1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi

109 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi
Tác giả Dương Hoàng Linh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Trương Tín
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan đến Đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi”, tác giả cuốn sách đã phân tích, bình luận các nội dung: Trường hợp không chịu trách nhiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

DƯƠNG HOÀNG LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG

TRƯỜNG HỢP BÊN BỊ THIỆT HẠI CÓ LỖI

Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN TRƯƠNG TÍN

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin dành trang đầu tiên của của Khóa luận để gửi lời tri ân chân

thành nhất đến gia đình, quý Thầy, Cô và bạn bè trong suốt thời gian qua đã

luôn giúp đỡ và ủng hộ tác giả hoàn thành đề tài

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy

Nguyễn Trương Tín- Giảng viên Khoa Luật Dân sự, trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh Em xin cảm ơn sự tận tâm của Thầy đã truyền cho em một

nguồn động lực lớn Em xin cảm ơn Thầy đã luôn lắng nghe, chỉ bảo cho em

từng chút một trong việc góp ý, hướng dẫn, phản biện giúp em hoàn thành đề tài

tốt nghiệp của mình một cách trọn vẹn

Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả dưới

sự hướng dẫn khoa học của Thầy Nguyễn Trương Tín Các nội dung không phải của tác giả đều được trích dẫn đầy đủ, rõ ràng Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm cho bất cứ sai sót nào từ công trình nghiên cứu của mình

Tác giả DƯƠNG HOÀNG LINH

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BỊ THIỆT HẠI CÓ LỖI 6 1.1 Lược sử pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trước khi có Bộ luật Dân sự năm 2015 6

1.1.1 Trước khi có Bộ luật Dân sự năm 1995 6 1.1.2 Từ khi có Bộ luật Dân sự năm 1995 11

1.2 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên

bị thiệt hại có lỗi theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 15

1.2.1 Quy định chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi 15

1.2.1.1 Bên bị thiệt hại có lỗi một phần 17

1.2.1.2 Bên bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi 18

1.2.2 Một số quy định cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi 21

1.2.2.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng 21

1.2.2.2 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 23

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BỊ THIỆT HẠI CÓ LỖI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 27 2.1 Thực tiễn áp dụng quy định chung về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 27

Trang 6

2.1.1 Xác định nội hàm yếu tố lỗi của bên bị thiệt hại 272.1.2 Xác định mức độ lỗi của bên bị thiệt hại 31

2.2 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 35 2.3 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợpbên bị thiệt hại có lỗi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 40 KẾT LUẬN 46

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm Mặc dù vậy, để đảm bảo tính công bằng, các chủ thể bị xâm phạm cũng cần chịu trách nhiệm về phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Do đó, yếu tố lỗi của bên bị thiệt hại có vai trò rất quan trọng trong việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên gây thiệt hại

Tại Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định từ Điều 604 đến Điều 630 của Bộ luật này Trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn, bên cạnh những đóng góp đem lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập Một số quy định không cụ thể, không rõ ràng, không bao quát hết mọi trường hợp xảy ra; đặc biệt là một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn và từ đó gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật vào công tác xét xử của Tòa án Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời, quy định bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định với những điểm tiến bộ đáng lưu tâm Tuy vậy, một

số quy định cũng vẫn còn tồn tại một số điểm cần được phân tích, đánh giá để đưa ra giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện tốt hơn

Ngoài ra, giữa thực tiễn và văn bản pháp luật liên quan đến quy định bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trong một số trường hợp chưa đồng nhất Để có những bản án thấu tình đạt lý, đôi khi Hội đồng xét xử gặp phải những khó khăn nhất định, có trường hợp Tòa án phải làm “biến dạng”

đi cách hiểu về nội dung của quy định nêu trên Chính vì vậy, tác giả thấy cần

Trang 8

2

thiết phải có những giải pháp đưa ra về mặt pháp luật hay thực tiễn nhằm giải quyết vướng mắc trên, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong công tác thực tiễn đưa ra những phán quyết thực sự thuyết phục cả trên phương diện lí và tình

Từ những lí do trên cùng với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này,

tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi” để thực hiện cho Khóa luận tốt nghiệp của mình

Vì thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế, đối với những thiếu sót trong Khóa luận của mình, tác giả hi vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ phía

Thầy, Cô và bạn đọc để đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi” được hoàn thiện hơn

- Phùng Trung Tập (2004), “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10;

- Quách Thành Vinh (2005), “Một số ý kiến từ việc áp dụng tình tiết

người bị hại cũng có lỗi”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2;

- Ban biên tập tạp chí Tòa án nhân dân (2006), “Về việc bồi thường thiệt

hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4;

- Phạm Văn Bằng (2013), “Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4;

- Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân

sự năm 2005”, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

Trang 9

3

- Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

Bên cạnh đó, đã có các công trình nghiên cứu, sách, bài viết tạp chí thực hiện phân tích, đánh giá chuyên sâu và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này được kể đến như:

- Phạm Kim Anh (2003), “Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3: Tác giả bài viết dẫn chứng định nghĩa về lỗi từ Luật

La Mã, pháp luật các nước Châu Âu lục địa, pháp luật Anh- Mỹ và đưa ra kiến nghị xây dựng khái niệm lỗi cho pháp luật dân sự Việt Nam Tác giả bài viết đưa

ra kiến nghị xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình

- Phùng Trung Tập (2005), “Cần hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 204: Trong bài viết của mình tác giả đề cập đến vấn đề Dự thảo sửa đổi BLDS đã không có một quy định nào về mức độ lỗi ngoài quy định tại

khoản 1 Điều 593 Dự thảo BLDS (sửa đổi) về hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý Trong khi đó việc bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể, pháp luật

lại quy định căn cứ vào mức độ lỗi để xác định mức tài sản mà người gây thiệt

hại phải bồi thường (Điều 605 và Điều 606 Dự thảo BLDS) Tác giả bài viết cho

rằng việc pháp luật không quy định mức độ lỗi là gì và được hiểu như thế nào đã

gây khó khăn cho cơ quan xét xử khi giải quyết tranh chấp vì không biết căn cứ vào đâu để giải quyết vụ việc Từ đó, tác giả bài viết đã đưa ra kiến nghị theo

hướng pháp luật nên có quy định về mức độ lỗi để các cơ quan, tổ chức mà trước

hết là Tòa án có căn cứ áp dụng giải quyết tranh chấp trong trường hợp thiệt hại xảy ra có yếu tố lỗi của người bị thiệt hại Tuy nhiên, tác giả bài viết chưa đưa ra

đề xuất cụ thể về mức độ lỗi nên được quy định như thế nào là phù hợp

- Đỗ Văn Đại (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận án (Tập 1 và tập 2), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia

Trang 10

4

Việt Nam, Hà Nội: Tác giả cuốn sách đã đưa ra các bản án chứng minh cho tính thuyết phục trong phần bình luận của mình Liên quan đến Đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi”, tác giả cuốn sách

đã phân tích, bình luận các nội dung: Trường hợp không chịu trách nhiệm bồi thường (Bản án số 17, 18 và 19), Tác động lỗi của người bị thiệt hại tới mức bồi thường (Bản án số 22, 23 và 24), Mức bồi thường khi vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng (Bản án số 25 và 26), Tai nạn giao thông đường bộ: Lỗi của người bị thiệt hại (Bản án 174, 175 và 176), Từ đó, tác giả cuốn sách đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cần xác định mức bồi thường cụ thể của từng chủ thể (thiệt hại tổng thể, thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu và mức thiệt hại mà người phòng vệ vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại), hay thiết lập một quy định riêng về bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra với phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ (tai nạn giao thông),

Kế thừa ý kiến quý giá từ các công trình nghiên cứu đi trước, tác giả của Đề tài sẽ tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển hơn về cơ sở pháp lý

cũng như thực tiễn áp dụng quy định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi” vào thực tiễn Từ đó, tác giả của Đề tài đề

xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện hơn về chế định này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài làm rõ các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật thực định cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi

Từ việc nêu ra sự chưa thống nhất giữa cơ sở pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi, tác giả của Đề tài sẽ kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả trong công tác thực tiễn giải quyết tranh chấp

Trang 11

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường

hợp bên bị thiệt hại có lỗi theo quy định của pháp luật hiện hành Cụ thể là các điều luật của BLDS 2015: Điều 584, Điều 585, Điều 594 và Điều 601 BLDS

2015 và thực tiễn giải quyết thông qua các bản án, quyết định của Tòa án

- Phạm vi nghiên cứu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp

bên bị thiệt hại có lỗi theo quy định của pháp luật Việt Nam với các nội dung: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại; yếu tố lỗi của bên gây thiệt hại, bên bị thiệt hại về nội hàm và mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi theo quy định chung và các trường hợp cụ thể

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được hiệu quả cao trong công tác nghiên cứu, Đề tài được tác giả

sử dụng kết hợp giữa các phương pháp cụ thể sau:

Trong Chương 1, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh luật học

Trong Chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp bình luận án

Trang 12

6

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BỊ THIỆT HẠI CÓ LỖI

1.1 Lược sử pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi trước khi có Bộ luật Dân sự năm 2015

1.1.1 Trước khi có Bộ luật Dân sự năm 1995

Dưới triều đại phong kiến, “Các đạo, chiếu, lệnh và các chính sách ruộng đất của nhà nước phong kiến Lý, Trần, Hồ được sử sách ghi chép cho thấy, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật nước ta, các vấn đề sở hữu và hợp đồng đã được pháp luật quy định”1

Như vậy, các chế định về dân sự lần đầu tiên được pháp luật quy định ở thời Lý- Trần- Hồ Tuy nhiên, bước đầu mới tồn tại những chế định về sở hữu, hợp đồng và thừa kế Bóng dáng những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa xuất hiện

Đến thời nhà Lê, pháp luật phát triển rực rỡ cùng với sự ra đời của Bộ Quốc triều Hình luật Đây được đánh giá là bộ luật tiêu biểu nhất trong lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam Tuy vậy, nội dung những quy định trong lĩnh vực dân sự của bộ luật cũng chỉ dừng lại với các quan hệ về sở hữu, hợp đồng và thừa kế với đối tượng được chú trọng là ruộng đất

Sau Bộ Quốc triều Hình luật phải nhắc đến Bộ Hoàng Việt luật lệ- văn bản pháp luật được pháp điển hóa và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam ra đời dưới thời vua Gia Long Nếu như Bộ Quốc triều Hình luật đề cập về sở hữu, hợp đồng và thừa kế trong lĩnh vực dân

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, trang 144

Trang 13

Đến ngày 23/3/1972, Thông tư số 173/UBTP của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) được ban hành hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tại văn bản này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định phát sinh khi có đầy đủ bốn điều kiện:

- Phải có thiệt hại;

- Phải có hành vi trái pháp luật;

- Phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật;

- Phải có lỗi của người gây thiệt hại

Trong nội dung của điều kiện thứ 4- lỗi của người gây thiệt hại đồng thời làm phát sinh các hình thức lỗi như sau: “lỗi cố ý”, “lỗi vô ý”, “lỗi nhẹ”, “lỗi vô

ý nhẹ”, “lỗi vô ý nặng” và “lỗi nghiêm trọng” Tuy nhiên, tất cả các thuật ngữ trên đều không được quy định cụ thể về cách hiểu cũng như các xác định

Về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại có lỗi được quy định cụ thể như sau:

“Lỗi của người bị thiệt hại là vô ý nặng, thì Tòa án xác định trách nhiệm hỗn hợp và chỉ buộc người gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại tương đương với phần lỗi của mình

2Huỳnh Công Bá (2017), Định chế pháp luật và tố tụng Triều Nguyễn (1802-1885), Nxb Thuận Hóa, Hồ Chí

Minh, trang 396

Trang 14

Như vậy, khi người bị thiệt hại có lỗi và là lỗi vô ý nặng thì được xem xét như trường hợp người bị thiệt hại có lỗi một phần theo quy định của BLDS

20153 và người gây thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần lỗi của mình Trong trường hợp lỗi của người bị thiệt hại là lỗi vô ý nhẹ thì người gây thiệt hại phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường thiệt hại Quay lại cơ sở của trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, khi phát sinh đầy đủ bốn điều kiện

về thiệt hại, hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành

vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại đồng thời người bị thiệt hại không có lỗi thì người gây thiệt hại cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Do

đó, hệ quả trong hai trường hợp khi người bị thiệt hại có lỗi vô ý nhẹ và khi người bị thiệt hại không có lỗi là như nhau, trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại đều thuộc về người gây thiệt hại Phải chăng quy định về lỗi vô ý nhẹ là không cần thiết? Cuối cùng, khi lỗi của người bị thiệt hại là lỗi cố ý thì được xem xét như trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi theo quy định của BLDS 20154 và người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi được Thông tư nêu trên thể hiện bằng cụm từ “trách nhiệm hỗn hợp” Qua phân tích trên có thể thấy chỉ duy nhất một trường hợp thỏa điều kiện của trách nhiệm hỗn hợp, đó là người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi mà lỗi của người bị thiệt hại

là vô ý nặng

3 Khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi

thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”

4

Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Trang 15

9

Sau Thông tư 173/UBTP của TANDTC ngày 23 tháng 3 năm 1972, một Thông tư mới ra đời hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô, đó là Thông tư số 03-TATC của TANDTC ban hành ngày 05 tháng 4 năm 1983 Thuật ngữ “nguồn nguy hiểm cao độ” được manh nha hình thành kể từ thời điểm Thông tư này ra đời với nội dung “hoạt động của ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ” Thông tư xem ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ,

đó cũng chính là nội dung sau đó được BLDS năm 1995, 2005 và 2015 kế thừa quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Cụ thể hiện nay, khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015, phương tiện giao thông vận tải cơ giới (trong đó có ô tô)5 được xem là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ6 Bên cạnh đó, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại có lỗi tiếp tục được nhắc đến trong văn bản này

Thứ nhất, với quy định chung: “Hoạt động của ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ cho nên phía ô tô có trách nhiệm bồi thường cho người thiệt hại, kể

cả trường hợp tai nạn xảy ra vì cấu tạo máy móc, vật liệu (tai nạn rủi ro)”,

Thông tư 03-TATC của TANDTC xem thiệt hại phát sinh trong trường hợp tai nạn ô tô có thể do tự thân ô tô gây ra hoặc cũng có thể do tác động của con người gây ra Với cách thể hiện trên, tai nạn xảy ra vì cấu tạo máy móc, vật liệu (tự thân ô tô) chỉ là một trong những trường hợp dẫn đến phía ô tô phải bồi thường thiệt hại

Thứ hai, Thông tư 03-TATC của TANDTC đi vào hướng dẫn cụ thể cho trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi từ phía ô tô là do con người gây ra đồng thời có yếu tố lỗi từ phía nạn nhân:

“Nếu nạn nhân cố ý gây tai nạn (thí dụ: cố ý lao vào xe ô tô đang chạy để

tự tử) hoặc nạn nhân là người cố tình xông bừa lên xe mặc dầu người lái xe không đồng ý thì phía ô tô không phải bồi thường

5

Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Phương tiện giao thông cơ giới đường

bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo;

xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”

6 Khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận

tải cơ giới,…”

Trang 16

Với quy định trên có thể thấy tồn tại ba trường hợp về lỗi của ô tô và nạn nhân tương ứng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại của phía ô tô là khác nhau:

- Lỗi của nạn nhân là lỗi cố ý thì phía ô tô không phải bồi thường;

- Lỗi của nạn nhân là lỗi vô ý đồng thời phía ô tô không có lỗi thì phía ô

tô không phải bồi thường;

- Lỗi của nạn nhân là lỗi vô ý và phía ô tô có lỗi thì phía ô tô phải bồi thường phù hợp với mức độ lỗi của họ

Việc Thông tư 03-TATC của TANDTC xem tác động của con người cũng

là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô được lí

giải tại khoản 2 mục I Thông tư với ví dụ về lỗi của phía ô tô: “Người lái xe xử

lý không hợp lý khi có người đi đường chạy qua” Bên cạnh đó, quy định “Nếu nạn nhân vô ý mà phía ô tô không có lỗi thì phía ô tô không phải bồi thường”

cũng chứng minh cho việc Thông tư 03-TATC của TANDTC xem thiệt hại trong tai nạn ô tô xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con người Bởi nếu thiệt hại xảy ra xuất phát từ bản thân chiếc ô tô gây ra thì dù phía ô tô không có lỗi, tức không tồn tại hành vi trái pháp luật và lỗi của con người, trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh Ngược lại với lí giải trên, quy định trong trường hợp nạn nhân vô ý đồng thời “phía ô tô không có lỗi thì phía ô tô không phải bồi thường” đã một lần nữa chứng minh cho việc Thông tư 03-TATC của TANDTC xem thiệt hại ở đây xảy ra có nguyên nhân do con người

Quay lại căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô

tô, một trong bốn điều kiện đó là có lỗi của người gây thiệt hại Đến đây, nhìn

Trang 17

11

nhận dưới góc độ thiệt hại xảy ra xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con

người thì quy định về trường hợp thứ hai “Nếu nạn nhân vô ý mà phía ô tô không có lỗi thì phía ô tô không phải bồi thường” là không cần thiết Bởi lẽ khi

phía ô tô không có lỗi đã không đáp ứng được điều kiện thứ tư của bồi thường thiệt hại nên điều tất yếu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của phía ô tô không phát sinh Hay nói cách khác, quy định trên đã nằm trong nội hàm của điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Cuối cùng, có thể nhận ra Thông tư 03-TATC của HĐTP TANDTC ngày 5/4/1983 quy định chỉ còn hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý mà không còn khái niệm “vô ý nhẹ”, “vô ý nặng” hay “vô ý nghiêm trọng”

1.1.2 Từ khi có Bộ luật Dân sự năm 1995

Khi ra đời, BLDS 1995 tiếp tục dành cả Chương V để quy định về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Mặc dù BLDS 1995 không quy định minh thị như Thông tư số 173-TANDTC của TANDTC ngày 23/3/1972, tuy nhiên căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chỉ phát sinh khi có đủ 4 điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành

vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, người gây thiệt hại có lỗi7

Tại Điều 609 BLDS 1995 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường”

Cũng như Thông tư 03-TAND của TANDTC ngày 5/4/1983, BLDS 1995 quy định có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Đồng thời tại Điều 309 BLDS

1995 quy định rõ về cách hiểu lỗi cố ý và lỗi vô ý Cụ thể: “ Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người

7 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ tư pháp (1997), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật

Dân sự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 232-233

Trang 18

Thông tư 03-TATC của TANDTC ngày 5/4/1983 chỉ quy định trường hợp cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nạn nhân (người bị thiệt hại) cũng có lỗi trong tai nạn ô tô Như vậy, với Điều 621 BLDS 1995, quy định bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi đã được khái quát hóa thành quy định chung cho cả những trường hợp khác ngoài tai nạn ô tô

Riêng đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, BLDS 1995 quy định theo hướng thiệt hại trong trường hợp này phải do

tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chứ không bao gồm nguyên nhân xuất phát do con người Điểm này được thể hiện thông qua Điều 6278

BLDS 1995

8“1 Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao

3 Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

Trang 19

13

với tên gọi: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cùng nội dung của điều luật

Nghị quyết 01/2004/HĐTP ngày 28/4/2004 của HĐTP TANDTC sau đó

ra đời hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 1995 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong đó, quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại của Nghị quyết có nội dung: Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản,

sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cần “xác định mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó” Tức cần xác định mức độ lỗi của người gây thiệt hại và

người bị thiệt hại để người gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương xứng với phần lỗi của mình gây ra

Ngoài ra, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Nghị quyết 01/2004/HĐTP hướng dẫn nội dung tại điểm a khoản

3 Điều 627 BLDS 1995 “Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại” với ví dụ: “Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của

pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra” Nghị quyết đã giúp cho việc

áp dụng pháp luật của Tòa án thuận tiện và dễ dàng hơn về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi tại thời điểm này

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

4 Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, thì người đang chiếm hữu,

sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc

để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”

Trang 20

14

Khi BLDS 2005 ra đời vẫn giữ nguyên tinh thần của BLDS 1995 về căn

cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là phải đầy đủ 4 điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, người gây thiệt hại

có lỗi Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó” Đây là điểm mới của BLDS 2005 cũng là

ngoại lệ của căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Mặc dù thiếu đi điều kiện về lỗi của người gây thiệt hại nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại

vẫn phát sinh Chẳng hạn, Điều 624 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân, pháp nhân

và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”

Bên cạnh đó, nội dung Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi được BLDS 2005 kế thừa từ quy định tại Điều 621 BLDS 1995: “Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại, thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”

Đồng hành cùng BLDS 2005, Nghị quyết 03/2006/HĐTP ngày 08/7/2006 của HĐTP TANDTC ra đời hướng dẫn một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nghị quyết 03/2006/HĐTP tiếp tục kế thừa quy định tại Nghị quyết 01/2004/HĐTP ngày 28/4/2004 của HĐTP TANDTC

về nội dung Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại

có lỗi Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì một trong những nội dung

quan trọng cần làm là “xác định mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó” Bên cạnh đó, “Thiệt hại

Trang 21

15

xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại” quy định tại điểm a khoản 3

Điều 623 BLDS 2005 được hướng dẫn là “Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra”

Tiếp đó, BLDS 2015 ra đời trên tinh thần kế thừa, khắc phục những khiếm khuyết của BLDS trước đây, bổ sung những điểm mới để hoàn thiện các chế định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực thi pháp luật trên thực tế Chính vì vậy, BLDS 2015 nói chung và chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng có những quy định được giữ lại đồng thời cũng có những quy định được sửa đổi, bổ sung

1.2 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên

bị thiệt hại có lỗi theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Về kỹ thuật lập pháp, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi không còn là một trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể như Điều 621 BLDS 1995 hay Điều 617 BLDS 2005 mà được quy định tại Mục

về Quy định chung, cụ thể trong Điều 584_Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi

thường thiệt hại và Điều 585_ Nguyên tắc bồi thường thiệt hại của BLDS 2015

1.2.1 Quy định chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi

Khái niệm “bên bị thiệt hại” được quy định tại khoản 2 Điều 584 BLDS

2015 và khoản 3, khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 là khái niệm mới xuất hiện lần đầu tiên tại BLDS 2015 bởi trước đây, BLDS 2005 sử dụng khái niệm “người bị thiệt hại” Thay đổi này xuất phát từ thực tiễn khi dùng từ “người” thì thông thường chỉ nghĩ đến trường hợp bên bị thiệt hại là cá nhân Với quy định mới,

Trang 22

Với sự sửa đổi, bổ sung của BLDS 2015 thì “lỗi” không còn là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng

“lỗi” vẫn đóng vai trò quyết định trong việc phân chia mức độ chịu trách nhiệm đối với thiệt hại thiệt hại của bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại Mặc dù vậy, trong BLDS 2015 không có quy định nào cho biết cách hiểu về “lỗi” ngoài quy định về hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý tại Điều 364 BLDS 2015 Dưới góc nhìn văn bản pháp luật, qua quy định tại Điều 364 BLDS 2015 về cách hiểu lỗi

cố ý và lỗi vô ý thì lỗi được hiểu là nhận thức của chủ thể đối với hành vi và hậu quả của hành vi do mình gây ra cho chủ thể khác “Lỗi là thái độ tâm lý của người gây thiệt hại, thể hiện nhận thức và mong muốn của mình đối với hành vi gây thiệt hại và thiệt hại do hành vi đó gây ra”9 Hay theo quan điểm của một số học giả về “lỗi” trong pháp luật dân sự: “Lỗi là trạng thái tâm lý của con người

có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó”10 Theo ý kiến của một nhà nghiên cứu khác: “Mặc dù BLDS và Nghị quyết số 03 không quy định “lỗi” là gì nhưng thông qua định nghĩa “lỗi vô ý”, “lỗi cố ý” chúng ta có thể thấy một điểm chung là trong cả hai loại lỗi này đều có “nhận thức” về thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại”11

9Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

trang 79

10 Lê Văn Sua (2004), “Vài suy nghĩ về Điều 621 BLDS”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11

11Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 1), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, trang 114

Trang 23

17

1.2.1.1 Bên bị thiệt hại có lỗi một phần

Khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 quy định nội dung này như sau: “Khi bên

bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra” Đây không phải nội dung mới của BLDS 2015 mà

đã được quy định trước đó tại BLDS 2005 Điều này thuyết phục bởi lẽ nó phù hợp với tính chất công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi một phần là một trong những nội dung thuộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chính vì vậy, trước tiên quy định này vẫn phải thỏa mãn căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm: Có hành vi trái pháp luật của bên gây thiệt hại (ngoại trừ trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra), có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trên thực tế Ngoài những điều kiện trên, để quy định bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi một phần được áp dụng cần thêm điều kiện bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại

Sau khi thỏa mãn các điều kiện áp dụng quy định bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi, vấn đề đặt ra là xác định mức độ lỗi của mỗi bên (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại) như thế nào? Trước đây, Điều 617

BLDS 2015 quy định: “Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt

hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức

độ lỗi của mình ” Cụm từ “mức độ lỗi” tiếp tục được nhắc đến trong nguyên

tắc bồi thường thiệt hại tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP với nội dung: Tiêu chí xác định mức bồi thường thiệt hại khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

phải căn cứ vào mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi

thường các khoản thiệt hại tương xứng đó Hiện nay, nội dung trách nhiệm bồi

Trang 24

18

thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi không còn tồn tại cụm

từ “mức độ lỗi” nữa Tuy vậy, khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 về cơ bản vẫn cùng cách hiểu với Điều 617 BLDS 2005 trước đây, theo hướng: Khi thiệt hại thực tế xảy ra mà có yếu tố lỗi của bên bị thiệt hại thì bên bị thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm tương đương với phần lỗi của mình gây ra và bên gây thiệt hại

sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với phần thiệt hại phát sinh do lỗi của mình gây ra Có thể nói như vậy vì “lỗi” không còn là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng “lỗi” vẫn có vai trò quan trọng trong việc ấn định mức bồi thường thiệt hại giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại Cũng chính vì vậy, “mức độ lỗi” vẫn cần được xác định trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi theo quy định tại BLDS 2015 Tính từ thời điểm BLDS ra đời, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi một phần được quy định tại Điều 621 BLDS

1995, Điều 617 BLDS 2005 và khoản 4 Điều 585 BLDS 2015, tuy vậy, các BLDS cùng văn bản hướng dẫn từ trước đến nay không có quy định nào về cách hiểu cũng như xác định “mức độ lỗi”

1.2.1.2 Bên bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên gây thiệt hại sẽ được loại trừ nếu như thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại Đó là nội dung quy

định tại khoản 2 Điều 584 BLDS 2015: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh hoàn toàn

do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật

dân sự là tự do thỏa thuận trên cơ sở không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội được thể hiện qua cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Với quy định trên, lỗi của bên bị thiệt hại không cần xác định chính xác

về hình thức là lỗi cố ý hay lỗi vô ý mà chỉ cần chứng minh được thiệt hại phát

Trang 25

19

sinh hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại sẽ được loại trừ

Vấn đề đặt ra là “hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” quy định tại khoản

2 Điều 584 BLDS 2015 được xác định như thế nào? Để kết luận thiệt hại phát sinh “hoàn toàn do lỗi của bên gây thiệt hại” sẽ chỉ tập trung xem xét lỗi của bên

bị thiệt hại hay cần đánh giá lỗi của hai bên (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại)? BLDS 2005, Nghị quyết 03/2006/NQ- HĐTP của TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và cả BLDS 2015 hiện hành không có quy định nào hướng dẫn vấn đề trên

Đến đây, việc BLDS 2015 không có quy định cụ thể về khái niệm lỗi một lần nữa phát sinh bất cập Nhìn từ góc độ văn bản, theo cách hiểu từ quy định tại Điều 364 BLDS 2015 về hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý thì lỗi là trạng thái tâm lý, là khả năng nhận thức của con người Với cách quy định về yếu tố lỗi tại BLDS 2015 như trên thì “lỗi” trong quy định “hoàn toàn do lỗi của bên gây thiệt hại” sẽ chỉ xác định dựa trên nhận thức (của bên gây thiệt hại, bên bị thiệt hại) Tuy nhiên, sẽ là thuyết phục nếu kết luận về lỗi được xem xét toàn diện các mặt bên cạnh yếu tố nhận thức như nguyên nhân gây ra thiệt hại xuất phát từ phía bên gây thiệt hại hay bên bị thiệt hại, hành vi trái pháp luật và toàn bộ các tình tiết của vụ án có liên quan

Khoản 3 Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”

Tương tự trường hợp thiệt hại do người gây ra, khi tài sản gây thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản đó không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 26

thiệt hại do súc vật gây ra quy định: “ nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường”, Điều 626_ Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra quy định: “Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gẫy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”,

Điều 627_Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác quy định:

“Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”

Hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hoàn toàn có lỗi của bên bị thiệt hại được BLDS 2015 xây dựng theo hướng chỉ quy định chung tại khoản 2 Điều 584 và bỏ đi việc lặp lại tại các trường hợp cụ thể

Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 quy định: Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh hoàn toàn

do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Điều này được hiểu theo cách thống nhất rằng tất cả các trường hợp

thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, bên gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đồng thời, BLDS 2015 tránh được việc cùng một nội dung nhưng quy định nhiều lần

Trang 27

2.Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.”

Mặc dù khái niệm được “vay mượn” từ pháp luật hình sự nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng của pháp luật dân sự hoàn toàn độc lập với pháp luật hình sự Tức không cần trải qua các giai đoạn khởi tố, truy tố, xét xử đối với hành vi vượt quá giới

Trang 28

22

hạn phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình sự mà kết luận hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhằm mục đích buộc bồi thường thiệt hại có thể tiến hành theo pháp luật dân sự dưới sự đánh giá của cơ quan có thẩm quyền

Bên cạnh đó, khi một người gây thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, theo nguyên tắc, người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, BLDS 2015 không quy định mức bồi thường cụ thể, chính vì vậy có hai luồng quan điểm sau đây:

“Ý kiến thứ nhất cho rằng, người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng chỉ phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá giới hạn Bởi vì ở trong giới hạn, hành vi của họ không bị coi là hành vi trái pháp luật, hơn nữa, đây là trường hợp bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại cũng có lỗi một phần;

Ý kiến thứ hai cho rằng, người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra Bởi vì, việc xác định hành vi này nằm trong giới hạn hay vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng phải dựa vào tính chất, mức độ của hành vi, và chỉ có một hành vi được xem là thực hiện nên không thể phân đoạn hành vi để xem hành vi nào nằm trong giới hạn, đoạn nào vượt quá giới hạn Hơn nữa, bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại có lỗi là trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi để để tạo ra thiệt hại cho chính mình Tuy nhiên, đối với trường hợp này, người bị thiệt hại có lỗi tấn công người khác chứ không phải có lỗi để thiệt hại xảy ra với mình, chỉ có người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mới bị coi là có lỗi đối với thiệt hại xảy ra”12

Xuất phát từ hành vi xâm phạm lợi ích chính đáng của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ, bản thân người có hành vi trên đã có lỗi Khác với những trường hợp bồi thường thiệt hại khác, trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng

12 Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, trang 897

Trang 29

23

vệ chính đáng nội hàm của nó đã bao gồm yếu tố người bị thiệt hại có lỗi “Đây

là trường hợp mà người bị thiệt hại có lỗi, nên trong trường hợp này cần áp dụng đồng thời với Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 2 Điều 584 và khoản 4 Điều 585 BLDS 2015), theo đó người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng không phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, mà chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với phần lỗi của mình”13

Tác giả xem đây là trường hợp người bị thiệt hại có lỗi một phần, cho rằng theo đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 585 BLDS

2015, người gây thiệt hại không được bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây

ra Trong trường hợp này, người bị thiệt hại có lỗi trong việc xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật bảo vệ Còn người gây thiệt hại có lỗi trong hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Chính vì vậy người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng tương xứng với mức độ lỗi của mình Phần hành vi phòng vệ chính đáng sẽ không phải bồi thường do lỗi của người bị thiệt hại và quyền phòng vệ của chính bản thân mình Như vậy, Điều 594 và Điều 585 BLDS 2015 sẽ được

áp dụng đồng thời với nhau khi giải quyết vụ việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1.2.2.2 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt

hại có lỗi được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 601 BLDS 2015: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”

Nguồn nguy hiểm cao độ không được khái quát hóa thành khái niệm mà

được liệt kê một cách cụ thể tại khoản 1 Điều 601 BLDS 2015: “Nguồn nguy

13 Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 (Tập II), Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, trang 731

Trang 30

24

hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”

Ngoài ra, theo tinh thần của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của HĐTP TANDTC hướng dẫn BLDS 2005 và Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định chi tiết hơn về các loại nguồn nguy hiểm cao độ được liệt kê trong khái niệm

Liên quan đến vấn đề áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, tồn tại quan điểm cho rằng “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh hoàn toàn không phải do hành vi trái pháp luật, có lỗi của con người mà hoàn toàn do sự tự thân hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây nên Nếu thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật có lỗi của con người (thiệt hại “liên quan” đến nguồn nguy hiểm cao độ) thì phải áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung

do hành vi trái pháp luật gây ra Chỉ khi nào thiệt hại hoàn toàn tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong quá trình tồn tại và hoạt động thì mới áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”14 Hay để

áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra làphải xác định chính xác thiệt hại đó do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (ví dụ xe ô tô đang di chuyển thì bị nổ lốp gây thiệt hại, xe ô tô xuống dốc thì đứt phanh dẫn đến tai nạn…)15

Đồng thời qua phân tích tên của điều luật “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” (Điều 601 BLDS 2015) có thể thấy điều luật này dành riêng cho trường hợp thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Như vậy, những trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại nhưng do sự tác động của con người thì sẽ thuộc trường hợp bồi thường

14Nguyễn Xuân Quang, Một số vấn đề pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2011, trang 35

15 Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của

nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, trang 906

Trang 31

để được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, “cần phải chứng minh được rằng người bị thiệt hại có lỗi “cố ý” và việc xảy ra thiệt hại là “hoàn toàn” do người bị thiệt hại Ở đây, nếu người bị thiệt hại không cố ý thì quy định vừa nêu (chủ sở hữu hay người được giao nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường) không được áp dụng cho dù người bị thiệt hại có lỗi, ngay cả khi họ có lỗi hoàn toàn”16

Như vậy, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì một trong những trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trường hợp “thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại” (điểm a khoản 3 Điều 601 BLDS 2015) Đối với trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn

do lỗi vô ý của người bị thiệt hại, thiệt hại xảy ra do lỗi một phần (cả cố ý và vô ý) của người bị thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại

16 Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 2), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, trang 275

Trang 32

26

Điểm khác biệt khi cùng tồn tại yếu tố “hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 601 BLDS 2015) và trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Mục Quy định chung (khoản 2 Điều 584 và khoản 4 Điều 585 BLDS 2015) ở chỗ:

- Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi theo quy định chung, quy định yêu cầu thỏa mãn hai điều kiện là “bên bị thiệt hại có lỗi” và “hoàn toàn có lỗi”, tức không cần phân biệt hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý của bên bị thiệt hại mà chỉ cần chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì bên gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

- Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, để bên gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần thỏa mãn hai điều kiện là “bên bị thiệt hại có lỗi” và “hoàn toàn do lỗi cố ý”, tức cần phân biệt hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý của bên gây thiệt hại Trong trường hợp thiệt hại phát sinh “hoàn toàn do lỗi vô ý” của bên bị thiệt hại thì bên gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 33

2.1.1 Xác định nội hàm yếu tố lỗi của bên bị thiệt hại

Bản án số 37/2017/DS-PT ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn về vụ việc đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Nội dung vụ việc:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị H1

Bị đơn: Nguyễn Xuân N

Khoảng 07 giờ ngày 24/10/2015, bà H2 đến quán phở của bà H1 để đòi

nợ tiền 09 con vịt quay nhưng bà H1 cho rằng mình đã thanh toán xong nên hai bên xảy ra tranh cãi Lúc này, bà H2 đòi lấy vịt quay của bà H1 đang bán để trừ

nợ Khi bà H2 giơ tay định lấy vịt quay trên bàn thì bà H1 dùng muôi múc canh phở đánh vào tay bà H2 và cầm gáo nhựa màu đỏ múc nước nóng hất vào người

bà H1 nhưng bà tránh được Ông Nguyễn Xuân N (chồng bà H2) nhận được tin,

từ nhà đến quán phở của bà H1, xông vào tát bà H1 01 phát vào mặt, hai người vật lộn với nhau dưới đất một lúc thì dừng lại do mọi người can ngăn Sau đó, bà H1 vào Bệnh viện huyện T điều trị Vì vậy, bà Nguyễn Thị H1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Xuân N bồi thường thiệt hại cho bà

Hội đồng xét xử nhận định: Ông Nguyễn Xuân N đánh bà Nguyễn Thị H1

là hành vi trái pháp luật Hành vi của ông Nguyễn Xuân N xuất phát từ lỗi của

bà Nguyễn Thị H1 đã tạt nước sôi vào người bà Nguyễn Thị H2 là vợ của ông

Trang 34

28

Nguyễn Xuân N nên xác định cả hai bên đều có lỗi Do vậy ông Nguyễn Xuân N phải bồi thường sức khỏe bị xâm phạm do lỗi của mình gây ra theo quy định tại Điều 584, Điều 585 của Bộ luật Dân sự 2015

Trong vụ việc trên, Hội đồng xét xử nhận định cả hai bên đều có lỗi Trong khuôn khổ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, việc chứng minh yếu tố lỗi của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại trong tình huống trên là cần thiết

Có thể thấy, quy định tại khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi một phần được áp dụng giải quyết vụ việc trên Vậy yếu tố lỗi được hiểu theo cách nào? Tại Điều 364 BLDS 2015 quy định về lỗi cố ý và

vô ý, theo đó, “lỗi được hiểu là nhận thức của con người”17

Với lập luận của Hội đồng xét xử, có thể thấy lỗi của bà H1 (người bị thiệt hại) là hành vi tạt nước sôi vào người bà H2 còn lỗi của ông N (người gây thiệt hại) cũng chính là hành vi trái pháp luật đánh bà H1 chứ không phải nhận thức của con người

Trong một vụ việc khác18, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre cũng theo hướng lỗi của người bị thiệt hại cũng chính là hành vi trái pháp luật, cụ thể: Tai nạn giao thông xảy ra giữa xe mô tô do anh Trần Văn N (người bị thiệt hại) điều khiển với xe mô tô do ông Ngô Thanh D (người gây thiệt hại) điều khiển Liên quan đến yếu tố lỗi của các bên đối với thiệt hại xảy ra là cái chết của anh N, Hội đồng xét xử nhận định: “Theo kết quả khám nghiệm hiện trường và khám hai phương tiện đã xác định Trần Văn N điều khiển xe mô tô lưu thông không đúng phần đường quy định là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn Từ đó, xác định tai nạn xảy ra vào ngày 06/8/2011 hoàn toàn do lỗi của anh Trần Văn N” Qua nhận định của Hội đồng xét xử có thể thấy, để kết luận thiệt hại xảy ra “hoàn toàn do lỗi của người gây thiệt hại”, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào hành vi trái

17Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 1), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, bản án số 25 trang 114, trang 175

18 Bản án số 188/2017/DS-TT ngày 17/08/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

Trang 35

Tác giả cho rằng không cần thiết xây dựng một khái niệm “lỗi” cụ thể, thay vào đó một trong những nội dung của văn bản hướng dẫn cần có quy định

cụ thể về căn cứ, tiêu chí xác định “lỗi” Lấy ý tưởng từ kĩ thuật lập pháp tại khoản 1 Điều 601 BLDS 2015, nhà làm luật ở đây không đưa ra khái niệm cụ thể về “nguồn nguy hiểm cao độ” mà sử dụng phương pháp liệt kê Cụ thể: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định Rõ ràng không có khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ nhưng khi đọc quy định trên, mọi người đều có thể hình dung được một cách khái quát rằng khi được gọi là nguồn nguy hiểm cao độ thì bản thân nó mang tính chất rủi ro, nếu không cẩn thận có thể dễ dàng gây ra thiệt hại và thiệt hại là vô cùng to lớn Đồng thời, cách quy định trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án khi giải quyết các tranh chấp phát sinh khi đối tượng là nguồn nguy hiểm đã được liệt kê cụ thể Trong khi quy định về “lỗi” trong pháp luật dân sự

đã và đang phát sinh nhiều bất cập, thực tiễn đã không còn theo cách hiểu lỗi là

19Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 1), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, bản án số 25 trang 176

Trang 36

30

nhận thức của con người, rất nhiều học giả cho rằng cần thay đổi cách hiểu truyền thống đó, rõ ràng cần thiết phải xây dựng cách hiểu mới về “lỗi” Tác giả nhìn nhận cần xây dựng quy định theo hướng lỗi được đánh giá qua các tiêu chí: Nguyên nhân phát sinh thiệt hại, hành vi trái pháp luật và toàn bộ các tình tiết của vụ việc có liên quan Như vậy quy định trên sẽ giải quyết được hai vấn đề lớn sau đây:

Thứ nhất, qua các căn cứ xác định lỗi nêu trên sẽ thay thế được cách hiểu lỗi là nhận thức của con người đang gây khó khăn cho công tác thực tiễn xét xử hiện nay

Thứ hai, pháp luật dân sự sẽ xây dựng được cách hiểu về “lỗi” hoàn toàn độc lập với pháp luật hình sự đồng thời tạo thuận lợi cho công tác thực tiễn xét

xử có cơ sở pháp lý vững chắc đưa ra những phán quyết thuyết phục

Bên cạnh quy định về căn cứ xác định lỗi, tác giả nhận thấy cần xây dựng quy định riêng cho nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi nói chung và thiệt hại xảy ra “hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” nói riêng Bởi vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp

“hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” là trường hợp đặc biệt với hệ quả khi bên gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại và bên bị thiệt hại sẽ phải tự gánh chịu phần thiệt hại xảy ra nên để kết luận thiệt hại xảy ra thuộc trường hợp trên phải xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ việc Từ các căn cứ xác định yếu tố lỗi đã kiến nghị, tác giả cho rằng để kết luận thiệt hại xảy ra “hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” thì các căn cứ xác định yếu tố lỗi phải được xác định ở cả hai chủ thể là bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại chứ không phải chỉ xem xét bên bị thiệt hại Quay lại vụ việc tranh chấp tác giả vừa trình bày do Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết, để đi đến kết luận thiệt hại xảy ra

“hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” là anh N, Tòa án mặc dù xem xét các căn

cứ về hành vi trái pháp luật, nguyên nhân gây thiệt hại nhưng chỉ xem xét đối

Trang 37

31

với bên gây thiệt hại mà không xem xét bên bị thiệt hại Tác giả nghĩ rằng nếu như Tòa án xem xét cả yếu tố lỗi của bên gây thiệt hại và khẳng định rằng bên gây thiệt hại không có lỗi, tuân thủ đúng các quy định của Luật Giao thông đường bộ trong quá trình tham gia điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đồng thời bên bị thiệt hại lưu thông không đúng phần đường quy định thì kết luận thiệt hại xảy ra “hoàn toàn do lỗi của bên gây thiệt hại” sẽ thuyết phục hơn Như vậy, cần thiết có văn bản hướng dẫn đối với nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị thiệt hại có lỗi theo hướng áp dụng các căn cứ xác định yếu tố lỗi đối với cả hai bên chủ thể là bên gây thiệt hại và bên

bị thiệt hại để từ đó xác định được thiệt hại xảy ra do lỗi một phần của bên bị thiệt hại hay thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại Kết luận thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại nếu có sẽ trở nên thuyết phục hơn

và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị thiệt hại

2.1.2 Xác định mức độ lỗi của bên bị thiệt hại

Bản án số 25/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Hội đồng xét xử nhận định: Xét về lỗi:

Lỗi của nguyên đơn: Đây là trò chơi tự nguyện nằm trọn gói trong tour du lịch H, sau khi sử dụng rượu bia, ông L hoàn toàn có quyền không tham gia trò

Trang 38

32

chơi này nhưng vẫn quyết định chơi và chạy xe nhanh (theo lời khai bệnh của ông L tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh) Ông L đã không tuân thủ nội quy của Công ty khi tham gia trò chơi này nên đã tự đặt mình vào tình trạng nguy hiểm Như vậy, ông L có một phần lỗi khi để tai nạn xảy ra

Lỗi của bị đơn: Công ty Cổ phần Du lịch V tổ chức trò chơi thì phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn tốt nhất cho người tham gia vui chơi Đây là tiêu chí để đảm bảo hoạt động kinh doanh uy tín, bền vững của doanh nghiệp Ông L

bị tai nạn khi tham gia trò chơi do Công ty tổ chức là lỗi phần lớn thuộc về Công

ty vì đã không đảm bảo được an toàn cho người chơi

Hội đồng xét xử xác định, lỗi của phía Công ty Cổ phần Du lịch V là 90%, lỗi của ông L là 10% khi để tai nạn xảy ra Sau khi xem xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của ông L, tổng các khoản yêu cầu bồi thường hợp lý là 90.230.104đ Do xác định ông L có 10% lỗi nên Công ty Cổ phần Du lịch V phải bồi thường cho ông L số tiền: 90.230.104đ – (90.230.104đ x 10%) = 81.207.094đ

Trong vụ việc trên, có thiệt hại xảy ra trên thực tế BLDS 2005 có quy định về trường hợp tài sản gây thiệt hại nhưng quy định mới chỉ dừng lại cho các trường hợp cụ thể chứ chưa có quy định mang tính nguyên tắc chung với các đối tượng tài sản như: Nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 623); súc vật (Điều 625); cây cối (Điều 626); nhà cửa, công trình xây dựng (Điều 627) Hiện nay, ở góc

độ quy định của BLDS 2015, đây là trường hợp tài sản gây thiệt hại, cụ thể là xe trong trò chơi chạy xe F1 Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 584 BLDS

2015, tài sản thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Du lịch V nên chủ sở hữu sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Liên quan đến nội dung về mức độ lỗi, thực tiễn xét xử tồn tại khó khăn trong việc xác định mức độ lỗi cụ thể của bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại Bởi lẽ, “BLDS không thể đi vào quy định chi tiết mức độ lỗi của người bị thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể Do đó, về mức độ lỗi của người bị thiệt hại trong việc góp phần gây thiệt hại, việc đánh giá phụ thuộc vào người được giao

Trang 39

33

trách nhiệm đánh giá”20 Tác giả cho rằng, câu chuyện khó khăn nằm ở chỗ “lỗi” trong văn bản pháp luật chưa có một cách hiểu thuyết phục nên thực tiễn xét xử còn gặp nhiều túng lúng trước việc đưa ra phán quyết Khi khó khăn trên được giải quyết thấu đáo thì việc xác định mức độ lỗi cũng sẽ trở nên dễ dàng Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp sẽ căn cứ vào các tiêu chí xác định lỗi để xem xét một cách đầy đủ các tình tiết liên quan trong vụ việc cụ thể để xác định mức độ lỗi của các bên Có nghĩa rằng khi đưa ra được cách hiểu thuyết phục về

“lỗi” trong pháp luật dân sự thì quy trình xác định “mức độ lỗi” cũng sẽ trở nên đơn giản mà không gặp nhiều khó khăn

Quay lại vụ việc trên, với nhận định cả ông L và Công ty Cổ phần Du lịch

V đều có lỗi thuộc trường hợp người bị thiệt hại có lỗi một phần, Tòa án kết luận ông L không được bồi thường thiệt hại tương ứng với phần lỗi của mình Tác giả cho rằng, kết luận về mức độ lỗi của Tòa án với tỉ lệ 10% lỗi thuộc về ông L và 90% lỗi thuộc về Công ty Cổ phần Du lịch V là thuyết phục Bởi lẽ, để đưa ra con số trên, Tòa án lập luận rằng 10% lỗi của ông L (bên bị thiệt hại) do ông L đã không tuân thủ nội quy của công ty khi tham gia trò chơi này nên đã tự đặt mình vào tình trạng nguy hiểm Còn 90% lỗi của Công ty Cổ phần Du lịch V (bên gây thiệt hại) vì công ty tổ chức trò chơi thì phải có trách nhiệm đảm bảo

an toàn tốt nhất cho người tham gia vui chơi Đây là tiêu chí để đảm bảo hoạt động kinh doanh uy tín, bền vững của doanh nghiệp Ngoài ra, có thể phân tích thêm qua lời trình bày của nhân chứng ông Nguyễn Trọng Q chính là nhân viên của Công ty Cổ phần Du lịch V Ông Q cho rằng mình là nhân viên hướng dẫn trực tiếp cho ông L cách chạy xe và phổ biến nội quy trò chơi cho ông L nghe Thấy hơi thở của ông L có mùi cồn nhưng ông L khẳng định đủ sức khỏe để chơi Nhân viên công ty biết rằng hơi thở của ông L có mùi cồn, không thể đảm bảo an toàn tuyệt đối nhưng vẫn cho ông L tham gia trò chơi Lỗi của ông L

20Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 1), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, bản án số 25 trang 184

Trang 40

Mỗi vụ việc cụ thể sẽ có những tình tiết khác nhau, mức độ lỗi cũng vì vậy mà không giống nhau Việc BLDS không quy định chi tiết mức độ lỗi sẽ tạo điều kiện cho các thẩm phán linh hoạt hơn trong quá trình xét xử đối với các vụ việc Cũng chính vì pháp luật không có quy định cụ thể về trường hợp này nên khi phân chia lỗi của bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại, Tòa án cần đưa ra những căn cứ và lí giải sao cho đường lối xử lý của mình thật sự thuyết phục Về vấn đề này, không cần thiết có quy định pháp luật cũng như án lệ thể hiện sự phân chia mức độ lỗi giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại bằng những con

số cụ thể Nhưng, cần thiết có án lệ của Tòa án nhân dân tối cao với những căn

cứ, lí lẽ thuyết phục trong việc phân chia mức độ lỗi của bên gây thiệt hại và bên

bị thiệt hại từ đó làm cơ sở phân chia đối với trách nhiệm gây thiệt hại xảy ra trên thực tế Bởi, việc đánh giá mức độ lỗi của các bên chỉ có thể mang tính chính xác tương đối, do đó, lí lẽ đưa ra bởi những người thực thi pháp luật là vô cùng cần thiết

21Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(Tập 1), Nxb Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, bản án số 25, trang 184

Ngày đăng: 22/08/2023, 07:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w