Đứng trước những yêu cầu của sự tiến bộ xã hội và những thách thức từ sự đổi thay của đời sống xã hội hiện đại, từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như, tổ chức Y
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Cao Văn Quang
KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Cao Văn Quang
KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: 603180 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CH ƯƠNG 1 6
C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 6
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 C ơ sở lý luận 16 6 1.2.1 Kỹ năng sống 166 1.2.2 Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi 28
CH ƯƠNG 2 49 8 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TR ƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 49 8 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 49 8 2.2 Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi 53 2 2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng 64 2 CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 88
3.1 Tổ chức nghiên cứu thử nghiệm 88
3.2 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi 92 0 3.3 Kết quả thử nghiệm 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TN.S : Thực nghiệm – sau thực nghiệm
UNESCO : Tổ chức văn hóa, Khoa học và Giáo dục của
Liên Hợp QuốcUNICEF : Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
WHO : Tổ chức y tế thể giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Các b ảng Trang
Bảng 1.1: Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K
Platonov và G.G Golubev 21
Bảng 2.1 Mẫu khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5-6 tuổi 48
Bảng 2.2 Thang đánh giá mức độ nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi ở mỗi kỹ năng … 55
Bảng 2.3 Thang đánh giá mức độ thực hiện kỹ năng của trẻ 5 – 6 tuổi ………… 60
Bảng 2.4 Kết quả thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi theo đánh giá của
Bảng 2.9 Kết quả thực trạng kỹ năng Che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp, của trẻ 5
– 6 tuổi giữa các nhóm khảo sát 69
Bảng 2.10 Kết quả thực trạng kỹ năng giữ đầu tóc, quần áo gọn gàng, của trẻ 5 –
6 tuổi giữa các nhóm khảo sát 70
Bảng 2.11 Kết quả thực trạng kỹ năng Nhận biết thông tin về bản thân và gia
đình của trẻ 5 – 6 tuổi ở các nhóm khảo sát 72
Bảng 2.12 Kết quả thực trạng kỹ năng Ứng xử phù hợp với giới tính của trẻ 5 –
6 tuổi ở các nhóm khảo sát 73
Bảng 2.13 Kết quả thực trạng kỹ năng Nhận biết khả năng và sở thích của trẻ 5
– 6 tuổi ở các nhóm khảo sát 74
Trang 6Bảng 2.14 Kết quả thực trạng kỹ năng Nhận biết khả năng và sở thích của trẻ 5
– 6 tuổi ở các nhóm lớp khảo sát 75
Bảng 2.15 Kết quả so sánh kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi xét theo giới tính 76
Bảng 2.16 Kết quả so sánh kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi xét theo trường 76
Bảng 2.17 Kết quả khảo sát nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng kỹ năng sống
của trẻ 5-6 tuổi 78
Bảng 2.18 Kết quả khảo sát biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi 81
Bảng 3.1: So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm
Đối chứng trước và sau thử nghiệm 100
Bảng 3.2 So sánh kỹ năng Nhận thức về bản thân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Đối
chứng trước và sau thử nghiệm 102
Bảng 3.3 So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Thực nghiệm trước và sau thử nghiệm 104
Bảng 3.4 So sánh kỹ năng Nhận thức về bản thân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Thực
nghiệm trước và sau thử nghiệm 105
Bảng 3.5 So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân ở trẻ 5-6 tuổi gcủa nhóm Đố
chứng và nhóm Thực nghiệm sau thử nghiệm 107
Bảng 3.6 So sánh kỹ năng Nhận thức bản thân ở trẻ 5-6 tuổi của nhóm Đối chứng
và nhóm Thực nghiệm sau thử nghiệm 109
Bảng 3.7 So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân ở trẻ 5-6 tuổi của nhóm Đối
chứng và nhóm Thực nghiệm sau thực nghiệm về điểm trung bình 111
Bảng 3.8 So sánh kỹ năng Nhận thức bản thân ở trẻ 5-6 tuổi của nhóm Đối
chứng và nhóm Thực nghiệm sau thực nghiệm về điểm trung bình 112
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Mô hình kỹ năng sống 4-H (Steve McKinley) ……… 27
Biểu đồ 1.1 Biểu diễn 5 mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp
nhất của R.H Dave 22
Biểu đồ 2.1 Thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi theo đánh giá của
giáo viên 64
Biểu đồ 3.1 So sánh KNS của trẻ giữa nhóm Đối chứng và nhóm Thực
nghiệm ở điểm trung bình 114
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại phát triển như vũ bão về khoa học công nghệ thông tin, biến động về kinh tế, giao thoa về văn hóa, nhiều vấn đề xã hội phức tạp liên tục nảy sinh nay, đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người Bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực gây nguy hại cho con người, đặc biệt
là trẻ em
Nếu mỗi người - trong đó có trẻ em - không có những kiến thức cần thiết để biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để vượt qua những thách thức, mà hành động theo cảm tính, thì rất dễ gặp trở ngại, rủi
ro trong cuộc sống
Đứng trước những yêu cầu của sự tiến bộ xã hội và những thách thức từ sự đổi thay của đời sống xã hội hiện đại, từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như, tổ chức Y tế thế giới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục văn hóa và khoa học và các nhà giáo dục thế giới đã cùng tìm cách giáo dục – hình thành kỹ năng sống để tạo cho trẻ năng lực tâm lý xã hội, nhằm ứng phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày Mặt khác, cũng theo UNESCO, nếu khi trẻ em 8 tuổi mới giáo dục – hình thành kỹ năng sống cho trẻ thì đã là quá trễ! [17] Vì đến độ tuổi này, trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các thói quen – nếp sống, những cơ sở nền tảng cho việc hình thành nhân cách cho trẻ về sau; trừ phi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này Gần đây, một cuộc khảo sát được tiến hành ở Anh và
Mỹ cho kết quả 90% những trẻ em được học và bồi dưỡng kỹ năng sống từ độ tuổi trước khi đến trường sẽ có cơ hội thành công hơn so với những trẻ cùng trang lứa trong cuộc cuộc sống và nghề nghiệp sau này [52] Điều đó cho thấy tầm quan trọng
và sự khẩn thiết của việc rèn luyện - hình thành và phát triển kỹ năng sống cho trẻ ngay từ bậc mầm non
Trang 9Việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng Kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa Việc hình thành kỹ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ năng sống để các em sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa Giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung cấp thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực
Trong khi đó, ở Việt Nam nói chung, cách riêng tại thành phố Hồ Chí Minh,
việc tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống của trẻ mầm non dường như mới bắt đầu được để ý đến Chẳng hạn như đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Hiền Lê mới thử khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn tại một trường Mẫu giáo Thực hành (thuộc trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP HCM) Như thế, tầm mức quan tâm đến trẻ mầm non còn rất hạn chế, nhỏ hẹp; chứ chưa nói đến có một chương trình cụ thể thực hiện hình thành kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Nhận thức về thực trạng, tầm quan trọng và sự khẩn thiết trên đây mà chúng
tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số
trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh
Trang 103.2 Khách thể nghiên cứu
- Trẻ 5 – 6 tuổi và giáo viên chăm sóc và giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh đạt mức độ chưa cao Nguyên nhân chính là do ở trường mầm non, giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Nếu giáo
viên mầm non tìm ra các biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ một cách hữu hiệu, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi thì kỹ năng sống của trẻ sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: kỹ năng, kỹ năng sống của trẻ mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh
5.3 Xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu một số kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi được giáo viên mầm non đánh giá đạt ở mức độ thấp trong các sinh hoạt hằng ngày và hoạt động có chủ đích, không nghiên cứu tất cả kỹ năng sống của trẻ
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Trường mầm non BN Q.1; Trường mầm non 12, Quận Tân Bình; Trường mầm non BN 1 và Trường mầm non Tân Hòa, Huyện HM, TP Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu như các sách giáo khoa, sách chuyên ngành, luận văn, luận án, các tạp chí,
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Chúng tôi tiến hành quan sát việc thực hiện các kỹ năng của trẻ thông qua hoạt động học, hoạt động vui chơi và những sinh hoạt hằng ngày; quan sát việc sử dụng các biện pháp tập luyện kỹ năng sống cho trẻ của giáo viên mầm non Qua đó, có thể nhận định rõ hơn về thực trạng
kỹ năng sống của trẻ và đưa ra những biện pháp tác động phù hợp nâng cao kỹ năng sống cho trẻ (xem Mẫu quan sát ở Phụ lục)
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Dùng để điều tra xem giáo viên mầm non đánh giá những kỹ năng sống mà trẻ 5 – 6 tuổi còn ở mức độ thấp Sau đó sẽ chọn ra hai kỹ năng sống trẻ đạt ở mức
độ thấp, và sẽ thử nghiệm bằng những biện pháp tác động phù hợp nhằm rèn luyện các kỹ năng này cho trẻ
Trang 12- Xây dựng hệ thống những bài tập nhỏ theo hướng của mục đích thực nghiệm đặt ra Đối tượng thực nghiệm được chọn cách ngẫu nhiên với hai nhóm: nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng Tiến hành thử nghiệm đối với nhóm Thực nghiệm; sau đó, so sánh mức độ nâng cao kỹ năng sống giữa nhóm Đối chứng và nhóm Thực nghiệm, và so sánh mức độ nâng cao kỹ năng sống của trẻ sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm ở nhóm Thực nghiệm
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng kiểm nghiệm T-test cho hai mẫu độc lập để so sánh sự khác biệt ý nghĩa về kỹ năng sống giữa trẻ nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng
- Sử dụng kiểm nghiệm chi bình phương để kiểm nghiệm sự khác biệt ý nghĩa trong việc rèn luyện kỹ năng sống của trẻ trong nhóm thử nghiệm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, việc nghiên cứu kỹ năng sống đã được nhiều tổ chức con người quan tâm và tìm hiểu, vì đây là một trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người Trước tiên, những khái niệm về kỹ năng sống đã được đề cập đến trong những nghiên cứu của UNESCO khi cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày” Bên cạnh đó, UNICEF cũng đề cập đến khái niệm, đặc điểm và những con đường hình thành kỹ năng sống, trong nhiều nghiên cứu khác nhau Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng nghiên cứu về kỹ năng sống như là một năng lực cá nhân
Ở các nước phương tây, việc giáo dục kỹ năng sống đã vận dụng một cách tổng hợp quan điểm của những nghiên cứu của các tổ chức như WHO, UNICEF để giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên Nhiều áp dụng chuyên biệt đã định hướng rèn luyện hệ kỹ năng sống của thanh thiếu niên dựa trên các nhóm kỹ năng như: kỹ năng thuộc về tâm lý cá nhân, kỹ năng trong mối quan hệ với người khác,
kỹ năng cộng đồng và kỹ năng làm việc Bên cạnh đó, việc huấn luyện hay trang bị
kỹ năng sống còn được vận dụng một cách lồng ghép và tích hợp có kế hoạch trong từng môn học khác nhau trong chương trình học Từng môn học và từng kế hoạch bài dạy đều thể hiện rõ yêu cầu hình thành kỹ năng sống trong kế hoạch bài giảng một cách cụ thể thông qua những hoạt động rất chi tiết
Tại Mỹ, năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư ký về Rèn luyện
các kỹ năng cần thiết (The secretary’s comission on achieving necessary skills – SCANS) Mục đích của ủy ban này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động
kỹ năng cao và công việc thu nhập cao Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng, thì mới cải thiện được hiệu quả lao động
Trang 14Tại Úc (1990 – 2002), Hội đồng kinh doanh Úc (The businet Councli of Australia – BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Austalian chambet
of comecre an industry – ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục – Đào tạo và Khoa học Úc (The department of edutralian – scien and training – DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (The Autralia nationnal training authority – ANTA) đã xuất bản quyển tài liệu “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) Quyển sách đề cập đến những kỹ năng và kiến thức mà người lao động cần phải có, trong đó liên quan đến nhiều kỹ năng sống Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức khi phát huy tiềm năng của cá nhân và đóng góp các định hướng chiến lược của tổ chức.[39, tr.6]
- Tài liệu “Six steps to an emotionally intelligent teenager: Teaching social skills to your teen” của tác giả James Windell đưa ra bài tập và những ý tưởng thực
tế để các bậc cha mẹ có thể rèn luyện và điều chỉnh một thiếu niên một cách vững chắc cho một cuộc sống thành công
- Sách “Life Skill Education and Currucylum” của tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò của giáo viên, nhằm giáo dục kỹ năng sống dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể được điều chỉnh bởi một hệ thống giáo dục trong nước
- Sách “The Indispensable Book of Parctical Life Skills” của tác giả Nic Compton cung cấp cách để giải quyết những vấn đề làm bối rối và làm choáng ngợp trước những thách thức của cuộc sống cho mọi lứa tuổi Hướng dẫn này hỗ trợ giảng viên, các bậc phụ huynh xử lý gồm tất cả các tình huống khó xử trong cuộc sống Sách được đề cập từng bước hướng dẫn, dễ thực hiện cho mọi lứa tuổi
- Sách “Teaching Your Children Life Skills” của tác giả Deborah Carroll đề cập đến 10 điều quan trọng cần lưu ý khi dạy con em; làm thế nào để công việc, các chuyến đi mua sắm, các kỳ nghỉ và các tình huống khác trở thành cơ hội học tập những kỹ năng thực hành quan trọng; chỉ ra cách để giúp các em rèn luyện cách cư
xử tốt và các giá trị tốt đẹp mà không cần giảng dạy dai dẳng, và hướng dẫn để phát triển lòng tự trọng và kỹ năng sống lâu dài thông qua công việc hằng ngày
Trang 15- Sách “The Practical Life Skills Workbook” của Ester A Leutenberg, John J Liptak cho rằng kỹ năng sống thực sự quan trọng hơn chỉ số thông minh Kỹ năng sống là những kỹ năng vô giá của người sử dụng hằng ngày, cho phép họ tạo ra cuộc sống mà họ mong muốn Chỉ số thông minh của một người có kỹ năng sống gồm cả thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh
- Kế đến là sách “Early years play and learning: Developing social skills and cooperation” của tác giả Pat Broadhead cung cấp cho học sinh một bộ công cụ hoàn hảo cho việc nhận xét và tham gia vào các trò chơi của trẻ Sách giúp cho các giáo viên, đặc biệt là các giáo viên trẻ hiểu được mối quan hệ giữa việc phát triển trí thông minh với sự phát triển về ngôn ngữ - đạt được trạng thái tốt về cảm xúc.[51] Những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một số nước gần với Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á nói chung như: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan, … việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm rất được quan tâm, và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống” Điển hình như tại Ấn Độ, kỹ năng sống được xem là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người Kỹ năng sống có thể hiểu bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, ra quyết định, đàm phán, tự nhận thức, đối phó với stress và cảm xúc, từ chối, kiên định và hài hòa…
Tại Nepal, có thể thấy việc nghiên cứu về kỹ năng sống trên bình diện khái niệm rất được quan tâm Kỹ năng sống được xem là một phương thức ứng phó hay
là những kỹ năng cần thiết để tồn tại Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm đến việc phân loại các kỹ năng sống cũng như phân biệt các kỹ năng sống Các kỹ năng sống được phân loại thành các nhóm sau:
∗ Nhóm kỹ năng tồn tại: bao gồm những kỹ năng cần có để con người có thể tồn tại
Trang 16∗ Nhóm kỹ năng chung: là những kỹ năng giúp con người tìm ra và giải quyết vấn đề của cuộc sống
∗ Kỹ năng dịch chuyển: là sự kết hợp của kỹ năng tồn tại, kỹ năng chung và kỹ năng nghề nghiệp Kỹ năng dịch chuyển giúp con người nhanh chóng với việc phải thích nghi nếu chuyển sang một nghề nghiệp mới
Việc trang bị kỹ năng sống ở quốc gia này thường được ưu tiên tối đa cho học sinh trung học và sinh viên cũng như những người đang chuẩn bị bước vào cuộc sống một cách đúng nghĩa
Năm 1998, ở khu vực Đông Nam Á cũng như Đông Dương, việc giáo dục kỹ năng được ưu tiên một cách có trọng điểm
Ở Lào (1997 – 2002), giáo dục kỹ năng sống được thực hiện với những nội dung cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng giải quyết vấn đề… Trong khi thực hiện, một số bài học kinh nghiệm đã được chỉ rõ như: cần phải biên soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ biến cho người dạy
và người học Đồng thời cần tăng cường việc đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ năng sống ở các trường về nội dung và phương pháp tích cực hơn
Tại Campuchia, giáo dục kỹ năng sống với vấn đề nổi bật nhất là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp hiệu quả Kỹ năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia Kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những kỹ năng sống quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn Vì thế, kỹ năng sống ở đây được phân loại thành 3 nhóm chủ yếu:
- Nhóm kỹ năng chung bao gồm:
+ Những kỹ năng đơn giản trong đời sống gia đình như: Kỹ năng phòng ngừa những bệnh lây lan qua đường tình dục; Kỹ năng an toàn thực phẩm; Kỹ năng hiểu biết về dinh dưỡng…
+ Kỹ năng quản lý gia đình và các phương pháp học tập
+ Kỹ năng nâng cao đời sống hằng ngày như: Kỹ năng hiểu biết về những công nghệ cơ bản trong đời sống hằng ngày
+ Kỹ năng hiểu biết về các giá trị đạo đức, tự chủ…
Trang 17- Nhóm 2: Kỹ năng tiền nghề nghiệp: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng tính toán; Tri thức về quyền và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê; Kỹ năng giải quyết vần đề…
- Nhóm 3: Các kỹ năng nghề nghiệp, như: Trồng trọt; Nuôi gia súc; Sửa chữa đồ điện; Sử dụng máy tính, và Nói ngôn ngữ nước ngoài…
Ở Campuchia, kỹ năng sống được đào tạo chính quy trong nhà trường và được coi như là những nhân tố chính trong chính sách giáo dục nhằm kết nối giáo dục với nhu cầu thị trường để phát triển kinh tế xã hội Sự kết nối này sẽ nâng cao tính hiệu quả nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp và tăng cường sự đầu tư của địa phương và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu cầu tự học của người học Chương trình giáo dục kỹ năng sống trong các trường chính quy đều hướng tới giúp người học có khả năng áp dụng kiến thức của các môn học khác nhau vào cuộc sống hiện thực; Sau khi rời ghế nhà trường là người tích cực và có trách nhiệm đối với xã hội; Tham gia vào thế giới công việc; Giảm nạn thất nghiệp và nghèo đói để góp phần phát triển
xã hội… Để thực hiện được những mục tiêu đó, việc giáo dục kỹ năng sống tại Campuchia được thực hiện như sau:
- Các kỹ năng sống chung được tích hợp vào bài học của các môn học cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12
- Các kỹ năng nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 được tổ chức dạy và thực hành trong các tiểu ban công nghệ
- Các kỹ năng nghề đơn giản được lựa chọn thực hiện dựa trên khả năng của từng trường
Tại Malaysia, nhiều nhà nghiên cứu coi kỹ năng sống là một môn học của cuộc sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học và trung học
cơ sở Mục tiêu môn học này ở trường tiểu học là cung cấp cho người học những kỹ năng thực tế cơ bản để có thể thực hiện các nhiệm vụ trong cuộc sống; còn ở bậc Trung học cơ sở là hướng đến việc trang bị những kỹ năng để góp phần tạo nên những cá nhân độc lập, tự chủ về cuộc sống, có kỹ năng về công nghệ, có sự tự tin, sáng tạo, có khả năng tương tác hiệu quả với người khác
Trang 18Ở Thái Lan, việc quan tâm đến kỹ năng sống khá sớm Nghiên cứu về kỹ năng sống được thực hiện bởi những tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức giáo dục của Bộ - Ban ngành trong nước Tại đây họ quan niệm kỹ năng sống là những thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả những tình huống hằng ngày và đáp ứng được với hoàn cảnh tương lai để sống hạnh phúc Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hằng ngày để sống an toàn và hạnh phúc Từ quan niệm này, họ cho rằng: muốn con người trưởng thành và thích ứng cần hình thành cho con người ít nhất mười kỹ năng sống cơ bản: Kỹ năng ra quyết định, Giải quyết xung đột, Sáng tạo, Phân tích – đánh giá, Giao tiếp, Quan hệ liên nhân cách, Làm chủ cảm xúc, Làm chủ được những cú sốc, Đồng cảm, Thực hành
Cùng quan điểm này, tại Philippine kỹ năng sống được xem là năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, thay đổi, trải nghiệm và tình huống của đời sống hằng ngày, và vì vậy những kỹ năng sống cần giáo dục cho con người bao gồm: Tự nhận thức, Đồng cảm, Giao tiếp hiệu quả, Quan hệ liên nhân cách, Ra quyết định, Tư duy sáng tạo,
Tư duy phê phán, Ứng phó, Làm chủ cảm xúc, Kinh doanh
Còn tại Indonexia, kỹ năng sống được tập trung nghiên cứu trên bình diện như một khoa học giáo dục Kỹ năng sống được xem như những kiến thức, kỹ năng, thái
độ giúp người học sống một cách độc lập Việc giáo dục kỹ năng sống sẽ mang đến những lợi ích nhất định: nâng cao cơ hội việc làm cho người học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương, tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt Mặt khác, việc giáo dục kỹ năng sống tại nước này được thực hiện bởi các tổ chức phi chính phủ cũng như những trung tâm chuyên biệt khá nổi bật và có đầu tư Như vậy ở các nước phương Tây và các nước thuộc khu vực Châu Á, kỹ năng sống được nghiên cứu theo hướng tập trung tìm hiểu về khái niệm, phân loại cũng như hướng huấn luyện kỹ năng sống cho trẻ em, sinh viên Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách rõ ràng về khái niệm theo hướng tiếp cận tâm lý học chưa thực sự rõ ràng và sâu sắc Mặt khác, các cách phân loại cũng còn có sự trùng lặp mà chưa thể
Trang 19hiện sự phân loại theo các tiêu chí khoa học khi tiếp cận Đây là những vấn đề cần được quan tâm bên cạnh việc chưa có nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng sống của một lứa tuổi nào đó mà trẻ em lứa tuổi mầm non là một điển hình
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Trước những năm 1990, việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ luôn là mục tiêu quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam Mặc dù khái niệm kỹ năng sống chưa được nêu ra hay những nghiên cứu về kỹ năng sống chưa có Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề này được đề cập đến trong chương trình giáo dục của nước ta, như môn học Đạo đức, Giáo khoa thư Bên cạnh đó có nhiều tác giả, dịch giả, học giả nghiên cứu và biên soạn ra những tài liệu, sách học làm người nhằm cung cấp cho mọi giới có thể học biết về cách làm người, cách đối nhân xử thế, phương pháp học tập, tổ chức đời sống cho khoa học,… Có thể nêu lên một số tác giả nổi danh: Nguyễn Hiến Lê với tác phẩm Đắc nhân tâm, Tổ chức công việc theo khoa học; Hoàng Xuân Việt với tác phẩm “Rèn nhân cách”, “Nghệ thuật giao tiếp”; “Phép lịch sự” của Phạm Công Hoàn,… Những tài liệu này đã góp phần rất lớn trong việc trang bị những kỹ năng nhất định để sống, làm việc cho con người Việt Nam Điều đó cho thấy việc nghiên cứu kỹ năng sống tuy chưa được gọi chính thức như nghiên cứu về kỹ năng sống nhưng đã được quan tâm đề cập đến nhiều Tuy nhiên, thuật ngữ “Kỹ năng sống” chỉ bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ 20) Khi ấy, xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp – nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam; sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người; vì lẽ đó đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi; ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, những kỹ năng khác như năng lực làm việc bắt đầu được xem xét và quan tâm Đây chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ kỹ năng sống trong chương trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới
Đầu những năm 1990, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản tại quyết định 1363/TTg về việc “đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Trong văn bản này có đề cập đến việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi
Trang 20trường, thái độ sống như những biểu hiện ban đầu của kỹ năng sống Tiếp đến chỉ thị số 10/GD & ĐT năm 1995 hay chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống ma túy tại trường học Đây cũng là hướng đề cập đến những kỹ năng cần có của học sinh như: từ chối, bảo
vệ bản thân, ứng xử với ngưới có HIV…
Sau những năm 1990, một số dự án bắt đầu được thực hiện ở các tỉnh thành để thử nghiệm việc giáo dục kỹ năng sống cho những đối tượng thiệt thòi Trên cơ sở
đó, những nghiên cứu về kỹ năng sống cũng bắt đầu được phát triển từ những năm
1998 – 2000 Dưới sự phát triển cùng những thử thách của đời sống, kỹ năng sống không chỉ là vấn đề cần thiết cho trẻ em mà vị thành niên, thanh niên cũng là những đối tượng rất cần trang bị những kỹ năng sống [30]
Một số tổ chức nước ngoài cũng đã có những nghiên cứu ban đầu về kỹ năng sống tại Việt Nam dưới dạng huấn luyện và đào tạo thành những dự án UNICEF là một tổ chức tiên phong với chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Giai đoạn một được thực hiện cho những đối tượng trong ngành giáo dục cũng như Hội chữ thập đỏ Các kỹ năng được lồng ghép như: Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng kiên định, Kỹ năng xác định giá trị… Giai đoạn kế tiếp, kỹ năng sống bắt đầu được đề cập rộng và sâu hơn như hành trang quan trọng con người cần
có trong cuộc sống Sau đó, khái niệm kỹ năng sống được đề cập với đầy đủ nội hàm sau hội thảo: “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ năm
2003 Thuật ngữ kỹ năng sống trở nên phổ biến và được quan tâm một cách rộng rãi với nhiều nhà khoa học
Có thể đề cập đến những nghiên cứu về kỹ năng sống thông qua một số nghiên cứu sau đây xuất phát từ những dự án tài trợ tại Việt Nam:
Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn đạo đức ở các trường tiểu học khu vực miền núi phía bắc vào năm 2001
Nghiên cứu mô hình giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh trường nội trú tình thương Khai Trí tỉnh An Giang vào năm 2002
Trang 21 Giáo dục kỹ năng sống cho nữ học sinh, sinh viên thành phố Long Xuyên vào năm 2004
Tiếp đến, có thể đề cập đến quyển “Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm
2008, sau khi tác giả tham gia dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở Giáo trình đã tập trung phân tích về khái niệm kỹ năng sống, các nguyên tắc và phương pháp giáo dục kỹ năng sống hiệu quả Tuy nhiên, nội dung cơ bản của từng kỹ năng vẫn chưa được phân tích một cách hệ thống và sâu sắc vì không phải là nội dung trọng tâm của tài liệu này [5]
Năm 2009, NXB Giáo dục lần đầu tiên cho in quyển “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc Mục đích của cuốn sách này tác giả muốn nhắm đến các phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi ở vùng nông thôn Trong
đó tác giả phân loại thành 7 nhóm kỹ năng sống; mỗi nhóm gồm nhiều kỹ năng sống; mỗi kỹ năng sống có hướng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ và gợi ý các hoạt động, phương tiện, hình thức giáo dục [27]
Bộ sách “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân của trường trung học phổ thông” thử nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo viết vào năm 2010 do các tác giả Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân (Ngữ Văn); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Thanh Mai (Giáo dục công dân); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Minh Phương (Địa lý); Lưu Thu Thủy, Trần Quý Thắng (Sinh học), Nguyễn Trọng Đức nêu lên một số vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong trường trung học phổ thông, cụ thể là các quan niệm, phân loại, tầm quan trọng của kỹ năng sống, định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT và giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch
sử, Địa lý, Sinh học, giáo dục công dân ở trường THPT Trong đó các hình thức tổ chức, cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kỹ năng sống, nguyên tắc, kỹ thuật dạy học hiện đại cũng được đề cập và hướng dẫn sử dụng vào các bài dạy để thực hiện việc rèn luyện các kỹ năng sống cụ thể cần thiết cho học sinh Cũng theo chiều hướng này, năm 2011, nhóm tác giả Lưu Thu Thủy, Lê Minh Châu, Trần Thị Tố Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Đào Vân Vi (Vấn đề chung kỹ năng sống); Trần
Trang 22Hiền Lương, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Thị Phương Thảo (Tiếng Việt); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Việt Hà (môn Đạo đức); Nguyễn Tuyết Nga, Phan Thanh Hà (Tự nhiên và xã hội) đã biên soạn Bộ sách “Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở tiểu học” Trong thời gian này, một nhóm tác giả khác cũng đã biên soạn một bộ sách về kỹ năng sống với từng chủ đề như sau: Phạm Thanh Hiệp: Kỹ năng sống – một số kỹ năng cần thiết, Kỹ năng sống – Bạn là ai?; Nguyễn Minh Anh: Kỹ năng sống – Rèn luyện bản thân; Nguyễn Minh Anh – Nguyễn Thị Chung: Kỹ năng sống – Hoàn thiện chính mình; Trần Văn Nghĩa: Kỹ năng sống – Sơ cấp cứu và an toàn;
Đỗ Hồng Ngọc: Kỹ năng sống – Những bệnh - tật ở tuổi học trò và cách phòng tránh Bộ sách cung cấp những kiến thức cơ bản về kỹ năng sống, giúp học sinh hoàn thiện nhân cách và định hướng cho cuộc sống và sự nghiệp trong tương lai; nội dung mang tính thực tiễn và có hướng dẫn cụ thể giải quyết những vấn đề trong cuộc sống thường ngày
Trong những năm gần đây, một số giáo trình, tài liệu và một số bài báo về kỹ năng sống bắt đầu được quan tâm, điển hình như bài báo viết về kỹ năng sống dưới góc nhìn tâm lý học của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn được đăng tải trong tạp chí Tâm lý học [47, tr.1-4], các chương trình huấn luyện kỹ năng sống được thử nghiệm
ở khu vực TP Hồ Chí Minh của TS Huỳnh Văn Sơn và các cộng sự dưới sự tài trợ hai năm liền của bảo hiểm DAIICHI LIFE, nhiều chuyên đề về huấn luyện hay trang bị kỹ năng sống cho sinh viên được thực hiện Cũng có thể đề cập đến một vài tài liệu đề cập đến khái niệm kỹ năng sống, phân loại và nội dung cơ bản của kỹ năng sống như quyển Nhập môn kỹ năng sống, Bạn trẻ và kỹ năng sống, Mô hình
kỹ năng sống của tác giả Huỳnh Văn Sơn [36,37,38,39]; PGS TS Nguyễn Dục Quang với quyển “Hướng dẫn thực hiện Giáo duc kỹ năng sống cho học sinh phổ thông” [33]
Năm 2010, công trình nghiên cứu luận văn cao học của tác giả Nguyễn Hữu Long tập trung vào đối tượng là học sinh trung học cơ sở Tuy nhiên, việc nghiên cứu của tác giả mới giới hạn ở mức tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống và bước đầu thử nghiệm tác động tâm lý để nâng cao một số kỹ năng của học sinh: kỹ năng tự
Trang 23nhận thức bản thân, kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, kỹ năng chia sẻ và hợp tác, kỹ năng phân biệt hành vi hợp lý và hành vi chưa hợp lý
Cũng trong thời gian này, tại TP Hồ Chí Minh, tác giả Mai Hiền Lê đã nghiên cứu kỹ năng sống của trẻ mầm non, với đề tài: “Một số biểu hiện kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh” Ưu điểm của đề tài này, tác giả đã mạnh dạn bước đầu đi vào nghiên cứu về kỹ năng sống của đối tượng mới là trẻ em mầm non và đã có cuộc khảo sát khá đầy đủ về các kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn Nhưng giới hạn của đề tài là mới chỉ khảo sát ở một trường mầm non, và việc thử nghiệm tác động nâng cao kỹ năng sống của trẻ chỉ dừng lại ở một kỹ năng giao tiếp
Tuy vậy, việc nghiên cứu kỹ năng sống cho trẻ mầm non – giai đoạn 5 – 6 tuổi
là giai đoạn chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông và là nền tảng có tính quyết định cho quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân trong những giai đoạn tiếp theo lại chưa có nhiều tài liệu hay công trình nghiên cứu Đặc biệt hơn, vẫn chưa có một nghiên cứu nào khảo sát một cách chi tiết thực trạng kỹ năng sống của trẻ mầm non
TP Hồ Chí Minh nên hướng nghiên cứu này vẫn còn để trống
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Kỹ năng sống
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Theo Từ điển tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [48, tr.517]
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” – kỹ năng là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện [38, tr.15 – trích theo]
Theo Từ điển Giáo dục học, kỹ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”[13, tr.220]
Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (Chủ biên), kỹ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc
Trang 24được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [11]
Trong Từ điển Tâm lý học của A M Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” [49, tr.681]
Như vậy, có thể thấy khái niệm kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Việc làm rõ những điểm chung và những điểm khác biệt trong từng khái niệm nhằm đi đến một cách hiểu nhất quán về kỹ năng được sử dụng trong đề tài này Quan điểm khác về kỹ năng
Quan niệm thứ nhất: xem kỹ năng như là kỹ thuật thao tác
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [40, tr.49]
Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [25, tr.376]
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng:
“Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng cho biết, kỹ năng có những đặc điểm khác nữa là “hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng” [26]
Còn tác giả N.D Levitovxam xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế
Trang 25Tác giả Huỳnh Văn Sơn (Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ) cho rằng, những quan niệm về kỹ năng như trên đây là sự mô tả chính xác chỉ đối với những kỹ năng đơn giản mà thao tác có thể quan sát được; các kỹ năng phức tạp thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực của trí tuệ căng thẳng và khó có thể tự động hóa được Kỹ năng đơn giản chưa thể được xem là năng lực; nó chỉ là một điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ của năng lực [38]
Quan niệm thứ hai: xem kỹ năng như là một năng lực của con người
Từ điển tiếng Nga (1968) định nghĩa: Kỹ năng là khả năng làm một cái gì đó, khả năng được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm [16] Hai nhà nghiên cứu K.K Platonov và G.G Golubev (1977) cũng cho rằng kỹ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian tương ứng Đồng thời, “kỹ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [12]
A.V Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, tác giả viết: “năng lực sử dụng các sự kiện, các tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” [31]
Cùng quan điểm này, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng cho rằng, kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã
có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [37, tr.6]
Như vậy, với những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, kỹ năng không chỉ là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Rõ ràng kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Nói
Trang 26khác đi, một người có kỹ năng hành động là phải nắm bắt được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm hành động thực hiện có hiệu quả Mặt khác có thể hiểu kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng Việc hình thành kỹ năng bao hàm cả thông hiểu mối qua lại giữa mục đính hành động, điều kiện và cách thức hành động Kỹ năng là giai đoạn trung gian giữa việc nắm vững cách thức mới thực hiện hành động, dựa trên cơ sở của tri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương xứng trong quá trình hoàn thành các bài tập, nhưng chưa đạt tới mức độ kỹ xảo
Như vậy, cách thức xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm kỹ năng là kỹ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả công việc có chất lượng Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người”
* Đặc điểm của kỹ năng
Phân biệt kỹ năng với kỹ xảo Trong kỹ xảo, ít có sự tham gia của ý thức, thậm chí có khi không có sự tham gia của ý thức và đôi khi có kiểm tra bằng cảm giác vận động, tầm tri giác được mở rộng Ở các kỹ năng lại có những điểm riêng biệt như sau:
- Ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình thực hiện một hành động, chủ thể thực hiện một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể luôn sử dụng ý thức để nhận biết được các thao tác và hành động cụ thể
- Khi thực hiện kỹ năng, chủ thể phải sử dụng các loại tri thức khác nhau để kiểm tra các thao tác thực hiện
- Tùy vào từng mức độ kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện đầy đủ, chính xác đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những
Trang 27động tác phụ chưa được loại trừ
- Trong kỹ năng, có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: có nghĩa
là kỹ năng không nhất thiết gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp kỹ năng ở mức độ cao thì chủ thể có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang những đối tượng mới
* Mức độ kỹ năng
Theo quan điểm của V.B Bexpalko, có 5 mức độ kỹ năng: từ những kỹ năng ban đầu đến kỹ năng đạt ở mức độ hoàn hảo
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
- Mức độ 2: Kỹ năng thấp
Khác với mức độ 1, ở mức độ kỹ năng mức thấp, người học đã có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song, ở mức độ kỹ năng này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới
- Mức độ 3: Kỹ năng trung bình
Người học tự thực hiện thành thạo các thao tác trong những tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế
- Mức độ 4: Kỹ năng nâng cao
Một sự khác biệt thể hiện kỹ năng ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn
hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định
- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần
Trang 28thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì [38, tr.20-21]
Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lý học của Nga và cũng là quan niệm của K.K Platonov và G.G Golubev, năm mức độ hình thành kỹ năng như sau:
Bảng 1.1: Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K
Platonov và G.G Golubev
1 Mức độ 1 Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm.
2 Mức độ 2 Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
3 Mức độ 3 Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ.
4 Mức độ 4 Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
5 Mức độ 5 Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác nhau.Còn có nhiều tác giả khác nữa đã đưa ra các phân loại trong lĩnh vực kỹ năng, như R.H Dave (1967), E.J Simpson (1972) và A.J Harrow (1972) Dưới đây sẽ giới thiệu cách phân loại của Dave, theo đó lĩnh vực kỹ năng được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau:
- Bắt chước thụ động (Imitation): Làm theo hành vi của một người khác một cách thụ động
- Thao tác theo (Manipulation): Thực hiện các thao tác theo một sự hướng dẫn quy trình từng bước
- Tự làm đúng (Precision): Thực hiện được một nhiệm vụ với sai sót nhỏ và dần chính xác hơn mà không có nguồn hướng dẫn Thể hiện thao tác trơn tru, chính xác
- Khớp nối được (Articulation): Sắp xếp được một chuỗi thao tác bằng cách kết hợp hai hay nhiều kỹ năng, có thể cải tiến thao tác cho phù hợp để giải quyết một vấn đề gì đó
- Thao tác tự nhiên (Naturalisation): Chứng tỏ mức độ thực hiện thao tác một cách tự nhiên như bản năng (“không cần suy nghĩ”) Các kỹ năng được kết hợp,
Trang 29thao tác trình tự, thực hiện nhất quán dễ dàng, tức là mất ít năng lượng và thời gian [10, tr.15-16]
Có thể biểu diễn các mức hành vi trong lĩnh vực kỹ năng trên hình sau
Biểu đồ 1.1 Biểu diễn 5 mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất của
R.H Dave
1.2.1.2 Khái niệm kỹ năng sống
Quan niệm của UNESCO cho rằng: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày Theo UNICEP, kỹ năng sống là những hành vi cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có định hướng Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi
Theo WHO thì kỹ năng sống là năng lực tâm lý - xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng
là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái sức khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này
Trang 30Tác giả Xkomni thì cho rằng: Kỹ năng sống là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với những thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống Kỹ năng sống thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội…
Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống [39, tr.1-4]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng với cuộc sống Tác giả cho rằng kỹ năng sống nhìn dưới góc độ năng lực tâm lý là những kỹ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý [31, tr.7-9]
Một số nhà nghiên cứu về Tâm lý học – Xã hội học cũng có cái nhìn gần với WHO thì cho rằng, kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, được thể hiện bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống
Theo quan niệm của chúng tôi, kỹ năng sống là những năng lực tâm lý – xã hội
cơ bản giúp cho cá nhân thích ứng và tồn tại trong cuộc sống Và, cũng chính những
kỹ năng này giúp cá nhân thể hiện năng lực của mình thích nghi với những thách thức trong cuộc sống và phát triển
1.2.1.3 Phân loại kỹ năng sống
Tùy theo quan niệm khác nhau về kỹ năng sống mà số lượng và tên gọi của những kỹ năng sống sẽ khác nhau Có thể đề cập đến những cách phân loại sau
a Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Theo WHO, danh sách kỹ năng sống có thể rất dài, nhưng các kỹ năng có thể được chấp nhận ở những nền văn hóa khác nhau được xác định là các kỹ năng cơ bản sau: - Lấy quyết định; - Giải quyết vấn đề; - Suy nghĩ sáng tạo; - Suy nghĩ có
Trang 31phán đoán; - Truyền thông có hiệu quả; - Giao tiếp giữa người và người; - Ý thức về bản thân; - Khả năng thấu cảm; - Ứng phó với cảm xúc; - Ứng phó với stress
Kỹ năng sáng tạo góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết vấn đề, bằng cách giúp chúng ta xem xét tất cả các biện pháp khác nhau và suy nghĩ về các hậu quả khác nhau của việc chúng ta hành động hay không hành động
Kỹ năng ra quyết định giúp chúng ta chọn những quyết định tích cực liên quan đến cuộc sống của chúng ta
Kỹ năng giải quyết vấn đề giúp ta xử lý những khó khăn gặp phải một cách tích cực nhất Những vấn đề gặp phải nếu không quan tâm giải quyết sẽ gây ra stress, dẫn theo những xáo trộn về cuộc sống và sức khoẻ
Truyền thông có hiệu quả là khi chúng ta diễn đạt suy nghĩ của mình bằng lời nói hay không bằng lời nói, một cách phù hợp với hoàn cảnh hay bối cảnh văn hóa Điều này có nghĩa là khả năng diễn đạt những ước muốn cũng như tìm sự tham vấn khi cần
Kỹ năng giao tiếp giúp ta quan hệ một cách tích cực với những ai tương tác với chúng ta Có nghĩa là kết bạn, gìn giữ tình bạn vì điều này có thể rất quan trọng cho sức khỏe tinh thần và xã hội của ta Nó cũng có nghĩa là giữ mối quan hệ tốt với gia đình, nguồn hỗ trợ quan trọng Nhưng cũng có ý nghĩa cắt đứt các mối quan hệ một cách xây dựng
Ý thức về bản thân bao gồm sự nhìn nhận về bản thân, tính tình, mặt mạnh, mặt yếu, ước muốn của chúng ta cũng như những điều mà chúng ta không thích Ý thức về bản thân giúp chúng ta nhận ra stress hay tình trạng bị áp lực để ứng phó kịp thời Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền thông và giao tiếp
có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác
Khả năng thấu cảm là khả năng hình dung hoàn cảnh sống của người khác mà
có khi họ còn xa lạ với ta Thấu cảm giúp ta chấp nhận người kia dù họ rất khác với chúng ta Điều này sẽ giúp cải thiện các mối tương tác xã hội Đồng thời, thấu cảm còn giúp chúng ta có thái độ phù hợp với những người cần sự giúp đỡ, chăm sóc của chúng ta
Trang 32Ứng phó với cảm xúc, đó là nhìn nhận các cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào và có khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp
Ứng phó với stress, đó là biết nhận ra các nguyên nhân gây stress trong đời sống chúng ta, nhận ra stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động để giảm bớt các nguồn gây stress, giữ stress ở mức độ chấp nhận được, hoặc học cách thư giãn để giữ sự căng thẳng không hại đến sức khỏe
b Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) Theo UNESCO thì kỹ năng phải được phân chia dựa trên những kỹ năng cơ bản cũng như những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau Theo đó, có thể có những nhóm kỹ năng sống như sau:
1- Nhóm kỹ năng chung
Nhóm chung này bao gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể
có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm các kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội
2- Nhóm kỹ năng chuyên biệt
Nhóm kỹ năng chuyên biệt gồm các kỹ năng được thể hiện trong các lĩnh vực
cụ thể khác nhau của đời sống xã hội như: Các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng,
kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, kỹ năng về các vấn đề xã hội như ma túy, HIV- AIDS, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các vấn đề bạo lực, rủi ro, những kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ
c Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Tổ chức này nghiên cứu sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân Theo đó, các kỹ năng phân loại theo các mối quan hệ như sau:
1 - Nhóm những kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình, bao gồm các kỹ năng sau:
- Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân
Trang 33- Kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống
- Kỹ năng bảo vệ bản thân
- Kỹ năng kiên định
- Kỹ năng đương đầu với cảm xúc
- Kỹ năng đương đầu với căng thẳng
2- Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác Nhóm này có các kỹ năng:
- Kỹ năng thiết lập quan hệ - tương tác liên nhân cách
- Sự cảm thông – thấu cảm (Empathy)
- Giao tiếp có hiệu quả
- Kỹ năng thương lượng
- Kỹ năng đứng vững trước những áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác
3- Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả, bao gồm những kỹ năng sau:
- Tư duy phê phán
- Tư duy sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
d Tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc)
Theo tổ chức ESCAP phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng
- Kỹ năng sống để phát triển cá nhân
- Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác
- Kỹ năng công nghệ, theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị (ESCAP nhấn mạnh đến kỹ năng công nghệ thông tin)
đ Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn phân chia kỹ năng sống thành 3 nhóm chính [39,tr.1-3]
1- Nhóm thứ nhất: Kỹ năng về cuộc sống cá nhân, bao gồm các kỹ năng:
Kỹ năng sinh hoạt cá nhân, Kỹ năng rèn luyện giữ sức khỏe, Kỹ năng tự nhận thức
Trang 34bản thân, Kỹ năng tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân, Kỹ năng tự xác định mục đích, kế hoạch cuộc sống
2- Nhóm thứ hai: Kỹ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội, bao gồm các kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử, Kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, Kỹ năng thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, Kỹ năng thích ứng xã hội
3- Nhóm thứ ba: Kỹ năng thực hành công việc bao gồm các kỹ năng: Kỹ năng xác định mục tiêu công việc, Kỹ năng lựa chọn và xác định các giá trị, Kỹ năng hoạch định công việc, Kỹ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc,
Kỹ năng tổ chức thực hiện công việc có kết quả, Kỹ năng đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công việc, Kỹ năng chuẩn bị cho các công việc tiếp theo
e Một số tác giả nước ngoài cũng đề cập đến mô hình kỹ năng sống 4 – H như mô hình dưới đây sau một thời gian dài nghiên cứu
Sơ đồ 1: Mô hình kỹ năng sống 4-H (Steve McKinley)
1- HEAD (Nhận thức – trí não)
* Thinking: Tư duy
Service learning: tự rèn luyện để phục vụ
Learning to learn: trau dồi tri thức
Decision-making: ra quyết định
Trang 35Problem solving: giải quyết vấn đề
Critical thinking: tư duy phê phán
* Managing: Quản lý
Resilience: thể hiện sự kiên cường
Keeping records: quản lý dữ kiện, sổ sách
Wise use of resources: sử dụng thông minh nguồn lực
Planning/Organizing: thiết lập kế hoạch
Goal setting: thiết lập mục tiêu
2- HEART (Tâm thức)
* Relating: Liên kết
Communications: giao tiếp
Cooperation: hợp tác
Social Skills: làm việc cộng đồng
Conflict Resolution: giải quyết xung đột
Accepting Differences: chấp nhận sự khác biệt
* Caring: Chu đáo
* Giving: Cho đi
Community service-volunteering: thực hiện dịch vụ công cộng tự động Leadership: lãnh đạo
Responsible citizenship: thực hiện trách nhiệm công dân
Contribution to group: đóng góp vào nỗ lực của nhóm
Trang 364- HEALTH (Thể chất)
* Living: Sống
Healthy life-style: tuân thủ lối sống khỏe mạnh
Stress management: quản lý stress
Disease prevention: ngăn ngừa bệnh tật
Personal safety: an toàn cá nhân
* Being: Nhân văn
Self esteem: thể hiện lòng tự trọng
Self responsibility: tự chịu trách nhiệm
Character: thể hiện chính mình
Managing feelings: kiểm soát cảm xúc
Self discipline: tuân thủ kỷ luật
Từ các cách phân loại kỹ năng sống trên đây, có thể rút ra những nhận định sau Mỗi cách phân chia kỹ năng sống của mỗi tổ chức, cá nhân, đều mang tính tương đối Những kỹ năng thường được nhiều quan điểm đề cập đến vẫn là kỹ năng
tự nhận thức bản thân, chăm sóc sức khỏe bản thân, kiểm soát bản thân, giải quyết vấn đề
Tuy mỗi tổ chức ở mỗi góc nhìn khác nhau nên cách phân loại kỹ năng sống
có khác nhau Nhưng nhìn chung, dù có phân loại trên góc nhìn nào đi nữa thì kỹ năng sống phải là những khả năng thuộc về năng lực cá nhân giúp bản thân tồn tại
và làm chủ cuộc sống mình cũng như đạt được những mục tiêu sống một cách hiệu quả Chính vì điều này, tác giả Huỳnh Văn Sơn đã chọn hướng tiếp cận kỹ năng sống theo hướng cá nhân, nghĩa là kỹ năng sống đối với mỗi cá nhân cần có những khả năng gì, những kỹ năng nào trong tiến trình phát triển cuộc đời cũng như trong quan hệ khác nhau và trong những hoạt động khác nhau Từ đây, có thể nhận thấy những kỹ năng sống cần thiết nhất với con người cũng chính là những kỹ năng cơ bản mà con người cần có ngay từ những năm tháng đầu đời, đặc biệt là trẻ em 5 – 6 tuổi Đó là những nhóm kỹ năng cơ bản hướng đến sự phát triển toàn diện cho trẻ:
kỹ năng phát triển thể chất, kỹ năng phát triển nhận thức, kỹ năng phát triển tình cảm xã hội, kỹ năng phát triển ngôn ngữ - giao tiếp
Trang 371.2.2 Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi
1.2.2.1 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi [22, tr.117-215]
a Sự phát triển thể chất
Trẻ em bắt đầu từ 3 – 6 tuổi mỗi năm tăng trung bình khoảng 3kg thể trọng và
5 – 7cm chiều cao Bộ phận phát triển nhanh hơn cả trong giai đoạn này là cánh tay
và ống chân Bàn tay và bàn chân phát triển chậm hơn
Hệ xương và cơ của trẻ tiếp tục phát triển Xương tiếp tục được cốt hóa, các cơ
to ra Cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Tốc độ hình thành các phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ hai và các bộ máy nhận cảm phát triển mạnh
Hệ thần kinh tiếp tục tăng trưởng về hình thái và cấu trúc Trọng lượng não tăng từ khoảng 1.100 gram lên 1.300 gram Một số vùng trên vỏ nảo tiếp tục được mielin hoá (đặc biệt là vùng vỏ não trước trán) Các vùng chức năng của não tiếp tục được chuyên môn hóa, nhờ đó trẻ có khả năng hoạt động trí tuệ phức tạp và điều khiển nhiều hoạt động đòi hỏi sự tinh tế của cơ bắp
Về sự phát triển vận động của trẻ mẫu giáo Khi được 5 tuổi, các vận động cơ bản của trẻ đã thành thạo như người lớn: chạy vung tay, kiểm soát trọng tâm và giữ thăng bằng Các hành động đã có sự phối hợp của cả cổ, cánh tay, vai, chân , nhờ
đó trẻ có thể đi xe đạp, nhào lộn hoặc thực hiện các động tác phức tạp khác
Trong vận động, trẻ đã có khả năng phối hợp khá chặt chẽ giữa các cơ quan vận động với các giác quan Khả năng kiểm soát các cơ nhỏ được cải thiện nhanh chóng, vì thế, trẻ sử dụng bàn tay tinh xảo hơn, trẻ 5 tuổi có thể làm thành thạo việc cài cúc áo, buộc giây giày hay bắt chước các thao tác đơn giản; có thể dùng kéo cắt giấy theo các đường kẻ trước, vẽ lại các hình, các chữ cái, nặn các đồ vật
b Sự phát triển khả năng tri giác
Ở trẻ 3 – 6 tuổi, khả năng tri giác của trẻ phát triển mạnh mẽ Sự phát triển tri giác của trẻ có các đặc điểm sau:
Trang 38- Thứ nhất: Tri giác phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong hoạt động nhận thức
là đặc trưng nổi bật trong sự phát triển tâm lý của trẻ 3 – 6 tuổi Các quá trình nhận thức khác của trẻ như trí nhớ, tư duy, chú ý, đều phụ thuộc rất nhiều vào tri giác
- Thứ hai: Tri giác của trẻ em thường phát triển qua ba giai đoạn (3 mức độ): giai đoạn kể ra; giai đoạn mô tả; giai đoạn giải thích
- Thứ ba: Tính duy kỷ của tri giác Duy kỷ là hiện tượng tâm lý trong đó trẻ em thường hướng vào bản thân, lấy bản thân mình làm chuẩn để nhận thức, đánh giá và phản ứng với các đối tượng
- Thứ tư: Tri giác của trẻ 3 – 6 tuổi chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của ngôn ngữ và tư duy cũng như các quá trình nhận thức khác [14, tr.119-121]
c Sự phát triển tự ý thức
Trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác Sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực
Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào Sau đó, trẻ nắm bắt được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt
Sự tự ý thức của trẻ 5 – 6 tuổi còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Những trẻ trai thường bắt chước những hành vi, cử chỉ của đàn ông, còn những trẻ gái thì bắt chước dáng điệu của phụ nữ Hiện tượng này phản ánh vào trò chơi rất rõ: Con trai thường đóng vai bộ đội, công an bảo vệ, ; con gái thì đóng vai người nội trợ, bán hàng,
Trang 39Sự tự ý thức được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó mà hành
vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước [36]
d Đặc điểm phát triển trí nhớ
Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định xuất hiện và phát triển mạnh mẽ vào lúc trẻ được 5 – 6 tuổi Trí nhớ có chủ định phát triển do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao Đó là loại trí nhớ có mục đích và dựa vào công cụ tâm lý, như ngôn ngữ, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết
và mọi quy ước có thể có Tuy nhiên, loại trí nhớ có chủ định chủ yếu của trẻ ở giai đoạn này vẫn là ghi nhớ máy móc
Trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng nhớ gián tiếp, tức là biết sử dụng ký hiệu làm đối tượng trung gian để nhớ tốt hơn
Nội dung trí nhớ của trẻ 5 - 6 tuổi bao gồm:
- Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít
có những động tác thừa của cơ thể
- Trí nhớ hình ảnh: Nội dung chủ yếu của trí nhớ hình ảnh là những biểu tượng hay những hình ảnh của sự vật, hiện tượng được trẻ lĩnh hội trước đây
- Trí nhớ từ ngữ logic: Trí nhớ từ ngữ lôgic ở trẻ biểu hiện dưới hai hình thức:
Việc lĩnh hội ngôn ngữ tích cực của tiếng mẹ đẻ: Trẻ ghi nhớ các từ, các hình thức ngữ pháp và tái hiện lại chúng Đối với việc ghi nhớ các bài thơ, truyện
kể thì âm điệu, nhịp điệu có ý nghĩa quan trọng
Việc nhớ nội dung của các mẩu truyện, trẻ thường nhớ những nhân vật văn học gây nhiều cảm xúc cho trẻ, trẻ theo dõi và đặt mình vào vị trí, hành động của nhân vật Các bài thơ mà trong đó các hình tượng gần gũi với trẻ, được trẻ ghi nhớ tốt hơn
- Trí nhớ cảm xúc: Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua Trí nhớ này là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong phú và tinh tế
e Đặc điểm phát triển tư duy
Trang 40Ở trẻ 5 – 6 tuổi, loại tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh Trẻ giải quyết các vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng Các kiến thức khái quát và trừu tượng chỉ được trẻ lĩnh hội khi chúng được diễn tả nhờ các mô hình trực quan
L.A Venger (1969), A.V Daparôgiet (1972), N.N Pôdiakov (1972) cho rằng:
“Trẻ mẫu giáo lớn có thể nhận thức được không chỉ vẻ bề ngoài của đồ vật mà còn hiểu được cả những tính chất và quan hệ bên trong của những đồ vật đó Ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã hình thành khả năng tiếp cận với các hình thái trừu tượng, tích lũy
và suy lý (…) Song sự nhận thức này được trẻ thực hiện không phải ở hình thái khái niệm mà phần lớn là ở hình thái trực quan hình tượng trong quá trình hoạt động với các khách thể được nhận thức” Bên cạnh đó, P.Ia Ganperin (1966), Đavưđốp (1972) và N.I Nêpômiasa (1975) cho rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất trong sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo lớn là “chuyển từ mức độ tư duy tiền thao tác sang mức độ cao hơn của quá trình tư duy; song có những nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng đó là làm sao sử dụng tối đa các khả năng tư duy tiền thao tác trong quá trình phát triển trí tuệ của trẻ”
Về tính chất độc đáo của quá trình tư duy ở trẻ mẫu giáo, A.A Liublinxkaia đã đưa ra một số đặc điểm tư duy ở trẻ mẫu giáo như sau:
- Sự thiếu những tri thức cần thiết để thiết lậ các mối liên hệ bản chất có thực giữa các điều kiện hoặc các mặt của một hoạt động nào đó
- Không có kỹ năng liên tục, nghĩa là kỹ năng sử dụng một hệ thống xác đángtheo một lôgic nhất định của các thao tác trí tuệ
Vậy thì, trong quá trình phát triển hoạt động tư duy của trẻ em có sự chuyển
chỗ từ sử dụng các hành động thực tiễn để giải quyết nhiệm vụ cụ thể được đề ra một cách trực quan đến các hành động trí tuệ bên trong, những hành động được rút gọn Như vậy, trẻ 5 – 6 tuổi, loại tư duy trực quan hình ảnh đã phát triển mạnh và bắt đầu xuất hiện loại tư duy lôgic [28]
f Đặc điểm phát triển tưởng tượng