1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

83 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật Việt Nam đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật dân sự, Luật bảo vệ môi trường.Theo quy định của B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Tăng Thanh Phương Dương Ngọc Thúy

Bộ môn: Luật Tư Pháp MSSV: 5115759

Lớp: Luật Tư pháp 1- K37

Cần Thơ, tháng 11 / 2014

Trang 2

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến Cô Ths Tăng Thanh Phương – Giảng viên Bộ môn Luật tư pháp, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua, để tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cám ơn đến tất cả quý Thầy cô trong Hội đồng phản biện và toàn thể Thầy cô trong Khoa Luật đã hết lòng dìu dắt, dạy bảo, giúp em có được những kiến thức cơ bản nhất về Luật học, cũng như những đóng góp quý báo cho em hoàn thành bài viết này

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhưng do thời gian ngắn và những điều kiện khách quan, nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý Thầy cô Em xin chân thành cám ơn

Chúc quý Thầy Cô được mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Sinh viên thực hiện

DƯƠNG NGỌC THÚY

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014 Chữ ký giảng viên hướng dẫn

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014 Chữ ký giáo viên phản biện

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT 1.1 Các khái niệm có liên quan về ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 4

1.1.1 Khái niệm môi trường 4

1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường 5

1.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường đất 7

1.1.4 Khái niệm suy thoái môi trường đất 12

1.2 Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 14

1.2.1 Khái niệm 14

1.2.2 Đặc điểm 15

1.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 17

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 22

1.5 Ý nghĩa quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 25

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT

Trang 6

suy thoái môi trường đất 28

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra 29

2.1.2 Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật 32

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật 34

2.1.4 Có lỗi của người gây thiệt hại 36

2.2 Xác định thiệt hại được bồi thường do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 37

2.2.1 Các loại thiệt hại được bồi thường 37

2.2.1.1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 37

2.2.1.2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 39

2.2.1.3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 41

2.2.2 Giám định thiệt hại trong ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 44

2.3 Cách thức bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 45

2.3.1 Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 45

2.3.2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 45

2.3.3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 48

2.3.4 Phương thức giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 49

2.3.5 Hình thức thức bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 50

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT 3.1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi làm làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất ở Việt Nam hiện nay 52

Trang 7

nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 57

3.2.1 Xác định chủ thể gây ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 57 3.2.2 Nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra với hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 58 3.2.3 Về phương thức giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất bằng con đường trọng tài và tòa án 61 3.2.4 Quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 62 3.2.5 Vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại 64 3.2.6 Mức bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 65 3.2.7 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất 66

3.3 Phương hướng hoàn thiện chung các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

68

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Ô nhiễm đất gây ra những tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Hậu quả của sự ô nhiễm này dẫn đến xung đột lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân và phát sinh tranh chấp môi trường Hiện nay, có nhiều biện pháp khác nhau được đưa ra nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng này, trong đó các biện pháp pháp lý với nội dung chính là quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Pháp luật Việt Nam đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật dân sự, Luật bảo vệ môi trường.Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì trách nhiệm này được quy định là một trong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự thỏa thuận trước giữa các chủ thể

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra là một trong những dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm, suy thoái môi trường nói chung được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên trong Luật Bảo vệ môi

trường năm 1993, theo đó “ tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của

mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật ” Nhưng phải đến khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được ban hành, vấn đề này mới được đề cập một cách cụ thể và rõ ràng hơn Với việc dành riêng 5 điều cho các quy định về bồi thường thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường (từ Điều 131 đến Điều 135, Mục 2), Luật Bảo vệ môi

trường năm 2005 đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình “hiện thực hóa”

nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền - một nguyên tắc được xem là đặc trưng của lĩnh vực môi trường Các quy định của pháp luật, bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường yêu cầu bồi thường thiệt hại

do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, các quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường đất nói riêng hiện vẫn còn dừng lại ở mức quy định chung, mang tính nguyên tắc, gây khó khăn cho việc giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại

do hành vi làm ô nhiễm môi trường đất gây nên trên thực tế cho các tổ tức, các nhân

Chính vì những lý do trên người viết đã lựa chọn đề tài “ Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất” để làm luận văn tốt nghiệp

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn những quy định của pháp luật về loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất Tìm hiểu quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất, qua đó, đối chiếu, so sánh, giữa quy định của pháp luật và thực tiễn về loại trách nhiệm này Từ đó, đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất, góp phần đảm bảo việc nhận

thức và áp dụng quy định của pháp luật được thống nhất trên thực tiễn

3 Phạm vi nghiên cứu

Nói đến thiệt hạị trong lĩnh vực môi trường nói chung và thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng là nói đến hai loại thiệt hại Thứ nhất thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Loại thiệt hại này thường gắn liền với chủ thể bị thiệt hại là nhà nước, người đại diện cho tài sản thuộc sở hữu toàn dân Loại thiệt hại thứ hai lại thường gắn liền với chủ thể bị thiệt hại là tổ chức, cá nhân cụ thể Đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định 113/2010/NĐ-

CP thì “ Việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng của

con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của môi trường bị ô nhiễm, suy thoái được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự” Tuy

nhiên, đối với việc xác định thiệt hại do suy giảm, chức năng tinh hữu ích của môi trường, lại chịu sự điều chỉnh theo quy định của pháp luật về môi trường, cụ thể Điều

131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Trong bài luận văn này người viết chỉ đi sâu nghiên cứu về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất” được điều chỉnh chung trong luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nghĩa là chỉ tập chung nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường đất gây ra Người viết chủ yếu dựa vào những quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nghị định 113/2010/NĐ-CP quy định về xác định thiệt hại với môi trường, cùng một số văn bản luật liên quan

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp sưu tầm tài liệu, phương pháp phân tích luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp đối chiếu tham khảo tài liệu từ sách báo, tạp chí nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, thì luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Chương 2: Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Chương 3: Thực tiễn và hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT 1.1 Các khái niệm có liên quan về ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

1.1.1 Khái niệm môi trường

Môi trường là một khái niệm đa dạng và có nội hàm vô cùng rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: môi trường xã hội, môi trường sư phạm, môi trường lao động, môi trường giáo dục, môi trường sinh viên, môi trường thiên nhiên v.v Do vậy, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “ môi trường”, cụ thể như sau:

 Môi trường“ là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy"1;

 Môi trường “ là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”2;

 Môi trường “ là toàn bộ hoàn cảnh, vật thể hoặc điều kiện bên ngoài vây quanh tác động qua lại lẫn nhau”3;

 Môi trường “ là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay xã hội”4;

 Môi trường “ là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo

ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”5;

 Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người Theo Khoản 1 Điều

3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 khái niệm môi trường được định nghĩa như sau: “

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ”

Trang 12

Theo định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và giữa con người với nhau tạo thành trung tâm

đó, chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác nhau của môi trường

Tóm lại, môi trường dù được định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau, từ góc độ khoa học hay đến góc độ pháp lý, nhưng bản chất của môi trường vốn không thay đổi Nó là tất

cả các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật; là những gì xung quanh chúng ta cho ta cơ sở để sống và phát triển Con người tồn tại trong môi trường, luôn chịu ảnh hưởng của môi trường và ngược lại môi trường tạo cơ sở cho chúng ta sống, phát triển, và luôn chịu sự tác động của con người

1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Môi trường được hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động đến chúng ở chừng mực nhất định Do đó, những tác động xấu của con người lên môi trường nhằm phục lợi ích của mình tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường

Vậy ô nhiễm môi trường là như thế nào ?Nhìn chung, hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường như: đối với góc độ sinh học, thì khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Đối với góc độ kinh tế học, thì ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, mà qua

đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài tới sức khỏe con người, các loài động thực vật

và các điều kiện sống khác

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trường được hiểu như sau: “ Ô nhiễm

môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” (Khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ

môi trường năm 2005) Ví dụ: nước thải chưa qua xử lý từ các khu công nghiệp làm ô

nhiễm nguồn nước sông như sông Thị Vải, kênh Ba Bò, khói bụi từ các phương tiện giao thông, từ các nhà máy, xí nghiệp, việc sử dụng thuốc trừ sâu vô tội vạ chảy ra các dòng sông, gây ra những căn bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, ung thư …

Theo Khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “ Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”

Trang 13

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển biến các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm: ở dạng khí thải, nước thải, chất thải rắn chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học

và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

Điểm chung nhất giữa các định nghĩa trên về ô nhiễm môi trường là đều đề cập đến

sự biến đổi các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người

và sinh vật Có thể thấy sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm Các chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc các yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm, thường là các chất thải, tuy nhiên, chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm… , và được phân thành các loại sau đây:

 Chất gây ô nhiễm tích lũy ( chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất gây ô nhiễm không tích lũy ( tiếng ồn);

 Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương ( tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa a xit) và trên phạm vi toàn cầu ( chất CFC);

 Chất gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định ( chất thải từ các các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn ( hóa chất dùng cho nông nghiệp);

 Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục ( chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục ( dầu tràn do sự cố tràn dầu) Môi trường có thể bị ô nhiễm ở nhiều mức độ khác nhau như ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng Mức độ ô nhiễm môi trường với các thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu chuẩn chất lượng

môi trường cho phép Theo Điều 92 Luật bảo vệ môi trường 2005 thì: “ Môi trường bị ô

nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn

về chất lượng môi trường Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên”

Trang 14

1.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường đất là gì? Theo cách hiểu thông thường: “ Ô nhiễm môi trường

đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm"6 Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua ngoài phạm vi chống chịu của sinh vật Đất được xem là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của môi trường đất Trong pháp luật Việt Nam tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư số

35/2014/TT-BTNMT, khái niệm ô nhiễm môi trường đất được định nghĩa như sau: “ Ô

nhiễm đất là sự gia tăng hàm lượng của một số chất, hợp chất so với tiêu chuẩn Việt Nam ( TCVN), quy chuẩn Việt Nam ( QCVN) cho phép làm nhiễm bẩn đất” Ngoài ra, ô nhiễm

môi trường đất còn có thể được hiểu là quá trình làm biến đổi hoặc thải vào đất các chất ô nhiễm làm thay đổi tính chất và cấu trúc (sự thay đổi về thành phần các tính vật chất lý, hóa, sinh) của đất theo chiều hướng không có lợi, mất khả năng đáp ứng cho các nhu cầu của con người Các nhà khoa học môi trường trên thế giới đã cảnh báo rằng cùng với ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí thì ô nhiễm môi trường đất cũng đang trở thành vấn đề đáng quan tâm hiện nay Bởi vì, ô môi trường nhiễm đất không chỉ gây ra các tác động xấu đến các tính chất của đất, mà còn ảnh hưởng đến những thành phần khác của môi trường, trong đó có con người chúng ta

 Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường đất

 Ô nhiễm đất có nguồn gốc từ tự nhiên do: hoạt động của núi lửa, nham thạch, tuyết tan, mưa, bão, lũ lụt, xói mòn, hạn hán, quá trình thấm dầu…

 Ô nhiễm đất có nguồn gốc nhân tạo:

 Ô nhiễm đất từ hoạt động công nghiệp do hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất…làm phát sinh bụi, nước thải, các chất thải hữu cơ, các chất khí độc hại ( SO2, H2S ) thải ra môi trường Nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đất, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước, môi trường không khí nhưng do quá trình vận chuyển, lắng đọng chúng di chuyển đến đất

và gây ô nhiễm đất

 Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp sử dụng các chất: phân bón, thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng… các chất này thường có sẵn các kim loại nặng, chất khó phân hủy, chất phóng xạ… khi tích lũy đến một giớ hạn nhất định, chúng sẽ trở thành chất gây

ô nhiễm

6Tổng Cục Môi Trường, Thế nào là ô nhiễm môi trường đất? ,

http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/Th%E1%BA%BFn%C3%A0ol%C3%A0%C3%B4nhi%E1% BB%85mm%C3%B4itr%C6%B0%E1%BB%9Dng%C4%91%E1%BA%A5t.aspx, [ ngày truy cập 22/9/2014]

Trang 15

 Ô nhiễm đất do việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mạng lưới giao thông, như việc sử dụng một phần đất để xây dựng đường xá, các khu đô thị, và khu công nghiệp đã làm thay đổi kết cấu của đất

 Ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt của con người hàng ngày: chất thải rắn đô thị nếu không quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là chất thải y tế

và các loại chất thải có tính độc hại khác chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra ngoài

Ví dụ: Theo khảo sát mới đây về tình trạng ô nhiễm môi trường đất của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) với khoảng 70% dân

số ở khu vực nông thôn, mỗi năm phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 1.300 triệu mét khối nước thải sinh hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật Trong đó, khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và hầu hết lượng vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom xử lý hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường Còn tại các vùng phía Nam, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi được sử dụng làm nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm sinh học nghiêm trọng môi trường đất 7

 Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất ở nước ta hiện nay

Mặc dù công tác bảo vệ môi trường đã được lồng ghép trong các văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, song việc triển khai thực hiện trên thực tế còn hạn chế nên môi trường ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhất là môi trường đất đang có xu hướng bị ô nhiễm và suy thoái ngày càng nghiêm trọng

Theo niên giám thống kê năm 2009, tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước là trên

33 triệu ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 26,1 triệu ha; đất

sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp 3,7 triệu ha; 3,3 triệu ha còn lại là tổng diện tích đất chưa được đưa vào sử dụng

Điểm đáng lưu ý là phần lớn số diện tích chưa được sử dụng đều đã và đang bị suy thoái, hoang mạc hóa hoặc bị mất giá trị sử dụng do không được khai thác hợp lý Không

ít diện tích đất thuộc quỹ đất sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng trước xu hướng gia tăng dân số và phát triển đô thị, công nghiệp

Điều quan ngại là ngày càng nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ mục đích phát triển đô thị, khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng Thống kê của Hội khoa học đất Việt Nam từ năm 2000 – 2007 cho thấy, con số này ước chừng lên tới trên 70.000 ha mỗi năm và có xu hướng ngày càng tăng cao trong thời gian tới

7

Trung tâm phân tích và chuyển giao công nghệ môi trường,Ô nhiễm môi trường đất trong hoạt động nông

nghiệp: Báo động, Hương Giang,

http://pops.org.vn/UserPages/News/detail/tabid/138/newsid/580/language/vi-VN/Default.aspx , [ ngày truy cập 24/9/2014]

Trang 16

Trên thực tế, dù đất được sử dụng cho mục đích nông nghiệp hay phi nông nghiệp thì đều bị ô nhiễm ở mức độ nhất định Nếu như trong nông nghiệp, việc sử dụng không hợp lý lượng phân bón hóa học hoặc lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đều có thể dẫn đến ô nhiễm nguồn đất, nước, không khí thì trong hoạt động công nghiệp, xây dựng

và dân sinh, mức độ ô nhiễm nhiều khi còn đáng lo ngại hơn Các hoạt động này không chỉ làm tồn đọng nhiều kim loại nặng khó phân hủy như chì, kẽm, đồng, ni ken, cadimi…

mà còn gây phát thải nhiều loại khí, phóng xạ nguy hiểm, các chất thải xây dựng độc hại như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, bê tông, đặc biệt là các chất gây ô nhiễm đất ở mức

độ cao như chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất

Bên cạnh các hoạt động gây ô nhiễm nêu trên, lượng hóa chất tồn lưu sau chiến tranh cũng là nguồn ô nhiễm độc hại ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đất Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, có đến 77 triệu lít chất diệt cỏ đã được quân đội Mỹ

sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam, trong đó các chất da cam chứa hàm lượng lớn chất siêu độc dioxin chiếm gần một nửa Khu vực bị nhiễm dioxin chủ yếu tập trung tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tại các khu vực sân bay quân sự Hơn 40 năm sau chiến tranh, nồng độ dioxin tại nhiều vùng đã giảm mạnh, tuy nhiên tại các khu vực trọng điểm thì hàm lượng chất độc này vẫn còn rất cao, ở mức trên 300.000 ppt TEQ8

Cụ thể, tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định) vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn m3 đất và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng dioxin gấp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường tại các khu vực lân cận Ngoài ra còn có 335 điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trên cả nước đã được xác định, nhưng chưa giải quyết dứt điểm

Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5 - 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 - 70% không được cây trồng sử dụng thải ra môi trường

Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị

ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt Hiện chỉ có 60% khu công nghiệp có có hệ thống xử lý nước thải Hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị đều không được

xử lý mà xả thẳng ra môi trường nên hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng nghề đã xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép

8

ThienNhien.Net, Còn nhiều thách thức trong xử lý ô nhiễm và suy thoái đất, Hồng Ngọc,

http://www.thiennhien.net/2011/10/17/con-nhieu-thach-thuc-trong-xu-ly-o-nhiem-va-suy-thoai-dat/ , [ngày truy cập 24/9/2014]

Trang 17

Tại Bắc Ninh, ô nhiễm đất cũng bắt nguồn từ nước thải, chất phế thải, khí thải, hóa chất bảo vệ thực vật và hoạt động khai thác khoáng sản Hiện tại trên địa bàn tỉnh có hàng chục khu, cụm công nghiệp và nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chỉ có 2 khu công nghiệp tập trung đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, còn lại tất cả các khu, cụm công nghiệp khác và các làng nghề truyền thống chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Nước thải của các nhà máy, cơ sở sản xuất ở các cụm công nghiệp và các làng nghề không qua xử lý (chỉ có một số cơ sở đã xử lý sơ bộ) xả trực tiếp vào môi trường, làm ô nhiễm môi trường một số sông như Ngũ Huyện Khê, sông Ngụ Những con sông này vẫn là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp Qua thời gian các chất gây ô nhiễm sẽ ngấm xuống đất và tích lũy dần trong cây trồng, gây ô nhiễm đất ảnh hưởng đến sức khỏe con người Các chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh hiện có xu hướng gia tăng Trung bình mỗi năm chất thải rắn sinh hoạt tăng 10%, chất thải rắn công nghiệp tăng 15%, chất thải rắn y tế tăng 8% Chất thải công nghiệp, y tế chứa nhiều nguy

cơ gây hại cho sức khỏe con người và môi trường nếu không được xử lý triệt để Việc xử

lý rác thải hiện nay chủ yếu là chôn lấp, vẫn còn nhiều bãi rác lộ thiên gây ô nhiễm môi trường đất và nước Khí thải tại một số làng nghề tái chế kim loại có chứa các chất như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất chứa nitơ… kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm giảm độ PH của đất cũng gây ô nhiễm đất Hóa chất bảo vệ thực vật là con dao hai lưỡi, nếu sử dụng không hợp lý thì lợi bất cập hại, một trong số đó là ô nhiễm đất Tại các vùng trồng rau thâm canh của tỉnh lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng tăng gấp 3- 5 lần so với các vùng trồng lúa Các loại thuốc trừ cỏ, thuốc diệt chuột và các thuốc khác hiện được sử dụng với số lượng ngày càng tăng Ngoài ra, hoạt động khai thác cát sỏi trên sông Cầu, sông Đuống không theo quy hoạch có thể gây sạt, trượt các bãi bồi, thềm sông làm giảm diện tích đất canh tác, sinh hoạt

Theo kết quả điều tra, phân tích các mẫu đất trên địa bàn tỉnh của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường cho thấy hàm lượng chì (Pb), đồng (Cu), kẽm (Zn)… đều vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp mức độ ô nhiễm tăng theo từng năm Đơn cử như hàm lượng Pb trong đất tại các khu vực cụm công nghiệp, khu công nghiệp, làng nghề: có 13/42 mẫu bị ô nhiễm, trong đó 8 mẫu ô nhiễm nhẹ, 5 mẫu ô nhiễm nặng vượt quy chuẩn cho phép tới gần 3 lần Trên sông Cầu, chỉ số

Pb có 5/10 mẫu đất bị ô nhiễm, chỉ số Cu có 1/10 mẫu có dấu hiệu ô nhiễm… Theo dự báo của các cơ quan nghiên cứu thì mức độ ô nhiễm môi trường đất vào những năm 2015,

2020 sẽ tăng lên từ 2-3 lần so với hiện tại và các chỉ số ô nhiễm sẽ tịnh tiến với tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa9

9

Bắc Ninh ONLINE, Hiện trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường đất, Thái Uyên,

http://baobacninh.com.vn/news_detail/68742/hien-trang-suy-thoai-va-o-nhiem-moi-truong-dat.html , [ngày truy cập 25/9/2014]

Trang 18

Tại Đồng Nai, theo kết quả Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Đồng Nai cho biết: cụ thể, tại 19 khu công nghiệp được quan trắc về chất lượng nguồn đất, kết quả cho thấy có 2 khu công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm bởi các tác nhân đồng và kẽm trong đất cao Cụ thể, tại khu công nghiệp Hố Nai, huyện Trảng Bom có các hàm lượng Cu (đồng) vượt gần 2 lần, hàm lượng Zn (kẽm) vượt 4,16 lần so với quy chuẩn cho phép của

Bộ Tài nguyên và Môi trường Tại khu công nghiệp Biên Hoà 1, hàm lượng Zn vượt tiêu chuẩn 1,5 lần; hàm lượng Nitrat và Crom trong đất lần lượt là 916mg/kg và 729mg/kg vượt quy chuẩn QCVN 03: 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Đồng Nai cũng cho biết, tại một

số khu xử lý chất thải rắn đóng tại phường Trảng Dài (thành phố Biên Hoà) và khu xử lý chất thải Vĩnh Tân (huyện Vĩnh Cửu) có hàm lượng Asentrong đất vượt quy chuẩn từ 1,6 đến 2 lần Ngoài ra, tại bãi chôn lấp chất thải Quang Trung hàm lượng Nitrat và Crom cao, từ 218 đến 301mg/kg Theo đánh giá của Trung tâm này, nguyên nhân dẫn đến một

số khu vực trên bị ô nhiễm nguồn đất, do đây là những điểm tiếp nhận nguồn thải công nghiệp và chất thải nguy hại10

Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải

ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc Trong tổng số khoảng

34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất11

10

Tin Môi trường, Một số khu công nghiệp ở Đồng Nai có hàm lượng kim loại nặng vượt mức cao trong đất,

vuot-muc-cao-trong-dat_4_25203_1.html , [ngày truy cập 25/9/2014]

Trang 19

1.1.4 Khái niệm suy thoái môi trường đất

Theo khoản 7 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 thì “ Suy thoái môi trường là sự

suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật”

Thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác12

Một thành phần môi trường bị coi là suy thoái khi có đầy đủ các dấu hiệu có sự suy giảm cả về số lượng và chất lượng thành phần môi trường đó hoặc sự thay đổi về số lượng

sẽ kéo theo sự thay đổi về chất lượng các thành phần môi trường và ngược lại ( ví dụ : số

lượng động vật quý hiếm bị suy giảm do săn bắt quá mức hay diện tích rừng bị thu hẹp sẽ kéo theo sự suy giảm về chất lượng của đa dạng sinh học);gây ảnh hưởng xấu, lâu dài đến đời sống của con người và sinh vật, nghĩa là sự thay đổi số lượng và chất lượng các thành phần môi trường phải đến mức gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người hoặc gây nên những hiện tượng hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất, sạt

lở đất… thì mới coi thành phần môi trường đó bị suy thoái Số lượng và chất lượng các thành phần môi trường có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau , trong đó nguyên nhân chủ yếu yếu nhất là do hành vi khai thác quá mức các yếu tố môi trường, làm hủy hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Các cấp độ của suy thoái môi trường cũng được chia thành nhiều cấp độ khác nhau: suy thoái môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng, suy thoái môi trường đặc biệt nghiêm trọng Cấp độ suy thoái môi trường đối với một thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa vào mức độ khan hiếm của thành phần môi trường đó, cũng như dựa vào số lượng các thành phần môi trường bị khai thác, bị tiêu hủy so với trữ lượng của nó

Trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản pháp lý nào đưa

ra định nghĩa suy thoái môi trường đất là như thế nào? Tuy nhiên, từ khái niệm suy thoái môi trường nói chung được ghi nhận trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005, thì suy

thoái môi trường đất nói riêng có thể được hiểu như sau: “ Suy thoái môi trường đất là sự

suy giảm về chất lượng và số lượng thành phần môi trường trong đất , gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật”

Trang 20

Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường năm 2005, ô nhiễm môi trường đất

và suy thoái môi trường đất có một số điểm chung: cả ô nhiễm và suy thoái đất đều làm cho môi trường bị mất cân bằng sinh thái dẫn đến những biến đổi cho môi trường nói chung và trong môi trường đất nói riêng Môi trường đất bị biến đổi gây ra thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người Tuy nhiên, nếu xét về mức độ nguy hiểm hay tác động đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của con người thì ô nhiễm môi trường đất sẽ nguy hiểm hơn và có tác động nhanh hơn so với suy thoái môi trường đất Môi trường đất bị suy thoái, khi vượt mức suy thoái thì môi trường đất bị gọi là ô nhiễm

 Nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường đất

Đất có thể bị suy thoái do các tác động của tự nhiên như: mưa, nắng, nhiệt độ, gió, bão, lũ lụt, rét ,lốc xoáy, động đất, khô hạn, sống thần, núi lỡ, sông suối thay đổi dòng chảy, nước biển xâm nhập… bên cạnh những nguyên nhân suy thoái đất từ tự nhiên thì nguyên nhân suy thoái đất do con người gây nên( suy thoái đất có nguồn gốc nhân tạo) lại rất phổ biến và đáng chu ý hiện nay bao gồm các nguyên nhân sau đây: quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã gây ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học của đất làm cho đất

bị xói mòn, nén chặt…, nước thải công nghiệp có chứa các chất độc hại như những kim loại nặng (Pb, Hg, As, Cd…) và các chất tẩy rửa, thuốc sát trùng , các chất hữu cơ khó phân giải, khí thải từ các nhà máy ( SO2, NOx…), làm cho đất bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng, cấu trúc đất bị phá hủy do hoạt động xây dựng Hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái đất như: sử dụng các hóa chất độc hại, phân bón , thuốc trừ sâu … canh tác trên đất dốc lạc hậu ( cạo sạch đồi, không chống xói mòn, không luân canh…), chế độ canh tác độc canh, bỏ hoang hóa, không bón phân, hoặc bón phân không hợp lý, do hành vi khai thác quá mức các thành phần trong đất dẫn đến làm hủy hoại các nguồn tài nguyên trong đất Ngoài ra, môi trường đất cũng có thể bị suy thoái do các nguyên nhân : chặt đốt rừng, ô nhiễm dầu, chất phóng

xạ, chất thải, nước thải từ hoạt động sinh hoạt của con người…

 Hiện trạng suy thoái môi trường đất ở nước ta hiện nay

Hiện nay cả nước ta có đến hơn 13 triệu héc - ta đất suy thoái, đất trống, đồi núi trọc Trong đó, có khoảng 9 triệu ha đất bị hoang hóa (chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu ha đất chưa sử dụng và 2 triệu ha đất đang được sử dụng bị thoái hóa nặng

Theo văn phòng UNCCD Việt Nam cho biết, độ phì nhiêu của đất ở Việt Nam đang

có nguy cơ bị giảm xuống hoặc bị thoái hóa nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, đá ong hóa, chua mặn hóa Tài nguyên rừng cũng bị suy giảm đáng kể Nếu như năm 1943 Việt Nam có tỷ lệ che phủ của rừng là 43% thì sau nhiều nỗ lực khắc phục các nguyên nhân mất rừng suốt 60 năm qua, tỷ lệ che phủ hiện nay mới chỉ là 37,6% (số liệu công bố tháng

Trang 21

12-2006) Rừng bị mất đã làm tăng diện tích đất hoang hóa, kéo theo sự giảm sút đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn13

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên với lượng đất bị xói mòn hàng năm lên tới 33,8 - 150,5 tấn/ha Trong đó 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóa nặng và 2 triệu

ha khác đang có nguy cơ thoái hóa cao Đó là chưa kể dải hoang mạc cát ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận lên đến 419.000 ha Cộng thêm hiện tượng mặn hóa, phèn hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở lên gay gắt trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu gây nên

Tài nguyên đất ở các vùng nông thôn bị suy thoái do hóa chất sử dụng trong nông nghiệp (tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp khoảng 2,5-3 triệu tấn/năm, trong đó 70% cây trồng không sử dụng được, thải ra môi trường), còn tại các đô thị là do sản xuất, sinh hoạt (chỉ 60% KCN có hệ thống xử lý nước thải; nước thải sinh hoạt của các khu dân cư hầu hết không được xử lý, xả trực tiếp ra môi trường)14

1.2 Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

1.2.1 Khái niệm

Cho đến nay, ở nước ta chưa được một văn bản luật nào đưa ra định nghĩa về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra Vậy trách nhệm bồi thượng thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm suy thoái môi trường đất gây ra

là gì? Trước tiên nếu muốn hiểu rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra, thì cần hiểu như thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra?

Theo Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô

nhiễm môi trường như sau: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi

trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Từ những quy định chung của pháp luật về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và những quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 về bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm ,suy thoái môi trường (

từ Điều 131 đến Điều 135, Mục 2) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường được xác định là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (hay còn gọi là nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại), là hình thức trách nhiệm

13

KhoaHoc.com.vn, 28% diện tích đất của Việt Nạm bị hoang hóa, Hồng Vân,

http://www.khoahoc.com.vn/doisong/moi-truong/15704_28-dien-tich-dat-dai-cua-viet-nam-bi-hoang-hoa.aspx , [ ngày truy cập 26/9/2014]

14

Tinmoi.vn, Môi trượng bị ô nhiễm nặng,

http://www.tinmoi.vn/moi-truong-bi-o-nhiem-nang-011143630.html , [ ngày truy cập 28/9/2014]

Trang 22

dân sự nhằm buộc bên có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra thiệt hại

là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả, bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất của các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra

Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra như sau:

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường

đất gây ra là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, theo đó mà cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường khi có hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức khác.”

Ví dụ: vụ công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái, đóng trên địa bàn xã Cẩm Vân - huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa), chôn thuốc trừ sâu độc hại xuống lòng đất làm cho môi trường đất bị ô nhiễm , gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng nghìn hộ dân sinh sống trong khu vực Vụ việc nêu trên cần phải có một tổ chức hay cá nhân chịu trách nhiệm hay nói cách khác chủ thể nào gây ô nhiễm môi trường đất thì phải có trách nhiệm bồi thường

và khắc phục hậu quả

Tóm lại, khi gây thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất, cũng như các loại hành vi gây thiệt hại khác Các chủ thể gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất gây ra với môi trường Trách nhiệm này được hiểu trước hết là với cộng đồng, với xã hội của người gây ra thiệt hại cho môi trường, vì họ đã xâm hại đến các điều kiện sống chung của con người Tiếp đến là trách nhiệm đối với tổ chức cá nhân, cụ thể là nạn nhân của sự xâm hại đó Điều này được thể hiện thông qua việc bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị thiệt hại

1.2.2 Đặc điểm

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra thuộc một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra còn có những đặc điểm riêng biệt sau đây:

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra cũng giống như các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác,

là một dạng của trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Khi một

Trang 23

người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản được luật dân sự điều chỉnh ở Điều 307 và chương XXII

Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự Đây là trách

dân sự ngoài hợp đồng và theo pháp luật dân sự thì chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện nhất định đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là một trong những trường hợp đặc biệt Theo

đó, trách nhiệm bồi thường phát sinh là trách nhiệm pháp lý nâng cao không cần thiết đòi hỏi phải chứng minh yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại Nghĩa là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này sẽ phát sinh mà không cần điều kiện lỗi

 Thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường đất gây ra bao gồm cả thiệt hại trực tiếp và gián tiếp Theo Khoản 6, Khoản 7 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định

nghĩa :“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp

với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật Suy thoái môi trường là sự suy giảm về số lượng, chất lượng của các thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.Các định nghĩa trên cho thấy ô nhiễm, suy thoái môi trường đất trước hết là sự biến đổi, sự suy giảm các thành phần môi trường Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên là thiệt hại trực tiếp hay nói cách khác, chính các yếu tố của môi trường tự nhiên là đối tượng bị xâm phạm trực tiếp Những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe đối với cá nhân, tổ chức do ô nhiễm suy thoái môi trường đất gây ra phát sinh trên cơ sở tồn tại các thiệt hại đối với môi trường sinh thái

Ví dụ: theo báo cáo của đoàn khảo sát Cục Bảo vệ môi trường và Viện Công nghệ môi trường ngày 16/01/2006 về vụ ô nhiễm môi trường ở Thạch Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ đối với ao hồ, môi trường đất cạnh bãi thải của Công ty pin acqui Vĩnh Phú, đoàn khảo sát phân tích thấy hạm lượng kẽm (Zn), cadium ( Cd) cao gấp bốn lần tiêu chuẩn cho phép trong đất nông nghiệp, hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn 40 lần và có khả năng tích tụ trong cơ thể con người qua dây truyền thực phẩm, có thể gây bệnh khi nồng độ đủ lớn 15

 Thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra bao gồm về

thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản Ví dụ: khi môi trường đất bị ô nhiễm sức khỏe

con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh về đường tiêu hóa, bệnh hô hấp… những người bị mắc bệnh phải bỏ ra một khoản để chi cho việc khám chữa bệnh đồng thời thu nhập của

họ cũng bị giảm sút do không lao động Các loại thiệt hại về tài sản chẳng hạn thiệt hại về

năng suất cây trồng, các loài thủy sản bị chết do đất bị ô nhiễm

15

Việt Báo.vn, “ Làng ung thư” ở Phú Thọ: Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Khiết Hưng,

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Lang-ung-thu-o-Phu-Tho-O-nhiem-moi-truong-nghiem-trong/65043418/157/ , [ ngày truy cập 02/10/2014]

Trang 24

 Chủ thể có hành vi làm ô nhiễm và suy thoái môi trường đất phải có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật Theo quy định taị Điều 624 Bộ luật dân sự năm

2005 “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì

phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Căn cứ từ quy định tại điều luật trên, thì chủ thể có trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong trường hợp này là cá nhân, pháp nhân, tổ chức kể cả trường hợp thiệt haị xảy ra hoàn toàn không có lỗi của người gây thiệt hại Như vậy, đối với thiệt hại

ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra nói chung cũng như thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng, yếu tố lỗi không phải là yếu tố điều kiện quyết định đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường Riêng trong trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với các bên có liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường

 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra có mối quan hệ nhất định với trách nhiệm khắc phục tình trạng môi trường do

bị ô nhiễm Thông thường, trong các quan hệ pháp lý khác có liên quan đến bồi thường thiệt hại, người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra và được giải phóng khỏi quan hệ với người bị hại Nhưng trong lĩnh vực môi trường, người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp: khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm và bồi thường thiệt hại về môi trường

Ví dụ: việc công ty Nicotex Thanh Thái chôn thuốc trừ sâu vào môi trường đất đã bị

xử lý với mức phạt là 421,150 triệu đồng Bênh cạnh đó, Nicotex Thanh Thái còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật cũng như thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả xảy ra 16

1.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Nguyên tắc được hiểu theo nghĩa chung nhất là các yêu cầu, chuẩn mực cụ thể buộc các cơ quan tiến hành tố tụng, những người có quyền và lợi ích có liên quan phải tuân theo Dưới góc độ pháp lý, nguyên tắc là các tư tưởng pháp lý chỉ đạo có ý nghĩa bao trùm, xuyên suốt trong quá trình thực hiện một hoạt động pháp lý Do trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra là một chế định trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên khi áp dụng cũng dựa trên nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

16

CAND online, Xử phạt Công ty cổ phần Nicotex chôn hóa chất, Thái Thanh,

http://www.cand.com.vn/vi-VN/kinhte/2013/9/209627.cand , [ ngày truy cập 03/10/2014]

Trang 25

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, theo căn cứ tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm

2005 và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng quy định:

 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

 Theo quy định trên, nguyên tắc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra gồm các nguyên tắc sau:

 Nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc bồi thường theo thỏa thuận đây là một nguyên tắc cơ bản mang tính đặc thù của các quan hệ dân sự trong những nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó có bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra Được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết

03/2006/NQ-HĐTP, theo Nghị quyết thì: “ Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên

về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận

đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội”17 Bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận phản ánh một cách rõ ràng nhất bản chất của quyền dân sự là “ tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” Sự thỏa thuận này thể hiện mong muốn, ý chí của các bên và trên thực tế đây là phương pháp hữu hiệu nhất để nhanh chóng khắc phục thiệt hại đã xảy ra và phù hợp với quyền lợi của các bên Việc thỏa thuận thiệt hại có thể bao gồm những nội dung sau:

 Thỏa thuận về mức bồi thường: khi có thiệt hại xảy ra trước hết các bên có quyền được tự do thỏa thuận mức bồi các thường thiệt hại Mức bồi thường theo thỏa thuận có thể cao hơn, thấp hơn hoặc ngang bằng với thiệt hại thực tế xảy ra Đối với những thiệt hại về môi trường, mức bồi thường theo thỏa thuận thường có thể bằng

17

Điểm 2 mục 1 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 26

hoặc cao hơn với thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi vi phạm, việc thỏa thuận phải đi kèm với việc khắc phục thiệt hại do làm ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra

 Thỏa thuận về hình thức bồi thường: về nguyên tắc các bên được quyền tự thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc Nhưng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy

thoái đất gây ra thì hình thức phổ biến nhất là hình thức bồi thường bằng tiền Ví dụ:

về vụ việc ô nhiễm môi trường đất do bãi rác Tân Long giữa công ty và sáu hộ dân có đất sát hàng rào bãi rác Tân Long đã thống nhất mức bồi thường trong ba năm theo mức giá của từng năm là 1,6 triệu đồng/công đất (2011), 1,9 triệu đồng (2012) và 2 triệu đồng (2013); 19 hộ dân còn lại được bồi thường với các mức giá theo từng năm

 Thỏa thuận về phương thức bồi thường: theo quy định thì các bên có thể tự thỏa thuận với nhau lựa chọn phương thức bồi thường đó là phương thức bồi thường một lần hoặc hoặc bồi thường nhiều lần

Như vậy theo nguyên tắc này, các bên có thể cùng nhau thỏa thuận mọi vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều này thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối các quyền tự do ý chí và thỏa thuận giữa các bên Nếu các bên không thỏa thuận được hoặc trong một số trường hợp pháp luật không cho phép thỏa thuận thì phải áp dụng nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời

 Nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời

Mục đích của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu, bù đắp lại những mất mát, khắc phục những thiệt hại đã xảy ra cho người bị thiệt hại Do đó, người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra thì phải bồi thường toàn bộ cho người bị thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại

Theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 “ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” và được hướng dẫn tại Điểm a, tiểu mục 2.2 mục 2 phần I của nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng áp dụng một số quy định của

Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì “ Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào, thiệt hại xảy ra là bao nhiêu…” Tuy nhiên, đối với bồi thường thiệt hại do ô nhiễm

18

CAND online, Thỏa thuận bồi thường cho những hộ dân bị ảnh hưởng bởi bãi rác Tân Long, Văn Đức,

http://cand.com.vn/vi-vn/xahoi/2009/12/220348.cand , [ ngày truy cập 10/10/2014]

Trang 27

môi trường gây ra nói chung hay bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đất gây

ra nói riêng thì ngoài việc áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, còn phải dựa trên các nguyên tắc được ghi nhận trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005 Theo đó, việc bồi thường thiệt hại không chỉ bao gồm việc bồi thường theo thiệt hại thực tế mà còn bao gồm những thiệt hại thực tế chắc chắn xảy ra trong tương lai đồng thời còn phải khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đến mức có thể trả lại hiện trạng ban đầu hoặc tương đương

Về nguyên tắc bồi thường kịp thời Tính “ kịp thời” thể hiện ở chổ thiệt hại phải được bồi thường một cách đúng lúc, không chậm trễ Đây là nguyên tắc nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi bị thiệt hại, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người

bị thiệt hại Theo quy định tại Điểm c, tiểu mục 2.2 mục 2 phần I của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì “ Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong một thời gian luật định Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự” Nguyên tắc này đảm bảo người có hành vi gây thiệt hại phải bồi

thường kịp thời, càng nhanh càng tốt để khắc phục hậu quả Trên tinh thần tôn trọng sự thỏa thuận giữa các đương sự

 Nguyên tắc giảm mức bồi thường

Theo Khoản 2 Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Người gây thiệt hại

có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình” Trong pháp luật môi trường được hiểu

chủ thể không cố ý gây thiệt hại, không mong muốn ô nhiễm xảy ra nhưng do cẩu thả hay do quá tự tin mà để thiệt hại xảy ra đó là trường hợp người gây thiệt hại có lỗi vô

ý Chính vì vậy, có thể xem xét giảm mức bồi thường cho họ Tuy nhiên, việc cho phép giảm mức thiệt hại không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ đầy

đủ các điều kiện sau:

 Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

 Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó

Ví dụ: công ty A chuyên tái chế phế liệu từ các phuy đựng dầu và các hóa chất gây ô nhiễm sau khi thu mua họ đem về bãi không che đậy kỹ, sau khi trời đỗ mua thì

Trang 28

dầu chứa trong thùng tràn ra ngoài gây ô nhiễm đất, rõ ràng không ai muốn xảy ra chuyện này nhưng trách nhiệm vẫn phải bồi thường và khắc phục hậu quả Trong trường hợp,thiệt hại xảy ra trên diện rộng, chi phí bồi thường lớn so với khả năng trước mắt và lâu lài của công ty thì công ty A có thể được xem xét giảm mức mức bồi thường thiệt hại

Khả năng kinh tế của người gây thiệt hại là một yếu tố quan trọng để quyết định giảm hay không giảm mức bồi thường thiệt hại Xác định chính xác khả năng kinh tế

sẽ bảo vệ có hiệu quả quyền lợi cho các đương sự, đảm bảo công bằng xã hội, tránh được sự gian lận hoặc gian lận để chốn tránh trách nhiệm bồi thường Tuy vậy, pháp luật dân sự hiện hành lại không quy định mức bồi thường cụ thể được giảm là bao nhiêu, do đó rất khó cho việc áp dụng vào thực tế, cho nên việc giảm mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể cần phải căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện, mức độ lỗi của người gây thiệt hại Mặt khác phải xem xét mức thiệt hại là lớn hay nhỏ

 Nguyên tắc thay đổi mức bồi thường

Theo nguyên tắc này, mặc dù mức bồi thường đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì bên gây thiệt hại cũng như bên bị thiệt hại, có quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường Việc thay đổi mức bồi thường

được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005: “ Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường” Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất là một thiệt hại có đặc

điểm rất khó xác định, và việc làm rõ trách nhiệm trong một thời gian dài, trãi qua một thời gian dài mức bồi thường có thể không còn phù hợp, vì vậy việc thay đổi mức bồi thường là hoàn toàn hợp lý Trong thực tế người bị thiệt hại thường yêu cầu thay đổi mức bồi thường hơn người gây thiệt hại Điều kiện thay đổi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế được hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP như sau: “ Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi

về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại19

Ví dụ: Người gây thiệt hại cho rằng mức bồi thường thiệt hại tại thời điểm là quá cao so với thời điểm xét xử nên yêu cầu cơ quan Tòa án giảm mức bồi thường hoặc ngược lại người bị thiệt hại cho rằng mức tiền bồi thường là quá thấp so với thiệt hại thực tế đã gây ra nên yêu cầu cơ quan Tòa án tăng mức bồi thường

19

Điểm d tiểu mục 2.2 mục 2 phần I, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP

Trang 29

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành

vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Trách nhiệm bồi thường nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm

ô nhiễm suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng là rất quan trọng vì nó nói lên một điều rằng khi có một quan hệ xã hội phát sinh mà hệ quả là có thiệt hại xảy ra thì phải có ai chịu trách niệm về nó trừ những trường hợp được pháp luật quy định không phải bồi thường thiệt hại

Trước khi Luật bảo vệ môi trường 1993 được ban hành, pháp luật nước nước ta hầu như chưa có quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường Hiến pháp 1980 chỉ quy định chung về bảo bảo hộ tính mạng, tài sản,danh dự và nhân phẩm của công dân; đồng thời xác định mọi hoạt động xâm phạm quyền lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sữa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường ( Điều 70 và Điều 73 Hiến pháp năm 1980)

Hiến pháp năm 1992 khẳng định nguyên tắc “ Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” (Điều 12).Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định “ Mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể

và của công dân phải được xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, được pháp luật ghi nhận lần đầu tại Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 Đây là văn bản pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nó đưa ra những nguyên tắc về bảo vệ môi trường như: bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong lành; bảo vệ môi trường để phát triển bền vững; bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân; nhà nước thống nhất quản lý việc bảo vệ môi trường; sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền và trách nhiệm bồi thường thiệt hạido hành vi làmô nhiễm môi trường gây nên…

Theo Điều30, Luật bảo vệ môi trường năm 1993 thì :“Tổ chức, cá nhân trong hoạt

động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác mà làm suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định của Uỷ ban nhân dân địa phương và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” Đạo luật này cũng xác lập

những cơ sở pháp lý của trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường

Bên cạnh đó còn có một số nghị định xử phạt liên tiếp được ban hành: Nghị định 175-CP ngày 18-10-1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 26-CP ngày 26-4-1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính

Trang 30

về bảo vệ môi trường Theo Điều 2 của Nghị định này quy định: “ Việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường gây ra được tiến hành theo nguyên tắc thoả thuận giữa bên có hành vi gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại Đối với những thiệt hại

về vật chất do hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường gây ra có giá trị đến 1.000.000 đồng mà không tự thoả thuận được thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định mức bồi thường, những thiệt hại có giá trị từ trên 1.000.000 đồng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”

Có thể thấy rằng, pháp luật về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường bắt đầu được hình thành và phát triển khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 được ban hành Những quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra Từ khi Bộ luật Dân

sự năm 1995 được ban hành đã khẳng định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể có hành vi gây ô nhiễm môi trường tại Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 1995 với tính cách là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong

Bộ luật Dân sự năm 1995 trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường được quy định cụ thể tại Điều 628: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại, thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, trừ trương hợp người bị thiệt hại có lỗi ” Tại điều 268

Bộ luật dân sự năm 1995 cũng có quy định: Khi sử dụng, bảo quản, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, nếu làm ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu có trách nhiệm chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ở đây được hiểu là tất cả mọi hành vi làm

ô nhiễm, suy thoái môi trường đều phải chịu trách nhiệm về hành vi gây ô nhiễm bao

gồm những loại ô nhiễm như: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và cả ô nhiễm không khí

Tuy nhiên, trãi qua thời gian dài các văn bản luật có nhiều bất cập chẳng hạn như hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng tinh vi, mức phạt tiền hành chính quá thấp

và từ đó đòi hỏi các văn bản pháp luật không ngừng điều chỉnh để có thể thích hợp cho việc bảo vệ môi trường

Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời tiếp tục kế thừa, phát triển quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường được quy định tại Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 1995 theo hướng mở rộng quy định về trách nhiệm bồi thường của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác khi có hành vi vi phạm pháp luật làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại kể cả trong những trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi Bên cạnh quy định tại Điều 624 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn có một số điều quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Trang 31

(Điều 605), năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (Điều 606) , về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt (Điều 604) là cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại do làm ô

nhiễm môi trường đất nói riêng

Cùng thời điểm đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ra đời đã tạo ra cơ sở pháp

lý rõ ràng và phù hợp với lý luận về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã dành hẳn mục 2 chương XIV để quy định chi tiết về bồi thường thiệt hại, xác định thiệt hại, giám định thiệt hại, cách thức giải quyết bồi thường Các quy định này định hướng rõ ràng cho quá trình bồi thường trên thực

tế So với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, điểm quan trọng nhất của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 là chỉ ra hai loại thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thiệt hại

về môi trường tự nhiên được xác định theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, còn thiệt hại về tính mạng sức khỏe được thực hiện theo các quy định của pháp luật dân sự

mà quan trọng nhất là Bộ luật dân sự năm 2005 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn đề cập đến việc giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Việc giám định thiệt hại được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường Việc lựa chọn tổ chức giám định thiệt hại do cơ quan được giao trách nhiệm giải quyết việc bồi thường thiệt hại quyết định Quy định pháp luật này là sự cụ thể hóa nguyên tắc tham vấn chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp môi trường nói chung và giải quyết bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng

Để giúp việc xác định thiệt hại và mức thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường được dễ dàng và thuận tiện Chính phủ đã ban hành một số nghị định có liên quan

để hướng dẫn cụ thể về các vấn đề trên như: Nghị định số 113/ 2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2010 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường, Nghị định số 179/ 2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường thay thế Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, Tại Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này quy

định: “ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chôn vùi hoặc

thải vào đất các chất gây ô nhiễm ở thể lỏng, bùn, chất thải vệ sinh hầm cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường” Ngoài ra, còn có một số văn bản khác có

liên quan : QCVN 03: 2008/ BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất, QCVN 15:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong đất, Thông tư số 04 năm 2012/TT – BTNMT ngày 8 tháng năm 2012 quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Luật đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ

Trang 32

ngày 01 tháng 7 năm 2013 thay thế Luật đất đai năm 2003) Theo Khoản 2 Điều 206 của Luật đất đai năm 2013 về xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai quy định: “ Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại”, Thông tư số 35/2014/TT – BTNMT quy định về điều tra, đánh giá đất đai…

Các hành vi gây ô nhiễm môi trường được pháp luật bảo vệ môi trường điều chỉnh

và xử phạt, nhưng qua đó gây thiệt hại cho môi trường tự nhiên là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường dẫn đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, thiệt hại về tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vì vậy cần phải được bồi thường đúng quy định của pháp luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi làm ô nhiễm môi trường được Bộ luật dân sự năm 2005 điều chỉnh, các văn bản hướng dẫn liên tiếp được ban hành,văn bản điều chỉnh về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay là Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết về trách nhiệm bồi thường

1.5 Ý nghĩa quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Môi trường hiện đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với Việt Nam mà đối với nhiều quốc gia trên thế giới, dù đó là quốc gia đang phát triển hay quốc gia đã phát triển Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi trường đang làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người và môi trường

tự nhiên Đặc biệt, hiện nay ở nước ta cùng với ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, thì ô nhiễm đất đã dẫn đến những hậu quả thật tệ hại Ô nhiễm đất không chỉ làm ảnh hưởng xấu đến các tính chất của đất, làm giảm năng suất cây trồng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người cụ thể gây ra các bệnh về da, đường hô hấp đặc biệt là ung thư

Ví dụ: thực tế là vấn đề đất bị ô nhiễm nặng do khai thác khoáng sản ở Thái Nguyên.Trong quá trình khai thác, các đơn vị đã thải ra một khối lượng lớn đất đá thải, làm thu hẹp và suy giảm diện tích đất canh tác, điển hình là các bãi thải tại mỏ sắt Trại Cau (gần 2 triệu m3 đất đá thải/năm), mỏ than Khánh Hòa (gần 3 triệu m3 đất đá thải/năm), mỏ than Phấn Mễ (hơn 1 triệu m3 đất đá thải/năm)… Cũng theo khảo sát của nhóm tác giả Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đăng trên Tạp chí Khoa học Đất

số 36/ 2011, hầu hết các mẫu đất tại khu vực khai khoáng đều có biểu hiện ô nhiễm kim

Trang 33

loại nặng, đặc biệt, một số mẫu gần khu sinh sống của dân cư cũng đang bị ô nhiễm đã ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và đời sống con người 20

Từ những hậu quả nổi bật nêu trên, đã cho thấy cần có những cách thức, biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường đất trước khi ô nhiễm xảy ra,cũng như nhằm khắc phục

và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đất gây ra Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thông qua các chính sách và ban hành nhiều văn bản điều chỉnh về vấn đề này, Nhà nước ta đã can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và sự cố môi trường

Trong những biện pháp mà nhà nước sử dụng trong lĩnh vực này và cũng như tuyệt đại đa số trong các lĩnh vực khác, pháp luật đóng vai trò quan trọng Là bộ luật gốc điều chỉnh các quan hệ xã hội nên Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường tại Điều 624 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 cũng đã

cụ thể hóa nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” , các quy định trên của pháp luật

đã cho ta thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường, mà quan trọng là ô nhiễm và suy thoái môi trường đất, đây là một hành lang pháp

lý để chúng ta có thể bảo vệ cuộc sống của chính mình

Việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra không chỉ ngăn chặn, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường nhằm góp phần làm cho môi trường ngày càng trong sạch hơn, mà nó còn có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng Ngoài mục đích buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra, thông qua nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự của chế định bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra còn thể hiện ý nghĩa nhân đạo, ý nghĩa xã hội sâu sắc Thông qua quy định và việc vận dụng chế định này để giải quyết những vụ việc trên thực tế góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành

vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất nói riêng Ngoài người vi phạm, những người khác cũng sẽ thấy nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Mặt khác, chế định bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra còn có ý nghĩa lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, bảo vệ mạnh mẽ hơn những người bị thiệt hại và tăng cường mạnh mẽ trách nhiệm của người gây thiệt hại, thông qua những biệp pháp chế tài nghiêm khắc, từ đó ý thức pháp luật của người dân cũng được ngày càng nâng cao hơn

20 Thiennhien.net, Thái Nguyên: Đất bị ô nhiễm nặng do khai thác khoáng sản,

http://www.tinmoi.vn/thai-nguyen-dat-bi-o-nhiem-nang-do-khai-thac-khoang-san-01760852.html , [ ngày truy cập 11/10/2014]

Trang 34

Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất cũng đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra, góp phần làm mịnh thị các quy của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Ngoài ra, các quy định trên cũng đã tạo ra cơ sở pháp lý chặt chẽ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyển thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án, Trọng tài thực thi công lý bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ xác định và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm suy thoái, môi trường gây ra

Chính vì vậy, việc quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra nói chung hay trách nhiệm bồi thiệt hại do hành vi làm

ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách, có quy định rõ ràng, cụ thể, khi xảy ra sự việc thì cơ quan nhà nước có thể căn cứ vào đó mà giải quyết, tránh được những bức xúc trong lòng người dân

Trang 35

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO HÀNH VI LÀM Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường và những yếu tố này được quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra là một dạng cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do pháp luật dân sự hiện nay chỉ quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà không quy định cụ thể về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra Vì vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được dùng làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định như sau:

“ 1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự,

nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

“ 2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”

Theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ các yếu tố sau: phải có thiệt hại xảy ra; phải có hành vi trái pháp luật; phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại

và hành vi trái pháp luật; phải có lỗi của người gây thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm

ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng là loại trách nhiệm pháp lý, do đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái đất gây ra phát sinh khi thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định Trên cơ sở quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 và được hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, trách nhiệm

Trang 36

bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện sau:

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra

Có thiệt hại xảy ra là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường nói chung hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra nói riêng Bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng cân bằng vốn có trong các thành phần môi trường, khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do

đó nếu không có thiệt hại thì không đặt vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác

Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra (Điều 130) Đất được xác định là một thành phần của môi trường, vì vậy thiệt hại bởi ô nhiễm, suy thoái đất cũng bao gồm hai nhóm sau đây:

 Thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;

 Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra Đối với thiệt hại về sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, căn cứ

để xác định thiệt hại bao gồm: căn cứ vào mức độ chức năng, tính hữu ích của môi trường Có thể hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi:

một là, chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu

chuẩn về chất lượng môi trường; hai là, lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục hoặc lớn hơn lượng thay thế; ba là, lượng chất thải

thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự làm sạch của chúng Theo quy định Luật bảo vệ môi trường năm 2005, thì sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được biểu hiện ở ba cấp độ21:

 Có suy giảm;

 Suy giảm nghiêm trọng;

 Suy giảm đặc biệt nghiêm trọng

Các quy định này của pháp luật bước đầu phản ánh được các tầng nấc các mức

độ nghiêm trọng của thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm, suy thoái môi trường và trách

21

Khoản 1 Điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2005

Trang 37

nhiệm của người gây ô nhiễm Mức độ sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thường được xác định dựa vào mức độ suy giảm về chất lượng, số lượng của các yếu tố môi trường và khả năng tiếp nhận, hấp thụ tự nhiên các loại chất thải của môi trường Vì thế, có thể xác định mức độ sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thông qua mức độ ô nhiễm hay suy thoái của một hoặc nhiều thành phần môi trường Cụ thể:

Về mức độ ô nhiễm môi trường: hiện tại, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 xác định có 3 mức độ của sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, đó là: có suy giảm; suy giảm nghiêm trọng; suy giảm đặc biệt nghiêm trọng (Khoản 1 Điều 131) Tương ứng với ba mức sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là ba mức độ ô nhiễm môi trường Đó là ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng Một thành phần môi trường bị coi

là ô nhiễm khi hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên

22 Có thể thấy, Luật bảo vệ môi trường 2005 đã thể hiện sự phát triển đáng ghi nhận khi căn cứ vào tiêu chuẩn môi trường để lượng hóa ở mức có thể nhận diện được các cấp độ ô nhiễm môi trường (Điều 92)

Về mức độ ô nhiễm môi trường đất thì được pháp luật quy định về gới hạn tối đa cho phép của các chất trong trong tầng đất mặt Các thông số giới hạn trên này được

quy định theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc

gia về chất lượng đất biên soạn, Vụ Môi trường và Vụ Pháp chế trình duyệt23

Ví dụ: Trong vụ công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái chôn thuốc bảo vệ thực vật độc hại xuống môi trường đất Theo kết quả xét nghiệm, rất nhiều mẫu đất, nước có chất độc hại cao gấp nhiều lần cho phép, có chất độc hại vượt tới gần 10.000 lần Theo kết quả trên, mẫu D1 (mẫu đất) phát hiện 7/11 chỉ tiêu vi phạm; trong đó, chất cypermethrin là thuốc sâu độc nhóm II, kết quả kiểm nghiệm vượt 63,2 lần cho phép; isoprothiolane là thuốc trừ bệnh độc nhóm III, kết quả kiểm nghiệm vượt 37,8 lần; chất cypermethrin còn các mẫu D3, D4 vượt 9.276 lần cho phép; chất beta

Trang 38

cyperthrin vượt 7.710 lần; chất fenobucard là thuốc trừ sâu độc nhóm II, kết quả kiểm nghiệm vượt 60 lần so với quy định tại QCVN 15: 2008

Trên cơ sở kết quả kiểm nghiệm mẫu vật trên, thì khu vực môi trượng bị ô nhiễm tại đây ở mức độ ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng theo Khoản 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 và căn cứ khoản 1 điều 9 thông tư 04/2012/TT-BTNMT ngày 8.5.2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá kết luận công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng24

Về mức độ suy thoái môi trường: Cũng tương ứng với ba mức suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, và giống với mức độ ô nhiễm môi trường, cũng có

ba mức độ suy thoái môi trường Đó là suy thoái môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng, suy thoái môi trường đặc biệt nghiêm trọng Mức độ suy thoái môi trường đối với từng thành phần môi trường cụ thể thường được xác định dựa trên cơ sở

số lượng của thành phần môi trường bị khai thác, sử dụng so với trữ lượng tự nhiên của nó; dựa trên mức độ khan hiếm của chính thành phần môi trường ấy trên thực tế hay mức độ ưu tiên của Nhà nước trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển mỗi thành phần môi trường Như vậy, có thể xác định rõ ba mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường như sau:

 Mức 1 – Suy giảm: Đây là mức gây thiệt hại thấp nhất có thể được áp dụng trong trường hợp trong trường hợp môi trường bị ô nhiễm hoặc bị suy thoái;

 Mức 2 – Suy giảm nghiêm trọng: Mức thiệt hại này được xác định trong trường hợp môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc bị suy thoái nghiêm trọng;

 Mức 3 – Suy giảm đặc biệt nghiêm trọng: Đây là trường hợp gây ra thường được xác định tương đối lớn mà biểu hiện của nó là môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc suy thoái đặc biệt nghiêm trọng

Theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành, việc xác định thiệt hại

là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường trong trường hợp do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra sẽ được dựa trên các căn cứ sau:

 Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng bị thiệt hại: vùng lõi bị suy giảm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, vùng đệm trực tiếp bị suy giảm, vùng khác bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng đệm;

24

Lao Động, Vụ chôn thuốc trừ sâu: Đã có căn cứ khởi tố hình sự,

http://laodong.com.vn/xa-hoi/vu-chon-thuoc-tru-sau-da-co-can-cu-khoi-to-hinh-su-138831.bl , [ ngày truy cập 13/10/2013]

Trang 39

 Xác định số lượng thành phần môi trường bị thiệt hại, loại hình sinh thái, giống loài bị thiệt hại, mức độ thiệt hại của từng thành phần

Đối thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra Vấn đề này, Bộ luật dân sự năm 2005 hiện hành đã có các quy định làm căn cứ để xác định trách nhiệm cũng như mức độ bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường đất gây ra Để cụ thể hóa vấn đề này, tại Điểm 1.1 mục 1 phần 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

đã hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ để xác định thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra được

áp dụng giống như trong lĩnh vực dân sự nối chung ( quy định tại Khoản 6 Điều 131 Luật bảo vệ môi trường năm 2005) Cách thức xác định này được quy định một cách khái quát tại các Điều từ 608, 609 ,610, 612 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo đó, việc xác định thiệt hại trong lĩnh vực này được thực hiện dựa trên các căn cứ cơ bản sau:

 Căn cứ vào thiệt hại thực tế

 Căn cứ vào các chi phí hợp lý phát sinh từ những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, tài sản và các lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại

 Căn cứ vào những tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại hoặc những người thân của người bị thiệt hại phải gánh chịu

 Căn cứ vào các lợi ích bị xâm hại từ những tổn hại về tài sản

Như vậy, đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và các lợi ích hợp pháp

do ô nhiễm, suy thoái môi trường đất gây ra khi xác định thiệt cần phải dựa vào tổn thất thiệt hại thực tế, những chi phí liên quan đến thiệt hại và cả những lợi ích mà họ bị tổn hại do tài sản bị xâm phạm gây ra

2.1.2 Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là những hành vi mà pháp luật cấm, không cho phép thực hiện Cơ sở để xác định hành vi trái pháp luật là căn cứ vào quy định của pháp luật đối với từng trường hợp

cụ thể Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán

Trang 40

Tòa án nhân nhân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì “ hành vi trái pháp luật được hiểu là

những xử sự của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định pháp luật” Hành vi trái pháp luật làm ô nhiễm, suy thoái môi trường

đất được hiểu là các hành vi không tuân theo các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường đất xâm phạm các quyền của công dân được pháp luật bảo vệ như quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản Hành vi trái pháp luật môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung là căn cứ quan trọng

để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Hành vi trái pháp luật dưới dạng hành động gây thiệt hại cho môi trường đất là những chủ thể ( cá nhân, tổ chức) đã thực hiện những hành vi mà đáng ra không thực hiện hành vi đó, tức các tổ chức, cá nhân vì mục đích lợi nhuận kinh doanh, không muốn bỏ ra chi phí đầu tư trang thiết bị xử lý chất thải mà những chủ thể này đã dùng hành động lén lút

xả thải nhũng chất thải rắn, lỏng, khí vào môi trường đất làm môi trường đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, đồng thời gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của cá nhân, tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức

Hành vi trái pháp luật dưới dạng không hành động gây thiệt hại cho môi trường đất thì ngược lại chủ thể không thực hiện hành vi mà pháp luật quy định dẫn đến hệ

quả gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác Ví dụ: trong hoạt động sản xuất kinh

doanh một số doanh nghiệp đã thực hiện cam kết về hệ thống xử lý chất thải với cơ quan chức năng chuyên nghành trước khi đi vào hoạt động Thế nhưng trong quá trình sản xuất doanh nghiệp này đã không thực hiện cam kết, không hoạt động đúng về quy trình xử lý chất thải về bảo vệ môi trường làm cho môi trường đất nơi đó bị ô nhiễm

và suy thoái nghiêm trọng

Trên thực tế, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho môi trường đất rất đa dạng và được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tồn tại phổ biến một số dạng vi phạm như vi phạm quy chuẩn cho phép về giới hạn kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật trong giới hạn cho phép được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng đất Bên cạnh đó, các hình thức vi phạm môi trường khác suy cho cùng thì chúng cùng làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến ô nhiễm, suy thoái môi trường đất, các hoạt động trong quá trình khai thác, chế biến, sinh hoạt đều có thể làm ô nhiễm, suy thoái môi trường đất ở mức độ ít hay nhiều tùy thuộc vào cường độ gây ô nhiễm Các hành vi làm ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực khác như:

 Vi phạm các quy định thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào nguồn nước

 Vi phạm các quy định thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w