Thứ ba, cách quy định về thủ tục giải quyết bồi thường vẫn còn nhiều hạn chế, tạo ra những rào cản pháp lý làm chậm tiến trình người dân được tiếp cận với công lý, như việc bắt buộc phả
Trang 1
CHÂU NỮ THU HÂN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGƯỜI CỦA TÒA ÁN GÂY RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU NỮ THU HÂN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGƯỜI CỦA TÒA ÁN GÂY RA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn, các số liệu là trung thực Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa khoa học đều được trích dẫn và chú dẫn một cách rõ ràng, đầy đủ và chính xác
Tác giả
Châu Nữ Thu Hân
Trang 49
Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nghị định số 16/2010/NĐ-CP
10
Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc
giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà
nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng
gây ra
Nghị định số 47/CP
11
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003
về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11
12
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm
2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
13
Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09
tháng 5 năm 2012 Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử
dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi
thường của nhà nước
Thông tư liên tịch số
BTC-BTP
Trang 571/2012/TTLT-14
Thông tư liên tịch số
05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày
02/11/2012 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
Thông tư liên tịch số
VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT
05/2012/TTLT-15
Thông tư liên tịch số
04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2014 hướng dẫn thực hiện trách
nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Thông tư liên tịch số
BTP-TANDTC-VKSNDTC
04/2014/TTLT-16
Thông tư liên tịch số
22/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 21 tháng
11 năm 2014 hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về
công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng
Thông tư liên tịch số
BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA TÒA ÁN GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 14
1.1 Khái niệm, đặc điểm 14
1.1.1 Khái niệm 14
1.1.2 Đặc điểm 19
1.2 Chủ thể trong quan hệ bồi thường 22
1.2.1 Chủ thể được bồi thường 22
1.2.2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường 24
1.2.3 Chủ thể gây thiệt hại và vấn đề trách nhiệm hoàn trả 28
1.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại 36
1.3.1 Có bản án, quyết định của Tòa án xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường 38
1.3.2 Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự của Tòa án gây ra đối với người bị thiệt hại 40
1.4 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường 46
1.4.1 Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường 49 1.4.2 Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 53
CHƯƠNG 2 BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA TÒA ÁN GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 54
2.1 Về chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại 54
2.1.1 Về cơ quan có trách nhiệm bồi thường 54
2.1.2 Về trách nhiệm hoàn trả 61
2.2 Về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 66
Trang 72.2.1 Các trường hợp được bồi thường và không được bồi thường 67
2.2.2 Xác định thiệt hại được bồi thường 72
2.3 Về thủ tục giải quyết bồi thường 79
2.3.1 Về việc phải qua thủ tục thương lượng trước khi khởi kiện 79
2.3.2 Về Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường và trách nhiệm của người bị thiệt hại trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ 81
2.3.3 Cách tính thời hạn khởi kiện 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88
KẾT LUẬN 89
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp1, đây là ba nhánh quyền lực độc lập, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau Điều đó cho thấy rằng, mỗi nhánh quyền lực đều có một tầm quan trọng và vai trò nhất định trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội2, có thể nhận thấy rõ vai trò của tư pháp thông qua lời dạy của Bác tại Hội nghị tư pháp toàn quốc ngày 22/3/1957: Tư pháp cần góp phần của mình là thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta3 Với vai trò quan trọng như vậy, tư pháp được Bác đánh giá
là cơ quan trọng yếu của chính quyền4, tư pháp có thể được hiểu là công việc trông giữ, cai quản và bảo vệ những chuẩn mực pháp lý5, và theo Hiến pháp 2013 cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử đó chính là Tòa án nhân dân6 Cũng với tư duy pháp lý này, ở Hoa Kỳ, quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ
sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp7 Như vậy, Tòa án nhân dân ngày càng có vị trí, chức năng, nhiệm vụ quan trọng và to lớn trong bộ máy nhà nước ta, là cơ quan duy nhất phán quyết những vấn đề về quyền con người, một loại quyền thiêng liêng, quan trọng nhất của con người, do đó những người công tác trong Tòa án phải luôn thấm nhuần lời dạy của Bác là xét xử công bằng, liêm khiết, trong sạch8
1
Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013
2 Trần Văn Độ, Vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
http://moj.gov.vn/npl/Pages/dm-tai-lieu-tham-khao.aspx?ItemID=13, truy cập ngày 29/4/2015
Phạm Duy Nghĩa (2012), "Tổ chức quyền lực tư pháp đảm bảo công lý cho người dân - Một góc nhìn sửa đổi Hiến pháp
Việt Nam", sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 những vấn đề lý luận & thực tiễn, tập 1 những vấn đề chung về Hiến pháp
và Bộ máy Nhà nước, nhà xuất bản Hồng Đức, tr 579
6 Hiến pháp 1946 quy định cơ quan tư pháp chính là Tòa án, các bản Hiến pháp sau đó như: Hiến pháp 1959, Hiến pháp
1980, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 không quy định như vậy mà quy định Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là một chương trong Hiến pháp Đến nay, Hiến pháp 2013 vẫn không thay đổi cấu trúc đó nhưng đã khẳng định
cơ quan thực hiện quyền tư pháp chính là Tòa án nhân dân (chương VI Hiến pháp 1946, chương VIII Hiến pháp 1959, chương X Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001, chương VIII Hiến pháp 2013) và xem thêm bài của
tác giả Trần Văn Độ, Tòa án nhân dân có vị trí, vai trò quan trọng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
http://tdkt.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/299083?p_page_id=1753011&pers_id=1751941&folder_id=&item_id=
68305298&p_details=1, truy cập ngày 27/4/2015
7 Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp Hoa Kỳ
8
Tại Hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp năm 1950, Bác đã nói: Trong công tác xét xử phải công bằng, liêm khiết,
trong sạch Như thế cũng chưa đủ, không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án Phải gần dân, hiểu
Trang 9Nhưng đó là một công việc không hề đơn giản, bởi vì pháp luật có đầy đủ đến mấy đi chăng nữa cũng không có khả năng lấp đầy mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống vốn phức tạp muôn hình muôn vẻ Thậm chí, giữa những quy định của pháp luật còn chứa đựng muôn vàn sự chồng chéo, trùng lắp Do đó, việc áp dụng pháp luật của các Thẩm phán là một hoạt động sáng tạo, biến các quy định của pháp luật được quy định chung cho nhiều trường hợp để áp dụng cho một trường hợp cụ thể nhưng đạt đúng mục đích, yêu cầu của quy phạm chung đề ra, chứ không đơn thuần là đọc các điều luật đã được ban hành Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức Tòa
án phải có bản lĩnh, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đáp ứng được sự kỳ vọng của nhân dân và xã hội, là những con người "phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư" với phương châm làm việc "gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân" Không thể chấp nhận việc tắc trách, xử bừa, xử theo kiểu gì cũng được Khi xét xử Thẩm phán phải
có lương tâm của mình, đó là lương tâm nhà nghề, đạo đức nghề nghiệp9 Tuy nhiên, gần đây đã xảy ra nhiều trường hợp oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự, dẫn đến việc Tòa án bị kiện để bồi thường cho người bị thiệt hại và lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng Tòa án, một Thẩm phán đã bị khởi tố10 do kết án oan người vô tội, đây là một sự kiện giống lên một hồi chuông cảnh báo đối với những người
"cầm cân nảy mực", cho thấy rõ công lý được nêu cao Chúng ta đã biết pháp luật hình sự có tính trừng phạt nghiêm khắc nhất nên yêu cầu bảo vệ quyền con người bằng pháp luật Hình sự cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Thế nên, không thể chấp nhận việc Tòa án có sự sai lầm dù ít hay nhiều11, thông qua sự sai lầm của những người làm việc cho Tòa án dân, giúp dân, học dân Giúp dân, học dân để giúp thêm liêm khiết, thêm công bằng Dẫn theo Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 3, tr 513
9
Đây cũng là nhận xét của tác giả Nguyễn Đăng Dung, xem thêm Nguyễn Đăng Dung (2006), Nhà nước và trách nhiệm
của Nhà nước, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr 545-547
10
http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/chu-toa-xu-phuc-tham-vu-an-oan-nguyen-thanh-chan-bi-khoi-to-3087030.html http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/canh-bao-nhung-tham-phan-lam-oan-nguoi-vo-toi-3087723.html
http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/tham-phan-xu-oan-ong-chan-toi-khong-an-han-3088193.html
http://plo.vn/phap-luat-chu-nhat/nhung-can-bo-nao-da-bi-so-gay-sau-an-oan-ong-nguyen-thanh-chan-500112.html truy cập ngày 03/10/2014
11
Tổng kết số lượng các vụ án yêu cầu bồi thường Nhà nước sau hơn bốn năm thực hiện Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009, số lượng yêu cầu Nhà nước bồi thường là không lớn Năm 2013, Tòa án thụ lý 18 vụ dân sự đòi Nhà nước bồi thường, trong đó hoạt động tố tụng hình sự (05); tố tụng dân sự (05) và quản lý hành chính (08), cho thấy loại
án này chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng các loại án thụ lý năm là 395.415 vụ (Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và nhiệm vụ trọng tâm công tác Tòa án năm 2014 số 01/BC-TA ngày 09/01/2014 của Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội) Cục Bồi thường nhà nước báo cáo 06 tháng đầu năm 2014, có 12 vụ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường, trong đó
06 vụ việc trong hoạt động tố tụng hình sự (Lê Thị Hoa, Học viện Hành chính quốc gia, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=32305&print=true, truy cập ngày 12/5/2015) Như vậy, năm 2013 và 06 tháng đầu năm 2014, trong hoạt động tố tụng hình sự có 11 vụ yêu cầu Nhà nước bồi thường, điều này thể hiện có 11 trường hợp bị oan, tuy là con số khá nhỏ nhưng phản ánh chất lượng của hoạt động tố tụng hình sự là không đảm bảo, ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân, xâm phạm quyền con người, một loại quyền thiêng liêng, nhất là những vụ làm rúng động xã hội, cho nên dù làm oan một người cũng phải xem trọng và điều đó không chấp nhận được (ý kiến của Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước, http://nhandan.com.vn/mobile/_mobile_chinhtri/_mobile_tintucsukien/item/26047102.html, truy cập ngày 12/5/2015)
Trang 10nhưng nếu đã xảy ra việc làm oan thì Tòa án phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, với tư cách là cơ quan nhà nước quản lý người thi hành công vụ được điều chỉnh bởi pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, cho nên mục tiêu đề ra là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch12
để cơ quan tư pháp có thể vận dụng hiệu quả và chính xác vì đòi hỏi của công dân
và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; do đó các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm13 Đặc biệt là Tòa án nhân dân với tư cách là trung tâm của chiến lược cải cách tư pháp phải là nơi biểu trưng cho công lý, nếu như Tòa án trong quá trình thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử của mình mà để xảy ra oan sai quả là một điều hệ trọng, người dân sẽ hoang mang không biết bám víu vào đâu để tìm công lý Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án đặt ra và trong những năm vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao đã nổ lực phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Tuy nhiên, các quy định đó đã đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn chưa là một sự trăn trở lớn, cần phải được xem xét, đánh giá một cách nghiêm túc
để có được kết luận chính xác
Thực tế, pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn nhiều
bất cập Thứ nhất, đối với các trường hợp được bồi thường, pháp luật quy định chỉ
bồi thường đối với trường hợp bị oan, không bồi thường đối với trường hợp sai nhưng thực tiễn có những trường hợp sai nghiêm trọng, cần phải được ghi nhận là trường hợp được bồi thường, đó là trường hợp vi phạm thời hạn xét xử Bên cạnh
đó, dù quy định bồi thường do làm oan người vô tội nhưng không phải trường hợp oan nào cũng được bồi thường, ví như trường hợp bị cáo đã được đặc xá, tức là đã Ngày 10/4/2015 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo kết quả giám sát về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Nghị quyết về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự phải xây dựng trên tinh thần không được để xảy ra oan, sai; bỏ lọt tội phạm; và nếu có oan, sai thì phải đền bù thỏa đáng theo đúng quy định của pháp luật (http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=29332, truy cập ngày 12/5/2015)
12 Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
13
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 11chấp hành xong hình phạt tù, nhưng lại bị truy tố, xét xử lại và phải chấp hành thêm
hình phạt tù Thứ hai, về thiệt hại được bồi thường, có những loại thiệt hại phát
sinh từ chính việc làm oan, tức là có mối quan hệ nhân quả với hành vi làm oan nhưng lại không được bồi thường như: Chi phí sao chụp tài liệu, chi phí thu thập chứng cứ, trích lục hồ sơ để nộp cho Tòa án; các cơ hội học tập, cơ hội kinh doanh,
cơ hội việc làm chắc chắn sẽ đến với người bị thiệt hại nếu như không bị vướng vào vòng lao lý, và ngay cả chi phí thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị oan khi họ khởi kiện vụ án dân sự đòi bồi thường do bị oan cũng là một
loại thiệt hại phải được bồi thường một cách thỏa đáng Thứ ba, cách quy định về
thủ tục giải quyết bồi thường vẫn còn nhiều hạn chế, tạo ra những rào cản pháp lý làm chậm tiến trình người dân được tiếp cận với công lý, như việc bắt buộc phải qua thủ tục thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường, nếu như hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường thì mới được khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, ngay cả việc chấp nhận thủ tục tiền tố tụng này thì các quy định hiện hành cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra như quy định về vấn đề thời điểm nào được xem là thời điểm người bị thiệt hại nhận được quyết định để làm cơ sở tính thời hạn khởi kiện
ra Tòa án Thứ tư, các vấn đề về việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường
như quy định hiện hành là chưa phù hợp với một số văn bản luật vừa mới ban hành
và có hiệu lực thi hành như Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, theo các văn bản này thì cơ cấu tổ chức và hoạt động cũng như nhiệm vụ của các cấp Tòa án đã thay đổi khá nhiều, đặc biệt là vấn đề có thêm một loại Tòa án hoàn toàn mới trong lịch sử lập pháp, đó là Tòa án nhân dân cấp cao, nên vấn đề nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung về việc xác định cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường là
rất cần thiết và mang tính cấp bách Thứ năm, vấn đề quy định về trách nhiệm hoàn
trả của người thi hành công vụ có những điểm bất hợp lý như cách xác định mức hoàn trả như hiện nay dễ dẫn đến có sự không công bằng do có sự chênh lệch lớn về
số tiền phải hoàn trả giữa những người có trách nhiệm hoàn trả tương đồng về mức
độ lỗi và điều kiện kinh tế, vấn đề nữa là việc chuyển giao quyết định hoàn trả không quy định thời hạn phải chuyển giao quyết định hoàn trả là bao lâu gây ảnh hưởng đến quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định này của người có trách nhiệm hoàn trả nếu như họ không đồng ý với quyết định hoàn trả
Với những lý do trên, việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó cho chúng ta thấy rõ được sự bảo đảm tối đa về quyền con người của pháp
Trang 12luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, "được thể hiện ở chỗ pháp luật được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như những người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy công quyền, tính dân chủ và nhân đạo của
xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền"14 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu nghiêm túc, kỹ lưỡng, góp phần củng cố niềm tin của người dân vào công lý Bởi vì, khi phát sinh một yêu cầu bồi thường đối với Tòa án do người của Tòa án gây ra thiệt hại thì chắc chắn một điều là về mặt lý thuyết đã có ít nhất một chủ thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp, họ cho rằng bản thân đã bị thiệt hại bởi bản án, quyết định của Tòa án, nhưng chủ thể gây thiệt hại và chủ thể giải quyết "bức xúc" của họ lại cùng là một thì tuyệt nhiên sẽ có sự nghi ngờ về sự khách quan và công bằng
Từ những luận điểm trên, tác giả chọn đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự" để nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ các quy định pháp luật về vấn đề này để từ đó chỉ rõ những bất cập và đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung, góp phần hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có một số công trình đã được công bố liên quan đến đề tài, có thể kể đến như
sau:
* Luận văn cử nhân
- Hoàng Tùy (2001), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn
nghiên cứu các vấn đề lý luận gồm: Khái niệm, điều kiện phát sinh, sơ lược về sự phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra từ tháng 08/1945 đến khi Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực thi hành Nghiên cứu các quy định pháp luật về giải quyết bồi thường và giải quyết hoàn trả theo quy định của pháp luật hiện hành Trên cơ sở nêu thực trạng tác giả kiến nghị yêu cầu sửa các quy định của Bộ luật Dân sự 1995 theo hướng cụ thể hóa
14 Lê Văn Cảm (2010), "Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình
sự", Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh (chủ biên), nhà xuất bản Đại học quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 15-17
Trang 13nguyên tắc bồi thường, hướng dẫn chi phí nào là chi phí hợp lý, đối tượng được hưởng khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần đối với thiệt hại về tính mạng chỉ là những người ở hàng thừa kế thứ nhất Luận văn ra đời trong bối cảnh Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ luật tố tụng hình sự chưa ra đời, đó chỉ là sự nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra nói chung theo quy định của Bộ luật Dân sự 1995, một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chứ không có sự nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, luận văn đã có sự manh nha ý tưởng về việc Tòa án phải bồi thường do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ xét xử, một giai đoạn của hoạt động tố tụng nói chung, trong đó có tố tụng hình sự
- Văn Thị Thùy Trang (2005), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây
ra, thành phố Hồ Chí Minh Tác giả nêu lý luận chung, thực trạng quy định pháp
luật trên cơ sở đó kiến nghị xây dựng thống nhất vấn đề này bằng việc ban hành một văn bản (Luật hoặc Pháp lệnh) Thành lập quỹ quốc gia về bồi thường thiệt hại Tòa án là cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan Cũng như công trình của tác giả Hoàng Tùy, luận văn này ra đời trong bối cảnh Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vẫn chưa ra đời nên nội dung công trình vẫn là sự nghiên cứu trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các quy định dàn trải trong các văn bản như Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11) Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Nghị định số 47/CP) và văn bản hướng dẫn thi hành Công trình này có sự nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra, trong đó có Tòa án Do đó, có thể thấy đối tượng nghiên cứu của công trình này đã bao hàm đối tượng nghiên cứu của công trình mà tác giả thực hiện Tuy nhiên, công trình do tác giả thực hiện hoàn toàn có sự khác biệt vì tác giả nghiên cứu chuyên sâu về người của Tòa án gây ra thiệt hại dẫn đến trách nhiệm bồi thường của Tòa án, dựa trên sự tiếp cận với các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là chủ yếu, điều này thì luận văn trên không thể thực hiện được bởi sự hạn chế về mặt lịch sử Thế nhưng, có thể coi đây là công
Trang 14trình nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự nên có giá trị lý luận để tác giả tham khảo khi thực hiện công trình của mình
- Bùi Thanh Vũ (2004), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, thành phố Hồ Chí Minh Luận
văn nêu các vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra dựa trên một hệ thống các quy định pháp luật thời kỳ này, trên
cơ sở đó nêu ra hướng hoàn thiện là cần có văn bản thống nhất quy định về vấn đề này; thủ tục yêu cầu bồi thường theo hướng người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng hoặc Tòa án giải quyết trên cơ sở các quy định của Bộ luật Dân sự; kinh phí bồi thường thiệt hại theo hướng nghiên cứu xây dựng quỹ bồi thường thiệt hại Luận văn này có đối tượng nghiên cứu trùng lắp với đối tượng nghiên cứu thuộc luận văn của tác giả Hoàng Tùy và hướng nghiên cứu cũng là dựa trên các quy định của pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các quy định của Nghị định số 47/CP, các tác giả này đều kiến nghị xây dựng một văn bản thống nhất các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và có lẽ đây là một trong những tư tưởng mầm móng góp phần thúc đẩy sự ra đời của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vào năm 2009
* Luận văn thạc sỹ
- Hà Hồng Hoa (2008), Trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở Việt Nam:
Lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, thành phố Hồ Chí Minh Đề tài là hướng
nghiên cứu có ý nghĩa trong bối cảnh Nhà nước đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng, ban hành Luật bồi thường Nhà nước Luận văn đã nêu và phân tích khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường Nhà nước, phân biệt trách nhiệm của Cơ quan Nhà nước với trách nhiệm của cá nhân công chức, các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường Nhà nước; nêu và đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường Nhà nước ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 08/1945 và thực tiễn thực hiện trách nhiệm bồi thường Nhà nước; từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường Nhà nước ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu một cách chung chung, khái quát về trách nhiệm bồi thường Nhà nước Luận văn đã cung cấp số liệu về tình hình thực hiện trách nhiệm bồi thường Nhà nước của ngành Công an, Kiểm sát, Tòa
án thông qua các báo cáo, các cuộc hội thảo được tổ chức trong quá trình xây dựng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà không phân tích vấn đề pháp lý cũng
Trang 15như thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của từng cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án khi tiến hành hoạt động tố tụng hình sự mà luận văn tác giả thực hiện Do đó, luận văn chỉ có ý nghĩa đối với tác giả trong việc xem xét khái niệm, đặc điểm, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung để trên cơ sở đó tác giả xây dựng khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự
Có thể nói, các luận văn trên đã đạt được những kết quả nhất định và có sự tiến bộ đáng ghi nhận tại thời điểm ấy, có giá trị về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử nên hiện nay vấn đề này đã có nhiều thay đổi, đã được ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới, do đó cần phải được nghiên cứu dưới góc độ mới hơn
* Các bài tạp chí, bài báo
- Vũ Diệu Thúy (2012), "Một số vướng mắc trong quá trình thực hiện
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước", tạp chí Tòa án nhân dân (12) Bài
viết đề cập vướng mắc trong quá trình giải quyết việc bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự như "trường hợp do chậm trễ hoặc vì một lý do nào
đó mà việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự không kịp thời nếu như thời gian bị tạm giam, tạm giữ, bị kết án vượt quá có được bồi thường không? Theo tác giả, mặc
dù Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa quy định nhưng có thể áp dụng linh hoạt pháp luật theo hướng có lợi cho người bị kết án oan, sai Tòa án áp dụng không đúng, không kịp thời sự điều chỉnh của pháp luật nên Tòa án phải bồi thường Các vướng mắc trong việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường, cần ban hành các văn bản hướng dẫn về việc xác định thiệt hại phải bồi thường Bài viết chỉ dừng lại ở việc nêu một số vướng mắc trong khi giải quyết trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự (cụ thể trường hợp tác giả nêu lên là Tòa án phải bồi thường), thế nhưng đây chỉ là bài đăng trên tạp chí nên tác giả chưa thể nghiên cứu đầy đủ về vấn đề trách nhiệm bồi thường của Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự
- Nguyễn Minh Tuấn, Ngụy Thị Liễu (2013), "Luật trách nhiệm bồi
thường Nhà nước những bất cập và hướng sửa đổi", tạp chí Dân chủ và pháp luật (12) Trên cơ sở nêu ra bất cập, các tác giả kiến nghị hoàn thiện các nội dung:
Cần quy định trách nhiệm bồi thường trực tiếp của Nhà nước theo nghĩa Nhà nước
là chủ thể duy nhất chịu trách nhiệm Phân biệt giữa trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trực tiếp và các quyền yêu cầu bồi thường khác theo luật dân sự Trong tương lai, phạm vi bồi thường không nên chỉ giới hạn bồi thường bằng tiền đối với
Trang 16thiệt hại vật chất mà còn quy định cả những khoản bồi thường cho những thiệt hại phi vật chất như chi trả cho cơ hội làm ăn, cơ hội học tập bị mất, nếu chứng minh được giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp luật của người thực thi công vụ và hậu quả là có mối quan hệ nhân quả, chi trả cho những thiệt hại phi vật chất khác mà người bị thiệt hại phải gánh chịu căn cứ vào mức độ thiệt hại thực tế Đây cũng chỉ
là bài viết mang tính chung nhất về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, chứ không phải là sự nghiên cứu chuyên sâu về từng vấn đề, chỉ nêu một vài bất cập của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có một bất cập thuộc lĩnh vực
tố tụng hình sự, nhưng thực tiễn cho thấy trong lĩnh vực này tồn tại khá nhiều vướng mắc, sẽ được trình bày chi tiết trong nội dung luận văn của tác giả Tuy nhiên, có những tư duy đáng tiếp thu khi tác giả thực hiện công trình của mình, đó
là các vấn đề về khoản bồi thường cho những thiệt hại phi vật chất như chi trả cho
cơ hội làm ăn, cơ hội học tập bị mất
- Nguyễn Minh Oanh (2013), "Một số ý kiến góp ý sửa đổi, bổ sung Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước", tạp chí Nhà nước và pháp luật (7) Bài
viết nêu lên một số bất cập, qua đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện như: Về phạm vi trách nhiệm bồi thường Nhà nước, thiếu lĩnh vực xây dựng pháp luật; pháp luật giới hạn những hành vi nhất định thuộc phạm vi bồi thường làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tước đi quyền được yêu cầu bồi thường, vi phạm nguyên tắc công bằng, không đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật, mở rộng phạm
vi bồi thường của Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước Về thiệt hại được bồi thường thì luật không áp dụng nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu mà chỉ xác định bồi thường theo những loại thiệt hại và mức thiệt hại do luật quy định, không coi chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại là một loại thiệt hại thực tế được bồi thường, dẫn tới tình trạng số tiền bồi thường không tương xứng Về cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, do quy định nhiều cơ quan khác nhau có thể chịu trách nhiệm bồi thường đã làm mất rất nhiều thời gian, tiền của và công sức của người dân Cần đơn giản hóa thủ tục và quy định một cơ quan đại diện cho nhà nước bồi thường thiệt hại, tạo thuận lợi cho việc giải quyết bồi thường và thi hành án bồi thường Cũng như bài viết trên, đây cũng chỉ là bài viết mang tính nghiên cứu chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Tác giả đưa ra các kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có các quy định áp dụng cho hoạt động tố tụng hình sự, chứ không phải là sự nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực Tuy nhiên, có những tư tưởng có thể tiếp thu, vận dụng khi tác giả thực hiện công trình của mình
Trang 17* Sách chuyên khảo, tập bài giảng
- Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2015), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh Đây là cuốn sách chuyên khảo trình bày một cách khoa học, hệ thống
các vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các tác giả đã phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành (nhất là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), đối chiếu các quy định này với thực tiễn đời sống (nhất là với thực tiễn xét xử tại Tòa án, thông qua việc phân tích, bình luận chuyên sâu các bản án, quyết định của Tòa án) và với pháp luật nước ngoài để vạch rõ những điểm hạn chế của pháp luật hiện hành và trên cơ sở đó các tác giả nêu những kiến nghị tương ứng với từng điểm yếu để góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Tập bài giảng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhà xuất bản Công an nhân dân Đây là tập bài giảng
đầu tiên về pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam sau khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành, cung cấp cho người đọc những nội dung cơ bản, có hệ thống về pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Việt Nam và một số nước Nội dung quyển sách đã cho người đọc cái nhìn tổng quan về những vấn đề cơ bản của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như khái quát về quá trình phát triển của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên thế giới, khái niệm, đặc điểm của loại trách nhiệm này Bên cạnh đó, tập thể tác giả đã phân tích trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Việt Nam từ những quy định chung đến từng lĩnh vực cụ thể (trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án) và giới thiệu khái quát trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở một số quốc gia
Cả hai công trình trên đã bao quát vấn đề tác giả nghiên cứu, cung cấp cho tác giả những tư tưởng có giá trị về mặt khoa học lẫn thực tiễn để tác giả thực hiện công trình của mình Tuy nhiên, do là công trình mang tính tổng quát nên có những vấn đề
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra không được đào sâu nghiên cứu Bên cạnh đó, công trình của tác giả có tính mới ở chỗ tác giả cung cấp những trường hợp thực tế khác hơn các tình huống đã được nêu trong các bản án đã được công bố, qua đó có những nhận xét, đánh giá và kiến nghị hoàn thiện khác hơn
Nhận xét chung: Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả rất
lớn, có giá trị phục vụ cho khoa học pháp lý Có công trình nghiên cứu ở mức độ chi tiết, chuyên sâu từng vấn đề, lĩnh vực, có công trình nghiên cứu tổng quát, phân tích, đánh giá sâu sắc các vấn đề xoay quanh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Tuy
Trang 18nhiên, việc bóc tách để nghiên cứu riêng vấn đề trách nhiệm bồi thường do người của Tòa án gây ra thì chúng tôi chưa thấy được công trình nào nghiên cứu và chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ vấn đề này là một sự cần thiết tạo ra một mảng ghép thật sự sâu sắc, ý nghĩa để góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đầy màu sắc và nhiều phức tạp
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ những quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt khai thác sâu Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành trong mối tương quan với các văn bản luật khác trong hệ thống pháp luật để từ đó tìm ra những điểm chưa phù hợp của những quy định pháp luật về lĩnh vực này so với các văn bản khác, đặc biệt là những văn bản mới ban hành trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng như những điểm bất cập, vướng mắc khi áp dụng trên thực tế để kiến nghị những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự Thông qua đó, góp phần nâng cao tính trách nhiệm, năng lực của những người công tác trong ngành Tòa án nhằm giảm thiểu những sai phạm trong hoạt động tố tụng hình sự
4 Đối tượng nghiên cứu
Những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thông qua các bản án, quyết định có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Công trình nghiên cứu một cách khái quát những quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự Đặc biệt nghiên cứu và phân tích sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự dưới góc độ đây là một dạng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành
6 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Công trình nghiên cứu được sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
Trang 19- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp cơ bản, làm nền tảng lý luận, định hướng cho nhận thức đúng đắn, được vận dụng ở từng chi tiết của toàn bộ công trình
- Phương pháp lịch sử Phương pháp này được sử dụng để lần theo những dấu vết trong quá trình phát triển của các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự, những quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân để xác định khái niệm, đặc điểm, chủ thể bồi thường, chủ thể có trách nhiệm bồi thường và chủ thể gây thiệt hại mà Tòa án có trách nhiệm bồi thường Do đó, phương pháp này được
sử dụng ở các tiểu mục 1.1.1, 1.1.2, 1.2.1, 1.2.2, 1.2.3
- Phương pháp pháp lý, đây là phương pháp dựa vào hành lang pháp lý do pháp luật tạo ra để nghiên cứu đối tượng Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu phần quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được sử dụng ở mục 1.1, 1.2, 1.3 và 1.4 (chương 1)
- Phương pháp mô tả Phương pháp này được sử dụng để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về thực trạng áp dụng pháp luật để tìm ra những nguyên nhân và hướng hoàn thiện được sử dụng xuyên suốt công trình (chương 1 và chương 2)
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (phương pháp tiếp cận theo tình huống) Phương pháp nghiên cứu những tình huống đã xảy ra trong thực tiễn được nêu trong các bản án, quyết định để từ đó rút ra các nhận xét về việc áp dụng pháp luật để thấy rõ khung pháp lý của chúng ta đã đầy đủ chưa? Có những điểm nào bất cập cần sửa đổi, những điểm nào còn thiếu sót cần bổ sung để từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện, được sử dụng ở mục 2.1, 2.2 và 2.3 (chương 2)
- Phương pháp so sánh Nhằm đánh giá những ưu và nhược điểm, từ đó đúc kết thành bài học kinh nghiệm để vận dụng vào những điều kiện cụ thể khi xây dựng, vận hành và phát triển Ưu việt của phương pháp này là kế thừa được những thành tựu phát triển, và các kinh nghiệm vận dụng, đồng thời hạn chế được những tổn thất hoặc những rủi ro không đáng có, so sánh với pháp luật của nước ngoài, hệ thống pháp luật quốc gia, các giai đoạn lịch sử khác nhau Được vận dụng xuyên suốt công trình, nổi bật ở một số tiểu mục như 1.1.1, 2.1.1, 2.1.2, 2.2.2 và 2.3.1
- Phương pháp liệt kê, thống kê, tổng hợp và hệ thống Là những phương pháp được sử dụng trong một số phần và tiểu mục của công trình nghiên cứu để liệt
kê các văn bản pháp luật điều chỉnh đối tượng nghiên cứu, các Tòa án có trách nhiệm bồi thường, các trường hợp được bồi thường và không được bồi thường, loại
Trang 20thiệt hại được bồi thường và không được bồi thường, minh họa số liệu, tổng hợp số liệu, trên cơ sở hệ thống những kết quả luận văn đã đạt được, được sử dụng tại phần
mở đầu, các kết luận của chương, phần kết luận và các tiểu mục 1.1.1, 1.2.2, 1.3.1, 2.2.1
7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu có giá trị đối với khoa học pháp lý và thực tiễn Công trình đã chỉ ra những bất cập và kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cụ thể là những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Tòa án, nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung
8 Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 02 chương, cụ thể:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự
Chương 2 Bất cập và hướng hoàn thiện liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự
Trang 21CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA TÒA ÁN GÂY RA TRONG
cụ bảo đảm và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, công dân được nhà nước bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, đây là "những quyền
mà công dân hưởng không phải với tư cách do nhà nước ban tặng"15 Tòa án thực hiện quyền xét xử của mình thông qua các hoạt động tố tụng, đó là: Tố tụng dân sự (TTDS), tố tụng hành chính (TTHC) và tố tụng hình sự (TTHS) Hiện nay, không hiếm trường hợp người của TA trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình đã gây
ra thiệt hại cho người dân, đặc biệt trong hoạt động TTHS là vấn đề nổi cộm, bởi số lượng và tính chất nghiêm trọng của nó Để hiểu thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS cần phải làm rõ khái niệm TNBTTH của Nhà nước nói chung vì loại trách nhiệm này là một dạng
cụ thể thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN)
Xét về mặt lý luận, Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông qua người thi hành công vụ (NTHCV), hành vi của NTHCV là thực thi quyền lực nhà nước, vì lợi ích của nhà nước nên NTHCV có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì Nhà nước chịu trách nhiệm đứng ra bồi thường thay cho NTHCV, đây là loại trách nhiệm bồi thường "do người khác gây ra"16 vì người gây thiệt hại là NTHCV nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường lại là Nhà nước Do đó, có thể khẳng định
"TNBTCNN thực chất là trách nhiệm thay thế"17, hay trách nhiệm gián tiếp18, Nhà
15
Lê Mai Anh (2002), "Nhà nước với việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ
quan tiến hành tố tụng gây ra trong khi thi hành công vụ", tạp chí Nhà nước và pháp luật, (5), tr 21 và Lê Mai Anh
(2002), "Cơ sở xác định trách nhiệm Nhà nước đối với tổn thất do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng
gây ra", tạp chí Dân chủ và pháp luật, (6), tr 4
16
Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2013), "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người khác gây ra", tạp chí Khoa học
pháp lý, (5), tr 69
17 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2015), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhà xuất bản
Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 27 Về khái niệm trách nhiệm thay thế, xem thêm Nguyễn Minh Đoan (chủ
biên) (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ
Trang 22nước phải bồi thường thay NTHCV và có thể hiểu trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước là trách nhiệm pháp lý, trong đó Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại xuất phát từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ19 Tuy nhiên, có một số quan điểm cho rằng "TNBTCNN là trách nhiệm trực tiếp"20hoặc là loại trách nhiệm "theo hướng kết hợp"21 các loại trách nhiệm trên Lý luận
là vậy, nhưng để đảm bảo quyền con người được bảo vệ tốt nhất và nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân và xã hội, thì vấn đề quyền được BTTH do NTHCV gây ra phải được ghi nhận trong pháp luật, và trên thế giới rất nhiều nước
đã đưa quyền này vào văn bản luật có giá trị cao nhất, đó là Hiến pháp như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Ý, Cộng hòa Liên Bang Đức, Liên Bang Nga, Cộng hòa Ba Lan22 Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng quy định quyền được BTTH trong Hiến pháp để từ đó cụ thể hóa bằng những đạo luật chuyên biệt có giá trị dưới Hiến pháp, ví dụ như ở Pháp "trong khối Hiến pháp, không có quy định cụ thể nào về TNBTTH"23 nhưng "án lệ của Hội đồng Hiến pháp của Pháp đã theo hướng quyền được BTTH có giá trị Hiến pháp"24
Hiện nay, trên thế giới chế định về TNBTCNN có thể được quy định theo hai
mô hình chủ yếu như sau: Thứ nhất, được quy định riêng thành đạo luật về bồi thường Nhà nước, gồm các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ Theo luật của các quốc gia này thì TNBTCNN là một dạng của TNBTTH ngoài hợp đồng Thứ hai, không được quy định thành đạo luật riêng về bồi thường Nhà nước
mà được điều chỉnh bằng các điều luật cụ thể trong Bộ luật Dân sự (BLDS) và được phát triển thông qua án lệ hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nga, Đức25, Pháp, Indonesia26
quan nhà nước ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 216-217; Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Tập bài giảng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhà xuất bản Công an nhân dân, tr 13-14
18
Xem thêm Đỗ Đình Lương (2001), "Giúp đỡ người bị hại và việc bồi thường nạn nhân trong hoạt động tố tụng ở
Australia và Thụy Điển", Thông tin khoa học pháp lý (2), tr 113-114 và Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2007),
"Cơ sở pháp lý phát sinh và phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước", tạp chí Khoa học pháp lý (5), tr 38
19 Về khái niệm này, có thể tham khảo thêm Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, tlđd 17, tr 20; Nguyễn Minh Đoan (chủ biên), tlđd 17, tr 19-182 và Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 17, tr 11
20
Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 17, tr 13 và Nguyễn Minh Tuấn (2014), "Những bất cập của Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước", tạp chí Kiểm sát (01), tr 33
21
Nguyễn Minh Đoan (chủ biên), tlđd 17, tr 221
năm 1946, Điều 28 Hiến pháp Hàn Quốc năm 1987, Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1982, Khoản 4 Điều 24 Hiến pháp nước Cộng hòa Ý năm 1947, Điều 34 Hiến pháp Cộng hòa liên bang Đức năm 1949, Điều
53 Hiến pháp Liên Bang Nga năm 1993, Khoản 1 Điều 77 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan năm 1997 Bản dịch của Khoa
luật Đại học quốc gia Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân (2012), Tuyển tập Hiến pháp
của một số quốc gia, nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội
23
N Molfessis, Le conseil consitutionnel et le droit privé, LGDJ 1997, phần số 370 Dẫn theo Đỗ Văn Đại (2013),
"Quyền được bồi thường thiệt hại trong Hiến pháp, tạp chí Nhà nước và pháp luật", (2), tr 21
24 Đỗ Văn Đại, tlđd 23, tr 21
25
Ví dụ như ở Đức "năm 1981, đạo luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước đã được Quốc hội Cộng hòa liên bang Đức thông qua Tuy nhiên, ngay sau đó, đạo luật này bị hủy bỏ do không phù hợp với Hiến pháp Đức Kể từ thời điểm đó cho
Trang 23Cũng như Nhật bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, ngày nay ở Việt Nam có cả một đạo luật về TNBTCNN và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về TNBTCNN Sự ra đời của Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo
cơ sở pháp lý vững chắc và đầy đủ cho việc giải quyết quan hệ bồi thường Nhà nước, "khái niệm bồi thường Nhà nước chỉ xuất hiện trong thời kỳ cận đại"27 và không ít quan điểm cho rằng "TNBTTH của Nhà nước là một loại trách nhiệm dân sự"28, khi lý giải "quan hệ giữa Nhà nước và công dân là các quan hệ được điều chỉnh bởi hệ thống luật công Tuy nhiên, các vấn đề về thiệt hại và BTTH lại mang bản chất đặc thù của dân sự"29, cuối cùng đi đến kết luận rằng "về bản chất, quan hệ pháp luật TNBTCNN là quan hệ pháp luật dân sự về BTTH ngoài hợp đồng"30 và đây cũng là quan điểm được đa số quốc gia tán đồng khi xây dựng hệ thống pháp luật bồi thường của Nhà nước Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay TNBTTH của Nhà nước được quy định tại Điều 619 (BTTH do cán bộ, công chức gây ra) và Điều 620 (BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra) đây là các trường hợp cụ thể của TNBTTH ngoài hợp đồng Có quan điểm cho rằng: "Các Điều 619, 620 BLDS 2005 tồn tại song song với Luật TNBTCNN là một mâu thuẫn lớn ( ) nhà làm luật Việt Nam nên có một quy định nêu rõ mối quan hệ giữa các Điều 619, 620 của BLDS 2005 và Luật TNBTCNN Trong đó cần xác định rõ, TNBTCNN không thuộc lĩnh vực dân sự, bởi lẽ trách nhiệm này chỉ phát sinh khi người thực thi công vụ nhân danh Nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ pháp luật quy định"31 Chúng tôi không đồng ý như vậy, theo chúng tôi thì TNBTCNN là một dạng đặc biệt của trách nhiệm dân sự, cụ thể là TNBTTH ngoài hợp đồng Bởi vì, Nhà nước suy cho cùng cũng là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nên không thể nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của BLDS Bên cạnh đó, BLDS là luật gốc nên có những quy định khung về TNBTTH do đến nay, không có cố gắng, nỗ lực nào từ phía nhà nước Đức nhằm ban hành một đạo luật riêng về TNBTTH do Nhà nước gây ra ( ) Các nguyên tắc chung được ghi nhận tại Điều 34 Hiến pháp Đức và Điều 839 BLDS Đức hiện hành ( )
Do không có các quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của quan chức nhà nước gây ra nên TA Đức đã phát triển, cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp và BLDS Đức (Christian A Brendel, "pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Cộng hòa liên
bang Đức", tham luận tại hội thảo pháp luật và chính sách về trách nhiệm ở một số mước, Hà Nội, 21-22 tháng 9 năm
2006, tr 24 Dẫn theo Hà Hồng Hoa (2008), Trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Luận
văn thạc sỹ Luật học, thành phố Hồ Chí Minh, tr 23-24)
26 Mai Hương (2009), "Tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước", tạp chí
Kiểm sát, (08), tr 41 và Lê Thái Phương, "Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước và đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam"
Dẫn theo http://moj.gov.vn/btnn/tdnv/Lists/QuanLyHanhChinh/View_Detail.aspx?ItemID=12, truy cập ngày 09/5/2015
Nguyễn Minh Tuấn, Ngụy Thị Liễu (2013), "Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước những bất cập và hướng sửa đổi",
tạp chí Dân chủ và pháp luật, (12), tr 17-18 và Nguyễn Minh Tuấn, tlđd 20, tr 33
Trang 24NTHCV gây ra là điều cần thiết Hơn nữa, Luật dân sự điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội rộng lớn, liên quan đến trách nhiệm bồi thường do NTHCV gây ra, BLDS 2005 quy định tại Điều 619 và Điều 620 không giới hạn lĩnh vực hoạt động của Nhà nước như Luật TNBTCNN 2009 Như vậy, có thể thấy trong quá trình thực hiện chức năng của mình nếu gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì cơ quan nhà nước vẫn có trách nhiệm bồi thường theo các quy định chung của pháp luật dân sự Tuy nhiên,
có một điều đáng lưu tâm là hai quy định trên của BLDS 2005 được xây dựng khi Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003 đang có hiệu lực thi hành, khi ấy khái niệm viên chức thuộc nội hàm khái niệm cán bộ, công chức nói chung32 và họ đều là "người trong biên chế nhà nước và hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp"33, nên quy định tại Điều 619 BLDS 2005 chỉ nêu TNBTTH do cán bộ, công chức gây ra mà không nêu thêm viên chức là phù hợp, nhưng hiện nay pháp luật đã thay đổi, khái niệm công chức và viên chức là hai khái niệm riêng rẽ được điều chỉnh bởi các đạo luật khác nhau, đó là Luật cán bộ, công chức 2008 và Luật viên chức 2010, thiết nghĩ với tính chất là luật gốc, mang tính khái quát cao và cũng là cơ sở để xử lý vi phạm pháp luật khi các luật chuyên ngành không có quy định cho nên cần thêm cụm từ viên chức vào tên cũng như nội dung của Điều 619 BLSD 2005 khi sửa đổi Bộ luật này
Hiện nay, nguồn của pháp luật TNBTCNN khá rộng34 Liên quan đến TNBTTH do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS có thể được điều chỉnh bởi BLDS 2005 (Điều 619 và Điều 620), Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS 2003) (Điều 29 và Điều 30), Luật TNBTCNN 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có thể nói đây là luật nội dung và luật hình thức cho việc giải quyết TNBTCNN nói chung và TNBTTH do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS nói riêng Tuy nhiên, quy định của BLTTHS 2003 khá chung chung, và là những quy định viện dẫn nên không thể áp dụng trực tiếp để yêu cầu bồi thường, còn quy định tại Điều 619 và Điều 620 BLDS 2005 mang tính khái quát cao nên những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS nên đối với những hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật TNBTCNN chúng ta sẽ áp dụng các quy định của BLDS Và đương nhiên, một điều ngược lại là nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN thì
32 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003 quy định:
1 Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: ( )
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; ( )
33
Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 47/CP
34 Bao gồm Hiến pháp 2013; BLDS 2005; Luật TNBTCNN 2009; Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011; BLTTHS 2003;
Bộ luật TTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011; Luật TTHC 2010, Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014, Luật thi hành án HS 2010, các văn bản dưới luật như các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN
Trang 25phải áp dụng các quy định của Luật TNBTCNN vì đây là luật chuyên ngành và điều này cũng thể hiện được ý nghĩa về sự tồn tại của nó Như vậy, ở Việt Nam thừa nhận TNBTTH của Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp và vấn đề này đã được Hiến pháp quy định35 và không chỉ riêng Việt Nam, các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc cũng thừa nhận TNBTCNN trong lĩnh vực tư pháp (đặc biệt trong lĩnh vực hình sự (HS), ở Nhật Bản có Luật đền bù hình sự ban hành năm
1950, ở Hàn Quốc có Luật về đền bù hình sự ban hành năm 1958, ở Trung Quốc có Luật bồi thường Nhà nước ban hành năm 1994 điều chỉnh vấn đề BTTH do hoạt động TTHS gây ra tại chương III), nhưng Hoa Kỳ và Canada thì lại không thừa nhận TNBTCNN trong lĩnh vực tư pháp36 Bên cạnh đó, ở Pháp "trong một thời gian dài, Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại phát sinh từ hoạt động xét xử, trừ trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện để yêu cầu bồi thường vì lý do Thẩm phán hoặc cán bộ tư pháp phạm lỗi nặng"37 Thiết nghĩ, vấn đề BTTH do việc xét xử oan của TA cần phải được ghi nhận nhằm đảm bảo quyền con người được thực thi tốt nhất, cần được các nước quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia, vì vấn đề này từ lâu đã là sự quan tâm của pháp luật quốc tế38,
và vấn đề này đã được pháp luật điều chỉnh từ rất sớm39
Với tư cách là một cơ quan nhà nước, TNBTTH do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS là một dạng của TNBTCNN nhưng có đặc thù riêng và có
thể được định nghĩa như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của Tòa án
gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự là trách nhiệm pháp lý trong đó Tòa án chịu
35
Khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: "Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được BTTH về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự"
36 Mai Hương, tlđd 26, tr 42-43 và Nguyễn Như Phát (2007), "Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường Nhà
nước", tạp chí Nhà nước và pháp luật (4), tr 26
37
Martine Lombard và Gilles Dumont (2007), Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội,
tr 818
38 Theo Khoản 6 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1996 thì "khi một người bị kết
án về một tội HS bởi một quyết định chung thẩm và sau đó bản án bị hủy bỏ hoặc người đó được tha trên cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử oan thì người phải chịu hình phạt theo bản án trên, theo luật, có quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp cơ quan tố tụng chứng minh rằng việc sự thật không được làm sáng tỏ tại thời điểm đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết án gây ra Bản dịch của Hội luật gia Việt Nam, trung tâm
thông tin tư vấn pháp luật Việt - Mỹ (2007), Tiếp cận pháp luật và Tư pháp (tập hợp các văn kiện pháp luật quốc tế và
quy định pháp luật Việt Nam có liên quan), nhà xuất bản Công an nhân dân, tr 31
39
Điều 5 Bộ luật Hammurabi quy định về tội ra phán quyết sai: "Nếu một quan tòa (Thẩm phán) xét xử một vụ án, rồi đi đến phán quyết và ghi vào hồ sơ vụ án Và nếu phán quyết đó là sai lầm; Sai lầm này thuộc về riêng ông ta; Thì ông ta sẽ trả cho người bị thiệt hại do phán quyết sai lầm của ông ta một khoản tiền gấp 12 lần khoản tiền mà ông ta đã phạt họ; Và ông ta sẽ bị cách chức, không bao giờ được phép đi xét xử người khác nữa" (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn (2008),
Khảo lược Bộ luật Hammurabi của nhà nước Lưỡng Hà cổ đại, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 42 Và trong cổ luật
Việt Nam, vấn đề trên được điều chỉnh như sau: "Phàm việc kiện thưa, đối chất xử đúng sự thật xong, bị cáo đã nhận tội, nguyên cáo không phải chờ đợi sự lý gì nữa (thì quan xử án) phải thả cho người ta về ngay Nếu (không có đối chất gì) cố giam lại, 3 ngày không thả về, thì bị phạt 20 roi, mỗi 3 ngày thêm một bực tội Mút tội là 40 roi" (Nguyễn Văn Thành, Vũ
Trinh, Trần Hựu (1994), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), tập V, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, tr 986.)
Trang 26trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi làm oan của người có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự của Tòa án gây ra
Từ khái niệm trên đặt ra một số vấn đề cần phải phân tích rõ như sau: Về Nội hàm người của TA khá rộng nên việc xác định người của TA gây ra thiệt hại mà TA
có trách nhiệm phải bồi thường gồm những ai là một vấn đề rất quan trọng, họ là những người có thẩm quyền giải quyết vụ án HS, ra những bản án, quyết định làm oan người vô tội, đó chính là những NTHCV, nhưng không phải NTHCV nào của
TA cũng là người có thẩm quyền giải quyết vụ án HS40 Về hành vi của người có thẩm quyền, đó có thể là hành vi trái pháp luật hoặc không phải là hành vi trái pháp luật Nếu đó là hành vi trái pháp luật thì được hiểu là "hành vi thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật như không làm những việc mà pháp luật yêu cầu, làm những việc mà pháp luật cấm hoặc tiến hành hoạt động vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật"41, có quan điểm cho rằng các hình thức biểu hiện
cụ thể của hành vi trái pháp luật khá đa dạng: "Đó có thể là hành vi vi phạm nghĩa
vụ của NTHCV, vi phạm các điều pháp luật cấm, vi phạm do kéo dài việc giải quyết các vấn đề đã đủ khả năng, cơ sở pháp lý để giải quyết nhưng không chịu giải quyết hay ra những quyết định không hợp lý dẫn đến hậu quả gây thiệt hại về tài sản cho
tổ chức, cá nhân v.v"42 Theo cách hiểu này thì đối với TNBTTH do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS thì hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền đó chính là hành vi ra những bản án, quyết định "không hợp lý" dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho những cá nhân, đối tượng bị truy cứu trách nhiệm HS oan, nhưng thế nào là "không hợp lý" sẽ rất khó xác định Trong lĩnh vực TTHS, Luật TNBTCNN
2009 không yêu cầu NTHCV có hành vi trái pháp luật mà chỉ nêu ra những trường hợp làm phát sinh TNBTTH của Nhà nước tại Điều 26 Tuy nhiên, khi nghiên cứu, phân tích kỹ các trường hợp này sẽ có trường hợp có yếu tố trái pháp luật, có trường hợp không do hành vi trái pháp luật của NTHCV nhưng vẫn làm oan người vô tội43
Để hiểu rõ về loại trách nhiệm này thì việc chỉ xác định khái niệm thôi là chưa đầy
đủ, cần phải đưa ra và phân tích các đặc điểm của nó
1.1.2 Đặc điểm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS là một dạng cụ thể của TNBTCNN nên mang đặc điểm của loại trách nhiệm này và có những đặc thù riêng khi những người của TA gây ra thiệt hại thuộc
40
Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ tại mục 1.2 Chủ thể trong quan hệ bồi thường
41
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 206 và Khoản 2 Điều 3 Luật TNBTCNN 2009
Trang 27trường hợp điều chỉnh của Luật TNBTCNN 2009, nếu không thuộc phạm vi này thì
nó là TNBTTH ngoài hợp đồng do BLDS 2005 điều chỉnh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mang những đặc điểm chung của TNBTTH trong dân sự, cụ thể là TNBTTH ngoài hợp đồng, điều này là tương đồng với pháp luật của Hoa Kỳ44 Nguồn gốc phát sinh trách nhiệm có thể bắt nguồn là từ hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi không vi phạm pháp luật nhưng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, là một loại trách nhiệm mang tính chất tài sản và về nguyên tắc chung thì TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi
có đầy đủ các yếu tố sau đây45: Phải có thiệt hại xảy ra trên thực tế, phải có hành vi trái pháp luật, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại Tuy nhiên, cần chú ý
là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc BTTH cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó Đây là trường hợp ngoại lệ, TNBTCNN là một trong các ngoại lệ đó, trong TNBTCNN không cần NTHCV có lỗi Là loại trách nhiệm phát sinh từ hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, nên TNBTCNN có những đặc trưng riêng được thể hiện ở chỗ hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là hành vi của NTHCV trong khi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao và hành vi này phải được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Nhà nước, cơ chế giải quyết bồi thường phải thông qua thương lượng với CQCTNBT trước khi khởi kiện ra TA
Là một dạng của TNBTCNN thì trách nhiệm bồi thường do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS mang những đặc điểm của TNBTCNN Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng trong dạng trách nhiệm này không cần xác định NTHCV
có lỗi hay có hành vi trái pháp luật hay không46, nên có quan điểm cho rằng
"TNBTCNN cũng không nhất thiết phải do vi phạm pháp luật, không được xây dựng trên cơ sở của yếu tố chủ quan (lỗi) của cơ quan nhà nước ( ) nói khác đi, bốn yếu tố cấu thành chế độ trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm vật chất thông thường không được xem xét đầy đủ"47, trong khi đó TNBTCNN trong các hoạt động TTDS, TTHC; hoạt động quản lý hành chính; hoạt động thi hành án cần phải có văn bản xác định hành vi của NTHCV là trái pháp luật và trong một số trường hợp còn phải
44 Điều 2672 của FTCA quy định: “Yêu cầu bồi thường hội đủ các yếu tố BTTH ngoài hợp đồng là điều kiện tiên quyết
để xác định trách nhiệm bồi thường Nhà nước" Lê Thái Phương, tlđd 26
45 Mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng (Nghị quyết số 03/2006/NQ- HĐTP)
46 Xem thêm Đoàn Thị Quỳnh Chi (2009), "Bàn về trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân dự, tố
tụng hành chính theo dự thảo luật bồi thường Nhà nước", tạp chí Kiểm sát (08), tr 40
47
Nguyễn Như Phát, tlđd 36, tr 28
Trang 28xác định cả lỗi cố ý48 của NTHCV, điều này được thể hiện tại Khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN 2009: "Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu CQCTNBT giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của NTHCV là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này" Sự khác biệt này xuất phát từ mục tiêu của hoạt động TTHS là phòng ngừa và trấn áp tội phạm để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội nên trong quá trình thực thi công vụ, NTHCV có thể gây thiệt hại cho cá nhân công dân, nhưng họ không có lỗi và hành vi đó không bị coi là trái pháp luật49 Hơn nữa, trong hoạt động TTHS Nhà nước không phải BTTH do hành vi trái pháp luật gây ra nhằm tạo tâm lý an tâm công tác cho người tiến hành TTHS để đảm bảo hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm50 Tuy nhiên, để được bồi thường theo Luật TNBTCNN 2009 thì phải qua thủ tục thương lượng với TA có trách nhiệm bồi thường, đây là thủ tục bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 7, Điều 34 và Điều
36 của Luật TNBTCNN 2009 Từ những phân tích trên, có thể thấy các đặc điểm của TNBTTH do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS khi thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN 2009 bao gồm:
Thứ nhất, hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là hành vi của NTHCV trong khi thực hiện nhiệm vụ xét xử của TA và hành vi này phải thuộc trường hợp được quy định tại Điều 26 của Luật TNBTCNN 2009 Hành vi này có thể là hành vi trái pháp luật, có thể không phải là hành vi trái pháp luật nhưng kết quả của hành vi này là một bản án, quyết định làm oan người vô tội
Thứ hai, chủ thể có trách nhiệm bồi thường đó là Tòa án nhân dân (TAND) các cấp
Thứ ba, cơ chế giải quyết trách nhiệm bồi thường phải thông qua thương lượng với TA có trách nhiệm bồi thường trước khi khởi kiện ra TA có thẩm quyền giải quyết
Khi phân tích khái niệm và đặc điểm, chúng tôi nhận thấy phát sinh vấn đề là trong quan hệ bồi thường này thì chủ thể có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại là TAND các cấp mặc dù người gây thiệt hại là NTHCV Do đó, cần phải làm rõ chủ thể trong quan hệ bồi thường gồm những chủ thể nào, mỗi loại chủ thể
có những đặc trưng gì, quan hệ giữa các chủ thể ra sao
Trang 291.2 Chủ thể trong quan hệ bồi thường
Trong quan hệ bồi thường Nhà nước thì chủ thể có trách nhiệm bồi thường là
cơ quan nhà nước mặc dù người gây thiệt hại là NTHCV (chủ thể gây thiệt hại), nhưng không phải Nhà nước bồi thường cho người bị thiệt hại (chủ thể được bồi thường) xong thì NTHCV không phải chịu một hậu quả pháp lý bất lợi nào mà trái lại họ có trách nhiệm hoàn trả cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường (CQCTNBT)
đã đứng ra bồi thường thay cho họ Đây là một mối quan hệ khá phức tạp cần phải được nghiên cứu, làm rõ
1.2.1 Chủ thể được bồi thường
Chủ thể được bồi thường chính là người bị thiệt hại và người bị thiệt hại không chỉ bao gồm cá nhân, tổ chức trực tiếp là đối tượng tác động của bản án, quyết định của TA mà còn bao gồm cả những người gián tiếp bị thiệt hại về vật chất
và tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết hay sức khỏe bị tổn hại Như vậy, những người được pháp luật ghi nhận quyền được Nhà nước BTTH, có thể được gọi chung là người bị thiệt hại Cụ thể, người bị thiệt hại bao gồm các đối tượng sau: Cá nhân, tổ chức trực tiếp bị thiệt hại, thân nhân người bị thiệt hại, người chăm sóc người bị thiệt hại, người được người bị thiệt hại cấp dưỡng
Cá nhân, tổ chức trực tiếp bị thiệt hại
Cá nhân bị thiệt hại do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS là những người bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố, truy tố, xét xử vì rằng khi một người bị TA xét xử thì có thể trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam hoặc bị tạm giữ xong rồi tiếp tục bị tạm giam và sau đó bị khởi tố, truy tố Những cá nhân bị thiệt hại đó là những người bị oan, không phân biệt “trong nước hay ngoài nước”51, bởi lẽ theo quy định của pháp luật HS hiện hành chỉ truy cứu trách nhiệm HS đối với cá nhân
mà không truy cứu trách nhiệm HS đối với pháp nhân hay tổ chức Nhưng điều này không có nghĩa là trong lĩnh vực TTHS, "người bị thiệt hại trong hoạt động này chỉ
có thể là cá nhân"52 Theo chúng tôi, "người bị oan và người bị thiệt hại là hai khái niệm không phải hoàn toàn là một Người bị oan đồng thời là người bị thiệt hại, còn người bị thiệt hại không phải lúc nào cũng là người bị oan"53, do đó người bị thiệt
Trang 30hại trong TTHS có thể là cá nhân hay tổ chức54 và nếu cá nhân hay tổ chức có tài sản bị thiệt hại đều được bồi thường, điều này được thể hiện rõ tại Khoản 7 Điều 26 Luật TNBTCNN 2009 quy định về các trường hợp được bồi thường trong hoạt động TTHS: Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 26 thì được bồi thường
Thân nhân người bị thiệt hại
Trong trường hợp người bị thiệt hại chết, pháp luật quy định: "Khoản tiền BTTH do tổn thất về tinh thần là khoản tiền bồi thường chung cho thân nhân của người bị thiệt hại (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại) Những người được bồi thường trong trường hợp này phải còn sống tại thời điểm người bị thiệt hại chết"55 Điều này chứng tỏ người bị thiệt hại được bồi thường không phải
là người chết, người trực tiếp liên quan đến hành vi của NTHCV mà là người thân của người chết Nhưng nếu người bị oan không chết thì thân nhân của họ không được BTTH do tổn thất về tinh thần Nhưng nếu họ là người chăm sóc người bị oan trước khi họ chết thì sẽ được BTTH về vật chất, đó là khoản chi phí hợp lý và thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị (Khoản 3 Điều 49 Luật TNBTCNN 2009) Tuy nhiên, không phải lúc nào người chăm sóc người bị thiệt hại cũng là thân nhân của người bị thiệt hại, họ có thể là người không thân thích Do đó, cần nghiên cứu người này ở mức độ bao quát hơn
Người chăm sóc người bị thiệt hại
Như đã đề cập trên, trong trường hợp người bị oan có sức khỏe bị tổn hại, thì người bị thiệt hại còn bao gồm cả người chăm sóc cho người bị oan, họ được bồi thường "chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất" trong thời gian người bị oan điều trị Tuy nhiên, người nhận khoản tiền này không phải là người chăm sóc người bị thiệt hại (người bị oan) mà là người bị oan nhận, nó được tính gộp chung trong các khoản mà Nhà nước bồi thường cho người bị oan khi họ yêu cầu56 Bên cạnh đó, đối với người bị oan có sức khỏe bị tổn hại đến mức mất khả năng lao động thì ngoài
Trang 31việc Nhà nước phải BTTH cho người chăm sóc ra, còn phải BTTH cho những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Người được người bị thiệt hại cấp dưỡng
Khi người bị oan chết hay bị tổn hại sức khỏe đến mức mất khả năng lao động thì những người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được bồi thường khoản cấp dưỡng mà người bị oan có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với họ, được quy định tại Khoản 3 Điều 48 và Khoản 2 Điều 49 Luật TNBTCNN 2009 Thông tư trong lĩnh vực quản lý hành chính còn nhấn mạnh "Những người đang được người
bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng đó"57 Như vậy, người được bồi thường là người mà người bị oan đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Khi xác định được đầy đủ chủ thể được bồi thường, vấn đề đặt ra là chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường
1.2.2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường
Khi NTHCV gây thiệt hại trong hoạt động TTHS thì phát sinh TNBTCNN, nếu đó là người của TA thì phát sinh trách nhiệm bồi thường của TA Cụ thể CQCTNBT trong trường hợp này là TAND các cấp, tùy trường hợp nào thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về một TA cụ thể Tuy nhiên, có khá nhiều quan điểm trái chiều xung quanh vấn đề này, một số quan điểm cho rằng nên giao cho một cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện trách nhiệm giải quyết bồi thường như quy định của Pháp58, Thụy Điển, Bỉ, Tây Ban Nha59; một số quan điểm cho rằng nên giao cho cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý NTHCV gây thiệt hại là CQCTNBT để việc bồi thường được kịp thời, chính xác do cơ quan này có chuyên môn sâu về ngành, lĩnh vực và nâng cáo ý thức trách nhiệm của NTHCV và cơ quan quản lý NTHCV đó60 Cuối cùng, Luật TNBTCNN 2009 theo hướng CQCTNBT là cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại (Khoản 4 Điều 3) CQCTNBT do người của TA gây ra trong hoạt động TTHS chính là TAND các cấp (Điều 32), tùy từng trường hợp mà xác định đó là TA nào Cụ thể:
57
Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP, ngày 26/11/2010 Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 08/2013/TTLT-BTP-BTC-TTCP, ngày 27/02/2013
58
Xem thêm Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, tlđd 17, tr 355-356
59 Xem thêm Lê Thị Mận (2005), "Oan sai trong tố tụng - nguyên tắc, thủ tục bồi thường", tạp chí Khoa học pháp lý (05),
Trang 32 Toà án cấp sơ thẩm có TNBTTH trong các trường hợp sau đây:
- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không phạm tội hoặc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án để điều tra lại
mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án để xét xử lại
mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
Có thể đưa ra ví dụ sau để minh họa cho những trường hợp TA cấp sơ thẩm
có trách nhiệm bồi thường: Tại bản án HS sơ thẩm số: 18/2015/HSST ngày 02/4/2015 của TAND thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã tuyên bị cáo Bùi Thị
Bé Trang và Bùi Nguyễn Trọng Ân về tội "Làm nhục người khác", ngày 16/4/2015 hai bị cáo này kháng cáo với nội dung kêu oan không phạm tội Bản án HS phúc thẩm số: 209/2015/HSPT ngày 26/6/2015 đã tuyên hủy toàn bộ bản án HS sơ thẩm nêu trên, giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Cao Lãnh để điều tra lại theo thủ tục chung Đến nay vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết, trong trường hợp này có thể xảy ra các tình huống sau: Thứ nhất: Bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm phải có trách nhiệm bồi thường Thứ hai: Sau khi kết thúc việc điều tra lại, VKSND truy tố mà TA sơ thẩm tuyên bị cáo có tội và bản án không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và TA
có thẩm quyền xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án và đình chỉ
vụ án hoặc hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc hủy bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội
vì không thực hiện hành vi phạm tội thì TA cấp sơ thẩm phải bồi thường
Trang 33 TA cấp phúc thẩm có TNBTTH trong các trường hợp sau đây:
- Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng TA xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng TA xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng TA xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA quân sự quân khu và tương đương có TNBTTH khi Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA quân sự quân khu và tương đương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của TA cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
- Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ
vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TA quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
Tòa án nhân dân tối cao có TNBTTH khi Tòa phúc thẩm TAND tối cao, Tòa HS TAND tối cao, TA quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Tòa có thẩm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của TA cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
Trang 34- Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc TAND tối cao và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc TAND tối cao để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc TAND tối cao để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội
Quy định này cho thấy có một điều chưa ổn thỏa, đó là việc dùng thuật ngữ
"TA xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm" là chưa chính xác và không tương thích với các quy định về tố tụng hiện hành của Việt Nam, theo pháp luật tố tụng Việt Nam thì giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử61, mà tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án (đối với giám đốc thẩm) hoặc vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà TA không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó (đối với tái thẩm)62 Và đây cũng
là một bất cập trong quy định của pháp luật về tố tụng, mặc dù không coi giám đốc thẩm và tái thẩm là cấp xét xử nhưng trong các điều luật về nội dung này lại sử dụng từ ngữ dễ gây tranh cãi như "phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm", "TA sẽ xét
xử giám đốc thẩm, tái thẩm" vì đây là những thuật ngữ chỉ dành cho TA thực hiện chức năng xét xử với tư cách là một cấp xét xử độc lập Bên cạnh đó, theo quy định của Luật tổ chức TAND 2014 vẫn sử dụng thuật ngữ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm63, nên đây là một vấn đề khá phức tạp mà các nhà khoa học đã và đang bàn luận sôi nổi Nhưng, trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi không bàn luận sâu
61
Điều 20 BLTTHS 2003 quy định về: Thực hiện chế độ hai cấp xét xử
1 Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Bản án, quyết định sơ thẩm của TA có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
2 Đối với bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Trang 35Trình bày trên đã xác định được chủ thể được bồi thường và chủ thể có trách nhiệm bồi thường, nhưng giữa hai chủ thể này sẽ không có mối liên hệ gì, tức là sẽ không có việc bồi thường nếu như không có sự kiện NTHCV gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại, và tuy là người gây thiệt hại không phải là cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý NTHCV nhưng lại là chủ thể có trách nhiệm bồi thường, do đó để đảm bảo sự công bằng và tính nghiêm minh của pháp luật, vấn đề trách nhiệm hoàn trả của NTHCV được đặt ra và đây cũng là vấn đề cần phải xem xét một cách thấu đáo
1.2.3 Chủ thể gây thiệt hại và vấn đề trách nhiệm hoàn trả
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm BTTH do NTHCV gây ra, họ là những cá nhân được nhà nước giao thực hiện những nhiệm vụ nhất định64 nên sau khi Nhà nước bồi thường cho người bị thiệt hại, trách nhiệm hoàn trả tiền bồi thường được đặt ra65 Đây là một dạng trách nhiệm pháp lý đặc biệt, luôn gắn liền với TNBTCNN66 Do đó, khi nghiên cứu về TNBTCNN, cụ thể
là khi nghiên cứu về chủ thể gây thiệt hại (NTHCV), sẽ là một thiếu sót khi không nhắc đến trách nhiệm hoàn trả của NTHCV, dễ dẫn đến một cách nhìn không đầy
đủ và toàn diện
Chủ thể gây thiệt hại
Người của TA gây thiệt hại trong hoạt động TTHS đó chính là người có thẩm quyền hay NTHCV trong quá trình giải quyết vụ án HS Theo từ điển định nghĩa thì "thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật"67, đó là "tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các
cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do luật pháp quy định như thẩm quyền của TA các cấp, thẩm quyền của Viện kiểm sát các cấp, của cơ quan Công an các cấp ( )"68 và "thẩm quyền của TA theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật"69 Như vậy, thẩm quyền của TA được xác định bằng những quyền hạn cụ thể do pháp luật quy định và quyền hạn có thể được hiểu "là quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ"70 Từ
đó, cho thấy thẩm quyền của TA trong hoạt động TTHS là phạm vi quyền hạn của
TA trong việc thụ lý và giải quyết vụ án được pháp luật tố tụng quy định đối với
64
Nguyễn Thị Hoài Phương, tlđd 51, tr 42
65 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín, tlđd 17, tr 366
66
Nguyễn Minh Đoan (chủ biên), tlđd 17, tr 207
67 Trung tâm từ điển học-Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 922
Trang 36TA, được thực hiện thông qua những NTHCV, họ là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Thế nào là NTHCV? Có tác giả cho rằng "công vụ là các hoạt động của cán
bộ, công chức tại các pháp nhân công khác nhau của nhà nước, của Đảng và của các đoàn thể bao gồm các hoạt động quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, tham mưu và thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan Đảng, đoàn thể"71 Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành, khái niệm công vụ gắn liền với chức
vụ72 Công vụ và chức vụ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, người có chức vụ là người có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, và người này "là người
do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương" Như vậy, có thể thấy NTHCV được hiểu rất rộng, và điều này tương thích với Khoản 1 Điều 3 của Luật TNBTCNN 2009: "NTHCV là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án" Có ý kiến cho rằng
"Điều 3 của Luật giải thích ( ) như vậy, NTHCV ở đây là cán bộ, công chức, nhưng chỉ là trong cơ quan nhà nước chứ không phải trong cơ quan Đảng và tổ chức chính trị - xã hội; còn nếu người gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ là người làm việc theo hợp đồng lao động thì cơ quan, đơn vị nhà nước có bồi thường hay không thì Luật không chỉ rõ Về nguyên tắc đã là NTHCV nhà nước mà có lỗi trong việc gây thiệt hại thì nhà nước đều phải bồi thường, không phân biệt người đó trong biên chế hay không, và do đó người này cũng phải hoàn trả khoản tiền bồi thường"73
Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức gồm cả Thẩm phán, như vậy đối với Hội thẩm nhân dân công tác trong Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh theo quan điểm trên sẽ không phải là NTHCV, bởi lẽ theo quy định của Hiến pháp thì
"Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh là các tổ chức chính trị -
71 Nguyễn Cảnh Hợp (2011), Thể chế công vụ, nhà xuất bản Tư Pháp, tr 19
72
Điều 277 Khái niệm tội phạm về chức vụ
Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ
Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ
73
Nguyễn Cảnh Hợp, tlđd 71, tr 313
Trang 37xã hội( )"74 Đồng quan điểm này, có tác giả cho rằng: "Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước không thể trở thành cơ sở pháp lý để buộc cơ sở công lập BTTH cho cá nhân, tổ chức"75, vì họ là viên chức, là những người "không còn mang danh phận là người của nhà nước hoàn toàn"76
Theo chúng tôi, Luật TNBTCNN 2009 không hề có giới hạn như vậy, bởi vì NTHCV còn có thể là "người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động tố tụng" Bên cạnh đó, pháp luật cũng có quy định "Hội thẩm là cán bộ, công chức, viên chức, quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng thì thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc ở
cơ quan, đơn vị"77 Hội thẩm nhân dân chính là NTHCV trong lĩnh vực tố tụng, họ không nhất thiết chỉ là cán bộ, công chức trong cơ quan Nhà nước và họ cũng có thể
là viên chức Như vậy, theo pháp luật Việt Nam những NTHCV của TA như Thẩm phán, Thư ký TA là công chức, riêng đối với Hội thẩm nhân dân có thể là là cán bộ, công chức, viên chức, quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng, điều này không giống với quy định của Nhật Bản, Thẩm phán không phải là công chức78
Một điểm đáng quan tâm nữa là theo quy định của pháp luật "Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì TA nơi Hội thẩm
đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Hội thẩm đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho TA theo quy định của pháp luật"79 Hội thẩm xét về biên chế thì họ không phải là người của TA Tuy nhiên, Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì được coi là NTHCV của TA nhưng "thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc ở cơ quan, đơn vị", Tức là họ đồng thời thực hiện cả hai nhiệm vụ Nhưng trách nhiệm bồi thường thuộc về TA, cơ quan không trực tiếp quản lý NTHCV, điều này là phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật TNBTCNN 2009: CQCTNBT là cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại hoặc cơ quan khác theo quy định của Luật này, đó là quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 14 Luật TNBTCNN 2009: Trường hợp có nhiều NTHCV thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra
Khoản 2 Điều 88 Luật tổ chức TAND 2014
78 Theo pháp luật Nhật Bản "công chức là người làm việc trong ngành dân chính, nắm giữ một vị trí được phân loại là công việc thường xuyên Thủ tướng, các bộ trưởng của nhà nước, Thẩm phán và các nhân sự khác của TA, đại biểu nghị viện, các nhân viên Bộ quốc phòng và những người khác nắm giữ vị trí được phân loại là công việc đặc biệt không được
coi là công chức” (Khái quát về Luật đạo đức công chức toàn quốc, luật số 129 năm 1999, Một số luật của Nhật Bản về
đạo đức công chức chống tham nhũng (2010), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 13)
79
Đoạn 2 Khoản 8 Điều 89 Luật tổ chức TAND 2014
Trang 38thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là CQCTNBT Và điều này đã được quy định rõ trong Luật tổ chức TAND 2014 như
đã trình bày trên Còn cơ quan, đơn vị mà Hội thẩm nhân dân đang công tác trực tiếp được xác định tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2014 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ (Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC), đó là "cơ quan có liên quan trong việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả
là cơ quan trực tiếp quản lý NTHCV trong trường hợp NTHCV đó liên đới cùng gây ra thiệt hại nhưng không phải là CQCTNBT" Điều này cho thấy, NTHCV không nhất thiết chỉ là cán bộ, công chức nhà nước, tức là họ "có thể không phải là cán bộ, công chức nhà nước"80 Do đó, quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN 2009 có tính tương thích khá cao với các luật khác như đã nêu trên về khái niệm NTHCV
Hiện nay, người của TA được xác định là khá nhiều, có thể là những người thuộc biên chế TA như: Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký TA, công chức khác, viên chức và người lao động81, những người không thuộc biên chế của TA như: Hội thẩm nhân dân, nhân viên hợp đồng tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng người của TA gây thiệt hại trong hoạt động TTHS mà TA phải có trách nhiệm bồi thường theo Luật TNBTCNN 2009 không phải là tất cả những người được liệt kê này Họ gồm những
ai, để xác định được chính xác cần phải hiểu thế nào là hoạt động TTHS Trong khoa học pháp lý, có thể hiểu "TTHS là quy trình thực hiện những hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn vụ án HS theo quy định của pháp luật"82 và hoạt động
TTHS là các hoạt động của những cơ quan và những người có thẩm quyền thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án HS Do đó, những người của Tòa án tham gia
hoạt động tố tụng hình sự cũng không phải ít, đó có thể là Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, nhân viên hợp đồng tống đạt Tuy nhiên, theo Luật TNBTCNN 2009 thì người của TA gây thiệt hại trong hoạt động TTHS mà TA phải có trách nhiệm bồi thường đó chính là những người có thẩm quyền ra bản án, quyết định làm oan người vô tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 26 Luật TNBTCNN 2009 Theo đó, họ chỉ có thể là Thẩm phán chủ tọa phiên
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, nhà xuất bản Hồng
Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr 18-19
Trang 39tòa và Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử Ngay cả đối với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhưng không tham gia Hội đồng xét xử để ra bản
án, quyết định được thì họ cũng không phải là đối tượng mà chúng ta nói đến, tuy tại một thời điểm nào đó họ được xem là người có thẩm quyền giải quyết vụ án, nhưng từ thời điểm họ bị thay đổi83 hay thay thế thì họ không thể tiếp tục xét xử để
ra bản án, quyết định84
Như cách xác định trên, thì một câu hỏi đặt ra là nếu những người như Thư
ký TA, nhân viên được Tòa án ký hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ tống đạt và những người khác hoặc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân gây thiệt hại không thuộc trường hợp Điều 26 Luật TNBTCNN 2009 thì chủ thể bị thiệt hại có được bồi thường không? Theo chúng tôi, họ có thể được bồi thường theo quy định của BLDS
2005 Vấn đề không chỉ dừng lại tại đây, vì đối với nhân viên tống đạt lại được pháp luật xác định khá thoáng, bao gồm85: Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng ( ) Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm HS; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Như vậy, có khá nhiều người có thẩm quyền thực hiện công việc này của TA, nhưng nếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, họ gây thiệt hại thì ai phải bồi thường, theo luật nào thì pháp luật chưa quy định rõ86 Có quan điểm cho rằng "về mặt nguyên tắc khi
có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường, tuy nhiên căn cứ phát sinh
83 Xem thêm Điều 42 BLTTHS 2003 quy định về "Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng"
84
Điều 186 BLTTHS 2003 quy định về "Thay thế thành viên của Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt"
1 Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
2 Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử được thì TA vẫn có thể xét xử vụ
án nếu có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết Thẩm phán hoặc Hội thẩm dự khuyết phải có mặt tại phiên tòa từ đầu thì mới được tham gia xét xử Trong trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ toạ phiên toà không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên toà và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử
3 Trong trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ toạ phiên toà mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại Khoản 2 Điều này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu
85
Trong quá trình giải quyết vụ án HS, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng là điều tất yếu phải thực hiện Tuy nhiên, trong pháp luật TTHS, không có quy định về vấn đề này như trong pháp luật TTDS, nên trong thực tiễn các TA vẫn vận dụng các quy định tại chương X BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 để thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
86 Điều 148 BLTTDS hiện hành quy định: 1 Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng do những người sau đây thực hiện: a) Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng; b) Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia TTDS cư trú hoặc cơ quan,
tổ chức nơi người tham gia TTDS làm việc khi TA có yêu cầu; c) Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định; d) Nhân viên bưu điện; đ) Những người khác mà pháp luật có quy định 2 Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm HS; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Trang 40TNBTCNN theo Điều 28 Luật TNBTCNN thì TNBTCNN trong hoạt động TTDS, TTHC chỉ phát sinh khi"87 thuộc các trường hợp luật liệt kê, do đó, dù được Bộ luật
tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định về TNBTCNN trong TTDS nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN 2009 Theo chúng tôi, tuy họ không thuộc đối tượng những NTHCV trong hoạt động TTHS khi gây thiệt hại mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường theo Luật TNBTCNN 2009 Nhưng thực chất trong số họ có người là NTHCV, là người có nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định Trong trường hợp này cần phân biệt thành hai trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất: Nếu người thực hiện nhiệm vụ tống đạt là Người tiến hành tố tụng của Tòa án, người của Tòa án được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng thì có thể áp dụng quy định của BLDS
2005 để giải quyết buộc Tòa án phải bồi thường, cụ thể theo quy định tại Điều 620 (BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra)
Trường hợp thứ hai: Không phải là những người thuộc trường hợp thứ nhất88, có thể kể đến như: Nhân viên bưu điện, Ủy ban nhân dân cấp xã, thừa phát lại v.v thì có thể áp dụng quy định của BLDS 2005 để giải quyết buộc cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp họ bồi thường theo các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có thể theo quy định tại Điều 18 (BTTH do người của pháp nhân gây ra) hoặc Điều 19 (BTTH do cán bộ, công chức gây ra) hay Điều 22 (BTTH do người làm công, người học nghề gây ra)
Khi Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại, vấn đề trách nhiệm hoàn trả được đặt ra, và đây là vấn đề cần được nghiên cứu vì nó gắn liền với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trách nhiệm hoàn trả
Chủ thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả và mức hoàn trả
Pháp luật của một số quốc gia quy định rất khác nhau về mức hoàn trả của NTHCV, "theo các chuyên gia pháp lý Nhật Bản thì việc quy định trong luật trách nhiệm của công chức thì cần phải căn cứ vào việc lựa chọn dạng trách nhiệm của Nhà nước là trách nhiệm thay thế hay trách nhiệm trực tiếp Nếu lựa chọn dạng trách nhiệm Nhà nước là trách nhiệm thay thế thì trách nhiệm bồi hoàn của công chức được đặt ra trong trường hợp đánh giá lỗi của công chức đối với hành vi của mình Nếu lựa chọn trách nhiệm Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp thì trách nhiệm
87 Nguyễn Văn Cường, Phan Thu Hà (2011), "Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động
TTDS và TTHC", tạp chí Tòa án nhân dân, (3), tr 10
88
Những người thuộc quy định tại Điểm b, c, d, và đ của Khoản 1 Điều 148 BLTTDS hiện hành