Th ực trạng việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực

Một phần của tài liệu thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non quận bình tân, thành phố hồ chí minh (Trang 58 - 65)

Chương 2. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH C ỰC VÀO HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI MỘT

2.3. K ết quả khảo sát thực trạng vận dụng các PPDHTC vào hoạt động dạy học

2.3.3. Th ực trạng việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực

Bảng 2.6: Mức độ sử dụng các PPDHTC trong hoạt động dạy

Các PPDHTC Mức độ Mean

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không

SL TL SL TL SL TL

1. PPDH giải quyết vấn đề 34 44.7% 38 50% 4 5.3% 1.6 2. PPDH theo nhóm nhỏ 60 78.9% 16 21.1% 0 0% 1.21 3. PPDH theo tình huống 40 52.6% 36 47.4% 0 0% 1.47

4. PP đóng vai 36 47.4% 40 52.6% 0 0% 1.53

5. PP dạy học tổ chức trò chơi

62 81.6% 14 18.4% 0 0% 1.18 6. PP động não 13 17.1% 22 28.9% 41 53.9% 2.36

7. PPDH theo dự án 0 0% 0 0% 76 100% 3

Bảng 2.6 cho thấy các phương pháp: dạy học theo nhóm nhỏ, phương pháp dạy học theo tình huống và phương pháp tổ chức trò chơi được giáo viên sử dụng thường xuyên với điểm trung bình lần lượt là 1.21; 1.47; 1.18. Cùng với các phương pháp trên thì phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai và phương pháp động não có điểm trung bình lần lượt là 1.6; 1.53; 2.36. Với số điểm này chúng ta có thể thấy đây là các phương pháp được sử dụng ở mức thỉnh thoảng. Qua dự giờ các hoạt động dạy thực tế, chúng tôi thấy giáo viên có sử dụng các phương pháp trên. Phương pháp

dạy học theo nhóm nhỏ là phương pháp giáo viên sử dụng ở hầu hết các giờ dạy mà chúng tôi quan sát được. Bên cạnh đó là các phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học theo tình huống được giáo viên sử dụng ở các hoạt động đầu để kích thích tính tò mò của trẻ. Có một số tình huống phát sinh trong quá trình trẻ hoạt động.

Phương pháp tổ chức trò chơi thì thường diễn ra vào cuối giờ học. Việc sử dụng các phương pháp này đã phát huy được một số ưu điểm của chúng. Bằng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ, trẻ phối hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ, trẻ tự sửa sai cho nhau trong quá trình làm việc, trẻ tranh luận, bàn bạc để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình làm việc nhóm. Đối với phương pháp dạy học theo tình huống, cô đưa ra những tình huống, có thể là tình huống có vấn đề để trẻ suy nghĩ tìm cách giải quyết. Phương pháp trò chơi giúp trẻ thấy thoải mái, hứng thú hoạt động. Mặc dù vậy vẫn còn một số hạn chế như trong dạy học theo nhóm nhỏ, giáo viên cho trẻ chia nhóm, song lại không phải lúc nào chia nhóm cũng để hoạt động nhóm mà có khi chia nhóm để hoạt động cá nhân. Hơn thế nữa, yêu cầu của hoạt động nhóm là mỗi nhóm tự hoàn thành các nhiệm vụ trên cở sở phân công và hợp tác làm việc nhưng chúng tôi vẫn quan sát thấy nhiều hoạt động nhóm của trẻ không thực hiện yêu cầu này, giáo viên cũng chưa rèn cho trẻ kỹ năng phân công trong làm việc nhóm. Chưa cho trẻ cơ hội để nhóm này đánh giá nhóm kia. Giáo viên còn tâm lý sợ quá giờ nên hơi nóng vội, chưa cho trẻ đủ thời gian để suy nghĩ tìm ra cách giải quyết mà cô tự giải quyết vấn đề đó hoặc các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động. Trong quá trình hoạt động, có một số vấn đề phát sinh, giáo viên chưa nhận ra đây là cơ hội để giáo dục trẻ mà thường lướt qua, hoặc giải quyết hộ.

Còn phương pháp động não, như ở bảng 2.3, chúng ta thấy giáo viên hầu như không được tập huấn về phương pháp này, do đó việc vận dụng còn hạn chế, có đến 53.9 % không sử dụng phương pháp này, số còn lại sử dụng cũng chưa hiệu quả. Qua quan sát, chúng tôi thấy rất hiếm khi giáo viên dùng đến. Phương pháp này là phương pháp phát huy được khả năng tư duy sáng tạo cho trẻ, tìm ra các ý tưởng mới mẻ từ trẻ, tập cho trẻ suy nghĩ nhanh, nhưng lại ít được áp dụng. Giáo viên cũng nêu rằng phương pháp này có nghe qua tên gọi, chưa hiểu rõ lắm. Điều này lại là một thực trạng đáng lo ngại, làm giảm đi hiệu quả mà PPDHTC mang lại.

Phương pháp dạy học theo dự án với tỉ lệ vận dụng là 0% cho thấy các giáo viên chưa biết đến phương pháp này. Qua phỏng vấn trực tiếp một vài giáo viên chúng tôi cũng nhận được câu trả lời rằng phương pháp này rất lạ, chưa nghe bao giờ. Trong thực tế PPDH theo dự án mà Lilian Katz [26] phát triển thành mô hình dạy học theo dự án cho trẻ mầm non không có trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của Bộ giáo dục. Do đó, việc giáo viên chưa biết đến PPDH này là việc khó tránh khỏi, hơn thế nữa tài liệu về dạy học theo dự án hầu hết là tài liệu bằng tiếng Anh, Điều này cũng gây khó khăn cho việc tìm hiểu của giáo viên và cả CBQL.

Có thể nói, hạn chế giáo viên mắc phải trong quá trình vận dụng các PPDHTC là do giáo viên chưa thực sự hiểu rõ về các phương pháp. Điều này cũng thể hiện ở phần trả lời trong câu hỏi mở yêu cầu giáo viên mô tả ngắn gọn một PPDHTC mà giáo viên sử dụng. Chỉ có một giáo viên mô tả được ngắn gọn phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. Còn lại hầu hết các giáo viên chỉ nêu chung chung “dạy học tích cực là lấy trẻ làm trung tâm, dạy theo các sự kiện, nhu cầu, lựa chọn các chủ để trẻ quan tâm, cho trẻ được tự tìm hiểu và khám phá. Cần nắm những kỹ năng của trẻ, lựa chọn những PPDHTC để đưa vào các hoạt động sao cho phù hợp để trẻ có thể phối hợp với bạn, trẻ sáng tạo và có trách nhiệm; Giáo viên thường tổ chức các hoạt động dưới dạng trò chơi cho trẻ tư duy giải quyết vấn đề; Dạy theo nhu cầu của trẻ…”

Như vậy, mức độ sử dụng các PPDHTC tùy thuộc vào khả năng hiểu biết của giáo viên về các phương pháp ấy. Phương pháp nào được giáo viên nắm rõ hơn, gần gũi hơn, dễ thực hiện hơn thì được sử dụng thường xuyên. Ngược lại, phương pháp nào không rõ, thì ít được sử dụng và tất nhiên phương pháp nào không biết đến thì không sử dụng. Điều này đưa ra một thực trạng về vấn đề tự tìm tòi, nghiên cứu, của giáo viên về các PPDHTC. Đây là một trong những yêu cầu của giáo viên trong thời đại đổi mới giáo dục hiện nay. Giáo viên mới chỉ tìm hiểu các PPDH này một cách thụ động, được yêu cầu tìm hiểu chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên do ban giám hiệu đưa ra, hoặc qua các buổi họp chuyên môn. Dù biết đến tên một số phương pháp, biết rằng chưa hiểu rõ về những phương pháp ấy nhưng lại không tự tìm hiểu thêm để nắm bắt nội dung, cách thức thực hiện.

Bên cạnh những hạn chế trên thì việc vận dụng các PPDHTC vào các hoạt động cũng chưa được thực hiện đồng đều ở các giờ dạy học. Có những hoạt động được sử dụng nhiều và có những hoạt động được sử dụng ít hơn. Điều này thể hiện ở bảng 2.7

Bảng 2.7: Mức độ vận dụng các PPDHTC vào các hoạt động

Vận dụng các PPDHTC

Mức độ

Mean Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Không

SL TL SL TL SL TL

Những giờ thao giảng 46 60.5% 30 39.5% 0 0% 1.39 Những lúc có dự giờ thanh tra

chuyên môn

56 73.7% 15 19.7% 5 6.6% 1.33 Vào tổ chức mọi hoạt động học

và chơi cho trẻ.

43 56.6% 25 32.9% 8 10.5% 1.54

Chỉ hoạt động học 44 57.9% 14 18.4% 18 23.7% 1.66 Chỉ hoạt động chơi 34 44.7% 24 32.6% 18 23.7% 1.79

Bảng 2.7 cho thấy giáo viên vận dụng các PPDHTC ở hầu hết các hoạt động, thường xuyên sử dụng vào những giờ thao giảng, những giờ thanh tra chuyên môn với tỉ lệ khá cao 60.6% và 73.7% và không có giáo viên nào không sử dụng các PPDHTC vào những giờ thao giảng. Chỉ có 6.6% không sử dụng vào những lúc có dự giờ thanh tra chuyên môn.

Kết quả khảo sát mức độ vận dụng các PPDHTC vào mọi hoạt động học và chơi;

chỉ tổ chức vào hoạt động học; chỉ tổ chức vào hoạt động chơi lần lượt đạt điểm trung bình 1.54; 1.66; 1.79 rơi vào mức độ thỉnh thoảng. Như vậy, việc vận dụng các PPDHTC được dùng nhiều trong các giờ thanh tra chuyên môn và thảo giảng hơn là mọi hoạt động chơi và hoạt động học. Vẫn còn tình trạng chỉ tổ chức vào hoạt động học, hoặc chỉ tổ chức vào hoạt động chơi. Điều này cho thấy mức độ vận dụng các PPDHTC vẫn còn chưa đồng đều và có phần mang tính đối phó. Qua tìm hiểu, chúng

tôi được biết, giáo viên cho rằng: do còn gặp một số khó khăn, nên việc vận dụng các PPDHTC còn hạn chế như “số trẻ trong lớp quá đông, khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều”; “cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ để vận dụng các PPDHTC, có một số nội dung khi lựa chọn PPDHTC để áp dụng rất khó, phải suy nghĩ tìm tòi nhiều cách mới có thể áp dụng vào được, và khi áp dụng vào giờ học thì kết quả không như mong muốn.” “không có đủ thời gian chuẩn bị”; Về phía ban giám hiệu thì cho rằng :

“Cô chưa sáng tạo, đầu tư nhiều trong hoạt động học để phát huy tính tích cực ở trẻ”;

“một số giáo viên lớn tuổi thường ngại thay đổi, ngại suy nghĩ”; Vốn kinh nghiệm của trẻ trong một lớp không đồng đều nên đôi khi giáo viên đưa ra kế hoạch chưa phù hợp với vốn hiểu biết của trẻ (thấp hơn hoặc cao hơn) làm cho giờ học ít hiệu quả… Những lý do trên làm cho giáo viên chưa thể vận dụng các PPDHTC trong mọi hoạt động.

Tuy nhiên, những lý do này nếu có biện pháp cụ thể, hợp lý thì có thể khắc phục được.

Mặc dù vậy, một số lý do như vốn kinh nghiệm của trẻ không đồng đều thì không nên cho là nguyên nhân khó khăn. Đây là điều tất yếu trong dạy học, đòi hỏi vốn kinh nghiệm của trẻ đồng đều để có thể áp dụng các PPDHTC khó khả thi.

1.3.3.2. Cách thức giáo viên áp dụng các PPDHTC

Bảng 2.8: Cách thức các giáo viên vận dụng các PPDH tích cực.

Cách thức vận dụng Mức độ Hiệu quả

TX TT K Mean HQ IHQ KHQ Mean 1.Xác định mục tiêu của việc

thực hiện PPDHTC 94.7 5.3 0 1.05 86.8 13.2 0 1.13 2.Lựa chọn PPDHTC phù hợp

với mục tiêu và nội dung dạy. 92.1 7.9 0 1.08 97.4 2.6 0 1.03 3.Xây dựng kế hoạch dạy học. 100 0 0 1 100 0 0 1 4.Dự kiến các tình huống có

thể xảy ra. 47.4 50 2.6 1.55 50 47.4 2.6 1.52 5.Có kế hoạch tham mưu với

BGH nhà trường về những khó khăn và thuận lợi của việc áp dụng các PPDH tích cực.

21.1 73.7 5.3 1.84 52.6 36.8 10.5 1.57

6.Xây dựng kế hoạch trao đổi với phụ huynh để mời gọi sự hợp tác từ phụ huynh với việc dạy học cho trẻ.

10.5 84.2 5.3 1.94 28.9 44.7 26.3 1.97

Số liệu trên cho thấy, việc xác định mục tiêu của việc vận dụng các PPDHTC;

lựa chọn PPDHTC phù hợp với mục tiêu; nội dung bài dạy; xây dựng kế hoạch dạy học là cách mà giáo viên sử dụng thường xuyên và đạt hiệu quả với tỉ lệ 86.8%. Không có giáo viên nào không áp dụng cách thức này, và cũng không có giáo viên nào cho rằng việc này không có hiệu quả. Mức độ thường xuyên áp dụng cũng chiếm tỉ lệ cao, lần lượt là 94.7; 92.7; đặc biệt là việc xây dựng kế hoạch dạy học chiếm 100%. và 100% cho rằng đạt hiệu quả. Như vậy, đây vẫn được xem là những cách thức cần thiết, tốt, và mang lại hiệu quả cao trong các thời kì, trước đây và cả hiện nay. Phương pháp dạy học chịu sự chi phối, quy định trước hết của mục tiêu dạy học. Phương pháp dạy học phải đảm bảo vạch ra được cách thức hoạt động để đạt tới mục tiêu nhất định.

Trong dạy học tích cực, mục tiêu cần được xác định một cách cụ thể, rõ ràng, khả thi.

Tùy theo các mục tiêu dạy học cụ thể mà phương pháp dạy học cần sử dụng phải khác nhau, hoặc phải thay đỏi một cách phù hợp. Bất cứ hoạt động nói chung và hoạt động giáo dục nói riêng nào cũng cần có mục tiêu, nếu không có mục tiêu, người thực hiện sẽ không định hướng được mình cần làm gì, làm như thế nào, và làm để làm gì. Từ mục tiêu thì mới có thể lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp, xây dựng kế hoạch để thực hiện tốt mục tiêu ấy. Đây là những việc không thể thiếu trong hoạt động giáo dục.

Cách thức “dự kiến tình huống có thể xảy ra” được áp dụng ở mức độ thỉnh thoảng vì có điểm trung bình là 1.55 và ít đạt hiệu quả với điểm trung bình là 1.52. Có nghĩa là giáo viên không thường xuyên dự kiến các tình huống có thể xảy ra, việc này cũng ít mang lại hiệu quả. Việc dự kiến các tình huống có thể giúp giáo viên bớt căng thẳng khi gặp một sự việc ngoài mong đợi, hoặc giúp giáo viên tận dụng một cách có chuẩn bị những cơ hội giáo dục nảy sinh trong quá trình trẻ hoạt động. Mặc dù vậy, đây không phải là một việc dễ thực hiện. Những tình huống dự kiến không phải lúc

nào cũng diễn ra, và không phải lúc nào cách giải quyết tình huống dự kiến cũng phù hợp và đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều tình huống ngoài dự kiến thường phát sinh và để xử lý được những tình huống đó đòi hỏi giáo viên phải thật linh hoạt, khéo léo.

Điều này không phải giáo viên nào cũng làm được. Vì trẻ em, mỗi trẻ có một đặc điểm riêng, mỗi lớp mỗi khác, mỗi vùng mỗi khác. Các giáo viên có kinh nghiệm hơn, thì khả năng dự kiến có thể sẽ tốt hơn các giáo viên trẻ, song giáo viên trẻ thì thường linh hoạt hơn, năng động hơn. Tuy nhiên, dù thực hiện việc này đạt mức độ hiệu quả như thế nào thì đây cũng là một việc cần thiết nên làm để việc vận dụng các PPDHTC đạt kết quả cao hơn.

Việc có kế hoạch tham mưu với nhà trường về những khó khăn và thuận lợi của việc vận dụng các PPDHTC có mức độ đạt điểm trung bình là 1.84 và mức độ hiệu quả đạt điểm trung bình là 1.57. Qua hai con số trên, chúng ta thấy việc này chỉ được thực hiện ở mức độ thỉnh thoảng và ít hiệu quả. Như vậy, vẫn còn thiếu sự phối hợp giữa giáo viên các nhóm lớp và ban giám hiệu (BGH). Trao đổi trực tiếp với cô N.N.H trường Mầm non 19/5 về việc này, chúng tôi được biết “ở lớp các cô rất bận, BGH cũng rất bận nên có gì làm đó, thuận lợi thì phát huy, còn cái nào khó khăn thì Ban giám hiệu đi dự giờ, quan sát cũng biết rồi, khi nào giải quyết được thì BGH sẽ giải quyết, không cần tham mưu.” Tiếp tục tìm hiểu tại trường mầm non Phong Lan chúng tôi cũng nhận được câu trả lời tương tự “Trường nhỏ, chỉ có 4 lớp lá và một lớp chồi, nên việc gì BGH cũng rõ, không cần tham mưu”. Phỏng vấn BGH trường này, chúng tôi nhận được câu trả lời: “ Giáo viên gặp khó khăn gì thì cũng có nói với BGH, tuy nhiên không phải khó khăn nào BGH cũng khắc phục được, đặc biệt là khó khăn về cơ sở vật chất và số lượng trẻ, về cơ sở vật chất thì ngoài những trang thiết bị đã trang bị đầu năm bằng ngân sách thì chỉ có thể vận động thêm phụ huynh, nhưng cũng không nhiều, còn lại thì các cô cũng tự vận động thêm, thu thập thêm các nguyên vật liệu mở.

Riêng phòng ốc và diện tích sân trường thì không có cách nào làm rộng được (trường không có sân chơi), những hoạt động quan sát thiên nhiên, trồng cây, hay hoạt động gì cần đến sân trường không thực hiện được. Số trẻ trong một lớp cũng hơi đông hơn quy định nhưng hiện nay đang thực hiện phổ cập trẻ 5 tuổi nên khó có thể nhận đúng số trẻ theo quy định của điều lệ.” “ Thuận lợi cũng có, nhưng khó khăn thì không ít, cái nào

giải quyết được trước thì giải quyết, cái nào chưa giải quyết được ngay thì từ từ tìm cách. Còn khó khăn do các giáo viên chưa làm tốt các PPDHTC thì sẽ khắc phục, bồi dưỡng chuyên môn thêm”

Như vậy, không cần có sự tham mưu bằng văn bản nhưng chúng tôi thấy đã có sự trao đổi và nắm bắt tình hình giữa BGH và giáo viên về những khó khăn và thuận lợi trong việc vận dụng các PPDHTC. Song hiệu quả của việc này có thể chưa cao như khảo sát là do một số yếu tố khách quan và để khắc phục còn liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành khác nhau.

Cách thức “xây dựng kế hoạch trao đổi với phụ huynh để mời gọi sự hợp tác từ phụ huynh với việc dạy học cho trẻ” cũng chỉ được thực hiện ở mức độ thỉnh thoảng và cũng ít hiệu quả với điểm trung bình mức độ là 1.94 và điểm trung bình hiệu quả là 1.97. Điều này cho thấy việc phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường trong việc vận dụng các PPDHTC còn chưa cao. Đây cũng là một trong những khó khăn mà giáo viên đang gặp. Không ít giáo viên cho rằng không có nhiều phụ huynh quan tâm đến việc này, họ chỉ lo cho con họ học chữ, học số. Chúng tôi thấy đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc mời gọi sự hợp tác của phụ huynh ít mang lại hiệu quả.

Một phần của tài liệu thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động dạy học cho trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non quận bình tân, thành phố hồ chí minh (Trang 58 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(97 trang)