1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam

170 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên tác giả: Hoàng Văn Hữu Tên luận án: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam Ngành khoa học của luận án: Luật Kinh tế Mã số: 93.80.107 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội 2. Nội dung bản trích yếu Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận án: Mục đích nghiên cứu của luận án: Làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng, dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực trạng thực thi vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng. Phân tích những nguyên nhân, bất cập, những yếu kém, tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị có cơ sở lý luận, thực tiễn và có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung như Bộ Luật Dân sự, Luật thương mại, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước…Và các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng như: Luật Công chứng, luật kinh doanh bảo hiểm… Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng: Luận án vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu, điển hình một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp luận biện chứng, phương 2 pháp thống kê, thu thập số liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp xã hội học. Các kết quả chính và kết luận: Trong bối cảnh lý thuyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng còn nhiều khoảng trống, chưa được nghiên cứu tận cùng, triệt để, phù hợp với bối cảnh Việt Nam thì những đóng góp nêu trên của Luận án là rất có ý nghĩa. Luận án đã làm phong phú thêm số lượng các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; đóng góp những quan điểm lý luận riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; cung cấp những quan điểm, học thuyết quốc tế, nước ngoài về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng. Đặc biệt, Luận án đã có những đề xuất về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo hướng phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa hoạt động công chứng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Luận án có thể là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động công chứng (Cục Bổ trợ Tư pháp, Phòng Bổ trợ Tư pháp…), Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam, Hội Công chứng viên các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham khảo, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng nhằm đáp ứng yêu cầu, tầm nhìn quản lý hoạt động công chứng trong giai đoạn hiện nay và sau này ở Việt Nam. Luận án là tài liệu chuyên khảo, hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy nghề công chứng tại Học viện tư pháp và các cơ sở đào tạo pháp luật ở Việt Nam.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN HỮU

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN HỮU

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng công bố trong công trình nghiên cứu nào trước đó Các thông tin trích dẫn trong luận án được trích dẫn đầy đủ, chính xác từ các nguồn tài liệu tin cậy, rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Văn Hữu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Giám đốc, Khoa Luật, Phòng quản lý đào tạo, các nhà khoa học, cán bộ và chuyên viên của Học viện khoa học xã hội Việt Nam Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về những sự giúp đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Trung Tín – người Thầy trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, bạn bè và đồng nghiệp của tôi và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Văn Hữu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 10

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật 10

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 25

1.1.3 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng trong các công trình đã công bố 30

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và những vấn đề tiếp tục triển khai nghiên cứu trong nội dung luận án 40

1.2.1 Nhận xét về tình hình hình nghiên cứu 40

1.2.2 Những vấn đề tiếp tục được triển khai nghiên cứu trong nội dung luận án 49

1.3 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 50

1.3.1 Lý thuyết nghiên cứu áp dụng 50

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 52

Kết luận chương 1 54

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 56

2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 56

2.1.1 Nhận diện hành vi gây thiệt hại trong hoạt động công chứng 56

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 67

Trang 6

2.1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 71

2.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 73

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 732.2.2 Cấu trúc nội dung pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 77

Kết luận chương 2 82 Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 84 3.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 84

3.1.1 Các quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 843.1.2 Các quy định về chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 873.1.3 Các quy định về chủ thể thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 893.1.4 Các quy định về nguyên tắc và phương thức thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 93

3.2 Thực tiễn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 101

3.2.1 Khái quát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 1013.2.2 Những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập khi thực hiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng và nguyên nhân 113

Kết luận chương 3 119 Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

Trang 7

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT

ĐỘNG CÔNG CHỨNG 121

4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 121

4.1.1.Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên 121

4.1.2 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng 123

4.1.3 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta 124

4.1.4 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng nhằm hướng đến tính chuyên nghiệp, hiệu quả và hội nhập với nền công chứng trên thế giới 126

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 128

4.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 128

4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng 131

Kết luận chương 4 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong tiến trình thực hiện đổi mới, mở cửa nền kinh tế Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [1] đã xác định: “Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này” Các chủ trương, chính sách trong văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã khẳng định và chú trọng tăng cường vai trò xã hội hóa hoạt động công chứng – một trong những yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính tiến tới nền hành chính minh bạch, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ dân sự, xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển bền vững Trong bối cảnh lấy nền kinh tế thị trường làm trung tâm, Chính phủ chuyển hướng sang xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo và xã hội hóa một

bộ phận quyền lực nhà nước, mong đợi chức năng của cơ quan công chứng cũng sẽ có sự thay đổi Đầu tiên, dưới điều kiện kinh tế thị trường hiện đại phương thức quản lý kinh tế của Chính phủ sẽ có những thay đổi, trong đó tăng thêm tính gián tiếp và tính phục vụ và đòi hỏi cần đáp ứng được hai yêu cầu trọng yếu của thị trường đối với việc cung cấp luật pháp và tín dụng; đây

là những gì mà ngành công chứng có thể cung cấp được

Sự đóng góp của hoạt động công chứng trong quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh ngày càng được khẳng định Để nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững, yếu tố an toàn pháp lý trong các giao dịch mà pháp luật quy định có vai trò rất quan trọng Hiện nay, Việt Nam vẫn đang mở rộng giao lưu, phối hợp, trao đổi kinh nghiệm với các nước trên thế giới nhằm thúc đẩy nền kinh tế các nước cùng phát triển, trong đó hoạt động công chứng được đặc biệt chú trọng Việc ổn định hoạt động công chứng đã góp phần quan

Trang 10

trọng để các chủ thể yên tâm, không lo lắng về các giao dịch đã thiết lập, có thời gian tập trung trí lực để tiến hành sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội

Luật Công chứng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và được thay thế bởi Luật Công chứng năm 2014 đến nay đã được hơn 14 năm song đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, trong đó, đáng chú ý là bước đầu đã thực hiện xã hội hóa công tác công chứng, xây

dựng được mạng lưới công chứng rộng khắp trong cả nước [2] Nếu như trước

khi xã hội hoá công chứng cả nước có 131 Phòng Công chứng, thực hiện Luật Công chứng năm 2006 cả nước có 625 tổ chức hành nghề công chứng Sau 5 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014, cả nước có 1.202 tổ chức hành nghề công chứng, trong đó có 118 Phòng Công chứng và 1.084 Văn phòng công chứng

So với thời điểm trước khi thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng,

cả nước tăng 1.002 tổ chức (tăng hơn 10 lần); so với thời điểm thực hiện Luật Công chứng năm 2006 tăng 514 tổ chức (tăng gần 02 lần) Tính đến ngày 30/06/2021, cả nước có 3.628 công chứng viên (gồm 638 công chứng viên của Phòng Công chứng và 2.990 công chứng viên của Văn phòng công chứng) So với thời điểm trước khi xã hội hoá tăng 3.235 người, so với thời điểm thực hiện Luật Công chứng năm 2006 tăng tăng 2.022 người 100% Công chứng viên được bổ nhiệm theo Luật Công chứng năm 2014 đều có trình độ cử nhân luật trở lên; đều qua đào tạo, bồi dưỡng, tập sự nghề công chứng và đạt yêu cầu kết quả tập sự

hành nghề công chứng [37] (Chi tiết theo Phụ lục số 2, 3 và Phụ lục 4)

Bên cạnh những kết quả đạt được của việc triển khai xã hội hóa hoạt động công chứng như: Người dân được tạo điều kiện thuận lợi khi đi công chứng, không còn cảnh xếp hàng, chen chúc như các năm trước kia khi chỉ tồn tại Công chứng viên công tác tại các Phòng công chứng với số lượng rất ít; Nhà nước thu được nhiều thuế hơn từ hoạt động công chứng; các giao dịch

Trang 11

dân sự, kinh tế được công chứng ngày càng đảm bảo tính ổn định, phát triển

và an toàn về mặt pháp lý thì việc xã hội hóa quá nhanh hoạt động công chứng, quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội nghề công chứng còn bộc lộ nhiều hạn chế kéo theo tình trạng cạnh tranh không lành mạnh như: Tình trạng các tổ chức hành nghề công chứng giành giật khách hàng của nhau, mở chi nhánh, địa điểm giao dịch công chứng, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng… gây ra tình trạng công chứng sai vì lợi nhuận ngày càng có nguy cơ gia tăng như truyền hình, báo chí đã phản ánh gay gắt trong thời gian qua Hệ quả thực trạng có thể là: Hợp đồng không thể thực hiện được vì lỗi của công chứng cho nên bên mua không đăng ký sang tên nhà đất được; không xác định đúng và đủ chủ thể tham gia giao dịch; ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch không tự nguyện; chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập; mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; chứng thực bản sao không có bản chính, chứng nhận bản dịch bị sai… Khi đó, các bên quay sang kiện công chứng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho các bên cũng có nhiều quan điểm trái chiều, chưa thống nhất từ cơ quan quản lý nhà nước về công chứng và Tòa án Nguyên nhân chủ yếu là do sự không đồng nhất trong quy định của pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng như: Luật Công chứng năm 2014, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017, Luật Viên chức năm 2010, BLDS năm 2015… dẫn đến, khi

có tranh chấp xảy ra, vấn đề áp dụng luật nào để giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường, nguồn tài chính bồi thường thiệt hại, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp công chứng là những vấn đề chưa được pháp luật thực định quy định một cách cụ thể, còn nhiều mâu thuẫn, thiếu đồng nhất trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết

Trang 12

Bối cảnh nói trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; đánh giá những ưu điểm, hạn chế về thực trạng pháp luật

và thực trạng thực thi vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Qua đó, tác giả luận án đưa ra những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Đây chính là cơ sở lý luận và nhận thức

để tác giả luận án lựa chọn, triển khai thực hiện trong Luận án Tiến sĩ luật học

của mình với đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công

chứng theo pháp luật Việt Nam”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu và làm rõ những vấn đề

lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; xác định rõ những bất cập và tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng và nguyên nhân; từ đó, tác giả đưa ra định hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ cụ thể cần nghiên cứu sau đây:

- Đánh giá được tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo các nhóm vấn đề; đánh giá khái quát phạm vi và mức độ nghiên cứu của các công trình này, xác định những nội dung còn bỏ ngỏ, những kiến thức kế thừa và từ đó đặt ra những vấn đề cần tiếp tục làm rõ trong luận án

Trang 13

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cụ thể, trọng tâm, trọng điểm và liên quan trực tiếp đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng như: Khái quát về dịch vụ công chứng, nhận diện hành vi gây thiệt hại trong hoạt động công chứng; khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng như: Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; chủ thể thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc và phương thức thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

- Khái quát thực trạng pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng trong tương quan so sánh với các quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chế tài này Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật để chỉ rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của các quy định pháp luật về vấn đề này

- Mục tiêu cuối cùng mà đề tài phải thực hiện đó là đưa ra những định hướng, giải pháp cụ thể đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở nước ta được tốt hơn trong giai đoạn hiện nay và hội nhập với nền công chứng của các nước phát triển trên thế giới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:

- Các quan điểm, học thuyết liên quan đến trách nhiệm dân sự nói chung

và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng nói riêng;

- Hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước

Trang 14

ngoài, pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng;

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở nước ta

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

- Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản và chuyên sâu

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật hiện hành trên phương diện lý luận và thực tiễn

- Phạm vi không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam từ thời điểm Luật Công chứng 2006 có hiệu lực (01/07/2007) cho đến nay để có cơ sở giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Để thực hiện được nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu, tác giả luận án đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp, về thể chế kinh

tế thị trường, hội nhập quốc tế Các đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng nói riêng Đây là phương pháp luận chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, chân thực

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát trong khoa học xã hội và nhân văn như:

Trang 15

Tiếp cận hệ thống, liên ngành (kinh tế học, chính trị học, lịch sử, luật học); phân tích, tổng hợp; luật học so sánh; thống kê và xã hội học pháp luật… Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nói trên trong suốt quá trình nghiên cứu luận án Cụ thể là:

Ở chương 1, Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống được sử

dụng để hệ thống hoá các tài liệu, công trình, bài viết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng và sắp xếp, phân loại, bố cục có chủ ý nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu và đưa ra những dự kiến thiết kế cấu trúc luận án

Ở chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp, phân tích,

tiếp cận hệ thống, liên ngành (kinh tế, chính trị, lịch sử, luật học), luật học so sánh để làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng, những vấn đề lý luận và nội dung pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Ở chương 3, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp, phân tích,

lịch sử, thống kê để làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam và đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu nhược điểm và nguyên nhân

Ở chương 4, tác giả sử dụng phương pháp khái quát hóa, tổng hợp và

phương pháp dự báo để đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Kết quả nghiên cứu của luận án đã thể hiện những đóng góp mới về khoa học sau đây:

Một là, luận án đã tiếp cận và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận liên

Trang 16

quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Nhận diện được các hành vi gây thiệt hại và làm rõ bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Luận án làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng như: Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng; nội dung cấu trúc pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Hai là, qua phân tích thực trạng pháp luật và đánh giá thực tiễn thực

hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng của Việt Nam hiện hành, luận án chỉ rõ những bất cập, hạn chế của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng và chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những bất cập, hạn chế này

Ba là, từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án xác định các

định hướng cơ bản, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp thêm những

thông tin, nội dung quan trọng, góp phần làm phong phú thêm những vấn đề

lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam, góp phần nhận diện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng trên nền tảng các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các văn bản pháp luật khác có liên quan, phù hợp với bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham

Trang 17

khảo có giá trị cho các cơ quan nghiên cứu lập pháp và thực thi pháp luật, là

tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy nghề công chứng tại

Học viện tư pháp và các cơ sở đào tạo về luật học ở Việt Nam

7 Kết cấu luận án

Nội dung luận án được kết cấu gồm 04 chương ngoài phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên

cứu đề tài luận án

Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại trong hoạt động công chứng

Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại trong hoạt động công chứng và thực tiễn thực hiện

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực

hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Các công trình khoa học nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam và nước ngoài là tương đối ít, chưa

có hệ thống, chuyên sâu, chưa toàn diện Trong đó, mỗi công trình, mỗi bài viết lại đề cập đến một giác độ khác nhau và đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên cứu và là cơ sở để tác giả đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay Trong chương này, tác giả sẽ tổng quan theo nhóm vấn đề thông qua việc tìm hiểu, đánh giá một số công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong nước và nước ngoài liên quan trực tiếp tới đề tài luận án

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật

1.1.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự

Trong Luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài “Bồi thường thiệt hại do vi

phạm hợp đồng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê

Thị Yến (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013) đề cập nghiên cứu chủ yếu

về trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng dân sự theo BLDS Tác giả có đối chiếu so sánh với quy định pháp luật liên quan và chỉ ra một số vấn đề

liên quan đến trách nhiệm BTTH: Một là, có bốn điều kiện làm phát sinh

trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng đó là: (i) Hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) Thiệt hại thực tế; (iii) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt

Trang 19

hại; (iv) Yếu tố lỗi; Hai là, hành vi vi phạm hợp đồng là điều kiện tiên quyết

để xem xét trách nhiệm BTTH; Ba là, giá trị BTTH là tổn thất thực tế, trực

tiếp bao gồm: thu nhập thực tế bị mất; giá trị tài sản bị mất mát, hư hỏng; chi phí đã được sử dụng hay sẽ được sử dụng để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; khoản tiền mà bên bị vi phạm phải đền bù cho cho đối tác do không thực hiện được nghĩa vụ của mình; khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ được

hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng; Bốn là, việc chứng minh thiệt

hại vừa là nghĩa vụ vừa là quyền của bên bị thiệt hại Là nghĩa vụ bởi vì họ là người đưa ra yêu cầu, nên phải chứng minh cho yêu cầu của mình; là quyền bởi vì họ là người nắm rõ nhất thiệt hại mình phải gánh chịu do sự vi phạm của bên có nghĩa vụ, nên quyền chứng minh thiệt hại sẽ đảm bảo họ được đền

bù tương xứng nhất; Năm là, có bốn trường hợp được miễn trách nhiệm bồi

thường bao gồm: (i) xảy ra sự kiện bất khả kháng; (ii) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; (iii) các bên có thoả thuận trong hợp đồng; (iv) hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết vào thời điểm giao kết hợp đồng Đồng thời, tác giả chỉ ra hai trường hợp giảm trách nhiệm BTTH

do vi phạm hợp đồng: các bên thoả thuận trong hợp đồng; nghĩa vụ hạn chế tổn thất

Trong cuốn sách chuyên khảo “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng ” của tác giả Phùng Trung Tập năm 2017 [19] Tác giả phân tích và

đề cập tới khái niệm và điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên tắc bồi thường Tác giả cho rằng có hai loại trách

nhiệm dân sự Một là, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

đồng phát sinh từ các căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng (hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng); có thiệt hại xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng và thiệt hại xảy ra; hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi có lỗi Tuy

Trang 20

nhiên, hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng là hành vi

trái pháp luật Hai là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là

trách nhiệm luật định Hành vi gây thiệt hại cho người khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe, các lợi ích nhân thân khác (danh dự, uy tín, nhân phẩm, bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, vi phạm hình ảnh…) người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra phải thỏa mãn đủ 04 điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại, người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý Và đặc biệt, tác giả còn nhấn mạnh

“trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng và hoạt động thi hành án.Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) điều chỉnh các quan hệ giữa một bên là các cơ quan công quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án và một bên là cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần do có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thì trách nhiệm bồi thường thuộc về nhà nước” (tr.7) Lập luận này củng cố thêm quan điểm trách nhiệm bồi thường

thiệt hại trong hoạt động công chứng không thuộc phạm vi Luật TNBTCNN

Trong công trình nghiên cứu ở cấp độ Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng, Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2018) với tên đề

tài: “Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng” đã đề cập nghiên cứu những

vấn đề cơ bản về BTTH do vi phạm hợp đồng nói chung Về khái niệm, tác giả cho rằng: “BTTH do vi phạm hợp đồng là biện pháp khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng, nhằm bảo đảm cho trách nhiệm dân sự theo hợp đồng được thực hiện bằng cách bù đắp những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng do bên vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm” (tr 31) Tác giả cũng khẳng định: “BTTH có bản chất chung của các

Trang 21

biện pháp khắc phục là một phương thức bảo vệ quyền phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên, khác với các biện pháp khắc phục khác, bản chất của BTTH do vi phạm hợp đồng là phương thức bảo vệ quyền cho phép bù đắp cho bên bị thiệt hại toàn bộ thiệt hại mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vi phạm hợp đồng gây ra, nhằm đưa bên bị thiệt hại vào vị trí mà bên này đáng lẽ đạt được nếu hợp đồng được thực hiện đúng” (tr 33) Về các căn cứ áp dụng biện pháp BTTH do vi phạm hợp đồng, tác giả luận án khẳng định có bốn căn cứ, đó là: có hành vi vi phạm hợp đồng;

có thiệt hại xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng

và thiệt hại xảy ra; có lỗi của bên gây thiệt hại

Về thiệt hại, tác giả khẳng định: “Thiệt hại là bất kỳ tổn thất nào mà một người phải gánh chịu do các quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hay nói cách khác thiệt hại là bất kỳ sự thay đổi tiêu cực nào đối với các quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp của bên có quyền” Đồng thời, tác giả đưa ra hai cách phân loại thiệt hại, đó là: thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp; thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần Theo cách phân loại và những phân tích đưa ra, có thể nhận thấy tác giả cũng khẳng định thiệt hại do

vi phạm hợp đồng bao gồm cả những thiệt hại về tinh thần Đặc biệt, tác giả còn khẳng định: “Sẽ là hoàn thiện hơn nếu BLDS Việt Nam bổ sung thiệt hại

về tinh thần bao hàm cả thiệt hại là hệ quả của thiệt hại về tài sản do vi phạm hợp đồng gây ra” (tr 84) Về việc xác định mức bồi thường, tác giả phân tích theo hai khía cạnh đó là xác định mức bồi thường trong trường hợp các bên có thoả thuận trước và xác định mức bồi thường trong trường hợp không có thoả thuận trước Trong đó, với trường hợp không có thoả thuận trước về mức bồi thường, tác giả chỉ ra hai điều kiện để xác định mức bồi thường, đó là thiệt hại phải mang tính chắc chắn và thiệt hại phải dự đoán được trước

Trong bài viết “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng” của

PGS.TS Phan Huy Hồng đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2018) [17]

Trang 22

tác giả nhận định BLDS năm 2015 vừa kế thừa, vừa bổ sung một số điểm mới quan trọng, mang tính bước ngoặt trong quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tư cách là một loại trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói riêng Trong đó, đặc biệt tác giả nhấn mạnh “truyền thống pháp luật dân sự Việt Nam vốn chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật dân sự châu Âu lục địa, mà ở đó, chế định trách nhiệm hợp đồng dựa trên nguyên tắc lỗi Do đó, Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 309) cũng như Bộ luật Dân sự năm

2006 (Điều 308) đều quy định một cách minh thị rằng, lỗi là một trong bốn căn

cứ (bên cạnh hành vi vi phạm, thiệt hại, quan hệ nhân quả) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại” (tr.66) Tác giả phân tích, dẫn chiếu một số nghiên cứu chỉ

ra rằng yếu tố lỗi không còn là căn cứ bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Và cá nhân tác giả cũng đưa ra quan điểm, việc BLDS năm

2015 không còn quy định minh thị như BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 trước đó về yếu tố lỗi là một trong các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì “mới chỉ là một dấu hiệu (indices) cho thấy có thể Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn đòi hỏi yếu tố lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ Việc thiếu vắng một quy định như vậy, về mặt logic, không bắt buộc phải suy luận Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dứt bỏ truyền thống dân luật Việt Nam trong vấn đề này Tương tự, khi Điều 303 Luật thương mại năm 2005 không nêu yếu tố lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vẫn có ý kiến cho rằng, Luật này sử dụng nguyên tắc suy đoán lỗi, chứ không từ bỏ yếu tố lỗi” (tr.67)

Trong cuốn sách: “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, tác giả Nguyễn Minh Tuấn (chủ

biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2016, trong đó, tập thể tác giả đưa ra những phân tích, bình luận, đánh giá các quy định trong BLDS năm 2015 và chỉ ra một số vấn đề như sau: (i) Về các điều kiện phát sinh TNBTTH (gồm bốn điều kiện): có thiệt hại thực tế xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có mối

Trang 23

quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người thực hiện hành vi vi phạm; (ii) Về thiệt hại được bồi thường: thiệt hại xảy ra bao nhiêu thì người vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường bấy nhiêu, và đương nhiên, bên yêu cầu BTTH phải chứng minh thiệt hại Tuy nhiên, trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc luật có quy định khác về việc xác định mức bồi thường, thì mức bồi thường được xác định theo thoả thuận hoặc theo quy định đó Thiệt hại được bồi thường có thể bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Mức bù đắp tổn thất về tinh thần không được quy định

cụ thể nên sẽ phụ thuộc vào đánh giá của từng HĐXX, nên không có sự thống nhất chung trong áp dụng pháp luật; (iii) Về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại: mức độ thiệt hại lớn hay nhỏ, tần suất thiệt hại xảy ra nhiều hay ít đôi khi không chỉ phụ thuộc vào hành vi vi phạm nghĩa vụ, mà còn phụ thuộc vào việc bên có quyền có áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại hay không Trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ chứng minh được bên có quyền đã không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm mà không phải bồi thường phần thiệt hại

do lỗi của bên có quyền"1

Cuốn sách “Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam, bản

án và bình luận án” (Tập 1; 2016) của Đỗ Văn Đại [10] Trong cuốn sách

này, tác giả khẳng định “Hiện nay, trong khoa học pháp lý tồn tại hai loại bồi thường thiệt hại là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Sự tồn tại của loại thứ nhất đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự Chẳng hạn, Chương 21 BLDS 2005 hay Chương 20 BLDS 2015 có tiêu đề là “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Tuy nhiên, sự tồn tại của loại thứ hai dường như chưa được ghi nhận rõ ràng trong BLDS

1 Nguyễn Minh Tuấn (2016, chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 544 – 547

Trang 24

mà suy luận từ “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” (tr.22) Tác giả nhận định trên cơ sở phân tích, dẫn chiếu một số công trình khác có nói về sự khác nhau giữa hai loại trách nhiệm dân sự đang tồn tại ở Việt Nam là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong

hợp đồng Thứ nhất, “trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách

nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ hợp đồng Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm bồi thường và bên bị thiệt hại) tồn tại quan hệ hợp đồng và thiệt hại phát sinh từ hành vi không thực hiện hoặt thực hiện không đúng nghĩa vụ

hợp đồng (vi phạm hợp đồng)” (tr.26) Thứ hai, “trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng về mặt lý luận, nếu căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là việc không thực hiện đúng (hay vi phạm) nghĩa vụ hợp đồng thì căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thường là “hành vi trái pháp luật” của một chủ thể nếu không thuộc trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra” Thông thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tồn tại giữa các chủ thể không có quan hệ hợp đồng” (tr.27) Và đặc biệt, tác giả còn chỉ ra rằng ranh giới giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trong hợp đồng đôi khi khá mong manh, mặc dù về mặt lý luận chúng ta dễ nhận biết khi nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, khi nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Cụ thể, tác giả nhận định “mặc dù quan hệ giữa các bên xuất phát từ hợp đồng (thoả thuận của các bên) nhưng thực tế cho thấy nhiều nghĩa vụ hợp đồng không do các bên thoả thuận mà do pháp luật quy định (chỉ cần xem qua nội dung các quy định về hợp đồng dân sự thông dụng

là thấy ngay điều này) Khi nghĩa vụ dân sự tồn tại trong quan hệ hợp đồng nhưn do pháp luật quy định bị vi phạm thì, về mặt lý luận, đây là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên nếu có thiệt hại thì đây là thiệt hại trong hợp đồng Và như vậy thì ranh giới giữa hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại khá mong

Trang 25

manh vì trong cả hai trường hợp đều có ứng xử trái với quy định của pháp luật” (tr.29) Kết luận, tác giả còn cho rằng, “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là hai chế định khác nhau về mặt lý luận và đôi khi cả về quy định liên quan Tuy nhiên, mức độ khác nhau còn phụ thuộc vào từng hệ thống và từng quan điểm Ở nước ngoài (như Thụy Sĩ) đã có dự án theo hướng để hai chế định này xích lại gần nhau Một dự thảo sửa đổi BLDS Pháp cũng theo hướng này Qua những phân tích ở trên, thiết nghĩ chúng ta không nên áp dụng quá cứng nhắc khi phân biệt giữa hai chế định mà chúng ta đang phân tích Nếu có sự do dự giữa việc áp dụng một trong hai chế định này thì chúng ta nên đứng về phía nạn nhân của thiệt hại” (tr.42)

1.1.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật

Các công trình nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới và ở trong nước Những công trình nghiên cứu

có liên quan trực tiếp tới đề tài luận án, là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi triển khai đề tài luận án phải kể đến là:

Trong cuốn “Đặc san tuyên truyền pháp luật số 13 năm 2007 chuyên

đề về công chứng, chứng thực” của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến,

giáo dục pháp luật của Chính phủ [23] có nêu: “Công chứng là hoạt động

mang tính chất dịch vụ công do Công chứng viên thực hiện Đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại v.v Hoạt động công chứng bao gồm một chuỗi thủ tục rất phức tạp kể từ khi Công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đồng như: Xác định tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính tự nguyện của các bên hợp đồng, xác định nguồn gốc hợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của nội dung hợp đồng, thời gian, địa

Trang 26

điểm giao kết hợp đồng v.v Những tình tiết này là rất quan trọng, bảo đảm cho

hợp đồng không bị vô hiệu và có ý nghĩa chứng cứ về sau nếu xảy ra tranh chấp

giữa các bên cũng như với bên thứ ba” Đây là công trình nghiên cứu ở Việt

Nam có nội dung phong phú và đặc biệt khẳng định bản chất của công chứng là

hoạt động “mang tính chất dịch vụ công” do công chứng viên thực hiện, khái

niệm về hoạt động công chứng (bao gồm một chuỗi thủ tục rất phức tạp kể từ khi

công chứng viên tiếp nhận hồ sơ, xác định tư cách chủ thể, kiểm tra năng lực

hành vi dân sự, tính tự nguyện của các chủ thể, xác định nguồn gốc hợp pháp

của đối tượng hợp đồng, thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng…), đối tượng của

hoạt động công chứng tương đối rộng (các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh

tế, thương mại…), ý nghĩa của hoạt động công chứng (bảo đảm cho hợp đồng

không bị vô hiệu và làm chứng cứ về sau)

Bài thuyết trình “Trách nhiệm dân sự của công chứng viên ở Pháp và

các bảo đảm đối với khách hàng” của Công chứng viên Thierry Vachon tại

Nhà Pháp luật Việt Pháp trong cuộc hội thảo do Hội đồng Công chứng Paris tổ

chức ngày 24/10/2011 [80] Bài thuyết trình của Công chứng viên Thierry

Vachon rất tổng quan, cụ thể về trách nhiệm dân sự của Công chứng viên ở Pháp

và các bảo đảm đối với người bị thiệt hại; bài viết đề cập đến các vấn đề chính:

Một là, luật áp dụng giải quyết bồi thường thiệt hại do Công chứng viên

gây ra là Bộ luật Dân sự “Luật của nước Cộng hòa Pháp không có một chế độ

đặc biệt về trách nhiệm của công chứng viên Vì vậy, phải dùng tới các

nguyên tắc chung về trách nhiệm dân sự (Điều 1382 và các điều tiếp theo của

Bộ luật Dân sự)” và cụ thể hơn là dùng tới quy tắc “Trách nhiệm cá nhân”

Hai là, việc truy cứu trách nhiệm cá nhân công chứng viên cần hội đủ

ba căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó là: Bằng chứng về lỗi

của công chứng viên bị truy cứu; bằng chứng về thiệt hại mà người truy cứu

phải gánh chịu; có mối liên hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại

Trang 27

Ba là, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là công chứng viên

Công chứng viên là người chịu trách nhiệm thực hiện dịch vụ công và do Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm Theo logic đó, khiếu kiện của người chịu thiệt hại nhằm vào người có trách nhiệm thực thi công quyền thì Nhà nước phải đứng

ra bảo đảm việc bồi thường Đó không phải là con đường mà hệ thống pháp luật của Pháp đã lựa chọn Công chứng viên là người thực thi công quyền nhưng cũng là một người hành nghề tự do, hoàn toàn tự chủ trong quản lý cơ

sở vật chất của Văn phòng công chứng và tự chủ trong việc ra các quyết định tác nghiệp Do vậy, công chứng viên phải gánh chịu các rủi ro trong hoạt động và chịu trách nhiệm cá nhân về các lỗi đã phạm phải Công chứng viên phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ khối tài sản riêng khi gây ra thiệt hại đối với người bị thiệt hại

- Tác giả Trương Phong, nhậm chức Văn phòng công chứng She Kou

thành phố Thượng Hải với bài viết "Thảo luận ngắn về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong công chứng"[81] Trong bài viết này, tác giả nghiên

cứu, đề cập một số vấn như: Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng, Luật áp dụng giải quyết bồi thường thiệt hại, xem xét yếu

tố lỗi khi giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng theo pháp luật Trung Quốc Theo đó, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong công chứng là Văn phòng công chứng “Văn phòng công chứng và Công chứng viên có lỗi gây ra tổn hại cho đương sự, sự việc công chứng của các bên liên quan thì sẽ do Văn phòng công chứng chịu trách nhiệm bồi thường” (Điều 43 Luật Công chứng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2006) Về luật áp dụng giải quyết bồi thường thiệt hại trong công chứng, Luật Công chứng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quy định trực tiếp về vấn

đề này, khác hẳn so với ở Cộng hòa Pháp (Bộ luật Dân sự sẽ quy định chung cho vấn đề trách nhiệm dân sự) Qua bài viết của tác giả, chúng ta thấy rằng, theo Luật Công chứng nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì chủ thể chịu

Trang 28

trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng là Văn phòng công chứng Về yếu tố lỗi, tác giả bài viết đề cập trong hoạt động công chứng nên áp dụng nguyên tắc quy trách nhiệm giả định lỗi Tác giả ví công chứng viên như “người tiêu chuẩn”, nếu người này thực hiện hành vi giống như

“người tiêu chuẩn” hành động hoặc không hành động, thì anh ta không có lỗi, ngược lại là có lỗi Biểu hiện cụ thể hành vi hành nghề công chứng của

“người tiêu chuẩn” đó là: Người đó đã làm hết mức nghĩa vụ cần chú ý bao gồm nghĩa vụ pháp lý hay chưa? Đã tôn trọng quy tắc tiêu chuẩn hành nghề công chứng (căn cứ quy định của pháp luật, quy tắc nghề công chứng và quy định hành chính tư pháp) để phát hành giấy tờ công chứng và làm các nghiệp vụ công chứng hay chưa? Yếu tố lỗi được tác giả phân tích mang tính chất đặc trưng của lỗi trong hoạt động công chứng – khác với lỗi thương thường trong

hoạt động dân sự, kinh tế Lỗi của “người tiêu chuẩn” là người am hiểu về pháp

luật, phải làm hết sức nghĩa vụ cần thiết, cẩn trọng tuân theo quy định pháp luật

và quy tắc đạo đức hành nghề công chứng để bảo vệ quyền lợi các bên

Bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp "Bồi thường thiệt hại do

Công chứng viên gây ra" (2011) của Đỗ Văn Đại [9] Trong bài viết này, tác

giả đưa ra nhận định "Hoạt động công chứng là một hoạt động đặc thù và trong quá trình thực hiện công việc của mình, Công chứng viên có thể gây thiệt hại và vấn đề bồi thường được đặt ra” Qua bài viết đã phân tích, đề cập đến khái niệm hoạt động công chứng, cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường thiệt hại và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng

viên gây ra Thứ nhất, về cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường thiệt hại, trong

bài viết tác giả phân tích, lập luận áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (LTNBTCNN) hay áp dụng Luật công chứng hay áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra? Tác giả cho rằng không thể áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết ngay cả đối với Công chứng viên làm việc tại Phòng công

Trang 29

chứng (đơn vị sự nghiệp của Sở Tư pháp, Công chứng viên là công chức hoặc viên chức nhà nước theo quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010) Bởi lẽ, hành vi của Công chứng viên không phải là hành vi “do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” theo Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của LTNBTCNN Và trong quá trình xây dựng Luật TNBTCNN đã có ý kiến cho rằng “phải quy định thêm nhóm hành vi phải bồi thường trong lĩnh vực công chứng nhà nước” Trong Điều 13 về “Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính”, Luật TNBTCNN có liệt kê các hành vi trong hoạt động quản lý hành chính có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng không có hành vi trong lĩnh vực công chứng nhà nước Điều đó cho thấy, vấn đề có hay không đưa hành vi trong lĩnh vực công chứng nhà nước vào Luật TNBTCNN đã được đặt ra trong quá trình xây dựng Luật này, nhưng các nhà lập pháp đã không đồng ý đưa hành vi trong lĩnh vực công chứng nhà nước vào trong Luật TNBTCNN Còn đối với Công chứng viên làm việc tại các Văn phòng công chứng, họ không phải là công chức, viên chức cho nên đương nhiên không áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Hơn nữa, nếu chúng ta áp dụng Luật TNBTCNN cho hành vi của Công chứng viên trong Phòng công chứng thì sẽ tạo ra sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam và bất công bằng giữa công chứng tư và công chứng nhà nước; thiếu sự bình đẳng giữa hai loại hình công chứng và không tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc yêu cầu bồi thường Đồng thời, tác giả còn đề cập đến vấn đề trong hoạt động công chứng, nếu Công chứng viên gây thiệt hại thì áp dụng Luật Công chứng năm 2006 hay Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết cũng tùy trường hợp Bởi vì quy định về bồi thường thiệt hại (BTTH) trong Luật Công chứng năm 2006 chỉ áp dụng đối với “thiệt hại gây ra cho người yêu cầu công chứng” cho nên không phải cứ có yêu cầu BTTH do hành

vi của Công chứng viên gây ra là chúng ta vận dụng các quy định về BTTH

Trang 30

trong Luật Công chứng Thứ hai, về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra, tác giả Đỗ Văn Đại thông qua một số vụ việc cụ thể đã đề cập, phân tích, dẫn chiếu quy định của pháp luật

và chia ra thành hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người bị thiệt hại là người yêu cầu công chứng: Yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc phải có vì theo Khoản 5 Điều 32 Luật Công chứng năm 2006 quy định “tổ chức hành nghề công chứng” có nghĩa vụ “BTTH do lỗi mà Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng” Lỗi của Công chứng viên và lỗi này được thể hiện ra bên ngoài theo dạng “không hành động” như không kiểm tra kỹ thông tin hoặc có thể biểu hiện ra bên ngoài theo dạng “hành động” như thuộc trường hợp từ chối công chứng mà Công chứng viên vẫn công chứng Yếu tố thiệt hại của người yêu cầu công chứng là yếu tố bắt buộc phải có Để quy trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng, thì phải tồn tại thiệt hại; không có thiệt hại thì tổ chức hành nghề công chứng không phải bồi thường cho dù Công chứng viên có lỗi theo phân tích ở trên Vấn đề đặt ra là xác định thiệt hại mà người yêu cầu công chứng phải gánh chịu như thế nào? Việc xác định chính xác thiệt hại mà người yêu cầu công chứng gánh chịu là rất khó Trong trường hợp này, bên yêu cầu thiệt hại phải chứng minh thiệt hại cụ thể của mình Yếu tố mối quan

hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả với lỗi của Công chứng viên Nói cách khác, tổ chức hành nghề công chứng không có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người yêu cầu công chứng khi chính người yêu cầu công chứng cũng có lỗi một phần, tổ chức hành nghề công chứng chỉ BTTH tương ứng với phần lỗi của mình

Cuốn sách “Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt

động công chứng” của Tuấn Đạo Thanh [13] năm 2013 Trong cuốn sách

này, tác giả tổng quan về trách nhiệm pháp lý nói chung cũng như trách nhiệm dân sự trong hoạt động công chứng Tác giả đã đề cập tổng quan rằng,

Trang 31

hiện nay khoa học pháp lý hiện đại chia trách nhiệm pháp lý ra làm bốn loại

cơ bản là trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật Tuy hoạt động công chứng có nhiều nét đặc thù riêng biệt nhưng về cơ bản, trách nhiệm pháp lý của Công chứng viên cũng được xây dựng dựa trên các quy định hiện hành của pháp luật về trách nhiệm pháp lý nói chung Tác giả Tuấn Đạo Thanh nghiên cứu và phân tích sự đa dạng về các loại Công chứng viên (Công chứng viên là công chức, viên chức hành nghề tại Phòng công chứng; Công chứng viên hợp danh, Công chứng viên Hợp đồng hành nghề tại Văn phòng công chứng) và tương ứng với mỗi loại Công chứng viên đó, có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế giải quyết bồi

thường thiệt hại do mỗi Công chứng viên gây ra như: Thứ nhất, với công

chứng viên không phải là công chức, viên chức thì áp dụng các quy định của

Luật Công chứng và BLDS để giải quyết Thứ hai, với công chứng viên là

công chức, viên chức thì áp dụng Luật TNBTCNN và Luật Viên chức để giải

quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại Thứ ba, với công chứng viên là công chức,

viên chức thì không áp dụng Luật TNBTCNN và Luật Viên chức để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại Tác giả đặt câu hỏi “có hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động công chứng? Trước khi Luật Công chứng năm 2006 ra đời, vấn đề kể trên không được đặt ra Nói một cách cụ thể hơn, tại thời điểm đó do công chứng viên là cán bộ, công chức và nằm trong biên chế nhà nước, tổ chức hành nghề công chứng cũng là

cơ quan nhà nước nên hiển nhiên trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng là trách nhiệm bồi thường nhà nước” (tr.61)

Luận văn Thạc sĩ luật học "Trách nhiệm bồi thường do Công chứng

viên gây ra trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam" (2014) của

tác giả Hoàng Văn Hữu [5] Trong cuốn luận văn này, tác giả đã nghiên cứu,

đề cập đến những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng như: Khái niệm, đặc điểm của

Trang 32

trách nhiệm bồi thường thiệt hại; khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng, phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng…Tác giả Luận văn cũng đề cập đến những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra như việc không phân định rõ giữa trách nhiệm bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng với Công chứng viên; điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên là công chức, viên chức so với Công chứng viên không phải là công chức, viên chức; cơ chế đảm bảo trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với Công chứng viên hành nghề tại Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng Tác giả bài viết cũng đã đề cập đến khái niệm hoạt động công chứng nhưng chưa được rõ, chưa khái quát hoá Tác giả mới chỉ tập trung phân tích, đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra mà chưa đề cập tới các chủ thể khác thực hiện hoạt động công chứng như người phiên dịch, nhân viên của tổ chức hành nghề công chứng

Cuốn sách “Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam, bản

án và bình luận án” (Tập 2; 2016) của Đỗ Văn Đại [10] đã đặt câu hỏi và đi

tìm lời đáp khi “thiệt hại do công chứng viên gây ra là thiệt hại trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng” Tác giả nhận định: Nghiên cứu so sánh cho thấy, đây là vấn đề gây tranh cãi ở nước ngoài “Ở một số nước, trách nhiệm dân sự của công chứng viên là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và, ở một số nước khác, trách nhiệm này là trách này là trách nhiệm trong hợp đồng Cuối cùng, ở nhóm nước thứ ba, trách nhiệm này đôi khi là trách nhiệm trong hợp đồng2

, cũng có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng tuỳ vào chức

2

H Slim: Rapport général, in Les professions juridiques, Nxb Bruylant et LB2V 2012, tr.626

Trang 33

năng hoạt động mà công chứng viên chịu trách nhiệm” Một nghiên cứu ở Bỉ cho thấy “câu hỏi trách nhiệm dân sự của công chứng viên có bản chất hợp đồng hay ngoài hợp đồng đã gây tranh luận giữa các học giả”3

Ở Canada (Quêbếc), “về nguyên tắc, trách nhiệm của công chứng viên có bản chất hợp đồng trong mối quan hệ với khách hàng và bản chất ngoài hợp đồng trong mối quan hệ với người thứ ba” Tuy nhiên, “lỗi hợp đồng và lỗi ngoài hợp đồng được đánh giá ở Quêbếc từ những tiêu chí khá tương đồng nhau”4

Ở Ba Lan, “trách nhiệm của công chứng viên truyền thống là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm này phát sinh trên cơ sở Điều

415 Bộ luật Dân sự đối với khách hàng cũng như người thứ ba Lý do đơn giản như sau: Những nghĩa vụ cơ bản của công chứng viên xuất phát trực tiếp

từ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hiện hành và các nghĩa vụ này ràng buộc công chứng viên đối với khách hàng tương tự như đối với người thứ ba”5

Liên hệ tới pháp luật Việt Nam, tác giả dẫn chiếu một số vụ việc được Toà án xét xử, trong đó Toà án đã áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết vụ án Tác giả cũng đưa ra một số ví dụ từ vụ án để lập luận thiệt hại trong hoạt động công chứng có thể là thiệt hại trong hợp đồng Tuy nhiên, tác giả cũng không đưa ra quan điểm cá nhân khẳng định thiệt hại trong hoạt động công chứng là thiệt hại trong hay ngoài hợp đồng

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Bài viết "Nhận định về sai lầm trong trách nhiệm bồi thường công

chứng và suy xét về phạm vi bồi thường" của tác giả Khương Hiểu Phụng

(Jiang XiaoFeng) đăng trên Tạp chí Long Nguyên [79] kỳ 19 năm 2014 Tác

5 B Lewaszkiewicz- Petrykowska: La responsabilitie des professionnels du droit en Pologne, in Les

professions juridiques, Nxb.Bruylant et LB2V 2012, tr.850

Trang 34

giả bài viết đã tập trung đề cập và phân tích án lệ, phân tích lỗi sai và bồi thường tương ứng thông qua vụ án năm 2010, Tòa án nhân dân Đông Thành, thành phố Bắc Kinh đã phán quyết Văn phòng công chứng Phương Viên bồi thường thiệt hại cho ông Trương (Zhang) và bà Dương (Yang) 1,200,000 đồng NDT Căn hộ của hai ông bà bị bán mất đúng là có tồn tại quan hệ với giấy ủy thác công chứng, tuy nhiên nguồn gốc thực sự là lỗi sai từ “Tiểu Trương (Xiao Zhang)” chính là con trai của họ, đã mượn “bố mẹ giả” đến Văn phòng công chứng Phương Viên để công chứng ủy quyền cho mình bán nhà Ngoài việc phân tích những điểm vô lý của vụ án, tác giả còn so sánh với quy định của pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức, Đài Loan để đưa ra giải pháp đáng lẽ nên thực hiện tố tụng hình sự trước, truy cứu trách nhiệm lừa đảo của Tiểu Trương (Xiao Zhang), do Tiểu Trương (Xiao Zhang) tiến hành bồi thường, sau đó mới bắt đầu tố tụng dân sự, do Văn phòng công chứng chịu trách nhiệm bổ sung Nếu không thì theo như phán quyết của Tòa án Đông Thành, Văn phòng công chứng phải bồi thường hơn 1,200,000 đồng NDT, còn người đàn ông họ Trương (Zhang) kia nghiễm nhiên có được 1,200,000 đồng NDT, như vậy có công bằng không? Phán quyết lần này không chỉ ảnh hưởng tới Văn phòng công chứng Phương Viên, mà còn khiến cho Văn phòng công chứng trên cả nước đều thấy bấp bênh, làm thế nào mới

có thể khiến cho bản thân không rơi vào vũng bùn của tố tụng? Thực trạng pháp luật quy định chưa rõ ràng như vậy dẫn tới thực thi pháp luật còn nhiều bất cập Bài viết nêu thực trạng pháp luật còn nhiều bất cập dẫn đến Toà án áp dụng pháp luật giải quyết việc bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng còn nhiều bất cập

Cuốn sách “Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt

động công chứng” của Tuấn Đạo Thanh [13] năm 2013 Tác giả cho rằng,

“trong hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng cho dù là phòng công chứng hay văn phòng công chứng, có hoặc không có tư

Trang 35

cách pháp nhân đều có trách nhiệm bồi thường hai loại thiệt hại Loại thứ nhất

là thiệt hại do công chứng viên thuộc biên chế của tổ chức hành nghề công chứng đó là tác nhân, trong khi loại thứ hai do chính tổ chức hành nghề công chứng gây ra khi vi phạm nội dung Luật Công chứng 2006 cũng như những quy định khác của pháp luật có liên quan” (tr.149) Và tác giả còn khẳng định,

“hiện nay, đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng Tuy nhiên, có một sự thật khách quan là mỗi loại công chứng viên khác nhau (công chứng viên là công chức, công chứng viên là viên chức, công chứng viên không phải công chức, viên chức, công chứng viên làm thuê) lại có cơ chế bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại không giống nhau mặc dù cả bốn loại công chứng viên kể trên đều có nghĩa vụ cung cấp một dịch vụ công chứng có chất lượng như nhau” (tr.150)

Bài tọa đàm: “Giấy tờ giả, trách nhiệm của Công chứng viên” ngày

08/11/2019 do Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với sự tham gia của Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện các tổ chức hành nghề công chứng, các chuyên gia trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự [14] Trong bài Tọa đàm này, có sự tham gia của những người làm công tác thực tiễn về công chứng như ông Nguyễn Trí Hòa - Phó Chủ tịch Hội Công chứng viên thành phố Hồ Chí Minh; ông Hoàng Mạnh Thắng - Trưởng Phòng công chứng số 7 thành phố Hồ Chí Minh nêu thực tế có hai loại được làm giả, đó là chủ thể giả và giấy tờ giả Công chứng viên khi đặt bút ký những giao dịch này đều đối diện với nguy cơ phải bồi thường thiệt hại Công chứng viên có khả năng phân biệt được giấy tờ giả nhưng trong khả năng, chừng mực nếu việc làm giả được thực hiện sơ sài, còn làm giả tinh vi, tinh xảo thì không thể

và việc buộc tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại thì phải chứng minh được lỗi của công chứng viên Ông Đoàn Quốc Việt – Đội trưởng Đội điều tra thẩm định án, Công an thành phố Hồ Chí Minh tại buổi Tọa đàm

Trang 36

này cho rằng, về trách nhiệm hình sự, cơ quan điều tra phải chứng minh có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm dẫn đến hậu quả hoặc hành vi cố ý của công chứng viên dẫn đến đồng phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Cũng tại buổi Tọa đàm, bà Châu Kim Anh – Phó Chánh Tòa Dân

sự, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận định rằng, khi có thiệt hại xảy ra, tổ chức hành nghề công chứng có công chứng viên vi phạm phải chịu trách nhiệm Còn bản án của Tòa nhận định không phải lỗi của công chứng viên nhưng vẫn tuyên liên đới bồi thường thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền kháng cáo Qua bài Tọa đàm có thể thấy rằng, những người tham dự đại diện cho các cơ quan tố tụng đều có những ý kiến khác nhau về trách nhiệm của công chứng viên khi công chứng giấy tờ giả nhưng phải chứng minh được yếu tố lỗi của công chứng viên để xem xét trách nhiệm bồi thường, kể cả trách nhiệm hình

sự Hay nói cách khác, thực trạng áp dụng pháp luật thì yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc phải chứng minh khi có thiệt hại xảy ra thì mới quy kết được trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng

Bài viết: “Bàn về việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại của

tổ chức hành nghề công chứng trong vụ việc liên quan đến tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” của Thẩm phán Phan Đình Hải - TAND thành phố Buôn

Ma Thuột [6] đã đề cập đến vấn đề nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà có lỗi của TCHNCC dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên

bố vô hiệu và gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác thì TCHNCC phải có trách nhiệm BTTH Tuy nhiên, việc giải quyết trách nhiệm BTTH của TCHNCC ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu hay cần phải tách ra bằng một vụ việc khác về yêu cầu bồi thường thiệt hại, để vừa giải quyết triệt để yêu cầu của đương sự nhưng cũng không gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án thì hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Theo tác giả bài viết, Bộ luật Tố tụng dân sự và pháp luật liên quan không có quy định nào quy định về việc trách

Trang 37

nhiệm BTTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu hay tách ra bằng một vụ án dân sự khác Mặt khác, trách nhiệm BTTH là trách nhiệm vật chất, do vậy, phải có định lượng

về thiệt hại cụ thể để yêu cầu và để có cơ sở buộc bồi thường Và về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Vì vậy, trách nhiệm BTTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu hay tách ra bằng một vụ án dân sự khác thì phải tùy vào từng trường hợp cụ thể; phụ thuộc vào nội dung, tính chất, kết quả của từng vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; phụ thuộc vào tài liệu, chứng cứ chứng minh cho thiệt hại Nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, người yêu cầu chứng minh được đầy đủ, rõ ràng, chính xác, có định lượng vật chất cụ thể các thiệt hại thực tế xảy ra từ hậu quả của việc văn bản công chứng vô hiệu do lỗi của TCHNCC thì Tòa án giải quyết ngay trong vụ việc đó; còn nếu họ không chứng minh được thì Tòa án tách yêu cầu này của họ thành một vụ án khác Tác giả bài viết đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng do bị Toà án tuyên vô hiệu là trách nhiệm của TCHNCC; đối tượng được bồi thường thiệt hại là người yêu cầu công chứng và các tổ chức, cá nhân khác nhưng cũng không chỉ rõ các tổ chức, cá nhân khác ở đây là những ai

Hội thảo “Trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công

chứng” do Học viện Tư pháp cơ sở 2 tại TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày

25/09/2020 [32] Các thành viên tham gia hội thảo bao gồm các lãnh đạo Học viện Tư pháp, các giảng viên Khoa Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác, một số lãnh đạo Hội công chứng và một số công chứng viên hành nghề tại tổ chức hành nghề công chứng Hội thảo tập trung tham luận, đề cập các vấn đề như: Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng; xác minh, giám định và phòng, chống giả mạo trong hoạt động công chứng; nhận dạng giấy tờ tùy thân trong hoạt động công

Trang 38

chứng; vai trò của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng khi tham gia tố tụng liên quan yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; giải pháp nâng cao trách nhiệm của công chứng viên trong hoạt động công chứng Tuy nhiên, bài hội thảo với dung lượng thời gian có hạn mà vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng là vấn đề rất lớn, chuyên sâu cả

về lý luận và thực tiễn cho nên cũng chưa thể giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại trong công chứng

1.1.3 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng trong các công trình đã công bố

Cuốn “Cẩm nang công chứng viên” xuất bản bởi Alex Padilla năm

2016 [84], tác giả có đề cập đến giải pháp thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước khi Công chứng viên hành nghề Trước khi Công chứng viên hành nghề, theo Luật của bang California yêu cầu tất cả các công chứng viên phải nộp một khoản trái phiếu chính thức trị giá 15.000 đô la Mỹ Đây không phải là một hợp đồng bảo hiểm cho công chứng Trái phiếu được thực hiện dưới hình thức trái phiếu do một công ty bảo hiểm nhận bảo lãnh chấp nhận

và không phải là khoản tiền gửi thay cho trái phiếu Trái phiếu chỉ được thiết

kế để cung cấp một nguồn quỹ hạn chế để thanh toán các yêu cầu bồi thường đối với Công chứng viên Công chứng viên vẫn phải chịu trách nhiệm về toàn

bộ thiệt hại và có thể phải bồi hoàn cho Phòng công chứng liên kết đối với khoản tiền mà Phòng công chứng phải trả do hành vi vi phạm hành chính hoặc sự cẩu thả của Công chứng viên Giải pháp mà bài viết tập trung đề cập

đó là khoản trái phiếu trị giá khá cao mà Công chứng viên trước khi hành nghề phải nộp để đảm bảo cho trách nhiệm nghề nghiệp của họ Và về nguyên tắc, Công chứng viên vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại

và phải chịu trách nhiệm bồi hoàn nếu Phòng công chứng đã đứng ra chi trả thay thiệt hại do mình gây ra

Trang 39

Bài viết của tác giả Cao Quảng Thế (Gao GuangShi) Khoa Luật

Trường Đại học Thanh Đảo "Đàm phán về trách nhiệm bồi thường trong

công chứng” [76] Tác giả Cao Quảng Thế nghiên cứu, đề cập đến vấn đề tính

từ khi Viện Quốc vụ phát hành Điều lệ tạm thời công chứng của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, chế độ công chứng của Trung Quốc phục hồi xây dựng lại đã được hơn hai mươi năm, chế độ công chứng cũng đã thu được sự hồi phục và phát triển tương đối tốt, chế độ công chứng ngày càng từng bước tăng cường sự tin cậy Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường trong công chứng lại còn tồn tại rất nhiều chỗ chưa hoàn thiện, đã trở thành sự cản trở việc hoàn thiện chế độ công chứng Đối với việc nắm được tính chất trách nhiệm bồi thường trong công chứng là phải hiểu được vấn đề then chốt của việc bồi thường trong công chứng, vì vậy các chuyên gia trong và ngoài nước đang rất quan tâm đến vấn đề nóng này Bài viết phân tích khái niệm bồi thường trong công chứng, tính chất của trách nhiệm bồi thường công chứng, cấu thành của trách nhiệm bồi thường trong công chứng và đặc biệt, tác giả đưa ra các kiến nghị liên quan đến việc hoàn thiện trách nhiệm bồi thường trong công chứng Tác giả kiến nghị các giải pháp bồi thường trong công chứng như: Thiết lập chế

độ song phạt của trách nhiệm bồi thường (kết hợp của trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính; hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường trong công chứng (rà soát các quy định không đồng nhất của pháp luật về bồi thường trong công chứng, còn phải tiến một bước hoàn thiện quy định trừng phạt Công chứng viên trong Luật hình sự của Trung Quốc); phát huy chức năng giám sát của Hiệp hội công chứng; nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, Công chứng viên

Bài thuyết trình “Trách nhiệm dân sự của Công chứng viên ở Pháp và

các bảo đảm đối với khách hàng” của Công chứng viên Thierry Vachon tại

Nhà Pháp luật Việt Pháp trong cuộc hội thảo do Hội đồng Công chứng Paris tổ

chức ngày 24/10/2011 [80] Trong bài viết, tác giả còn phân tích việc các cơ

Trang 40

quan nhà nước tạo ra một cơ chế bảo đảm đối với người bị thiệt hại nhằm đảm bảo rằng người bị thiệt hại sẽ nhận được bồi thường đầy đủ nếu có xảy ra thiệt hại trong hoạt động công chứng Cơ chế đảm bảo đó có 2 cấp độ:

Cấp độ thứ nhất, được tạo lập bởi bảo hiểm trách nhiệm dân sự và

mang tính chất bắt buộc Cơ chế đảm bảo này được điều chỉnh bằng các quy định chung của pháp luật Hợp đồng bảo hiểm bảo đảm cho Công chứng viên khắc phục được các hậu quả phát sinh từ trách nhiệm dân sự nghề nghiệp mà Công chứng viên phải bồi thường bằng tiền, do lỗi hoặc thiếu sót của Công chứng viên hoặc của nhân viên dưới quyền Các tổ chức hành nghề công chứng cũng được bảo đảm như Công chứng viên hành nghề độc lập và cũng mang tính bắt buộc Mức bồi thường bảo hiểm chi trả cho người chịu thiệt hại phải đảm bảo khắc phục được các hậu quả thiệt hại Hợp đồng bảo hiểm có một số điều khoản loại trừ bảo đảm theo thỏa thuận hoặc theo qui định của pháp luật như Công chứng viên không được tham gia quản lý một công ty, các thiệt hại do người được bảo hiểm tạo ra một cách cố ý và các thiệt hại phát sinh do có dúng tay vào một tội ác hoặc vào một vụ phạm pháp cố ý thì không được bảo hiểm Yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác lập bằng đề nghị của người bị thiệt hại Một Công chứng viên có thể có nhiều đề nghị bồi thường trong một năm, không có mức trần đảm bảo theo năm hay theo thời hạn hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm luôn luôn được đàm phán ở cấp

tổ chức nghề nghiệp (Hội đồng công chứng tối cao Pháp) ký với doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm mang lại các đảm bảo giống nhau cho toàn bộ các công chứng trên phạm vi toàn quốc Việc phân bố rủi ro trên toàn

bộ các Công chứng viên sẽ phân tán được các rủi ro và làm cho các khoản tiền bảo hiểm nhận được sẽ tăng lên

Cấp độ thứ hai, được tạo lập bởi một hệ thống riêng của nghề công

chứng: Đó là sự bảo đảm mang tính tập thể, cơ chế này bổ trợ cho cơ chế bảo hiểm trách nhiệm dân sự với mục đích là bảo đảm được hết các rủi ro nếu xảy

Ngày đăng: 25/04/2022, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w