1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự

240 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 28,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp bình luận được vận dụng xuyên suốt trong cả 2 chương của luận văn nhằm làm rõ TNBTTH của người thi hành công vụ gây ra trong ho

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA TRONG

Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Văn Đại, các số liệu kết quả nêu

trong Luận văn là trung thực, chính xác, chưa được công bố ở bất cứ công trình nào và có trích dẫn nguồn đầy đủ

Học Viên

Lê Mạnh Hùng

Trang 4

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ Luật dân sự THADS : Thi hành án dân sự TNBTCNN : Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước TNBTTH : Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỠ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 10

1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự 10

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động Thi hành án dân sự 10

1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thiệt hại dân sự do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động Thi hành án dân sự 13

1.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động Thi hành án dân sự 15

1.3.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra 16

1.3.2 Có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ thuộc trường hợp được quy định 18

1.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật 30

1.3.4 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Thi hành án dân sự 32

1.3.5 Trường hợp không được bồi thường 35

1.4 Xác định thiệt hại được bồi thường 37

1.4.1 Thiệt hại vật chất được bồi thường 37

1.4.2 Thiệt hại về tinh thần 41

1.5 Nguyên tắc và thủ tục giải quyết bồi thường 43

1.5.1 Nguyên tắc giải quyết yêu cầu bồi thường của Nhà nước 43

1.5.2 Thủ tục yêu cầu giải quyết bồi thường 45

1.6 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường 53

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 55 CHƯƠNG 2 NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 57

2.1 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện về căn cứ xác định hành vi trái pháp

luật của người thi hành công vụ 57 2.2 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện về thời hiệu yêu cầu bồi thường 64

2.2.1 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện về căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ 64 2.2.2 Bất cập và kiến nghị hoàn thiệu về thời hạn yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết yêu cầu bồi thường 66

2.3 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện về thiệt hại không được bồi thường 68 2.4 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện về bồi thường tổn thất tinh thần 72 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỠ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong đời sống xã hội Đây cũng đồng thời là một nguyên tắc pháp lý hiến định (Điều 16 Hiến pháp 2013) Trong một Nhà nước pháp quyền, dân chủ thì quyền bình đẳng được thể hiện rõ nét trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Trên nguyên tắc bình đẳng này, trong quá trình Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua các hành vi của người thực thi công vụ nếu gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải bồi thường Cơ sở pháp

lý để giải quyết bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trước đây

đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như BLDS 1995, BLDS 2005; Nghị định số 47/CP ngày 03/05/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11… Đặc biệt là với việc Luật TNBTCNN được Quốc hội thông qua

ngày 18/6/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010) đã tạo cơ sở pháp lý

quan trọng cho việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường cũng như việc giải quyết bồi thường do người thi hành công vụ gây ra THADS là một trong những hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN và trên cơ sở các quy định của Luật, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 16/2010/NĐ-

CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số BQP ngày 15/12/2011 hướng dẫn thực hiện TNBTCNN trong hoạt động THADS (đến nay đã được thay thế Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện TNBTCNN) Như vậy, Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành đã thiết lập cơ chế pháp lý cho việc thực hiện TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra; nâng cao kỷ cương, trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức và đảm bảo quyền được bồi thường của các nhân, tổ chức khi bị thiệt hại nói chung cũng như trong hoạt động THADS nói riêng…Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS thời gian qua đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập, trong đó, nhiều vướng mắc,

Trang 8

24/2011/TTLT-BTP-bất cập có nguyên nhân xuất phát từ chính những quy định hiện hành của Luật cũng như của các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có:

Một là, Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường chưa thực sự tạo thuận lợi

cho người bị thiệt hại Theo Luật TNBTCNN thì một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường là phải có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định trong hoạt động THADS tại Điều 38 của Luật Tuy nhiên, để có văn bản này, người bị thiệt hại phải yêu cầu cơ quan THADS giải quyết thông qua trình tự, thủ tục giải quyết của Luật Khiếu nại Thực

tế, hiện nay còn nhiều trường hợp cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong tổ chức THADS của cơ quan THADS gây ra, nhưng người bị thiệt hại đang phải chờ cơ quan THADS giải quyết để ban hành quyết định giải quyết khiếu nại và xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

Hai là, thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định Luật TNBTCNN là 02

năm kể từ ngày có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường như Luật TNBTCNN hiện hành là chưa thống nhất với những quy định của pháp luật dân sự, gây khó hiểu

và nhầm lẫn cho người bị thiệt hại Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người

có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Mặt khác việc quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường chỉ cho phép trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường hoặc hết thời hạn ra quyết định mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định là quá ngắn, không tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại

Ba là, Luật TNBTCNN chưa có quy định bồi thường thiệt hại trong trường

hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi đã gây ra khó khăn trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết các trường hợp này Điều này cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động giải quyết bồi thường;

Bốn là, vấn đề bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần trong hoạt động

THADS vẫn chưa được quy định rõ ràng trong Luật TNBTCNN hiện hành, dẫn đến quan điểm và cách giải quyết việc bồi thường tổn thất tinh thần trong hoạt

Trang 9

động THADS chưa được thống, rõ ràng và không còn phù hợp với quy định tại Điều 30 và Điều 31 của Hiến pháp năm 2013

Thực trạng nêu trên, đòi hỏi phải tổng kết, đánh giá một cách thực chất tình hình thực hiện TNBTTH của Nhà nước do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS từ cả góc độ thể chế và thực tiễn thi hành có ý nghĩa quan trọng để từ đó đưa ra kiến nghị, khuyến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật về TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS Từ đó, học viên lựa chọn nghiên cứu đề

tài “TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS” làm

luận văn thạc sỹ luật học có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS là một vấn đề mới và chưa được đề cập, nghiên cứu nhiều dưới cả góc

độ khoa học và thực tiễn thi hành pháp luật Một số công trình liên quan đến đề tài ở những góc độ nhất định được công bố như sau:

Lê Thái Phương (2006), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của TNBTTH của Nhà nước, Luận văn thạc sĩ Luật học1 Luận văn đã khái quát một số nội dung về TNBTTH của Nhà nước, thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại, trong đó tác giả đã so sánh một số chế định cụ thể của pháp luật bồi thường thiệt hại Việt Nam với chế định tương ứng của một số nước trên thế giới Tuy nhiên do lựa chọn đề tài rất rộng, nên luận văn của tác giả chưa đi sâu phân tích, làm rõ TNBTCNN trong hoạt động thi hành án dân sự mà chỉ đề cập tới vấn

đề lý luận cũng như thực tiễn về một hoặc một số khía cạnh trong pháp luật về TNBTCNN, hơn nữa luận văn của tác giả được nghiên cứu trong bố cảnh trước khi Luật TNBTCNN được ban hành nên các căn cứ quy định, cũng như số liệu phân tích, minh hoạt trong luận văn tương đối lạc hậu và chưa đề cập một cách toàn diện tới việc TNBTCNN do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Nguyễn Đỗ Kiên (2014), Thực hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức

cơ quan hành chính Nhà nước gây ra ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học

Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 10

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh2 Luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích rõ nội dung thực hiện pháp luật về TNBTCNN, xác định các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường của Nhà nước cũng như đánh giá kết quả, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về TNBTCNN Trong Luận án tác giả

đã tập trung nghiên cứu về TNBTCNN ở nhiều cơ quan, trong đó có cơ quan THADS, tuy nhiên do đề tài quá rộng nên tác giả chưa đi sâu vào lĩnh vực THADS,

cụ thể là TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (2014), “Pháp luật Việt Nam về TNBTCNN”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội3 Trong cuốn sách này, trên cơ sở bình luận những bản án có tính điển hình, các tác giả đi sâu phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về TNBTCNN, từ đó bình luận, so sánh với những nội dung tương ứng của pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia khác nhau Qua đó, đưa ra một số ý kiến, đánh giá, nhận xét góp phần hoàn thiện pháp luật

về TNBTCNN nói chung và TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS nói riêng ở nước ta Đây là một tài liệu hữu ích, có giá trị tham khảo cao đối với những người làm công tác pháp luật và những học giả nghiên cứu về pháp luật bồi thường của Nhà nước Đặc biệt cuốn sách này đã giúp cho học viên được nghiên cứu một cách toàn diện về TNBTTH trong hoạt động THADS để hoàn thành cơ bản luận văn

Lê Thị Kim Dung và Nguyễn Văn Điệp (2014), “Thực tiễn giải quyết bồi thường Nhà nước trong hoạt động THADS”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (Số chuyên đề Thực tiễn thi hành Luật Luật TNBTCNN), NXB Tư pháp, Hà Nội4

Nội dung bài viết đề cập tương đối toàn diện về cơ sở pháp lý và phạm vi của việc giải quyết TNBTCNN trong công tác THADS; thực tiễn triển khai và thực hiện Luật TNBTCNN trong hệ thống cơ quan THADS và một số kinh nghiệm thực tiễn giải quyết bồi thường Nhà nước trong THADS Trong bài viết này các tác giả chủ yếu nêu lên các quy định của pháp luật và kinh nghiệm giải quyết các vụ việc cụ thể trong hoạt động giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thi

quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính

Quốc gia Hồ Chí Minh

3

Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín (2014), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của nhà nước,

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (Số chuyên đề Thực tiễn thi hành Luật Luật TNBTCNN),

NXB Tư pháp, Hà Nội

Trang 11

hành án dân sự sự mà chưa đi sâu phân tích những bất cập của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS

Ngoài ra, còn có một số bài viết có liên quan đến bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS được công bố trên các tạp chí, các trang web, một số bài báo, bài tham luận được trình bày trong các buổi hội thảo, tọa đàm về các lĩnh vực này cũng là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được học viên lựa chọn tham khảo khi thực hiện luận văn

Các công trình nghiên cứu về TNBTCNN đã được công bố chủ yếu tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giải quyết bồi thường thiệt hại do người

có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng và người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước gây ra mà chưa đề cập, nghiên cứu đầy

đủ, toàn diện về TNBTTH trong lĩnh vực THADS với những đặc thù nhất định

Do vậy, việc nghiên cứu TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS gắn với những đặc thù riêng của hoạt động này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường thiệt hại do người công vụ gây ra trong hoạt động THADS cũng như ngăn ngừa những hành vi vi phạm công vụ gây thiệt hại dẫn đến trách nhiệm bồi thường

Cho tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết và đặc biệt chỉ ra những điểm bất hợp lý trong pháp luật hiện nay và đề ra phướng hướng hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS theo tinh thần của Hiến pháp 2013, Bộ Luật dân sự 2015, Luật TNBTCNN năm 2009 và các văn bản pháp luật khác có liện quan

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Khi nghiên cứu đề tài, học viên hướng tới mục đích đầu tiên là hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan đến TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, bằng việc nghiên cứu các văn bản pháp luật như Bộ Luật dân sự 2015; Luật TNBTCNN; Luật THADS và các văn bản dưới luật, học viên mong muốn nêu lên một cách khái quát, toàn diện và đầy đủ về TNBTTH

do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS theo quy định của pháp luật, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về TNBTTH

do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, từ đó tiếp thu được

cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về TNBTTH do người thi

Trang 12

hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, nhận diện được những bấp cập của quy định pháp luật, đề xuất giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại trong THADS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Mục đích tiếp theo mà học viên mong muốn, hướng tới là luận văn sẽ trở thành một tài liệu khoa học pháp lý có giá trị khoa học nhất định phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động THADS Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung lý luận về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS từ góc độ lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật Những bất cập, đề xuất, giải pháp và kiến nghị được học viên trình bày trong luận văn, hy vọng sẽ có giá trị tham khảo, nghiên cứu trong việc xem xét sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN nói chung và TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS nói riêng Mục đích chính mà học viên mong muốn đạt được khi nghiên cứu và thực hiện đề tài khoa học này là tham gia đóng góp những giải pháp, đề xuất và kiến nghị những nội dung có giá trị pháp lý góp phần sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN phù hợp và theo kịp với yêu cầu thực tiễn của xã hội

4 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, Phương pháp

so sánh, Phương pháp tổng hợp, phương pháp duy vật biện chứng và một số phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác để làm rõ TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS Các phương pháp được dùng cụ thể như sau:

Phương pháp lịch sử được sử dụng nhiều tại Chương 1 của Luận văn, học viên dùng phương pháp này để làm rõ chế định bồi thường thiệt hại của Nhà nước và TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS được hình thành và phát triển như thế nào Học viên còn tiếp tục vận dụng phương pháp này trong Chương 2 để đánh giá thực trạng việc bồi thường thiệt hại của Nhà nước trước và sau khi áp dụng Luật TNBTCNN

Trang 13

Phương pháp so sánh được sử dụng ở một số mục của Chương 1 Áp dụng phương pháp so sánh này, học viên muốn trả lời câu hỏi, TNBTTH của Nhà nước có phải là một dạng của TNBTTH ngoài hợp đồng hay không Đồng thời phân tích, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam về TNBTCNN với các quy định cơ bản về TNBTCNN ở một số nước trên thế giới, từ đó nêu lên quan điểm của học viên

Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp bình luận được vận dụng xuyên suốt trong cả 2 chương của luận văn nhằm làm rõ TNBTTH của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS như: căn

cứ xác định trách nhiệm bồi thường, các loại thiệt hại được bồi thường, nguyên tắc và thủ tục giải quyết bồi thường, chủ thể có trách nhiệm bồi thường,

Thông qua các phương pháp khoa học nêu trên học viên muốn làm rõ vấn

đề là khi người thi hành công vụ trong hoạt động THADS mà gây ra thiệt hại cho

tổ chức, cá nhân thì được Nhà nước bồi thường, từ đó phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về TNBTTH của Nhà nước trong hoạt động THADS và đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNBTTH của Nhà nước nói chung và trong hoạt động THADS nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài khoa học luận văn thạc sĩ, học viên tập trung nghiên cứu TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS theo quy định pháp luật hiện hành ở nước ta TNBTTH do người thi hành công

vụ gây ra trong hoạt động THADS thực chất là TNBTCNN và còn bao gồm cả trách nhiệm hoàn trả tài sản, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đối với thiệt hại do có hành vi trái pháp luật gây ra Ở đây học viên chỉ nghiên cứu

về TNBTTH mà không nghiên cứu trách nhiệm hoàn trả Do vậy phạm vi mà học viên nghiên cứu bao gồm:

- Những vấn đề có bản về TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

- Căn cứ là phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

- Những thiệt hại được bồi thường và không được bồi thường trong hoạt động THADS

Trang 14

- Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường trong hoạt động THADS

- Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động THADS

- Những bấp cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN nói chung

và TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS riêng

Qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về TNBTTH do người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra khi trong hoạt động THADS và các quy định pháp luật về TNBTCNN, học viên mạnh dạn giới thiệu, nêu lên một vài quy định cơ bản về TNBTCNN ở một số nước trên thế giới như Pháp; Mỹ; Trung Quốc;…

Trong chương 2 của luận văn, học viên cung cấp những vụ việc trong thực

tế đã được các cơ quan có thẩm quyền có văn bản giải quyết và tiến hành thực hiện việc bồi thường thiệt hại, để tham khảo và cho thấy các bất cập, hạn chế trong việc áp dụng luật tại một số Tòa án và các cơ quan THADS Từ những bất cập, hạn chế, học viên mạnh dạn đưa ra quan điểm cá nhân, đề xuất các giải pháp, kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về TNBTCNN trong lĩnh vực THADS cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn

5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết

Thông qua việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đề tài này nội dung luận văn có một số điểm mới là:

Trong chương 1 của luận văn, học viên tập trung giải quyết những vấn đề mang tính lý luận, mạnh dạn xây dựng khái niệm pháp lý về khái niệm TNBTTH

do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, nghiên cứu, phân tích các căn cứ phát sinh và đặc điểm của TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, cũng như làm rõ các quy định về TNBTTH trong hoạt động THADS theo quy định của Luật TNBTCNN, có minh họa bằng những vụ việc cụ thể mà các cơ quan THADS phải bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ thuộc mình trực tiếp quản lý gây ra cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong phạm vi cả nước Ngoài ra, học viên còn nghiên cứu, tham khảo các quy định về TNBTCNN do người thi hành công vụ gây ra ở một số nước trên thế giới có thể được tìm hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhằm cung cấp, đánh giá một cách tổng thể toàn diện về TNBTCNN ở một số nước điển hình trên thế giới

có tính chất tham khảo cho việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam về

Trang 15

TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra nói chung và TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS nói riêng

Trong chương 2 của luận văn, học viên cập nhập những thông tin về số liệu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự, chỉ ra những bấp cập của pháp luật về TNBTCNN nói chung và bồi thường thiệt hại trong hoạt động THADS nói riêng, từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện những quy định pháp luật

về TNBTTH trong hoạt động THADS

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về TNBTTH do người thi hành công vụ

gây ra trong hoạt động THADS

Chương 2: Những bất cập và kiến nghị về TNBTTH do người thi hành

công vụ gây ra trong hoạt động THADS ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA

TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công

vụ gây ra trong hoạt động Thi hành án dân sự

Theo nguyên tắc chung của các mối quan hệ trong đời sống xã hội, khi giữa các bên chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng nếu có sự vi phạm, xâm hại quyền thì phải có nghĩa vụ khôi phục, bồi hoàn, bù đắp những tổn thất, thiệt hại gây ra Việc khôi phục, bồi hoàn, bù đắp những tổn thất, thiệt hại gây ra được khái quát chung là bồi thường thiệt hại

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì bồi thường là việc "đền bù những tổn thất

đã gây ra”5

và thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”.6 Trong khi đó, theo Từ điển Luật học có định nghĩa thiệt hại là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ”7 Như vậy, với các quan niệm như trên, có thể hiểu một cách chung nhất khái niệm thiệt hại là những tổn thất về vật chất và tinh thần của cá nhân, tổ chức Thiệt hại về vật chất bao gồm: tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được Thiệt hại về tinh thần bao gồm: tổn thất về danh

dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân

Về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại; bồi thường thiệt hại là việc bù đắp lại những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; do đó, bồi thường thiệt hại

là biện pháp trách nhiệm dân sự nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu, khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh

Hà Nội, tr 118

Trang 17

thần cho chủ thể bị thiệt hại - bên bị thiệt hại Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong luật dân sự Việt Nam và ra đời từ rất sớm8

Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là „„hình thức trách nhiệm dân

sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách

bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại”9

Theo đại từ điển tiếng Việt thì trách nhiệm là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”10 Như vậy có thể hiểu, trách nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng11

Theo quy định của pháp luật, TNBTTH là trách nhiệm dân sự, theo đó người gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình đã gây ra Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định: „„Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Từ đó, có thể hiểu một cách chung nhất TNBTTH là một dạng trách nhiệm pháp lý được đặt ra khi một bên gây ra thiệt hại làm tổn thất về tài sản, tính mạng, sức khỏe, uy tin, danh dư, nhân phẩm cho bên bị thiệt hại, theo đó bên gây thiệt hại phải đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm của mình gây ra bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết định”12

và theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc trình

tự tố tụng là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật”13 Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án quyết đinh của Tòa án đã có hiệu lực trên thực tế Yếu tố "dân sự” được hiểu là các bản án, quyết định dân sự kinh tế, lao động,

sự và hợp đồng dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, tr 700

9

Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa- NXB Tư pháp,

Hà Nội, tr 31

quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính

Quốc gia Hồ Chí Minh

Hà Nội, trang 464

Trang 18

hôn nhân và gia đình, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành

ở Việt Nam Như vậy, THADS là hoạt động do cơ quan thi hành án tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để đưa bản án quyết định dân sư của Tòa án hoặc các quyết định khác theo quy đinh của pháp luật, được thực hiện trên thực tế nhằm bảo đảm lợi ich của Nhà nước, quyền và lợi ich hợp pháp của các tổ chức, cán nhân

Theo Điều 106 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ:“Bản án, quyết định của Toà

án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Quy

định nêu trên là nguyên tắc hiến định và yêu cầu khách quan trong hoạt động THADS nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự Việc xác định đúng bản chất của hoạt động THADS sẽ tạo cơ sở cho việc quy định và giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ trong hoạt động THADS gây ra

Về bản chất, THADS là một dạng của hoạt động tư pháp vì THADS luôn gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa án, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền thực hiện Hoạt động THADS hiện nay, ngoài các

cơ quan THADS tổ chức thi hành thì còn có tổ chức thừa phát lại cũng thực hiện việc tổ chức THADS Cụ thể: theo pháp luật hiện hành Hoạt động thừa phát lại được thực hiện các công việc như sau: Tống đạt văn bản của Toà án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Với sự ra đời của Thừa phát lại, người dân có quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án tốt nhất, đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời Tuy nhiên, hoạt động thừa phát lại chưa có đạo luật có hiệu lực pháp lý cao, đồng bộ với các bộ luật, luật có liên quan để điều chỉnh về chế định này Hiện nay, cơ sở pháp lý cao nhất cho việc thí điểm là Nghị quyết của Quốc hội với những quy định mang tính chất chủ trương, còn tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại chỉ được quy định tại Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn; nhiều quy định pháp luật trong

Trang 19

các lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là pháp luật về tố tụng, tài chính - ngân hàng chưa đồng bộ, thậm chí còn là rào cản cho hoạt động của Thừa phát lại

Đối với hoạt động THADS do các cơ quan THADS tổ chức thi hành là một dạng của hoạt động tư pháp nhưng có những đặc thù riêng, trong quá trình

tổ chức THADS, thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có thể có quyết định, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến THADS Do vậy, việc quy định TNBTTH của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS là rất cần thiết Trong quá trình tổ chức thi hành án, người thi hành công vụ vi phạm các quy định pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường Theo quy định của Điều

38 Luật TNBTCNN thì Nhà nước có TNBTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp liên quan đến việc ra hoặc

cố ý không ra hoặc tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về: thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung huỷ quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm về thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án

Từ việc phân tích hoạt động THADS nêu trên và phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước do người vi phạm công vụ gây ra trong hoạt động THADS,

theo quan điểm cá nhân học viên có thể đưa ra khái niệm: TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS là trách nhiệm khôi phục, bù đắp những tổn thất, thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác do Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác ra hay cố ý không ra hoặc tổ chức thi hành hay không tổ chức thi hành các quyết định: thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án;

áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cư ng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án

1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thiệt hại dân sự do người thi hành công

vụ gây ra trong hoạt động Thi hành án dân sự

Như đã phân tích nêu trên, TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS chính là một dạng của TNBTCNN và cũng mang bản

Trang 20

chất là TNBTTH trong dân sự, do đó TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS có những đặc điểm sau đây:

Một là, TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động

THADS trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Trong quá trình thực thi công vụ, nếu những hoạt động của người thi hành công vụ nhân danh Nhà nước mà gây ra thiệt hại thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường Vấn đề bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra không phải do hành vi vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng, vì vậy TNBTTH do người thi hành công gây ra được đặt ra đối với các thiệt hại gây ra trong quá trình thực thi công vụ là trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng

Hai là, TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động

THADS không chỉ là trách nhiệm bồi thường tài sản mà còn là trách nhiệm khôi phục lại những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại:

TNBTTH do người thi hành công gây ra trong hoạt động THADS là một dạng trách nhiệm dân sự Do đó, trong quá trình thực thi công vụ, Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có thể gây

ra những thiệt hại về tài sản thì họ phải chịu trách nhiệm về tài sản hoặc họ có những hành vi làm tổn hại tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức khác thì họ phải bù đắp những tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại Ví dụ: do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ của cơ quan THADS đã

kê biên, bán căn nhà mà đã trải qua nhiều thế hệ của gia đình đã sinh sống Rõ ràng căn nhà không những là tài sản có giá trị lớn mà nói còn là kỷ vật, nơi đã xảy ra nhiều kỷ niệm có giá trị tinh thần đối với mọi người trong gia đình nên khi mất đi chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng lớn đến tinh thần của bị thiệt hại

Ba là, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường được thực hiện theo quy định

của Luật TNBTCNN, cụ thể là bắt buộc phải qua giai đoạn thương lượng giữa người yêu cầu bồi thường với cơ quan giải quyết việc bồi thường:

Đối với TNBTTH trong dân sự, bên bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay

ra Tòa án để yêu cầu giải quyết việc bồi thường trong khi đó, đối với TNBTCNN, khi có căn cứ xác định hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ là trái pháp luật, người bị thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu bồi thường đến

cơ quan có trách nhiệm bồi thường Người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc bồi thường sẽ tiến hành thương lượng về việc bồi thường Trong

Trang 21

trường hợp bên bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc bồi thường thì mới có quyền khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục Tố tụng dân sự

Bốn là, chủ thể trong TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong

hoạt động THADS gồm có: (i) Chủ thể được bồi thường là mọi cá nhân, tổ chức

bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS, mà không phân biệt cá nhân, tổ chức là trong nước hay ngoài nước14; (ii) Chủ thể gây thiệt hại là Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác; (iii) Chủ thể có trách nhiệm bồi thường là cơ quan THADS trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại

Năm là, TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động

THADS chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân Cụ thể là chỉ phát sinh khi có các quyết định, hành vi của thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác vi phạm các quy định pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động THADS Tuy nhiên, không phải mọi hành vi, quyết định trái pháp luật của người thi hành công vụ trong quá trình THADS đều phát sinh TNBTCNN, mà chỉ những hành vi, quyết định trái pháp luật trong lĩnh vực THADS thuộc quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN mà gây ra thiệt hại thì mới phát sinh TNBTCNN

1.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động Thi hành án dân sự

TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS là một loại trách nhiệm pháp lý và là một dạng của TNBTCNN, chỉ phát sinh khi hội đủ các điều kiện do luật định Trong trách nhiệm này, vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường là rất quan trọng So với TNBTTH ngoài hợp đồng, việc giải quyết TNBTTH của Nhà nước phức tạp hơn vì phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục nhất định TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS bản chất là TNBTCNN trong hoạt động THADS nên cơ bản có ba chủ thể là: người bị thiệt hại; người gây thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi

dự án Luật bồi thường của Nhà nước, Hà Nội

Trang 22

thường TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS là trách nhiệm xuất phát từ hành vi của người thi hành công vụ Đây được coi là một dạng trách nhiệm vì hành vi của người khác Để Nhà nước phải chịu TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS thì những điều kiện thông thường để quy trách nhiệm của người thi hành công vụ phải hội

đủ (với hàm ý là nếu không có Nhà nước thì chính người thi hành công vụ phải chịu trách nhiệm) Vì lẽ đó mà các căn cứ xác định TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS tập trung vào người thi hành công vụ, ở đây khi người bị thiệt hại có được văn bản của cơ quan Nhà nước thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật thì TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau: (1) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thuộc phạm vi TNBTCNN quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN; (3)

Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; (4) Lỗi của người gây ra thiệt hại được đặt ra khi người thi hành công vụ không thực hiện hành vi ra quyết định hoặc không tổ chức thi hành quyết định về thi hành án dân sự

1.3.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Thiệt hại thực tế được định nghĩa là những thiệt hại có thể tính toán được15 Cần nhận thức rõ rằng thiệt hại thực tế không có nghĩa là những thiệt hại

đã xảy ra, ngay sau thời điểm có sự kiện gây thiệt hại Những thiệt hại gián tiếp cũng thể hiện là thiệt hại thực tế nếu như nhất định sẽ xảy ra và có thể ước lượng được Trong TNBTTH ngoài hợp đồng, một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là phải có thiệt hại Đây là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi vì mục đích của bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lại hoàn toàn hoặc một phần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặc bù đắp những tổn thất do tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không thể xảy ra khi không có thiệt hại xảy ra16

Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về

căn cứ phát sinh trách nhiệm, Bộ luật dân sự đề cập đến “thiệt hại” Điều 6 Luật

ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 445

16 Đinh Thị Mai Phương (2009), Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu

công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, tr 61

Trang 23

TNBTCNN cũng quy định việc xác định TNBTCNN phải có các căn cứ sau đây:

“có thiệt hại thực tế” Bộ Luật dân sự yêu cầu có “thiệt hại xảy ra” còn Luật TNBTCNN yêu cầu có “thiệt hại thực tế” Ở đây có sự khác nhau về thuật ngữ,

nhưng không có sự khác biệt về nội dung giữa hai văn bản Tinh thần của hai văn bản này là nếu không có thiệt hại xảy ra trong thực tế thì TNBTTH không phát sinh

Về nội hàm thực tế, Luật yêu cầu phải có: “thiệt hại thực tế” và văn bản hướng dẫn

đã làm rõ khái niệm này Theo khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện TNBTCNN trong hoạt động THADS (Thông

tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP) quy định: “Thiệt hại thực tế là thiệt hại

có thực mà người bị thiệt hại phải chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định từ Điều 45 đến Điều 49 của Luật và pháp luật có liên quan” Như vậy, nếu người thi hành công vụ do hành vi trái pháp luật

gây ra thiệt hại thực tế thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: Quyết định số 145/QĐ-BTP ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Bộ Tư pháp về việc giải quyết khiếu nại của ông Võ Văn Học, bà Huỳnh Thị Nga trú tại thôn Thạch By 1, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi17

, trong quá trình tổ chức thi hành án Chi cục THADS huyện Đức Phổ đã áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tàu cá QNG số 94852-TS của vợ chồng ông Học, bà Nga không đúng quy định pháp luật và đã gây thiệt hại thực tế đối với con tàu nên Bộ Tư pháp

đã kết luận “thiệt hại về con tàu QNG 94852-TS của bà Nga, ông Học là có thật Trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại nói trên thuộc về Chi cục THADS huyện Đức Phổ” Như vậy khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật và hành vi trái pháp luật đã gây ra thiệt hại thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

Cũng từ quy định nêu trên, nếu người yêu cầu bồi thường không chứng minh được có thiệt hại thực tế thì Nhà nước sẽ không bồi thường Trong thực tiễn, đã có trường hợp người yêu cầu không chứng minh được là có thiệt hại thực

tế nên Tòa án từ chối yêu cầu bồi thường dù có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

Nga trú tại thôn Thạch By 1, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 24

Ví dụ: Bản án số 24/2012/DS-ST ngày 23/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai18, Hội đồng xét xử xét thấy “Đối với yêu cầu bồi thường 19.000.000đồng/tháng mà ông Liêm cho rằng đó là thiệt hại do không thể làm ăn, phát triển kinh tế vì đất bị cưỡng chế sai: vấn đề này Hội đồng xét xử nhận thấy: muốn có thu nhập phải đầu tư vốn, công sức chứ không phải chỉ để đất trống

là có được thu nhập Ông Liêm cũng không có chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận” Học viên nhận thấy, quyết định của Tòa án là rất thuyết phục, phù hợp với thực tiễn và bảo đảm cho việc bồi thường đúng với thiệt tế đã xảy ra

1.3.2 Có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại của người thi hành công

vụ thuộc trường hợp được quy định

Hành vi trái pháp luật là những hành vi xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Chỉ những quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp đó mới là hành vi trái pháp luật

Người thi hành công vụ có bổn phận thực hiện hành vi công vụ đúng khuôn khổ do pháp luật quy định Những hành vi vượt qua khỏi khuôn khổ pháp luật quy định bị coi là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, việc đánh giá thế nào là trái pháp luật đối với mỗi hành vi cũng không đơn giản mà phải xem xét một cách toàn diện và linh hoạt Ở Việt Nam hiện nay, về hành vi trái pháp luật, lý luận về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chỉ đề cập những điểm cơ bản trên những nguyên tắc chung của Luật Dân sự đó là không được xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác Việc xâm phạm mà gây ra thiệt hại có thể là hành

vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả hành vi vi phạm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư…19

Ở một số nước trên thế giới, lý luận về bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường Nhà nước nói riêng khá phong phú và phát triển theo những khuynh hướng khác nhau Các nhà luật học ở một số nước đã đưa ra quan niệm “chừng nào mà

Hà Nội, tr 265

Trang 25

hậu quả của hành vi của quyền lực công đi ngược lại pháp luật, nó cần phải coi là vi phạm pháp luật, bất luận hành vi tự nó là hợp pháp hay không”20 Các quan điểm này có ý nghĩa sâu sắc trong nhận thức về tính trái pháp luật của hành vi gây thiệt hại bởi người thi hành công vụ, thể hiện khuynh hướng đề cao các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức hay là đề cao quản lý Nhà nước

Hành vi trái pháp luật có thể là hành động hoặc không hành động Hành động là trường hợp người thực hiện công vụ đã làm việc đáng ra không được làm hoặc vượt quá phạm vi được phép (chủ động) Không hành động là trường hợp người đó không làm, không thực hiện nhiệm vụ đáng phải làm (thụ động) Trong lĩnh vực THADS, phạm vi TNBTCNN được quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN thì Nhà nước có TNBTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây: (i) Ra hoặc cố ý không ra quyết định về: thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung huỷ quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm về thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án (ii) Tổ chức thi hành hoặc

cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án nêu trên và được cụ thể hóa tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP trong lĩnh vực THADS Theo đó, TNBTCNN trong hoạt động THADS phát sinh trong những trường hợp sau:

1.3.2.1 Trường hợp ra quyết định thi hành án trái pháp luật hoặc không

ra quyết định thi hành án

Quyết định thi hành án “là văn bản do Thủ trưởng cơ quan Thi hành án

dân sự ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để thi hành một hoặc nhiều khoản của bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành

án dân sự, làm căn cứ để Chấp hành viên lập hồ sơ và tổ chức việc thi hành

án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các

THADS thì trước khi tổ chức THADS Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án phải ra quyết định thi hành án để đảm bảo quyền và lợi ích

thường và đền bồi”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số chuyên đề pháp luật bồi thường nhà nước), Hà Nội, tr 45

sự, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 45

Trang 26

cho các đương sự Chính vì vậy, Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án phải có trách nhiệm ra quyết định thi hành án phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo được quyền, lợi ích của đương sự Đối với những quyết định thi hành án trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS gây thiệt hại, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của đương sự thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra

Ví dụ: Quyết định số 16/QĐ-THA ngày 28 tháng 02 năm 2012 của Cục THADS tỉnh Đồng Nai 22

xác định: Chi cục THADS thành phố Biên Hòa đã ban hành Quyết định số 288/QĐ-CCTHA ngày 10/10/2011 khi bản án sơ thẩm đang

bị kháng cáo, là chưa phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự trái quy định pháp luật, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của công ty là có cơ sở Do đó, ngày 18 tháng 10 năm 2012 Chi cục THADS thành phố Biên Hòa đã ban hành Quyết định số 04/QĐ-CCTHA23

để bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH Nhà thép tiền chế Zamil Steel Việt Nam số tiền là

1.174.655.138 đồng (một tỷ, một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm năm mươi lăm ngàn, một trăm ba mươi tám đồng)

Ngoài ra, đối với các trường hợp quy đinh tại khoản 1 Điều 36, Luật THADS như đối với bản án, quyết định về phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung công quỹ Nhà nước và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời việc thi hành án là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước và bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định thì pháp luật quy định Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án Trong trường Thủ trưởng cơ quan THADS không ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản

1, khoản 2 Điều 36 Luật THADS thì phải chịu TNBTTH đối với những thiệt hại

mà hành vi đó gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật TNBTCNN

Ví dụ: Do Công ty M không trả tiền bồi thường cho Công ty N số tiền là

100 triệu đồng theo phán quyết của Hội đồng Trọng tài tỉnh A, nên Công ty N

đã làm đơn yêu cầu Cuc THADS tỉnh A ra quyết định THADS để thi hành phán quyết của Hội đồng Trọng tài Theo quy định tại Điều 35 Luật THADS thì thẩm

Trang 27

quyền ra quyết định thi hành án trong trường hợp này là Cơ quan THADS cấp tỉnh, nhưng Cục THADS tỉnh A không ra quyết định THADS vì cho rằng vụ việc trên không thuộc thẩm quyền của mình Trong trường hợp này nếu do việc không ra quyết định THADS của Cục THADS tỉnh A mà gây ra thiệt hại với Công ty N thì phát sinh trách nhiệm bồi thiệt trong hoạt động THADS theo Luật TNBTCNN

1.3.2.2 Trường hợp ra hoặc không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án

Trong thực tiễn có những trường hợp quyết định về thi hành án đã ban hành nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã không thể đưa ra thi hành Theo

đó, nếu Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên trong phạm vi nhiệm vu, quyền hạn của mình được pháp luật quy định mà ra quyết định thu hồi, sửa đổi,

bổ sung, hủy các quyết định về thi hành án nhưng không dựa trên các căn cứ được quy định tại Điều 37 Luật THADS thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS Cụ thể khoản 1 Điều 37 Luật THADS quy định: Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền; quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; căn cứ

ra quyết định về thi hành án không còn; trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật THADS

Như vậy, trong trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành

án, quyết định thu hồi quyết định thi hành án không đúng quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật THADS gây ra thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tồ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến THADS thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: Bản án số 07/2007/DSST ngày 12/02/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang24, cụ thể: Cơ quan THADS tỉnh An Giang đã ra Quyết định số 352/QĐ-THA, ngày 30/5/2000 thu hồi Quyết định số 517/UT.THA, ngày 25/10/1999 làm cho hợp đồng mua bán tài sản bị hủy bỏ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi Cơ quan THADS tỉnh An Giang

Với ví dụ nêu trên cho thấy do Cơ quan THADS tỉnh An Giang đã ra Quyết định thu hồi Quyết định thi hành án trái pháp luật, do đó trong trường hợp này, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Luật TNBTCNN đã phát sinh

24

Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (2007), Bản án số 07/2007/DSST

Trang 28

TNBTTH trong hoạt động THADS do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra do “Ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án” không đúng pháp luật

Bên cạnh đó, trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án khi có đầy đủ các căn cứ thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật, nếu gây ra thiệt hại và ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của đương sự thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Với quy định trên, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm bồi thường khi người của cơ quan THADS ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án mà còn có trách nhiệm bồi thường khi người của cơ quan THADS không ra quyết định thu hồi

Ví dụ: Chi cuc Thi hành án huyện B đã ra Quyết định thi hành án số 01/QĐ-THADS theo phán quyết của Hội đồng Trọng tài thương mại và yêu cầu của Công ty N Sau khi nhận được hồ sơ và chuẩn bị tổ chức việc thi hành án, Chấp hành viên C đã đối chiếu với quy định tại Điều 35 Luật THADS thì thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong trường hợp này là Cơ quan THADS cấp tỉnh nên đã đề nghị Chi cục trưởng Chi cuc Thi hành án huyện B ra quyết định thu hồi Quyết định thi hành án số 01/QĐ-THADS để hướng dẫn Công ty N gửi

hồ sơ yêu cầu Cơ quan THADS cấp tỉnh ra quyết định thi hành án, nhưng Chi cục trưởng Chi cục thi hành án huyện B vẫn không ra quyết định thu hồi Quyết định thi hành án số 01/QĐ-THADS Trong trường hợp này nếu gây ra thiệt hại thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thiệt trong hoạt động THADS theo Luật TNBTCNN

1.3.2.3 Trường hợp ra hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án

Biện pháp bảo đảm THADS “là biện pháp pháp lý được Chấp hành

viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng

bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn

Trang 29

tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cư ng chế THADS trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án”25 Theo quy định tại Điều 66 Luật THADS thì Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Nếu Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm trái quy định của pháp luật như ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm không có cơ sở, không đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật, khác với yêu cầu của đương sự hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự mà gây ra thiệt hại cho người bị

áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc người thứ ba có liên quan thì cũng sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Trong trường hợp Chấp hành viên không ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án khi đã có đầy đủ căn cứ áp dụng biện pháp bảo đảm trong trường hợp tự mình áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án hoặc trường hợp

áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo yêu cầu của đương sự Nếu việc không ra quyết định này mà gây ra thiệt hại cho những người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây

ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: Trong quá trình tổ chức việc thi hành án, Chấp hành viên xác minh

và biết được người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán tài sản trong tài khoản của người phải thi hành án mà Chấp hành viên không ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (biện pháp phong tỏa tài khoản) làm phát sinh thiệt hại cho những người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan trong hoạt động thi hành án thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

1.3.2.4 Đối với trường hợp ra hoặc không ra quyết định cư ng chế thi hành án

Cưỡng chế THADS là “biện pháp cư ng bức do cơ quan thi hành án

áp dụng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện đúng những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài

Hà Nội, tr 6

Trang 30

sản theo bản án, quyết định dân sự đã tuyên của các cơ quan tài phán”26

Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS do pháp luật quy định và chỉ được đưa ra quyết định cưỡng chế khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án Do vậy, khi Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể nào đó mà vi phạm các nguyên tắc được pháp luật quy định như ra quyết định cưỡng chế khi chưa hết thời hạn tự nguyện thi hành án “là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”27; ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế không tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án; ra quyết định cưỡng chế thi hành án khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy đinh đối với biện pháp cưỡng chế

đó, việc ra quyết định cưỡng chế trái với quy định của pháp luật mà gây ra thiệt hại tới người có quyền, lợi ích và nghĩa vu liên quan trong hoạt động thi hành án thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS Để hiểu rõ quy định trên, chúng ta nghiên cứu vụ việc xảy ra trong thực tiễn về việc ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế không đúng quy định pháp luật sau đây:

Bản án số 05/2012/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh28, theo Hội đồng xét xử: “… đây là tài sản chung của bà Hỵ

- ông Mừng, các bản án – quyết định chỉ buộc ông Mừng trả nhưng kê biên hết nhà đất của vợ chồng là không đúng mà chỉ được kê biên 50% yêu cầu của bà Hỵ là có cơ sở nên cần chấp nhận: buộc Chi cục Thi hành án dân sự thị

xã Tây Ninh phải có trách nhiệm bồi thường”

Trong vụ việc nêu trên, Chi cục THADS thị xã Tây Ninh đã ra quyết định cưỡng chế kê biên hết tài sản chung là nhà và đất của vợ chồng Lê Văn Mừng và bà Nguyễn Thị Hỵ để trả nợ riêng của ông Mừng là sai với pháp luật THADS và Luật hôn nhân gia đình, do đó Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã buộc Chi cục THADS thị xã Tây Ninh bồi thường cho bà Nguyễn Thị Hỵ 251.233.182 đồng Trường hợp nêu trên đã phát sinh TNBTCNN trong hoạt động THADS được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Luật TNBTCNN

Trang 31

Bên cạnh đó, khi có căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án như

đã có bản án, quyết định của Tòa án; quyết định thi hành án…trừ trường hợp bản

án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án quy định tại Điều 130 Luật THADS, nếu Chấp hành viên không ra quyết định cưỡng chế thi hành án khi đã có đủ điều kiện mà gây ra thiệt hại thì trong trường hợp này cơ quan THADS phải có trách nhiệm bồi thường

Với quy định trên, TNBTCNN phát sinh không chỉ đối với trường hợp người của cơ quan THADS ra quyết định cưỡng chế THADS trái pháp luật mà còn cả đối với trường hợp họ không ra quyết định cưỡng chế thi hành án

Ví dụ: Bản án Dân sự Phúc thẩm số 66/DS-PT ngày 6/6/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh N tuyên A có nghĩa vụ trả cho B số tiền 900 triệu đồng B có đơn yêu cầu thi hành án Chấp hành viên C đã tiến hành xác minh tài sản của A chỉ

có 1 chiếc xe ô tô Đồng thời B đã có đơn yêu cầu Chấp hành viên C kê biên chiếc xe ô tô của A để phát mãi trả tiền cho B Hết thời hạn tự nguyện thi hành

án A vẫn không thực hiện nghĩa vụ thi hành án nhưng Chấp hành viên C vẫn không ra quyết định cưỡng chế kê biên chiếc xe ô tô của A, dẫn đến A đã bán chiếc xe ô tô để lấy tiền tiêu sài không còn tài sản để thi hành nghĩa vụ thi hành

án Trong trường hợp này do Chấp hành viên C không ra quyết định cưỡng chế thi hành án nếu gây ra thiệt hại cho B thì đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

1.3.2.5 Đối với trường hợp ra hoặc không ra quyết định thi hành án để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Biện pháp khẩn cấp tạm thời “là biện pháp do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hoặc được áp dụng độc lập với vụ việc đó nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ chứng cứ hoặc bảo đảm cho việc thi hành án dân sự” 29 Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể gây ra thiệt hại về quyền và lợi ích cho bên bị áp dụng và người khác Do đó, khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải rất thận trọng, phải thực hiện đúng quy định của pháp luật Căn cứ vào tính chất khẩn cấp của biện pháp khẩn cấp tạm thời mà các quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ biện pháp này cũng cần được thi hành nhanh chóng và kịp thời

sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 32

Theo đó, trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trái pháp luật hoặc Thủ trưởng cơ quan THADS không ra quyết định để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án theo quy định của Luật THADS mà gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động THADS thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu B chia tài tài sản chung, A yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc B “cấm chuyển dịch quyền và tài sản đối với tài sản đang có tranh chấp” Tuy nhiên, hết thời hạn 24 giờ kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ Tòa án mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án vẫn cố ý không ra quyết định thi hành án Việc cố ý không ra quyết định thi hành án này của Thủ trưởng cơ quan thi hành án mà gây thiệt hại cho A thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan thi hành án dân sự gây ra

1.3.2.6 Đối với trường hợp ra hoặc không ra quyết định hoãn thi hành án Theo Từ điển tiếng Việt “hoãn” là “chuyển thời điểm đã định để làm việc

gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”30 Trong khoa học pháp lý, “hoãn thi hành

án là chuyển thời điểm thi hành bản án, quyết định dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn” 31 Trong hoạt động THADS, hoãn thi hành án là việc cơ quan THADS quyết định chưa tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án khi có căn cứ pháp luật quy đinh Trong một số trường hợp, để đảm bảo cho việc THADS được hiệu quả, pháp luật quy định Thủ trưởng cơ quan THADS có quyền chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp như: người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của

cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án… khi có yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị theo Điều 48 Luật THADS Tuy nhiên, trong trường hợp thủ trương cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án trái pháp luật hay không chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi có đủ điều kiện mà gây ra thiệt hại thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Nội, tr 197

Trang 33

Ví dụ: Trong quá trình thi hành án, cơ quan THADS đã nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án 03 tháng đối với việc buộc ông Nguyễn Văn A phải trả căn nhà số 135 mà ông A đang ở để giao trả cho bà B Tuy nhiên, cơ quan thi hành án vẫn tiến hành cưỡng chế buộc ông Nguyễn Văn A phải trả căn nhà số 135 mà ông A đang ở để giao trả cho bà B Việc Thủ trưởng cơ quan THADS không chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi đã nhận được văn bản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có thẩm quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án 03 tháng là vi phạm khoản 2 khoản 3 Điều 48, Luật THADS, trong trường hợp này nếu gây thiệt cho ông Nguyễn Văn A thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

1.3.2.7 Trường hợp ra hoặc không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án Theo Từ điển tiếng Việt, “tạm” là “làm việc gì đó ngừng lại trong một thời gian, khi có điều kiện sẽ thay đổi”32

Trong khoa học pháp lí,“tạm đình chỉ thi hành án là tạm thời ngừng việc thi hành bản án, quyết định dân sự đang được thi hành”33 Tạm đình chỉ THADS là việc cơ quan THADS quyết định tạm ngừng thi hành bản án, quyết định dân sư của Tòa án khi có căn cứ pháp luật quy định Thủ trưởng cơ quan THADS có quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành

án theo quy định tại Điều 49 Luât THADS Tuy nhiên, trong trường hợp thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án nhưng không đủ căn cứ pháp luật hoặc không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trái pháp luật

và gây ra thiệt hại thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: Mặc dù, đã nhận được quyết định tạm đình chỉ của Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh A nhưng Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án huyện B vẫn tiến hành thi hành án mà không ra quyết định tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 49 Luật THADS Do đó, trong trường hợp này nếu hành vi không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án của Cơ quan thi hành án huyện B gây thiệt hại cho

tổ chức, cá nhân thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động THADS

Nội, tr 229

Trang 34

1.3.2.8 Trường hợp ra hoặc không ra quyết định đình chỉ thi hành án Theo Từ điển tiếng Việt “đình chỉ” là “ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hoặc vĩnh viễn”34 Trong khoa học pháp lí, “đình chỉ thi hành án” là “ngừng việc thi hành bản án, quyết định dân sự”35 Như vậy, đình chỉ thi hành án là việc chấm dứt thi hành đối với bản án, quyết định của Tòa

án Từ thời điểm cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án thì hoạt động thi hành án cũng đương nhiên chấm dứt, bản án, quyết định sẽ không được đưa ra thi hành nữa, các bên đương sự cũng chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của

họ đã tuyên trong bản án, quyết định kể cả nghĩa vụ đối với Nhà nước Pháp luật cho phép cơ quan THADS quyết định ngừng hẳn việc THADS khi có đủ căn cứ pháp luật quy định tại Điều 50 Luật THADS Mặc dù vậy, trong một số trường hợp Thủ trưởng cơ quan THADS lại ra quyết định đình chỉ thi hành án trái pháp luật hoặc không ra quyết định đình chỉ THADS khi việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 Luât THADS, nếu việc ra hoặc không ra các quyết định này của Thủ trưởng cơ quan THADS gây ra thiệt hại cho người phải thi hành án hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành án thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm số 68/DS-ST ngày 20/5/2012 của Tòa án Nhân dân buộc ông Trần Văn A phải trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 500 triệu đồng Bà B có đơn yêu cầu thi hành án Trong quá trình thi hành án, bà Nguyễn Thị B bị đột tử Cơ quan THADS xác định bà B không có người thừa kế Tuy nhiên, Thủ trưởng cơ quan THADS không ra quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật THADS mà vẫn tiếp tục tổ chức thi hành án Việc không ra quyết định đình chỉ thi hành án mà gây thiệt hại cho ông Trần Văn A thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

1.3.2.9 Trường hợp ra hoặc không ra quyết định tiếp tục thi hành án

Theo quy định tại khoản 4 Điều 48 và khoản 3 Điều 49 Luật THADS quy định Luật THADS thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi

Nội, tr 229

Trang 35

hành án không còn thì Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định tiếp tục thi hành án Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây: quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị; quyết định của Tòa án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Theo quy định nêu trên thì trong quá trình thi hành án nếu thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án khi không có một trong các căn cứ nêu trên hoặc không ra quyết định tiếp tục thi hành án khi có các căn cứ trên mà gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ có liên quan trong thi hành án thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS và Nhà nước có TNBTTH theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 38 Luật TNBTCNN

Ví dụ: Hết thời gian hoãn việc thi hành án 03 tháng theo văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền, Cơ quan THADS không ra quyết định tiếp tục thi hành án để buộc ông Nguyễn Văn A phải trả căn nhà số 135 mà ông A đang ở để giao trả cho bà B là trái quy định pháp luật Việc không ra quyết định tiếp tục thi hành án mà gây thiệt hại cho bà B thì sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS

1.3.2.10 Trường hợp tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án

Để các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan khác theo quy định của pháp luật khi đã có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay được thực hiện trên thực tế, Nhà nước đã trao cho cơ quan THADS có trách nhiệm tổ chức việc thi hành các bản án, quyết định dân sự

đó Khi thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định của cơ quan khác thì cơ quan thi hành án phải có trách nhiệm thi hành một cách đầy đủ, kịp thời và đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên Do vậy, trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định của cơ quan thi hành án mà thủ trưởng

cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có hành vi trái pháp luật hoặc không tổ chức thi hành các quyết định này dẫn đến gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ có liên quan trong thi hành án thì

Trang 36

sẽ phát sinh TNBTTH do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS Luật TNBTCNN đã đưa ra một danh sách dạng liệt kê những trường hợp được bồi thường thiệt hại trong hoạt động THADS đã được nêu trên, khoản 2 Điều 38 Luật TNBTCNN còn quy định: “Nhà nước có TNBTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây: “Tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành quyết định định tại khoản 1 Điều này”

Ví dụ: Bản án số 81/2013/DS-PT ngày 06 tháng 5 năm 2013 của Tòa án nhâ dân tỉnh Đồng Nai36

, cụ thể: Tòa án cấp phúc thẩm đã kết luận: “có đủ căn cứ xác định việc Chấp hành viên Chi cục THADS huyện Trảng Bom tổ chức bán đấu giá tài sản và thi hành án không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại

về tài sản cho ông Liêm Như vậy, Chấp hành viên Chi cục THADS huyện Trảng Bom là người có lỗi gây ra toàn bộ thiệt hại cho ông Liêm nên ông Liêm

có quyền khởi kiện yêu cầu Chi cục THADS huyện Trảng Bom phải bồi thường theo quy định tại các Điều 6, 22, 23, 38, 40, 41, 44 Luật TNBTCNN”

Theo học viên, Tòa án đã xác định vụ việc của ông Liêm thuộc phạm vi TNBTCNN trong hoạt động THADS là đúng pháp luật và thuyết phục Đây là trường hợp có TNBTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong trường hợp “Tổ chức thi hành quyết định thi hành án” theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật TNBTCNN

Từ những phân tích nêu trên, ta có thể thấy quy định của pháp luật hiện hành về phạm vi TNBTCNN còn hẹp bởi hiện nay Luật TNBTCNN chỉ quy định TNBTCNN trong ba hoạt động là quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng Bên cạnh đó, hoạt động THADS cũng chỉ giới hạn trong một số trường hợp cụ thể quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN Do đó, Luật TNBTCNN nói chung và trong THADS nói riêng đã giới hạn quyền khiếu nại, tố cáo và quyền được bồi thường về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân

1.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật

Quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ

và thiệt hại xảy ra đối với cá nhân, tổ chức là một trong những yếu tố bắt buộc

để khẳng định tính có căn cứ phát sinh TNBTCNN Theo trình tự logic trong mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra thì hành vi trái pháp

36

Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (2013), Bản án số 81/2013/DS-PT

Trang 37

luật đóng vai trò nguyên nhân, còn thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật Nguyên nhân là sự việc xảy ra trước, kết quả là sự việc xảy ra sau, nếu không có hành vi trái pháp luật thì không có thiệt hại xảy ra Nếu không xác định được mối quan hệ nhân quả này sẽ không xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi trái pháp luật

Thông thường ở hầu hết các nước, việc xem xét căn cứ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và thiệt hại khi áp dụng trách nhiệm bồi thường Nhà nước chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự nói chung Nếu đi sâu nghiên cứu quan điểm lý luận về mối quan hệ nhân quả có thể thấy giới luật học cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng trong đó có hai trường phái chính là “thuyết điều kiện cần thiết”: nguyên nhân được coi là hành vi trái pháp luật đầu tiên làm nảy sinh những hậu quả tiếp sau và kết quả không thể xảy ra nếu không có hành

vi ban đầu; và “thuyết nguyên nhân phổ biến”: trong những điều kiện thông thường hành vi có thể làm phát sinh hậu quả37

Nhìn chung, để xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong TNBTCNN, về cơ bản người ta vận dụng lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự nhưng mối quan hệ nhân quả

ở đây cũng có nét đặc thù riêng, đặc biệt là tình trạng có nhiều nguyên nhân (thường là rất phức tạp) cùng tác động dẫn đến hậu quả là sự thiệt hại về tài sản

và tổn thất tinh thần cho con người

1.3.3.1 Thiệt hại do hành vi trái pháp luật

Có thiệt hại và có hành vi chưa đủ mà cần phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi Yêu cầu quan hệ nhân quả này đã tồn tại trong các quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đối với TNBTCNN, Luật cũng yêu cầu tồn tại quan hệ nhân quả Trong hoạt động thi hành án, khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN cũng yêu cầu phải “có thiệt hại thực

tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại” Trong thực tế, có thể có nhiều thiệt hại và có một hoặc một số thiệt hại có quan hệ nhân quả với hành vi trái pháp luật thì chỉ có những thiệt hại có quan hệ nhân quả với hành vi của người thi hành công vụ mới được bồi thường,

Nội, trang 268

Trang 38

thiệt hại không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của người thi hành công

vụ thì không được bồi thường

Ví dụ: Bản án số 24/2012/DS-ST ngày 23/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom38, tỉnh Đồng Nai, Hội đồng xét xử xét thấy “Đối với yêu cầu bồi thường 19.000.000đồng/tháng mà ông Liêm cho rằng đó là thiệt hại do không thể làm ăn, phát triển kinh tế vì đất bị cưỡng chế sai: vấn đề này Hội đồng xét xử nhận thấy: muốn có thu nhập phải đầu tư vốn, công sức chứ không phải chỉ để đất trống

là có được thu nhập Ông liêm cũng không có chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận”

1.3.3.2 Thiệt hại gắn với công vụ

Chế định pháp luật về TNBTTH của Nhà nước chỉ điều chỉnh trường hợp Nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức khi nhân danh quyền lực công - tức là Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại Tuy nhiên, việc xác định phạm vi công

vụ là vấn đề quan trọng để xem xét có phải bồi thường thiệt hại hay không Theo Điều 3 Luật TNBTCNN thì người thi hành công vụ không chỉ là công chức, viên chức Nhà nước mà còn có thể là những đối tượng khác được giao thực hiện công

vụ mà pháp luật quy định

Người thi hành công vụ là một con người cụ thể nên bên cạnh tư cách người thi hành công vụ, họ còn là một con người thông thường Nếu gây thiệt hại với tư cách là một con người của đời thường thì họ phải tự bồi thường và Nhà nước không phải chịu trách nhiệm Do đó, để phát sinh TNBTCNN, thì thiệt hại phải sinh từ việc thi hành công vụ

Ví dụ: Đối với các cơ quan THADS trong việc tổ chức THADS thì thiệt hại phải do những người được phân công, giao nhiệm vụ tổ chức việc thi hành án, như Chấp hành viên phải kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền39

một số điều theo Luật số 64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014

Trang 39

trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, yếu tố lỗi cũng là một trong những điều kiện phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng Như vậy, “lỗi” là một yếu tố làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng40

Nhìn chung theo học lý lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại41 Quan hệ tâm lý ở đây bao gồm hai yếu tố, đó là lý chí và

ý chí Yếu tố lý chí thể hiện ở nhận thức thực tại khách quan (nhận thức được hoặc không nhận thức được mặc dù đủ điều kiện thực tế để nhận thức khả năng gây thiệt hại của hành vi) Yếu tố ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi (khả năng kiềm chế của hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng thực hiện hành

vi khác phù hợp với pháp luật) Như vậy, một người bị coi là có lỗi khi người

gây thiệt hại nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để điều khiển một hành vi khác không gây thiệt hại42

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân chia yếu tố lỗi, nhưng trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng nhìn chung là thống nhất trong việc phân chia lỗi thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi

vô ý Vấn đề đặt ra là yếu tố lỗi được xem xét khi nào trong TNBTCNN nói chung và bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS nói riêng

1.3.4.1 Trường hợp không cần lỗi của người thi hành công vu

Khi xây dự thảo Luật TNBTCNN năm 2008, tại khoản 4 Điều 7 quy định một trong bốn căn cứ xác định TNBTCNN là “Người thi hành công vụ có lỗi vô

ý hoặc cố ý, trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự” Tuy nhiên, theo

ý kiến của Ủy ban pháp luật Quốc hội, “Yếu tố lỗi của người thi hành công vụ chỉ nên sử dụng làm căn cứ xác định trách nhiệm hoàn trả của cán bộ, công chức đối với Nhà nước” Cuối cùng, trong Luật TNBTCNN, tại Điều 6 quy định về căn cứ xác định TNBTCNN, chúng ta không đề cập đến yêu tố lỗi Điều này cho thấy, lỗi của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không là căn cứ phát sinh TNBTCNN Như vậy, về nguyên tắc TNBTCNN phát sinh không cần yếu tố lỗi của người thi hành công vụ

Trang 40

Như đã phân tích ở trên, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Đối với dạng hành động

thì trong lĩnh vực THADS, Điều 38 Luật TNBTCNN quy định, “Nhà nước có

TNBTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây: 1 Ra (…); 2 Tổ chức thi hành (…)” và khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 xác định các hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THADS theo quy định tại Điều 38 của Luật ở dạng hành động là:

- Thủ trưởng cơ quan THADS ra các quyết định về thi hành án theo quy định của Luật THADS trái pháp luật; có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án;

- Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không có căn cứ pháp luật; ra quyết định quyết định cưỡng chế thi hành án trái pháp luật; Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án;

Như vậy, Luật TNBTCNN và Thông tư hướng dẫn thực hiện TNBTCNN trong hoạt động THADS đều nêu rõ đối với thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động THADS ở dạng hành động thì không cần yếu tố lỗi cũng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN

Trong thực tế, việc xác định lỗi của chủ thể thi hành công vụ đối với chủ thể bị thiệt hại là rất khó khăn nên việc không yêu cầu yếu tố lỗi của người thi hành công vụ là thuyết phục Hơn nữa, việc không yêu cầu thêm yếu tố lỗi là phù hợp với Hiến pháp hiện hành ở thời điểm xây dựng Luật TNBTCNN (HP 1992)

và Hiến pháp hiện hành vì các Hiến pháp này đều ghi nhận quyền được bồi thường của người dân mà không đòi hỏi yêu tố lỗi của người thi hành công vụ (người gây ra thiệt hại)43

1.3.4.2 Trường hợp cần lỗi của người thi hành công vụ

Nghiên cứu kỹ Luật TNBTCNN, vẫn còn một số trường hợp Luật vẫn yêu cầu yếu tố lỗi của Người thi hành công vụ, như trong lĩnh vực THADS, Điều 38

NXB Chính trị Quốc gia, TP HCM, tr 89-92

Ngày đăng: 21/04/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w