 6 tuổi, lứa tuổi cần chuẩn bị tốt về mọi mặt để chuẩn bị cho giai đoạn mới – giai đoạn học tập ở trường phổ thông, môi trường vui chơi (MTVC) được xây dựng thích hợp sẽ mở ra cơ hội để trẻ tích cực sáng tạo trong triển khai các trò chơi Trẻ cần được “giải phóng” khỏi sự phụ thuộc môi trường đồ chơi có
sẵn như các lớp MG 3-4 tuổi và MG 4-5 tuổi Với trẻ MG 5-6 tuổi đồ chơi không còn giữ vai trò trực tiếp chi phối nội dung trò chơi trẻ sẽ triển khai [14, tr 97] , mà
trở thành phương tiện để trẻ thực hiện dự định chơi của mình Bên cạnh đó, MTVC được sắp xếp một cách thích hợp (mang tính phát triển) sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển khả năng tự học cũng như tính tự tin của trẻ, hình thành ở trẻ tính tự lực, tự khẳng định như một chủ thể hoạt động tích cực [18, tr 155] Trong MTVC thích hợp trẻ có cơ hội lựa chọn hoạt động phù hợp với khả năng, chơi theo
ý thích, chơi một cách tự nguyện với mong muốn tự khẳng định mình trong môi
trường đồ chơi hấp dẫn và lôi cuốn
Thực tế hiện nay cho thấy, việc xây dựng MTVC cho trẻ MG nói chung và trẻ
MG 5-6 tuổi nói riêng còn có những bất cập không chỉ ảnh hưởng đến việc trẻ triển khai các trò chơi mà còn làm hạn chế vai trò của HĐVC đến sự phát triển của trẻ Hiện nay, các GVMN xây dựng MTVC chủ yếu đáp ứng những yêu cầu đối với môi trường giáo dục nói chung MTVC ở các lớp lứa tuổi chưa có sự khác biệt rõ rệt; chưa chú ý đến khả năng chơi, nội dung chơi ở từng độ tuổi; khả năng tự lực sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi chưa được phát huy; giống với các lớp 3-4 tuổi việc bố trí sắp xếp đồ chơi theo các góc chủ đề “bác sĩ, nấu ăn”; MTVC thiếu đồ dùng thay thế, các phương tiện khi trẻ có thể sử dụng khi cần Bên cạnh đó, việc trang trí, sắp xếp
môi trường hoạt động tại một số lớp MG 5-6 tuổi còn nặng về kiến thức lớp Một,
một số trang thiết bị, đồ chơi trong lớp chưa đáp ứng việc đổi mới giáo dục, chưa
sử dụng hết diện tích của lớp, trẻ chen chúc trong một diện tích hẹp Về cấp quản lý, trong 2 năm học gần đây để thực hiện công tác phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi công tác đầu xây dựng MTVC cũng đã được quan tâm Cụ thể, đầu tư trang bị đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ 5 tuổi theo qui định của thông tư 02/2010 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo qui định “Danh mục đồ dùng- đồ chơi- thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho
GDMN ” nhưng công tác đầu tư về chất cho MTVC vẫn chưa thật sự được quan
Trang 12tâm đúng mức Điều dễ nhận thấy nhất là hầu hết kinh phí đầu tư cho hoạt động chuyên môn là đầu tư cho hoạt động chăm sóc, đồ dùng phục vụ ăn uống, vệ sinh của trẻ, đồ chơi chủ yếu là đồ chơi ngoài trời (nếu có), đồ chơi học tập, góc chơi đa phần trang bị theo cảm tính hoặc theo kinh phí hạn hẹp của trường, chưa tính đến trang bị phù hợp độ tuổi ( khả năng chơi, nội dung chơi)… Về đầu tư các chuyên
đề, bồi dưỡng chuyên môn trong những năm gần đây tập trung nhiều cho tổ chức các hoạt động học (Chuyên đề làm quen chữ viết, âm nhạc, hồ sơ sổ sách, sử dụng tiết kiệm năng lượng hiệu quả, thiên tai biển đảo, ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nội dung chương trình, chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, ) Tuy năm học 2012-2013 Thành phố đã tổ chức chuyên đề “Đánh giá giáo viên tổ chức HĐVC” nhưng vấn đề xây dựng MTVC cho trẻ các độ tuổi MN trong đó có trẻ MG 5-6 tuổi vẫn chứa được triển khai và làm rõ ở mức độ cần thiết Chính vì thế những bất cập của MTVC như một trong số các điều kiện cần thiết để tổ chức HĐVC của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN vẫn chưa được tháo gỡ [21 tr 3; 22, tr 15]
Từ những lý do nêu trên, đề tài: “Thực trạng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường MN Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh” được chọn nghiên cứu nhằm xác định những hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục một cách khoa học qua đó góp phần nâng cao chất lượng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường
MN Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và đưa ra đánh giá một cách khoa học về MTVC của trẻ
MG 5-6 tuổi trong một số trường MN Quận Bình Tân, trên cơ sở đó có những đề xuất
cụ thể về giải pháp nâng cao chất lượng MTVC của trẻ
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN
3.2 Khách thể nghiên cứu
Phương pháp tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 13Việc xây dựng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường MN Quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế nhất định, chưa đáp ứng nhu cầu vui chơi của trẻ nhất là chưa khích lệ trẻ tự do phát triển nội dung chơi, chủ động sáng tạo trong khi chơi Giải pháp xây dựng MTVC theo hướng khuyến khích trẻ MG 5-6
tuổi tự do sáng tạo được đề xuất và đưa vào thử nghiệm sẽ góp phần nâng cao chất lượng MTVC của trẻ MG 5-6 t trong các trường MN Quận Bình Tân
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi
- Môi trường vui chơi – bộ phận của môi trường giáo dục
- Đặc điểm MTVC của trẻ ở trường MN nói chung và MTVC của trẻ 5-6 tuổi nói riêng
- Những yêu cầu MTVC của trẻ ở trường MN
- Xây dựng tiêu chí đánh giá thực trạng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường MN Quận Bình Tân
5.2 Khảo sát thực trạng tổ chức MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong một số trường MN Quận Bình Tân
5.2.1 Khảo sát thực trạng MTVC trong lớp của trẻ MG 5-6 tuổi tại 24 lớp, mỗi lớp 2 lần trong phạm vi một chủ đề
5.2.2 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên các lớp khảo sát về MTVC vai trò và cách thức xây dựng MTVC cho trẻ MG 5-6 tuổi
5.3 Đề xuất và thử nghiệm giải pháp xây dựng MTVC theo hướng khuyến khích trẻ MG 5-6 tuổi tự do sáng tạo
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tập hợp, thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp lý luận về MTVC của trẻ MG
5-6 tuổi xây dựng các khái niệm công cụ và hệ thống tiêu chí khảo sát của đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để giải quyết nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu, trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi,
Trang 14phương pháp nghiên cứu kế hoạch của giáo viên Trong đó, Quan sát là phương pháp nghiên cứu chính
6.2.1 Phương pháp quan sát:
- Đối tượng quan sát:
o MTVC trong lớp của trẻ MG 5-6 tuổi thời điểm trước giờ chơi Hành vi của trẻ trong 5 phút đầu giờ chơi
- Nội dung quan sát:
o MTVC trong lớp đối chiếu với các tiêu chí đã xác định (Phụ lục số1) Ảnh hưởng của MTVC lên việc triển khai các trò chơi của trẻ (Phụ lục số 2)
Phương pháp quan sát được phối hợp cùng phương pháp trò chuyện với giáo viên mầm non ngay sau buổi chơi được quan sát
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi
Đối tượng điều tra: Giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi ở các trường MN thuộc diện khảo sát (Phụ lục số 3)
- Nội dung điều tra:
o Nhận thức của giáo viên về MTVC, ảnh hưởng của MTVC lên trò chơi của trẻ, đặc trưng, yêu cầu, cách thức xây dựng MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi
o Thực trạng giáo viên xây dựng MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường
MN
o Những khó khăn và đề xuất của giáo viên đối với việc xây dựng MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi
6.2.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ giáo dục của giáo viên MN
Nghiên cứu kế hoạch tổ chức HĐVC của giáo viên MN các lớp khảo sát nhằm tìm hiểu cách thức xây dựng MTVC của trẻ trong thời điểm khảo sát trọng tâm là việc phát huy vai trò tích cực của trẻ (Phụ lục số 4)
6.2.4 Phương pháp thử nghiệm
Tiến hành thử nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của giải pháp xây dựng MTVC theo hướng khuyến khích trẻ MG 5-6 tuổi tự do sáng tạo xây dựng MTVC được đề xuất trong đề tài nghiên cứu
Trang 156.3 Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu:
Tập trung phân tích về mặt định tính và xử lý số liệu nghiên cứu bằng phần mềm excel tính tỉ lệ phần trăm
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung:
- Trong đề tài MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi được giới hạn trong phạm vi MTVC trong lớp và trong phạm vi một chủ đề/ lớp khảo sát
- Trọng tâm khảo sát việc triển khai trò chơi của trẻ ở góc chơi sáng tạo (đóng vai )
- Thử nghiệm 1-2 giải pháp để bước đầu nhận xét về hiệu quả và tính khả thi
7.2 Về địa bàn nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng được triển khai tại 12 trường MN thuộc Quận Bình Tân, gồm các trường: Hương Sen, Hoa Đào, Sen Hồng, Cẩm Tú, Ánh Mai, 19/5, Hoa Cúc, Hoa Hồng, Phong Lan, Thủy Tiên, Tân Tạo và Hoàng Anh
Thử nghiệm ở trường mầm non Hương Sen, Sen Hồng – Quận Bình Tân Đây là các trường MN đại diện cho hiện trạng thực tế trong Quận về cơ sở vật chất (trang thiết bị, đồ chơi trong lớp), sắp xếp MTVC đạt và chưa đạt
Thời gian khảo sát: từ tháng 12-2013 đến 3-2014
Thời gian thử nghiệm tháng 8/2014
8 Đóng góp của đề tài
Việc làm sáng tỏ thực trạng và một số giải pháp được đề xuất góp phần nâng cao chất lượng xây dựng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường MN Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu lí luận về MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi trong trường
MN cùng với những tư liệu thực tế thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung thêm tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ dành cho GVMN
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI CỦA TRẺ
MG 5- 6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MN
1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu môi trường vui chơi của trẻ MN
M ôi trường giáo dục (MTGD) mà trong đó môi trường vui chơi (MTVC) là một
ph ần không thể thiếu, giữ vai trò quan trọng góp phần quyết định sự thành công của công tác giáo dục nói chung và của việc tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm non nói riêng
Từ hơn mười năm trở lại đây, kể từ khi bắt đầu những đổi mới trong GDMN nhất là nghiên cứu Chương trình Giáo dục mầm non (GDMN) mới, vấn đề MTGD trẻ ở trường MN được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm Đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết về MTGD nói chung và MTVC cho trẻ mầm non nói riêng Có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2002) với bài
“ Hình thành kỹ năng tự tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 38, Trần Thị Ngọc Trâm (2002), bài “Hoạt động chơi- con đường chủ yếu của việc học ở trẻ mẫu giáo”, Tạp chí Giáo dục số
28, Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Luận án Tiến sĩ “Phương pháp hướng dẫn trẻ 2-3 tuổi chơi trò chơi phản ánh sinh hoạt”, Tạ Ngọc Thanh-Nguyễn Thị Thư (2005), tài liệu “Phương pháp đánh giá trẻ trong đổi mới giáo dục mầm non”, Trần Thị Ngọc
Trâm - Lê Thu Hương - Lê Thị Ánh Tuyết (2009), với tài liệu Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non Mẫu giáo Lớn (5-6 tuổi), Nguyễn Thị Thư (2009), bài “Môi trường hoạt động cho trẻ mầm non”… Cũng trong thời gian
này, vấn đề MTGD trong đó có MTVC cũng được đưa vào chương trình đào tạo GVMN Có thể kể đến các giáo trình của các tác giả Nguyễn thị Bích Liên (2006),
“Tổ chức sinhh hoạt của trẻ ở trường MN”, Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), “Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường MN”, Đinh Văn Vang (2009), “Tổ chức
ho ạt động vui chơi cho trẻ MN dành cho hệ Cao đẳng Sư phạm Mầm non”… cùng một số tài liệu bồi dưỡng viết về MTGD, về Góc hoạt động của các tác giả khác như
Trần Mai Lan Hương, Lê Thị Thanh Nga… Vấn đề xây dựng MTGD, vấn đề MTVC cũng đã có vị trí nhất định trong các văn bản chỉ đạo của ngành học Đặc
Trang 17biệt từ năm 2009 đã có các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo xây dựng MTGD trẻ ở trường mầm non Cụ thể là Chương trình giáo dục mầm non năm
2009- hướng dẫn cụ thể cách xây dựng các góc họat động cho trẻ, Thông tư 02/2010
của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định “Danh mục đồ dùng- đồ chơi- thiết bị dạy học
tối thiểu dùng cho GDMN”, Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên năm 2013 có bài “Nâng cao năng lực hiểu biết về xây dựng môi trường giáo dục của giáo viên” (3 môđun), Dự án tăng cường khả năng sẳn sàng đi học cho trẻ MN năm 2013- với modun “Xây dựng trường MN lấy trẻ làm trung tâm
dành cho CBQL và giáo viên”… Bên cạnh đó có thể tìm thấy tên tuổi và bài viết của các tác giả nước ngoài về MTVC của trẻ ở trường MN trong Tuyển tập các bài
viết về GDMN như Judith Colbert về “Thiết kế lớp học và sự ảnh hưởng của nó đến hành vi của trẻ”, M.N.Paliakopva với bài “Xây dựng môi trường mang tính phát triển”
trong đó bà đã chỉ ra vai trò của môi trường mang tính phát triển cũng như các nguyên
tắc xây dựng môi trường mang tính phát triển, L.Vinogradova trong bài “Tạo những điều kiện cần thiết cho hoạt động vui chơi” cũng đã đề cập đến thực trang việc
trang bị, sắp xếp môi trường vui chơi tại trường MN, đưa ra những kinh nghiệm
trong trang bị, sắp xếp môi trường dồ chơi, góc hoạt động cho trẻ ”…[18]
Những vấn đề được các tác giả quan tâm và đề cập trong các công trình nêu trên là: Khái niệm về MTGD theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; Vai trò của MTGD, MTVC đối với sự phát triển của trẻ; Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng MTGD nói chung và MTVC nói riêng, nguyên tắc và cách thức xây dựng MTGD, MTVC của trẻ ở trường MN
Tất cả những tài liệu trên đã cung cấp cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động chơi cũng như xây dựng môi trường vui chơi cho trẻ mẫu giáo Tuy nhiên, những vấn đề được đề cập đến chỉ là những nội dung nói về MTGD nói chung và liên quan nhiều đến môi trường vật chất trong trường MN (trang bị, sắp xếp môi trường đồ chơi, các góc hoạt động)
Có thể thấy, trong số những những tài liệu công trình viết về MTGD, công trình nghiên cứu về MTVC còn rất khiêm tốn nhất là vấn đề xây dựng MTVC của theo từng độ tuổi
1.2 Lý luận về MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN
Trang 181.2.1 Môi trường vui chơi – một phần của môi trường giáo dục ở trường
MN
• Khái ni ệm Môi trường giáo dục ở trường MN
MTGD ở trường MN được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều yếu tố, điều
kiện như không gian, thời gian, trang bị sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, mối quan hệ, tương tác giữa cô và trẻ, thiên nhiên, quang cảnh xung quanh
MTGD dành cho trẻ MN được tác giả Thanh Hương xác định trong bài viết
“ Ảnh hưởng của môi trường giáo dục đối với khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt
động tạo hình”, là “tất cả những gì bao quanh đứa trẻ ở trường MN và trẻ chịu
s ự tác động của nó” [19, tr46]
Trong “Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên- Nâng
cao năng lực hiểu biết và xây dựng môi trường giáo dục của giáo viên” (2013) của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, MTGD dành cho trẻ mầm non được định nghĩa là hoàn
c ảnh sinh hoạt của trẻ, là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội nằm trong khuôn viên c ủa trường MN MTGD gồm 2 bộ phận không thể tách rời, liên quan ch ặt chẽ và bổ sung lẫn nhau là Môi trường vật chất và Môi trường tinh
th ần Trong đó:
- Môi trường vật chất: phòng nhóm/lớp học, hành lang, sân vườn và trang thiết
bị, đồ dùng dạy học, đồ chơi
- Môi trường tinh thần: bầu không khí, quan hệ xã hội, giao tiếp giữa người
lớn với người lớn, giữa trẻ với nhau, giữa trẻ với người lớn [4, tr 12]
Từ góc độ Tổ chức hoạt động của trẻ, Chương trình GDMN (2009) và các tài
liệu hướng dẫn Chương trình GDMN 2009 đã sử dụng thuật ngữ Môi trường cho
tr ẻ hoạt động (MTHĐ) [1, 24, 29…] MTHĐ của trẻ bao gồm: Môi trường vật chất
và Môi trường xã hội, nội dung của mỗi bộ phận này được trình bày chi tiết trong Chương trình GDMN (2009) [1, tr.52]
Hi ện nay MTGD trong lớp được tổ chức thành các Góc hoạt động Góc
hoạt động là một trong những thành phần quan trọng của MTGD Góc hoạt động là khu vực riêng biệt trong lớp, nơi trẻ có thể tự làm việc một mình hoặc trong nhóm
nhỏ theo hứng thú và nhu cầu cá nhân để xem xét, tìm hiểu, khám phá cái mới và
Trang 19rèn luyện kỹ năng Nói cách khác, góc hoạt động là nơi được thiết kế, che chắn, trang trí để thực hiện cách tiếp cận theo chủ điểm nhằm mục đích giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi và củng cố các khái niệm, các kiến thức đã học ở hoạt động chung [4, tr153]
Góc hoạt động là nơi trẻ có thể tự hoạt động vui chơi, học tập một mình hoặc trong nhóm nhỏ với những bạn cùng sở thích [9, tr 81]
Góc hoạt động là khu vực riêng biệt trong lớp, nơi trẻ có thể tự làm việc một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo hứng thú và nhu cầu riêng để xem xét, tím hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng [30, tr 51]
Việc xác định trong tài liệu chuyên môn nhất là trong Chương trình GDMN:
“…Khu vực hoạt động của trẻ gồm có: Khu vực chơi đóng vai; tạo hình; thư viện, khu
vực ghép hình, lắp ráp/ xây dựng…” cho thấy khu vực dành cho hoạt động chơi của
trẻ là một bộ phận của MTGD trẻ ở trường MN Nói cách khác, MTVC là một bộ
ph ận của MTGD trẻ ở trường MN
• Môi trường vui chơi
Là một bộ phận của MTGD trẻ ở trường MN, MTVC có thể được hiểu là môi
trường dành cho hoạt động chơi của trẻ với đồ dùng đồ chơi được trang bị và sắp
x ếp trong không gian thích hợp, cùng mối quan hệ tương tác giữa cô và trẻ
Nh ững điều kiên này phục vụ cho hoạt động chơi của trẻ và trẻ chịu sự tác động
c ủa nó
Gần với định nghĩa trên là khái niệm về Môi trường đồ chơi được đề cập trong
giáo trình “Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm non” (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2006): “Xây dựng môi trường đồ chơi là việc trang bị và sắp xếp đồ chơi, đồ dùng, đáp ứng nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ có tính đến khả năng
hiện tại và triển vọng phát triển hoạt động chơi của từng trẻ cũng như của cả nhóm” [14, tr 102] Trong khái niệm trên, yêu cầu Môi trường đồ chơi phải “đáp ứng nhu
cầu triển khai các trò chơi của trẻ” được lưu ý
Như vậy, MTVC của trẻ được tạo nên bởi không chỉ là việc trang bị đồ chơi mà
còn cả việc sắp xếp đồ chơi, bố trí không gian chơi cho trẻ và tương tác giữa cô và
tr ẻ trong không gian đó
Trang 20Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên về MTVC của trẻ MN song vấn đề đồ dùng đồ chơi của trẻ đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu GDMN [2, 4, 9, 25, 26, 32]
Đồ chơi dành cho trẻ MN là đồ vật những đồ vật đặc biệt dành cho trò chơi, là
phương tiện để chơi chứ không phải vật dụng trong sinh họat hằng ngày Đó là vật thay
thế cho đồ vật thật nên giúp trẻ thực hiện những hành động chơi tương ứng với hành
động sử dụng vật dụng của người lớn trong sinh hoạt hằng ngày [19, 26, 32]
Đồ chơi được phân loại theo một số cách khác nhau song phù hợp nhất cho GVMN là cách phân loại theo trò chơi: Đồ chơi hình tượng, đồ chơi xây dựng, đồ chơi lắp ráp, đồ chơi vận động, đồ chơi học tập….[4, 9, 19] Trong Giáo trình “Tổ
chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm non” còn có thể tìm thấy một số cách phân loại khác [14, tr 110-114] Danh mục đồ dùng đồ chơi qui định tại TT 02 của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nêu cụ thể, chi tiết là một căn cứ quan trọng để xem xét thực
trạng MTVC của trẻ (Phụ lục số 1)
S ắp xếp đồ chơi
Trong các lớp MG hiện nay, đồ chơi được xếp theo các góc hoạt động Góc hoạt động chính là nơi qui ước dành cho các dạng hoạt động của trẻ [9, tr165] Mặt khác, theo nguyên tắc, yêu cầu khi xây dựng góc hoạt động cần đảm bảo tính hợp lý trong sắp xếp đồ dùng và đồ chơi Đó là, cần thuận tiện cho trẻ hoạt động theo nhóm hoặc cá nhân Các đồ dùng, đồ chơi trưng bày trên giá, ngăn để trẻ dễ thấy, dễ lấy, xếp lại sau khi dùng Có những chổ để cố định đồ dùng, đồ chơi và có dán nhãn/ tên với chữ viết chân phương, rõ ràng (đối với trẻ 5-6 tuổi) [30, tr 53]
Chính vì thế, đồ chơi cũng cần sắp xếp theo các khu vực góc để đảm bảo tiện lợi khi lấy, cất đồ chơi cũng như trong lúc chơi
Các góc chơi, sắp xếp đồ chơi thông thường trong lớp:
- Góc trò chơi giả bộ có cốt chuyện: trang phục đóng vai, búp bê, đồ dùng sinh hoạt gia đình ( bát, dĩa, gương soi, ), đồ dùng theo chuyên đề (phương tiện bưu điện, bách hóa ), phương tiện học chữ (thẻ số, từ )
- Góc trò chơi xây dựng: Bộ các khối bằng gỗ, hình khối to, rỗng, mô hình chơi (trang trại xe lữa, đồ chơi hình tượng (hình người, con vật, xe )
Trang 21- Góc chơi nghệ thuật: phương tiện để vẽ (bút, phấn, ), phượng tiện cắt dán, nặn, nguyên liệu phế thải
- Góc âm nhạc: băng nhạc, nhạc cụ, dụng cụ gõ
- Góc sách: các loại sách theo chủ đề, nhân vật con rối trong truyện, sách cô trẻ cùng làm
- Góc chữ viết: các bài tập, trò chơi làm quen chữ viết, tập tô đồ nét, bút
- Góc khoa học: các đồ chơi thí nghiệm, khám phá [9, tr 87]
Cơ sở sắp xếp đồ chơi cho trẻ các độ tuổi MN
Phân tích sâu hơn về cơ sở sắp xếp đồ chơi cho trẻ trong điều kiện trường MN, trong giáo trình “tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường MN”, tác giả đã chỉ ra rằng khi xếp đồ chơi cho trẻ ở các nhóm lớp phải tính đến nội dung trẻ đang chơi, khả năng tự chơi, khả năng phối hợp với bạn của trẻ theo độ tuổi trong từng hoạt động Tác giả phân tích: Việc sắp xếp đồ chơi cần tính đến một thực tế là khả năng chơi của trẻ: trẻ nhà trẻ chơi một mình, trẻ MG có thể chơi với nhóm 2-3 bạn và có thể chia sẻ ý tưởng cùng bạn, phối hợp hành động chơi và cùng bạn dẫn dắt trò chơi theo hướng chung nào đó, nên cơ cấu một số loại đồ chơi của lớp thành bộ cho 2 đến 3 người chơi
Khả năng đưa ra ý tưởng chơi được hình thành và phát triển trong độ tuổi MN, trên cơ sở vốn hiểu biết nói chung và kinh nghiệm chơi các trò chơi nói riêng Từ chổ hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường đồ chơi- trẻ nhà trẻ có gì chơi nấy, đến những trò chơi nảy sinh từ trẻ Lúc này, đồ chơi trở thành phương tiện để trẻ thực hiện ý tưởng của mình Ở trẻ 5-6 tuổi, đồ dùng, đồ chơi không còn giữ vai trò trực tiếp chi phối nội dung trò chơi trẻ sẽ triển khai Vì vậy việc sắp xếp môi trường cần thay đổi, nên xếp môi trường theo chủng loại để khi cần trẻ dễ dàng tìm thấy [8, tr 108] Như vậy không thể sắp xếp đồ chơi như nhau ở các nhóm lớp MN
Các kiểu xếp đồ chơi [14, tr107]
- Ở nhóm trẻ nhỏ: Trẻ chơi một mình - đồ chơi bày từng món rải rác, hay từng
bộ với số lượng đủ để toàn bộ trẻ trong lớp đều có ít nhất một món/bộ đồ chơi Đồ chơi được bày sao cho có thể khích lệ trẻ thực hiện hành động chơi nhất định
Trang 22- Ở nhóm trẻ 3-4 tuổi: Đồ chơi xếp theo góc chủ đề “Trò chơi gia đình”, “Bác sĩ”, góc “Xây dựng đường phố”, “Xây trường MN”… đồ chơi cơ cấu cho nhóm vài
ba trẻ
- Ở nhóm trẻ 5-6 tuổi: Đồ chơi xếp theo chủng loại và qui ước chơi gì ở đâu, khi cần trẻ tự lấy đồ chơi để chơi Cách xếp này tính đến khả năng và nhu cầu tự do sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi khi chơi
Có thể thấy hiện nay trong thực tế cách sắp xếp thứ ba không được triển khai
Ở các lớp MG 5-6 tuổi không gian chơi được bố trí thành các góc hoạt động và trong các góc đồ chơi được xếp theo chủ đề (Rõ nhất là các góc chơi sáng tạo)
• Vai trò của MTVC:
MTGD nói chung và MTVC có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của trẻ trong trường mầm non, là điều kiện tối cần thiết để thực hiện Chương trình GDMN Môi trường này được xây dựng bởi giáo viên và trẻ, tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm, hỗ trợ phát triển về thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm-xã hội và thẩm mỹ Là phương tiện, học liệu và những hoạt động đa dạng; những tình huống lôi cuốn trẻ tham gia tích cực, khám phá, thực hành, giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo để
trực tiếp lĩnh hội kinh nghiệm; giao tiếp giữa giáo viên với trẻ và trẻ với trẻ Ở đó
các mối quan hệ được thiết lập cho trẻ thấy trẻ được coi trọng và chấp nhận như một
thành viên độc lập trong tập thể [4, tr50]
Đặc biệt khi nói đến MTVC, việc xây dựng MTVC- MTĐC hợp lý tạo ra các
cơ hội để giáo viên trợ giúp trẻ mở rộng nội dung các trò chơi, hình thành và phát triển ở trẻ các kỹ năng chơi, khả năng phối hợp với bạn và khả năng tự chơi, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của trẻ về mọi mặt Với trẻ 5-6 tuổi, MTVC thích
hợp sẽ tạo cơ hội để trẻ phát huy tính tích cực, sáng tạo trong triển khai các trò
chơi [14, tr 102]
Việc xây dựng MTVC (Trang bị, sắp xếp đồ chơi) được coi là biện pháp hướng dẫn trẻ chơi vì đây chính là biện pháp giúp trẻ mở rộng nội dung chơi, khả năng tự chơi, kỹ năng chơi, phối hợp với bạn trong khi chơi
Trang 231.2.2 Đặc điểm MTVC của trẻ 5-6 tuổi
a) MTVC của trẻ 5-6 tuổi phải được trang bị đủ nhất là về thể loại và có vị trí thích đáng cho đồ vật dùng thay thế để đáp ứng nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ theo độ tuổi
Các TCĐV, TCXD của trẻ 5-6 tuổi có nội dung rất đa dạng phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều ngành nghề khác nhau do vậy MTVC cần được sắp xếp sao cho ý tưởng chơi, nội dung chơi dễ dàng nảy sinh và phát triển Cần có sự cân bằng giữa đồ chơi hình tượng và đồ dùng thay thế Đồ vật có thể sử dụng thay thế cần có vị trí xứng đáng Trẻ 5-6 tuổi có khả năng tự tìm kiếm và sử dụng vật thay thế để thực hiện ý tưởng chơi chính là cách để trẻ tự giải quyết nhu cầu về đồ chơi khi cần
b) Xếp đồ chơi theo chủng loại để khi cần trẻ tự tìm sử dụng
Cần hết sức lưu ý đến khả năng chơi của trẻ MG 5-6 tuổi trong trò chơi sáng tạo (trò chơi giả bộ có cốt chuyện và trò chơi xây dựng) [15, tr14-19], đặc biệt là khả năng tự lực sáng tạo khi chơi Các trò chơi của trẻ cần một không gian tự do cho trí tưởng sáng tạo do vậy MTVC cần được sắp xếp sao cho không gò bó giới hạn nội dung chơi của trẻ trong phạm vi đề tài hay chủ đề nào đó Cách sắp xếp đồ dùng đồ chơi phù hợp nhất là xếp theo lọai để trên kệ dễ thấy và dễ lấy Không gian chơi cũng được qui ước: Nơi chơi đóng vai, nơi chơi xây dựng, nơi vẽ nặn cắt dán, nơi chơi cờ Số lượng trẻ có thể chơi cùng nhau do vậy cũng không bị giới hạn c) Trẻ 5-6 tuổi cần được tham gia tích cực vào việc bổ sung, cất bớt đồ chơi, quyết định nơi để đồ chơi [6, tr 6]
Trẻ tham gia xây dựng cùng giáo viên: bổ sung thêm học liệu, đồ chơi; sắp
xếp và vệ sinh góc hoạt động Trẻ được tham gia vào việc tổ chức môi trường nhất là trong trường hợp đồ dùng đồ chơi mới Khi trẻ tham gia cùng cô xây dựng môi trường, chúng ta đã tạo cho trẻ một tâm thế tích cực để xây dựng một sự mới mẻ cho lớp, làm cho trẻ rất thích thú và hào hứng và nảy sinh ý tưởng sáng tạo trong quá trình thực hiện Vì vậy, cần khuyến khích trẻ chia sẻ kinh nghiệm xem trong lớp
cần có những góc chơi nào/ trang trí ra sao? Cần có những đồ dùng, đồ chơi nào cho
Trang 24góc đó? Cần đảm bảo tính tích cực, tự nguyện, hứng thú của trẻ trong việc chọn
trò chơi, tham gia vào nhóm chơi, chọn bạn chơi, góc chơi, đồ dùng, đồ chơi
d) MTVC của trẻ 5-6 tuổi phải thể hiện được việc chuẩn bị cho trẻ học chữ,
học toán ở lớp Một Bên cạnh những trò chơi học tập có nội dung làm quen với toán, và làm quen với chữ viết, chữ và số được khuyến khích sử dụng để làm nhãn cho các hộp đồ chơi, trang trí nơi chơi…
1.2.3 Những yêu cầu đối với MTVC của trẻ ở trường mầm non
Để giúp phát huy triệt để vai trò của MTGD nói chung và MTVC của trẻ ở trường MN nói riêng, chúng ta cần tuân thủ một số nguyên tắc, yêu cầu cơ bản Khi nói đến nguyên tắc, yêu cầu của môi trường hoạt động- môi trường vui chơi, có không ít tài liệu, giáo trình cũng như văn bản chỉ đạo của Bộ, Ngành đề cập đến Điển hình, là một số văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
a) Chương trình giáo dục mầm non năm 2009 do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành [1, tr 69] Có qui định về tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động trong phòng lớp (đối với trẻ MG):
- Trang trí lớp học phải đảm bảo thẩm mỹ, thân thiện phù hợp với chủ đề giáo dục
- Có các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu đa dạng, phong phú, hấp dẫn trẻ
- Sắp xếp và bố trí đồ dùng, đồ chơi hợp lý, đảm bảo an toàn và đáp ứng mục đích giáo dục
- Các khu vực hoạt động bố trí phù hợp, linh hoạt, mang tính mở, tạo điều kiện
dễ dáng cho trẻ tự lựa chon và sử dụng đồ vật, đồ chơi, tham gia các hoạt động và thuận lợi cho sự quan sát của giáo viên
- Các khu vực hoạt động của trẻ gồm có: khu vực chơi đóng vai; tạo hình; thư viện (sách, tranh truyện); khu vực ghép hình, lắp ráp/xây dựng; khu vực dành cho hoạt động khám phá thiên nhiên và khoa học; hoạt động âm nhạc và có khu vực yên tĩnh cho trẻ nghỉ ngơi Khu vực yên tĩnh bố trí xa khu vực ồn ào Tên các khu vực họa động đơn giản, phù hợp với chủ đề và tạo môi trường làm quen với chữ viết
Trang 25b) Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 02 năm 2015 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về Ban hành Danh mục Đồ dùng- đồ chơi- Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho Giáo dục mầm non và Quyết định số 3141/QĐ-BGDĐT, ngày 30 tháng 7
năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật Đồ dùng - Đồ
chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho GDMN
Nội dung văn bản qui định, hướng dẫn cụ thể loại đồ dùng-thiết bị dạy học, đồ chơi và học liệu- sách, tài liệu, băng dĩa; số lượng; tiêu chuẩn kỷ thuật (chất liệu, kích thước) của từng độ tuổi (từ 3 tháng đến 5 tuổi)
Đến năm 2013, có thông tư số 34/2013/TT-BGDĐT ngày 17 tháng 9 năm 2013
của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sửa đổi, bổ sung một số thiết bị quy định tại Danh mục
Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 2 năm 2010 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo Thông tư giảm bớt một thiết bị dạy học cho trẻ ở các lứa tuổi
từ 3 tháng đến 5 tuổi
Trong đó, bãi bỏ các thiết bị được quy định tại Danh mục Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho GDMN ở lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi như sau: Truyện tranh các loại, vở tập tạo hình, vở làm quen với toán, tập tô chữ cái, Chương trình GDMN, sách Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình GDMN, đồ chơi và trò chơi cho trẻ dưới 6 tuổi, tuyển tập thơ ca, truyện kể, trò chơi, câu đố, hướng dẫn bảo vệ môi trường trong trường MN, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả Như vậy
với thông tư này, danh mục đồ chơi cho trẻ không thay đổi
c) Tài liệu Bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên năm 2013
“Nâng cao năng lực hiểu biết và xây dựng MTGD của giáo viên” Trong tài liệu có qui định yêu cầu MTGD cho trẻ MN (an toàn- vệ sinh, phù hợp đặc điểm tâm sinh
lý và nhu cầu cùa trẻ MN, đáp ứng yêu cầu của chương trình- theo quá trình hoạt động chủ đề; xây dựng các khu vực/ góc hoạt động [4, tr13] Trong có, có dành một hoạt động trong mô đun 7, đưa ra các yêu cầu và đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học dành cho trẻ mầm non nói chung Cụ thể:
Trang 26- Tính an toàn: theo qui định tại Thông tư số 18/2009/TT-BKHCN, ngày 26 tháng 6 năm 2009 của Bộ trưởng khoa học và Công nghệ về việc ban hành và thực hiện “ Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi trẻ em” và hợp vệ sinh
- Tính giáo dục và thẩm mỹ: giúp trẻ phát triển khả năng vận động, ngôn ngữ, cảm xúc, thẩm mỹ và quan hệ XH
- Thiết bị dạy học, đồ chơi, học liệu và sách, tài liệu dùng trong nhóm lớp có
tủ hoặc giá đựng ngăn nắp, gọn gàng, sử dụng tiện lợi
- Khai thác giá trị của đồ dùng, đồ chơi, thiết bị một cách triệt để, linh hoạt cho nhiều mục đích khác nhau trong các hoạt động giáo dục đa dạng theo cá nhân hoặc theo nhóm để có thể chia sẻ đồ dùng, đồ chơi giữa các khu vực/góc hoạt động
và nhóm/lớp
- Cung cấp đồ dùng ở trạng thái mở, khuyến khích trẻ hoạt động và sắp xếp
để trẻ có nhiều cơ hội hoạt động, dễ lấy, dùng và cất sau khi sử dụng
- Ngoài đồ dùng công nghiệp có thể sử dụng những thứ sẳn có tìm thấy ở xung quanh như: đồ dùng sinh hoạt, phế liệu, vật liệu thiên nhiên Việc tái chế đồ vật, phát triển óc sáng tạo của trẻ; phát triển kỹ năng và sự khéo léo của đôi bàn tay khi làm đồ chơi
- Bổ sung dần những cái mới vào các thời điểm khác nhau
Ngoài ra, tài liệu còn đưa ra yêu cầu cần đạt khi xây dựng các góc đối với trẻ
MG Cụ thể:
- Số lượng các góc tùy thuộc vào diện tích, số lượng trẻ chơi, trò chơi, chủ điểm giáo dục để bố trí
- Phù hợp với mục tiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ điểm
- Vị trí góc phải hợp lý, thuận tiện cho trẻ hoạt động Các góc yên tĩnh xa góc
ồn ào
- Có chổ cho hoạt động chung và chổ hoạt động cá nhân Các góc nên có khoảng rộng, cách nhau hợp lý để đảm bảo an toàn và vận động của trẻ trong quá trình hoạt động
Trang 27- Tạo ranh giới giữa các góc hoạt động để giúp trẻ nhận dạng được phạm vi góc từ đâu đến đâu
- Thay đổi hoặc bố trí, sắp xếp lại một số góc sau mỗi chủ điểm để tạo cảm giác mở lạ, kích thích hứng thú của trẻ
- Tên các góc đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nội dung chủ điểm đang thực hiện
- Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu trong góc được trình bày sao cho trẻ dễ thấy, dễ lấy, dễ lựa chọn để lựa chọn và cất gọn sau khi dùng Những thiết bị đồ chơi nặng đặt ngay trên bàn, những đồ chơi gồm nhiều thiết bị, bộ phận để theo bộ với nhau vào các hộp, rổ đồ chơi
- Đối với những đồ dùng, đồ chơi có cách làm đơn giản, dễ làm thì giáo viên khuyết khích trẻ cùng tham gia thực hiện Giáo viên không làm thay trẻ những gì trẻ
có thể làm được, cần động viên khuyến khích trẻ tham gia tích cực
- Trang trí các góc cần linh hoạt, hấp dẫn và thay đổi nội dung theo chủ đề Có thể dùng tranh ảnh, cây xanh, sản phẩm của trẻ Không nên vẽ những bức tranh chết lên tường Cần có những biểu bảng, tranh ảnh minh họa cụ thể cho trẻ dễ hiểu Các mảng tường nên sơn màu sáng, ấm áp dễ chịu
d) Tài liệu Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ MN [6, tr 7] Trong phần thiết kế môi trường lấy trẻ làm trung tâm, cũng có đề cập đến yêu cầu, những lưu ý khi thiết kế góc hoạt động:
- Sắp xếp: những hoạt động tương đồng thì ở gần nhau (hoạt động tĩnh xa hoạt động động)
- Giới hạn không gian: chiếu, giá, đồ dùng
- Nhiều góc sẽ ở trong phòng
- Kiểu lưu chuyển: đảm bảo rằng sự di chuyển qua lại trong phòng hay ngoài trời phải hạn chế tối đa sự cản trở Đảm bảo rằng trẻ có thể dễ dàng di chuyển dễ dàng giữa các góc mà không va chạm nhau, hoặc vướng đồ vật
- Có đồ chơi, học liệu và phương tiện đặc chủng
Trang 28- Các góc phải được bày biện hấp dẫn không gian để chơi và lối đi giữa các góc: cần giới hạn số trẻ trong những không gian nhỏ để trẻ có thể hoạt động được thoải mái
- Không cần thiết phải dành ra một không gian rộng thoáng cố định vì có thể
sẽ khó khăn cho việc sắp xếp các góc hoạt động, hạn chế việc học và chơi của trẻ
trong các góc hoạt động này
Học liệu và phương tiện trong góc hoạt động: Điều quan trọng là các đồ dùng
và học liệu mà giáo viên cung cấp cho các góc hoạt động cần được lên kế hoạch thật
cẩn trọng để hỗ trợ giáo viên lên kế hoạch cho việc học của trẻ và để thu hút trẻ
tham gia, cũng như tạo ra các cơ hội học tập khác
Học liệu và phương tiện trong góc hoạt động hợp lý:
- Hỗ trợ giáo viên lập kế hoạch học tập cho trẻ, kích thích trẻ tham gia và làm phong phú hoạt động chơi và học của trẻ
- Có thể thay đổi tùy theo giáo viên dự định và tùy vào hứng thú, khả năng
của trẻ
- Đầy đủ và đa dạng
- Phong phú và được bổ sung khi cần
- Được bày biện một cách hấp dẫn
- Sắp đặt hợp lý và thuận tiện
- Mang tính mở, không cố định trẻ phải sử dụng theo cách nào cho đúng
- Nguyên vật liệu tự nhiên và phế liệu
- Phản ánh rõ sự khác biệt văn hóa (mang màu sắc vùng miền, địa phương)
của trẻ trong trường và của cộng đồng
- Đảm bảo rằng trẻ có thể thể hiện các ý tưởng và không bị gò bó
Trên cơ sở tổng hợp những yêu cầu trên đây, nhất là thông tư 02, đồng thời căn cứ vào kết quả nghiên cứu những đặc trưng cần có của MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi, 20 tiêu chí đánh giá MTVC của trẻ được đề xuất Bao gồm:
Trang 291 Trang bị đồ chơi phải đủ về thể loại đáp ứng nhu cầu triển khai các hoạt động tự
do trong đó có nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ 5-6 tuổi (Kèm theo “Danh mục đồ dùng đồ chơi dành cho trẻ MG 5-6 tuổi”)
2 Trang bị đồ dùng đồ chơi cần tính đến yếu tố chủ đề và hứng thú của trẻ trong các hoạt động và các trò chơi
3 Trang bị đồ dùng đồ chơi nhất là phục vụ các trò chơi sáng tạo cần đảm bảo
sự cân bằng hợp lí của loại đồ chơi đơn chức năng và đa chức năng (loại đồ vật mà trẻ có thể dùng thay cho một vài loại đồ chơi khi thiếu)
4 Đồ chơi nguyên vẹn, không hư hỏng, chắc chắn và sử dụng được
5 Số lượng góc hoạt động, qui mô các bộ đồ dùng đồ chơi có thể cho phép triển khai hoạt động trò chơi theo nhóm 2-3 trẻ;
6 Sắp xếp đồ dùng đồ chơi có tính đến khả năng và nhu cầu tự do sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi nhất là đối với các góc chơi sáng tạo;
7 Các góc hoạt động được xác định rõ ràng, thuận tiện cho trẻ khi triển khai hoạt động;
8 Trong lớp có dành khoảng không tự do, trẻ có thể sử dụng khi cần;
9 Các giá đựng, hộp chứa đồ dùng, đồ chơi được ký hiệu rõ ràng, thể hiện được việc chuẩn bị cho trẻ đi học phổ thông qua việc sử dụng chữ cái ở các góc hoạt động;
10 Sử dụng hợp lí sản phẩm hoạt động của trẻ trong vai trò đồ dùng đồ chơi
và như vật trưng bày kích thích trẻ hứng thú hoạt động;
11 Sắp xêp đồ dùng đồ chơi, thay đổi các góc hoạt động được thực hiện trong quá trình năm học có tính đến nhu cầu hoạt động của trẻ, tính đến yếu tố thời gian
và thay đổi chủ đề giáo dục;
12 Có qui định nơi để đồ chơi, trẻ biết vị trí qui ước cho việc triển khai các hoạt động, các trò chơi;
13 Trẻ được tạo điều kiện tham gia tích cực vào việc xây dựng MTVC:
- Việc trang bị đồ chơi được thực hiện trên cơ sở tính đến nhu cầu và hứng thú của
trẻ;
- Trẻ tham gia vào việc sắp xếp MTVC khi thay đổi chủ đề và trong việc
chuẩn bị cho từng giờ chơi;
Trang 3014 Bố trí vị trí các góc chơi sao cho GV có thể bao quát được hoạt động của tất cả trẻ trong giờ chơi ở tất cả các góc;
15 Đồ dùng đồ chơi đẹp, nguyên vẹn có màu sắc tươi tắn;
16 Đồ dùng đồ chơi sạch sẽ, làm bằng chất liệu an toàn đối với trẻ;
17 Đồ dùng đồ chơi có hình dạng, kích thước, trọng lượng phù hợp và để ở vị trí an toàn đối với trẻ;
18 MTVC được sắp xếp ngăn nắp trật tự (mà không làm hạn chế sự tiện dụng);
19 Các góc hoạt động cần đủ ánh sáng (Tạo hình, chữ viết, đọc sách, học tâp…), được ưu tiên bố trí ở vị trí có nguồn sáng;
20 Sắp xếp các góc để trẻ không làm phiền lẫn nhau khi chơi, tách góc hoạt động ồn ào với các góc hoạt động yên tĩnh;
Trong đó: Các tiêu chí từ 1 đến 12 gồm các yêu cầu mang tính giáo dục, hướng đến việc đáp ứng nhu cầu triển khai các loại trò chơi của trẻ 5-6 tuổi; Các tiêu chí từ 13 đến 20 gồm các yêu cầu mang tính an toàn, thẩm mỹ
Trang 31Kết luận Chương 1
1 Từ hơn 10 năm trở lại đây cùng với việc nghiên cứu và cho ra đời Chương trình GDMN 2009, vấn đề xây dựng MTGD trong đó có MTVC của trẻ MN đã được các nhà quản lí, các nhà nghiên cứu GDMN đặc biệt quan tâm Đã có những công trình, tài liệu nhất định về MTGD nói chung và MTVC nói riêng Bên cạnh
đó còn có những qui định mang tính pháp lí đối với việc đưa ra những yêu cầu, qui định trong việc trang bị, sắp xếp MTVC- góc hoạt động cho trẻ Tuy nhiên chưa có công trình nào chuyên về MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi
2 MTVC là một phần quan trọng của MTGD trẻ ở trường MN Là một bộ phận của
MTGD trẻ, MTVC có thể được hiểu là môi trường dành cho hoạt động chơi của trẻ với đồ dùng đồ chơi được trang bị và sắp xếp trong không gian thích hợp, cùng mối quan hệ tương tác giữa cô và trẻ
3 MTVC có vai trò quan trọng vừa là điều kiện, vừa là biện pháp tổ chức hướng dẫn trẻ chơi MTVC của trẻ 5-6 tuổi cần đáp ứng những yêu cầu của MTGD nói chung đồng thời đáp ứng những yêu cầu của hoạt động chơi nói riêng, trong đó
có yêu cầu đặc thù nhằm thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ MG 5-6 tuổi Trẻ 5-6
MG tuổi cần được tham gia tích cực vào quá trình xây dựng MTVC cho chính mình
4 MTVC của trẻ 5-6 tuổi cần thể hiện được đặc trưng tự do sáng tạo, tính chủ định trong hành động, không phụ thuộc vào đồ chơi có sẵn và việc chuẩn bị cho trẻ đi học phổ thông
5 Danh mục 20 tiêu chí đã được đề xuất đưa vào nội dung Phiếu khảo sát MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi ở một số trường MN Quận Bình Tân
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MG
5- 6 TUỔI TRONG CÁC TRƯỜNG MN QUẬN BÌNH TÂN
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
Thực trạng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi của Quận Bình Tân được triển khai ở
24 lớp MG 5-6 tuổi thuộc 12 trường MN trên địa bàn Quận với nội dung cụ thể gồm:
a) Đánh giá việc trang bị, sắp xếp đồ chơi, bố trí không gian chơi trong lớp của trẻ đối chiếu với hệ thống tiêu chí được xây dựng;
b) Quan sát hành vi của trẻ trong MTVC được khảo sát:
- Hành vi của trẻ trong 5 phút đầu giờ chơi nhằm xem xét việc lựa chọn đồ chơi, góc chơi của trẻ;
- Tỷ lệ trẻ phân bố vào các góc chơi trong MTVC được khảo sát;
- Tình hình trẻ phát triển nội dung các trò chơi sáng tạo trong MTVC được khảo sát;
- Hành động chơi của trẻ trong MTVC khảo sát (TCĐV);
c) Nghiên cứu Kế hoạch Xây dựng MTVC trong Kế hoạch tổ chức hoạt động vui chơi của GVMN
d) Nghiên cứu nhận thức của giáo viên các lớp khảo sát về MTVC và cách thức mà GVMN tiến hành xây dựng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi, đặc biệt là việc tạo điều kiện để trẻ tích cực tham gia vào quá trình xây dựng MTVC cho chính mình
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
Trang 33Để thu thập thông tin về thực trạng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi trong các trường
MN, trong đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp như: Phương pháp Quan sát sư phạm, phương pháp Điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp Nghiên cứu hồ sơ giáo dục của giáo viên MN, phương pháp đàm thoại Trong đó phương pháp Quan sát là phương pháp nghiên cứu chính
Có 12 trường MN với 24 lớp MG 5-6 tuổi được chọn để nghiên cứu Đây là các trường MN công lập có số lượng lớp MG 5-6 tuổi chiếm 1/3 trên tổng số nhóm lớp của từng trường, các trường đã và đang thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi nên trang bị đồ dùng đồ chơi cho lứa tuổi này được thực hiện theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thông tư 02/2010), 100% đội ngũ CBQL- GV đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, giáo viên phụ trách đứng lớp ở lứa tuổi này có thâm niên công tác ít nhất 3 năm Đặc biệt, đây cũng chính là các trường đại diện cho mặt bằng chuyên môn của Quận ( về cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ, chất lượng chuyên môn)
Vì vậy, cũng thể hiện rỏ nhất thực trạng của Quận trong giai đoạn hiện nay
Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát MTVC tại 12 trường MN, mỗi trường 2 lớp MG 5-6 tuổi Mỗi lớp được quan sát 2 lần, khoảng cách giữa 2 lần quan sát từ 1 đến 1,5 tuần Phương pháp quan sát được phối hợp cùng phương pháp đàm thoại với GVMN ngay sau buổi chơi được quan sát
Các nội dung nghiên cứu a, b và c được thực hiện chủ yếu bằng Phương pháp quan sát Thông tin ghi nhận được bằng Phương pháp Quan sát lần lượt được ghi lại trong các Phiếu KS1, KS2
Ngoài ra còn sử dụng máy ghi hình, chụp hình
Phiếu Quan sát MTVC trước giờ chơi – Kí hiệu KS1
Trên cơ sở những yêu cầu trong thông tư 02/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với việc trang bị đồ chơi cho các lớp MN, kết hợp với kết quả nghiên cứu lí luận về MTVC được trình bày ở chương 1
Trang 34Phiếu bao gồm 20 tiêu chí trong đó: Các tiêu chí từ 1 đến 12 gồm các yêu cầu mang tính giáo dục, hướng đến việc đáp ứng nhu cầu triển khai các loại trò chơi của trẻ MG 5-6 tuổi; Các tiêu chí từ 13 đến 20 gồm các yêu cầu mang tính an toàn, thẩm
mỹ
Về một số tiêu chí mang tính giáo dục:
- Tiêu chí 1: Trang bị đồ chơi phải đủ về thể loại đáp ứng nhu cầu triển khai các hoạt động tự do trong đó có nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ 5-6 tuổi (Kèm theo “Danh mục đồ dùng đồ chơi dành cho trẻ 5-6 tuổi”) có 2 nội dung:
+ Nội dung 1: Trang bị đồ chơi đủ theo qui định thông tư 02/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về qui định trang thiết bị dạy học tối thiểu dành cho trẻ mầm non Tức là đáp ứng về thể loại theo qui định của Nhà nước
+ Nội dung 2: Trang bị đồ chơi đủ về thể loại đáp ứng nhu cầu triển khai các hoạt động tự do trong đó có nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ MG 5-6 tuổi Tức
là ngoài đáp ứng về thể loại mang tính hình tượng (số lượng), còn đáp ứng theo nhu cầu triển khai các hoạt động tự do của trẻ (bao gồm các nguyên vật liệu mở, đồ vật thay thế để trẻ có thể sử dụng khi cần)
Vd: Trò chơi sáng tạo (TCĐV-TCXD): Phương tiện tạo khung cảnh chơi cần
có nhiều loại mô hình khác nhau, một số thùng cát tông lớn để trẻ trang trí khi cần,
đồ chơi đã qua sử dụng, nguyên vật liệu thiên nhiên: cây, lá khô, vỏ ốc, sỏi, cát, hạt
- Tiêu chí 5: Số lượng góc hoạt động, qui mô các bộ đồ dùng đồ chơi có thể cho phép triển khai hoạt động trò chơi theo nhóm 2-3 trẻ; Tức là số lượng góc chơi,
và bộ đồ chơi trong góc đáp ứng số lượng trẻ chơi 2-3 trẻ/ góc Vd: Đồ chơi xây dựng “ lắp ráp: 2 thùng/ 35 trẻ, không đủ nếu đáp ứng yêu cầu tỷ lệ bình quân trẻ chơi trò chơi sáng tạo là 50%”
- Tiêu chí 7: Các góc hoạt động được xác định rõ ràng, thuận tiện cho trẻ khi triển khai hoạt động
+ Yếu tố “góc hoạt động được xác định rỏ ràng” tức là các bộ đồ chơi, đồ dùng theo chức năng được phân biệt và cho vào ngăn tủ, hộc tủ và có qui ước ký hiệu (chữ viết, hình ảnh) để trẻ có thể lấy khi cần Sắp xếp theo từng khu vực, góc chơi
Trang 35+ Yếu tố thuận tiện cho trẻ khi triển khai hoạt động: các góc chơi được bố trí ngay tại không gian trẻ chơi, hoặc nếu có di chuyển góc chơi, vị trí chơi vẫn không ảnh hưởng đến bạn và mất thời gian vận chuyển đồ chơi để chơi
- Tiêu chí 8: Trong lớp có dành khoảng không tự do, trẻ có thể sử dụng khi cần ngoài những vị trí dành cho các loại trò chơi đã được qui ước trước
- Tiêu chí 9: Các giá đựng, hộp chứa đồ dùng, đồ chơi được ký hiệu rõ ràng, thể hiện được việc chuẩn bị cho trẻ đi học phổ thông qua việc sử dụng chữ cái ở các góc hoạt động Tức là các giá đựng, hộp chứa đồ dùng, đồ chơi được ký hiệu bằng chữ viết, kèm hình ảnh
- Tiêu chí 12: Có qui định nơi để đồ chơi, trẻ biết vị trí qui ước cho việc triển khai các hoạt động, các trò chơi Thông qua hỏi trẻ “ Con lấy đồ chơi “ ” ở góc xây dựng, góc học tập ”
Phiếu quan sát ghi nhận thông tin về hành vi của trẻ trong MTVC được khảo sát
Phiếu KS2 ( Trang tiếp theo) ghi nhận thông tin về:
- Cách mà trẻ chọn và bắt đầu chơi trong 5 phút đầu và can thiệp của GV;
- Tình hình trẻ phân bố vào các góc chơi
- Tình hình trẻ phát triển nội dung các trò chơi sáng tạo
- Hành động chơi của trẻ
Trang 36b) Nghiên cứu Kế hoạch tổ chức HĐVC của GVMN các lớp khảo sát
Kế hoạch tổ chức HĐVC được xem xét nhằm tìm hiểu cụ thể hơn về cách thức
được GVMN xây dựng MTVC dành cho trẻ cũng như vai trò của trẻ trong quá trình xây dựng MTVC của chính mình (KS3)
c) Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi
Phiếu hỏi gồm 14 câu dùng chung cho GVMN phụ trách lớp MG 5-6 tuổi và các Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn các trường MN có lớp tham gia khảo sát Nội dung Phiếu hỏi nhằm làm rõ những nội dung như:
- Nhận thức của giáo viên về MTVC, ảnh hưởng của MTVC lên trò chơi của trẻ, đặc trưng và yêu cầu MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi;
- Cách thức giáo viên xây dựng MTVC dành cho trẻ trong sự phối hợp với các biện pháp khác và việc tạo cơ hội để trẻ tham gia;
- Những khó khăn và đề xuất của giáo viên đối với việc xây dựng MTVC dành cho trẻ MG 5-6 tuổi
2.1.3.2 Phương pháp xử lí thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu
Thông tin thu thập được bằng về thực trạng MTVC phương pháp quan sát và nghiên cứu Kế hoạch xây dựng MTVC của trẻ được tập trung phân tích về mặt định tính đối chiếu với những yêu cầu xác định nhằm làm rõ bức tranh về thực trạng MTVC
“ Xây dựng MTVC hợp lý tạo ra các cơ hội giúp trẻ mở
rộng các trò chơi, hình thành phát triển ở trẻ
… , phát triển khả năng phối hợp với bạn ………Với trẻ 5-6 tuổi, MTVC thích hợp sẽ tạo cơ
Trang 37hội để trẻ phát huy tính trong triển khai các trò chơi.”
Nội dung cần điền gồm 3 ý lần lượt là: nội dung, kĩ năng chơi và khả năng tự lực sáng tạo
Câu 3: Theo cô hiện nay các GVMN đã thực sự quan tâm đến việc xây dựng MTVC cho trẻ chưa? Cô hãy cho biết ý kiến về tầm quan trọng của biện pháp xây
dựng MTVC so với các biện pháp khác thường được giáo viên vận dụng để hướng
Câu hỏi mở, nội dung ý kiến trả lời được ghi nhận và tổng hợp Qua nội dung trả
lời sẽ có nhận xét về việc GVMN và CBQL nhận thức như thế nào về yêu cầu đối với
MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi
Câu 5: Việc xây dựng MTVC của trẻ MG 5-6 tuổi tại lớp cô đang phụ trách được tiến hành như thế nào? Thường xuyên hay định kì trong năm học? Căn cứ vào đâu để GV thực hiện việc thay đổi trong trang bị, sắp xếp đồ chơi của lớp?
Câu hỏi mở, nội dung ý kiến trả lời được ghi nhận và tổng hợp Qua nội dung
trả lời sẽ có nhận xét về việc GVMN và CBQL nhận thức như thế nào về căn cứ để
có những điều chỉnh sắp xếp MTVC của trẻ 5-6 tuổi: Khả năng tự lực sáng tạo của trẻ, hứng thú và nhu cần của trẻ đối với việc phát triển các trò chơi (đang chơi) và Chương trình kế hoạch giáo dục (theo chủ đề mới)
Câu 6: Theo cô, trẻ có thể tham gia vào việc trang bị và sắp xếp đồ chơi trong
lớp không? Hãy nêu ví dụ cụ thể từ thực tiễn công việc của cô?
Câu hỏi mở, nội dung ý kiến trả lời cần có 2 phần:
- Khẳng định khả năng tham gia của trẻ
Trang 38- Mô tả cách mà cô tạo điều kiện để trẻ tham gia, qua đó đánh giá về thực chất chủ động và tự sáng tạo hay chỉ “giúp cô” chuẩn bị đồ chơi
Câu 7 và Câu 8: Là các câu hỏi đóng, ý kiến trả lời sẽ được tập hợp
Câu 9: Theo cô hiện nay việc sắp xếp đồ chơi ở lớp MG 4-5 tuổi và ở lớp MG 5-6 tuổi ở các trường MN có những khác biệt nào? Theo cô những khác biệt cần có là gì?
Nội dung trả lời đúng cần có ý: Cách sắp xếp đồ chơi cần khích lệ trẻ MG 5-6 tuổi tự do sáng tạo và phát huy tính tự lực của trẻ
Câu 10 và câu 11: Cô hãy nêu những biện pháp thường vận dụng để hướng
dẫn trẻ chơi trò chơi mới theo thứ tự từ quan trọng nhất (Trò chơi mới là trò chơi đóng vai hoặc trò chơi xây dựng)
Giả sử trò chơi đóng vai “Tiệm làm tóc” là trò chơi mới, cô dự định sẽ hướng
dẫn trẻ chơi Vậy việc hướng dẫn của cô sẽ diễn ra như thế nào? Hãy mô tả cụ thể
và nêu tên biện pháp mà cô vận dụng (Cô có thể chọn một đề tài khác phù hợp hơn
với thực tế công tác của bản thân)
Nội dung trả lời đúng cần nêu được cả 4 biện pháp trong đó lưu ý đến việc lựa chọn xây dựng MTVC Bên cạnh đó việc sử dụng thuật ngữ chỉ các biện pháp, biểu hiện áp đặt trẻ cũng được lưu ý
Câu 12, 13 và 14 - câu hỏi mở, nội dung ý kiến trả lời sẽ được tập hợp
Số liệu nghiên cứu được phân tích tổng hợp để đánh giá theo tỷ lệ % và được trình bày chủ yếu bằng hình thức bảng tổng hợp
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng môi trường vui chơi của trẻ MG 5-6 tuổi trong một số trường MN Quận Bình Tân
2.2.1 Kết quả quan sát MTVC trước giờ chơi
Kết quả phân tích Phiếu KS-1 được tổng hợp trong bảng dưới đây:
B ảng 2.1 Tổng hợp kết quả quan sát MTVC ở lớp 5-6 tuổi
N= 24
n là tỷ lệ lớp MG 5-6t được đánh giá đạt/ không đạt
Trang 39n %
1
Trang bị đồ chơi phải đủ về thể loại đáp ứng nhu cầu triển khai các hoạt động
tự do trong đó có nhu cầu triển khai các trò chơi của trẻ 5-6 tuổi (Kèm theo
“Danh mục đồ dùng đồ chơi dành cho trẻ 5-6 tuổi”)
1.1
Trang bị đồ chơi đủ theo qui định thông tư 02/2010 của Bộ
GD&ĐT về qui định trang thiết bị dạy học tối thiểu dành cho
trẻ mầm non
24 100%
1.2
Trang bị đồ chơi đủ về thể loại đáp ứng nhu cầu triển khai các
hoạt động tự do trong đó có nhu cầu triển khai các trò chơi
của trẻ 5-6 tuổi
5 21%
2 Trang bị đồ dùng đồ chơi cần tính đến yếu tố chủ đề và hứng thú của trẻ trong các hoạt động và các trò chơi
2.1 Trang bị đồ dùng đồ chơi có tính đến yếu tố chủ đề 24 100%
2.2 Trang bị đồ dùng đồ chơi có tính đến hứng thú của trẻ trong
các hoạt động và các trò chơi 5 21%
3
Trang bị đồ dùng đồ chơi nhất là phục vụ các trò chơi sáng
tạo cần đảm bảo sự cân bằng hợp lí của loại đồ chơi đơn chức
năng và đa chức năng (loại đồ vật mà trẻ có thể dùng thay cho
một vài loại đồ chơi khi thiếu)
20 83%
4 Số lượng góc hoạt động, qui mô các bộ đồ dùng đồ chơi có
thể cho phép triển khai hoạt động trò chơi theo nhóm 2-3 trẻ; 4 17%
5
Sắp xếp đồ dùng đồ chơi có tính đến khả năng và nhu cầu tự
do sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi nhất là đối với các góc chơi sáng
tạo;
0 0%
6 Các góc hoạt động được xác định rõ ràng, thuận tiện cho trẻ
khi triển khai hoạt động; 16 67%
7 Trong lớp có dành khoảng không tự do, trẻ có thể sử dụng khi
8 Các giá đựng, hộp chứa đồ dùng, đồ chơi được ký hiệu rõ 21 88%
Trang 40ràng, thể hiện được việc chuẩn bị cho trẻ đi học phổ thông
qua việc sử dụng chữ cái ở các góc hoạt động;
9
Sử dụng hợp lí sản phẩm hoạt động của trẻ trong vai trò đồ
dùng đồ chơi và như vật trưng bày kích thích trẻ hứng thú
hoạt động
10
Sắp xêp đồ dùng đồ chơi, thay đổi các góc hoạt động được thực
hiện trong quá trình năm học có tính đến nhu cầu hoạt động của
trẻ, tính đến yếu tố thời gian và thay đổi chủ đề giáo dục
11 Có qui định nơi để đồ chơi, trẻ biết vị trí qui ước cho việc
triển khai các hoạt động, các trò chơi 15 63%
12
Trẻ được tạo điều kiện tham gia tích cực vào việc xây dựng
MTVC:Việc trang bị đồ chơi được thực hiện trên cơ sở tính
đến nhu cầu và hứng thú của trẻ; Trẻ tham gia vào việc sắp
xếp MTVC khi thay đổi chủ đề và trong việc chuẩn bị cho
từng giờ chơi;
13 Bố trí vị trí các góc chơi sao cho GV có thể bao quát được
hoạt động của tất cả trẻ trong giờ chơi ở tất cả các góc 20 83%
14 Đồ chơi nguyên vẹn, không hư hỏng, chắc chắn và sử dụng
15 Đồ dùng đồ chơi đẹp, nguyên vẹn có màu sắc tươi tắn 23 96%
16 Đồ dùng đồ chơi sạch sẽ, làm bằng chất liệu an toàn đối với trẻ 24 100%
17 Đồ dùng đồ chơi có hình dạng, kích thước, trọng lượng phù
hợp và để ở vị trí an toàn đối với trẻ 18 75%
18 MTVC được sắp xếp ngăn nắp trật tự (mà không làm hạn chế
19 Các góc hoạt động cần đủ ánh sáng (Tạo hình, chữ viết, đọc
sách, học tâp…), được ưu tiên bố trí ở vị trí có nguồn sáng 22 92%
20 Sắp xếp các góc để trẻ không làm phiền lẫn nhau khi chơi,
tách góc hoạt động ồn ào với các góc hoạt động yên tĩnh 21 88%