LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỀ BÀI: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG và án lệ điển hình... Những quy định c
Trang 1LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo
quy định của CISG và án lệ điển hình
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Những quy định cụ thể của CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG 1
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1
1.2 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 1
1.3 Quy định CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 2
2 Án lệ điển hình về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG 3
2.1 Tóm tắt vụ tranh chấp 4
2.2 Tóm tắt lập luận của nguyên đơn, bị đơn và cơ quan tài phán 4
3 Đánh giá, bình luận của nhóm 6
3.1 Đánh giá cách giải quyết vụ tranh chấp 6
3.2 Một số kiến nghị giải quyết vụ tranh chấp 7
4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 8
KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Hợp đồng thương mại quốc tế là cơ sở pháp lý trong hoạt động giao thương quốc tế được xác lập dựa trên quy định luật của các quốc gia (luật riêng) và luật của các quốc gia cùng tham gia (luật chung – công ước CISG 1980, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật về nguyên tắc giao kết hợp đồng của Châu Âu (Principles of European Contract Law – PECL), luật nước người bán, luật nước người mua, luật của nước thứ ba nơi giao kết hợp đồng ) Trong đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chiếm phần lớn các hợp đồng quốc tế liên quan đến thương mại Trong quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, vấn đề bồi thường thiệt hại là vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích của các bên Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là biện pháp pháp lý quan trọng có vai trò bù đắp cho bên bị thiệt hại (bên
có quyền) những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng Nhận thức được
tầm quan trọng, nhóm em xin được phân tích đề bài sau: “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG và án lệ điển hình.”
NỘI DUNG
1 Những quy định cụ thể của CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG.
1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
HĐMBHHQT là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế hay có yếu tố nước ngoài, theo đó một bên (người bán) có nghĩa vụ giao hàng, chứng từ liên quan hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa cho bên kia (người mua) và người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng
- Khái niệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận, theo thói quen trong thương mại giữa các bên, pháp luật điều chỉnh hợp đồng hoặc tập quán thương mại quy định
1.2 Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980.
Các chế tài do vi phạm HĐMBHHQT theo Công ước Viên 1980 được quy định như sau: Từ Điều 45 đến Điều 52 Công ước Viên 1980 liệt kê các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên bán và từ Điều 61 đến Điều 65 Công ước Viên
1980 liệt kê các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên mua và từ Điều 71 đến Điều 84 Công ước Viên 1980 quy định về các điều khoản chung cho
Trang 4nghĩa vụ của bên bán, bên mua Hệ thống chế tài được quy định trong Công ước Viên
1980 có thể sắp xếp thành 3 nhóm như sau: Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; Chế tài bồi thường thiệt hại; Chế tài hủy hợp đồng
1.3 Quy định CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Trách nhiệm về bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 74 đến Điều 77 Công ước Viên 1980 Điều 74 đưa ra công thức chung để tính toán tiền bồi thường; Điều
75 và Điều 76 quy định công thức tính toán tiền bồi trong trường hợp hợp đồng bị hủy; Điều 77 đề cập đến vấn đề giảm tiền bồi thường do bên đòi bồi thường không tiến hành các biện pháp hợp lý nhằm hạn chế tổn thất
- Về phạm vi thiệt hại được đền bù
Khi xác định thiệt hại, Công ước Viên 1980 giới hạn phạm vi thiệt hại được đền bù Điều 74 xác định phạm vi thiệt hại bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia
đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, Công ước Viên 1980 lại không đề cập đến việc phân loại tổn thất Việc phân loại tổn thất có thể căn cứ vào thực tiễn áp dụng Công ước Viên 1980, UNCITRAL như sau: Tổn thất phát sinh do làm chết hay thiệt hại về thân thể: không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên 1980 (Điều 5); Tổn thất phát sinh do thiệt hại tài sản khác: bao gồm trong quy định của Công ước Viên 1980 (Điều 5); Tổn thất phát sinh do thay đổi giá trị đồng tiền: Công ước Viên 1980 không có quy định cụ thể về tổn thất gây ra bởi đồng tiền mất giá Việc thiệt hại này có được bồi thường hay không tùy thuộc vào quyết định của tòa án; Tổn thất phát sinh do thiệt hại lợi ích phi vật chất: Đây là loại tổn thất khá thường gặp trong các tranh chấp phát sinh, nhưng Công ước Viên 1980 không có quy định về loại tổn thất này
- Về tính dự đoán trước của thiệt hại
Theo Điều 74 Công ước Viên 1980 quy định: Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết Thực tiễn cho thấy, một số phán quyết về sự mất mát danh tiếng nhìn chung là không thể dự liệu trước được; một số quyết định khác thì cho thấy rằng một số khoản tiền bồi thường
là có thể dự liệu trước được
- Về tính toán các khoản bồi thường thiệt hại khi hủy hợp đồng
(i) Trường hợp bên bị thiệt hại đã ký kết hợp đồng thay thế:
Theo Điều 75, thì lúc này công thức tính tiền bồi thường bằng khoản chênh lệch giữa giá hợp đồng gốc và giá hợp đồng thay thế Còn phần chênh lệch thì có thể được điều chỉnh tăng thêm các khoản tiền bồi thường tại Điều 74 hay điều chỉnh giảm đi các khoản đáng lẽ ra phải ngăn ngừa được theo nguyên tắc hạn chế tổn thất tại Điều 77
Điều kiện để áp dụng công thức theo Điều 75 như sau: Hợp đồng phải bị hủy; Hợp
đồng thay thế phải được ký kết; Hợp đồng thay thế phải được ký kết một cách hợp lý.
Trang 5(ii) Trường hợp bên bị thiệt hại chưa ký kết hợp đồng thay thế:
Trường hợp này được áp dụng công thức tại Điều 76 Điều kiện để áp dụng công thức theo Điều 76: Hợp đồng phải bị hủy; bên bị thiệt hại không ký kết hợp đồng thay thế; tồn tại giá hiện hành trên thị trường
- Về nghĩa vụ chứng minh và tiêu chuẩn của bằng chứng
Mặc dù không một công thức tính toán tiền bồi thường nào của Điều 74, 75 và 76 Công ước Viên 1980 chỉ định nghĩa vụ chứng minh nhưng các quyết định đều thống nhất rằng bên nào đòi tiền bồi thường thì phải có nghĩa vụ chứng minh Nếu không được chứng minh một cách hợp lý thì bên bị vi phạm có thể sẽ không được bồi thường
- Về tiền lãi
Điều 78 quy định về việc tính lãi trên khoản tiền chưa trả và không xác định cụ thể cách tính lãi suất nợ: “Nếu một bên hợp đồng không thanh toán tiền hàng hoặc một khoản tiền nào đó thì bên kia có quyền được hưởng tiền lãi tính trên khoản tiền đó
mà không ảnh hưởng đối với bất cứ yêu cầu nào về bồi thường thiệt hại có thể nhận được theo quy định của Điều 74
- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ và hạn chế tổn thất
- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ: Từ quy định tại Điều 74 Công ước Viên
1980, có thể suy ra nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ, rằng khoản tiền bồi thường thiệt hại phải đưa bên bị thiệt hại về tình trạng tài chính trước khi có vi phạm xảy ra
và hợp đồng được thực hiện đầy đủ
- Nguyên tắc hạn chế tổn thất: Điều 77 Công ước Viên 1980 quy định bên nào viện
dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn
cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Các biện pháp hạn chế tổn thất bao gồm: Biện pháp do người mua thực hiện và biện pháp do người bán thực hiện
- Khoản lợi bị bỏ lỡ
Điều 74 Công ước Viên 1980 quy định khoản lợi bị bỏ lỡ là bộ phận cấu thành của
số tiền bồi thường thiệt hại Thực tiễn trong một phán quyết, khoản lợi bị bỏ lỡ được tính toán bằng phần chênh lệch của giá hợp đồng và giá hiện hành của hàng hóa khi người mua không thể bán lại hàng hóa; một phán quyết khác thì được tính bằng phần chênh lệch của giá thành sản xuất của đơn vị hàng hóa khi sử dụng máy móc có khuyết tật của người mua và giá thành sản xuất đó giả định khi máy móc được giao phù hợp với hợp đồng
1 Án lệ điển hình về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG.
Dựa trên chủ đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đã được cơ quan tài phán áp dụng CISG để giải
quyết Nhóm chúng em xin được chọn án lệ về vụ tranh chấp bồi thường thiệt hại
hợp đồng mua bán đồng hồ của 2 bên ở Ukraine và Thụy Sĩ.
Trang 62.1 Tóm tắt vụ tranh chấp
- Các bên tham gia tranh chấp và giải quyết tranh chấp:
+ Nguyên đơn: Một cửa hàng bán lẻ đồng hồ tại Ukraine (A)
+ Bị đơn: Nhà máy chuyên cung cấp đồng hồ ở Thụy Sĩ (B.SA)
+ Cơ quan giải quyết tranh chấp:
Tòa án dân sự thứ hai của Tòa án bang Neuchâtel
Tòa án Tối cao Thụy Sĩ
- Sự kiện pháp lý:
A ký hợp đồng với B.SA cung cấp đồng hồ cho A Nhưng B.SA đã ngừng giao hàng trực tiếp cho A sau khi ký hợp đồng phân phối độc quyền với 1 đại lý bán lẻ khác của Ukraine (C) A đã yêu cầu B.SA giao hàng cho A không muộn hơn ngày 08 tháng 04 năm 2005 những chiếc đồng hồ theo đơn hàng đã được chấp nhận Nếu không giao đúng, A sẽ từ bỏ việc thực hiện hợp đồng hiện tại và bao lưu quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Theo phán quyết ngày 29 tháng 07 năm 2009, Tòa án dân sự thứ hai của Tòa án bang Neuchâtel bác bỏ A vì những thiệt hại gây ra chống lại B SA, yêu cầu thanh toán 653'956 fr Tòa án tối cao Thụy Sĩ cho phép một phần kháng cáo về vấn đề dân sự này do A đưa ra trong chừng mực kháng cáo này có thể chấp nhận được Tòa án tối cao đã gác lại phán quyết gây tranh cãi và chuyển vụ việc trở lại Tòa án bang để có quyết định mới
- Vấn đề pháp lý:
B.SA đã vi phạm hợp đồng khi không giao hàng theo đúng hạn nên A yêu cầu bồi thường? Yêu cầu các khoản bồi thường thiệt hại của A sẽ bị giảm bớt? A có thể giảm thiệt hại của mình bằng việc thực hiên một giao dịch? Các nguyên tắc điều chỉnh việc xác định lợi nhuận bị mất mà A phải gánh chịu do B.SA tự từ chối giao hàng hóa dự định cho A?
- Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp:
Các bên của hợp đồng mua bán có địa điểm kinh doanh tương ứng ở các quốc gia khác nhau là Ukraine và Thụy Sĩ, và cả hai quốc gia đề ký kết CISG Do đó, khi giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng Công ước viên 1980 (CISG), chủ yếu là Điều 45, Điều
74, Điều 75, Điều 77 CISG
Bộ Luật Dân sự Thụy Sĩ (CO): Khoản 2 Điều 42
2.2 Tóm tắt lập luận của nguyên đơn, bị đơn và cơ quan tài phán.
Lập luận của nguyên đơn: Vì bị đơn B đã ngừng giao hàng trực tiếp cho A sau khi
ký hợp đồng phân phối độc quyền với một đại lý bán lẻ khác của Ukraine A đã yêu cầu B giao hàng mà A đã đặt trước đó cho A không muộn hơn ngày 08/04/2005 Nếu
B không thực hiện thì A sẽ ngừng thực hiện các hợp đồng hiện tại và bảo lưu quyền
Trang 7yêu cầu bồi thường thiệt hại bao gồm cả tổn thất phải chịu và lợi nhuận mà bên bị A
bị mất
Lập luận của bị đơn: Bị đơn B cam kết theo điều 30 công ước LHQ ngày 11/04/1980
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), để giao những chiếc đồng hồ mà họ
đã chấp nhận đơn đặt hàng Nghĩa vụ này vẫn chưa được thực hiện và do đó bên nguyên đơn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo điểm b, khoản 1, điều 45 CISG
Lập luận của cơ quan tài phán:
- Theo phán quyết ngày 29 tháng 07 năm 2009, Tòa án dân sự thứ hai của Tòa án bang Neuchâtel bác bỏ A vì những thiệt hại gây ra chống lại B SA, yêu cầu thanh toán 653'956 fr.
Theo tòa, nguyên đơn A không có thẩm quyền yêu cầu ước tính thiệt hại theo quy định của bộ luật dân sự Thụy Sĩ (CO) vì A đã không xuất trình được hợp đồng, không chứng minh được thiệt hại Nguyên đơn không thuộc một trong số trường hợp nào được bồi thường toàn bộ số lãi bị mất theo khoản 2 Điều 42 (CO) liên quan đến bằng chứng về giá bán lại hoặc ước tính thiệt hại Do đó đó ta thấy rằng bên yêu cầu bồi thường thiệt hại được tính dựa theo điều 74 của CISG là hợp lý
Tòa căn cứ điều 77 CISG: “ Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì
phải áp dụng những biện pháp hợp lý Căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ cho sự vi phạm hợp đồng gây ra nếu họ không làm điều đó bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được.” Cho rằng khi B.SA
từ chối giao hàng cho A về vi phạm nghĩa vụ của họ thì phía A vẫn có khả năng mua hàng thay thế “ nguyên đơn có khă năng lấy được đồng hồ của các mẫu có liên quan”, bằng cách giao dịch với người bán lại hiện được hưởng độc quyền ở Ukraine để hạn chế tổn thất do bên B.SA gây ra và phía A có quyền đòi bồi thường và tiền bồi thường
sẽ tuân thủ quy định được nêu tại điều 75 CISG: “ Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng
một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hợp đồng người mua đã mua hàng thay thế hai người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đầu bồi thường thiệt hại
có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng.”
- Theo phán quyết của Tòa án tối cao Thụy Sĩ:
Tòa án tối cao Thụy sĩ cho rằng trong yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên A được tính theo điều 74 CISG và tổn thất phải chịu và lợi nhuận bị mất đều có thể được chấp
thuận vì người bán B đã không giao hàng hóa cho bên A với “mục đích là bán lại”,
người bán đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng về nghĩa vụ giao hàng nên người mua (A)
có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại khoản lợi nhuận bị mất theo mức lợi nhuận thông thường Tòa tòa tối cao đã hủy bỏ quyết định từ chối thiệt hại của người mua theo điều 75 phạm trên cơ sở vi phạm Điều 77 của Tòa án bang Neuchâtel và cho rằng A
đã không thể giảm nhẹ tổn thất bằng cách mua đồng hồ thay thế Tòa án bang Neuchâtel không xác định được mức giá giảm nhẹ là bao nhiêu và dù sao sao nó cũng được người mua cáo buộc nên Tòa án Tối cao đã chuyển hồ sơ cho Tòa án bên dưới
để xác định số tiền thiệt hại
Trang 83 Đánh giá, bình luận của nhóm.
3.1 Đánh giá cách giải quyết vụ tranh chấp.
Thứ nhất, toàn bộ vụ tranh chấp này được giải quyết theo đúng các quy định pháp
luật, đúng quy phạm pháp luật, áp dụng CISG để đưa ra căn cứ xử lý Theo đó, đây
là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa một nhà máy sản xuất đồng hồ của Thụy
sĩ và một cửa hàng bán lẻ đồng hồ của Ukraine Hợp đồng được ký kết vào năm 2005, lúc ấy cả Thụy Sĩ và Ukraine đều là thành viên của CISG nên áp dụng điểm a khoản
1 Điều 1 CISG, Tòa án giải quyết tranh chấp này theo CISG là hoàn toàn hợp lý Mặt khác, Tòa án dân sự thứ hai của Tòa án bang Neuchâtel đã đồng thời vận dụng Bộ luật Dân sự Thụy sĩ (CO) để giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích nước ngoài
là chính xác
Thứ hai, những nhận định của Tòa tối cao để đưa ra được phán quyết cũng rất
chính xác Trước đó, tranh chấp phát sinh do bên bán vi phạm hợp đồng khi không giao hàng theo hợp đồng cho nên phía A có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo điểm b, khoản 1, điều 45 CISG
Đối với phán quyết của Tòa dân sự.
Tòa án dân sự đã lựa chọn Điều 74 của CISG để xử “Ðiều 74: Tiền bồi thường
thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết” Bởi lẽ xét tổng thể toàn bộ quy định tại Điều 55, Điều 56,
Điều 57 của CISG thì công ước không đặt ra tiêu chuẩn bằng chứng bắt buộc để xác lập giá bán lại mà người mua có thể có được Hơn nữa, theo CO tương tự như Luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới, để bồi thường thiệt hại thì chủ nợ phải chứng minh sự tồn tại của thiệt hại và thực tế Tuy nhiên trong vụ việc trên phía A không xuất trình được hóa đơn, hay bằng chứng khác chứng minh được thiệt hại cụ thể
trong vụ việc này Do đó việc tòa án Thụy Sĩ cho rằng bên yêu cầu bồi thường thiệt
hại được tính dựa theo Điều 74 của CISG là hợp lý Quy định của CISG đã để sẵn hướng giải quyết mở cho cả hai bên xác định và thỏa thuận.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 77 CISG “Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của
bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể
để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được”, Tòa án
dân sự cho rằng khi SA từ chối giao hàng cho A vì vi phạm nghĩa vụ của họ thì phía
A vẫn có khả năng mua hàng thay thế bằng cách giao dịch với người bán lại hiện được hưởng độc quyền ở Ukraine để hạn chế tổn thất do bên SA gây ra và phía A sẽ
có quyền đòi bồi thường và tiền bồi thường sẽ tuân thủ quy định được nêu tại Điều
75 CISG “Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn
hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng” Tuy nhiên, Tòa dân sự phán quyết
Trang 9như vậy chưa thực sự phù hợp với thực tiễn khách quan Bởi theo Điều 77 CISG, khi hàng hóa không được giao cho người mua, thì bên mua phải mua hàng thay thế nếu điều này là hợp lý có thể, nhưng đại lý bán lẻ của Ukraine lại chính là đối thủ trong buôn bán hàng hóa của phía A, nếu A giao dịch với đại lý kia mua thay thế số hàng
để giảm thiểu tổn thất do SA vi phạm hợp đồng thì thực sự không hợp lý Ngoài ra,
việc Tòa án dân sự lưu ý rằng “ nguyên đơn có khả năng lấy được đồng hồ của các
mẫu có liên quan …” là không bám sát thực tiễn, không có bằng chứng để chứng
minh A có khả năng giảm nhẹ tổn thất
Đối với phán quyết của Tòa tối cao Thụy Sĩ
Tòa án tối cao Thụy Sĩ cũng cho rằng trong yêu cầu bồi thường thiệt hại được tính theo Điều 74 của CISG, cả tổn thất phải chịu và lợi nhuận bị mất đều có thể thu hồi được Do đó, trước Tòa án vì hàng hóa chưa được giao, người mua có thể yêu cầu người mua bị mất lợi nhuận kỳ vọng theo mức lợi nhuận thông thường Đây là quyết định giống với phán quyết của Tòa dân sự và hoàn toàn chính xác
Tuy nhiên, Tòa án tối cao Thụy Sĩ đã hủy bỏ quyết định từ chối thiệt hại của người mua theo Điều 75 của CISG trên cơ sở vi phạm Điều 77 của CISG và cho rằng A đã không thể giảm nhẹ bằng cách mua đồng hồ thay thế Tòa án tối cao nhận định người mua được hưởng phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mà họ đáng lẽ phải giảm nhẹ Vì tòa án dân sự không xác định được mức giá giảm nhẹ sẽ là bao nhiêu và dù sao nó cũng được người mua cáo buộc, nên Tòa án tối cao đã chuyển hồ sơ cho tòa
án bên dưới để xác định số tiền thiệt hại Như đã giải thích ở trên, thì phán quyết này của Tòa tối cao Thụy Sĩ là phù hợp và đương nhiên, A sẽ không thể nào mua hàng thay thế từ chính đối thủ của mình để giảm tổn thất do bên SA gây ra
Nhìn chung, cách giải quyết của Tòa tối cao và Tòa dân sự cho thấy sự bao quát toàn diện đối với tranh chấp này khi xem xét cả lỗi của bên bán và bên mua, để từ đó
có thể đưa ra được phán quyết chính xác và công bằng nhất với cả hai bên Mặc dù Tòa dân sự chưa thực sự nhìn nhận một cách chân thực nhất, tuy nhiên những phán quyết mà Tòa tối cao đưa ra là phù hợp với thực tiễn Bởi Tòa án đã xem xét một cách cẩn thận những căn cứ hợp pháp để giải quyết công bằng Đó chính là vấn đề bồi thường cho bên A Dựa vào án lệ này có thể xử lý giải quyết tranh chấp có tính chất tương tự như vậy, khắc phục được phần nào việc vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, xác định đúng trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mỗi bên
3.2 Một số kiến nghị giải quyết vụ tranh chấp.
Có thể nhận thấy Toà án tối cao Thụy Sĩ đã giải quyết vụ tranh chấp giữa nhà máy SA của Thụy Sĩ và cửa hàng bán lẻ đồng hồ A một cách công bằng, hợp lý Phán quyết năm 2009 của Tòa án dân sự thứ hai của Tòa án bang Neuchatel có sự sai sót trong việc xác định tính chất của sự việc, bên mua cảm thấy quyền lợi bị ảnh hưởng nên không chấp thuận phán quyết của tòa án, quyết định kháng cáo Tòa án dân sự đã
áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án nhưng lại xác định sai sự việc
Từ đó kiến nghị, để giải quyết một vụ tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế, cơ quan tài phán với trọng trách lớn lao cần phải nhận định cẩn thận, rõ ràng
Trang 10từng vấn đề, xem xét kỹ càng từng chi tiết, nắm rõ diễn biến vụ việc, lựa chọn sử dụng đúng pháp luật, từ đó đưa ra phán quyết công bằng, hợp lý, đảm bảo quyền lợi cho đôi bên
Về phía các doanh nghiệp, cần xác định rõ khi đã tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì phải thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đã cam kết trước đó, mọi giấy tờ, chứng từ có liên quan đến hợp đồng phải được ký kết minh bạch, công khai bởi với giao dịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là có yếu tố nước ngoài, việc phát sinh tranh chấp là điều không bên nào mong muốn xảy ra
4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Tháng 12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt và trở thành thành viên thứ
84 của Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017 Việt Nam là một nước có các hoạt động kinh doanh sôi động, từ khía cạnh pháp lý, CISG
sẽ có tác động lớn đến tất cả các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế giữa Việt Nam
và các quốc gia khác cũng là thành viên của CISG Để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp này, Việt Nam cần có sự hoàn thiện về nhiều mặt:
Thứ nhất, xây dựng quy chế tham gia mua bán hàng hóa quốc tế phù hợp nhằm
nâng cao sự chủ động của các cơ quan Chính phủ có liên quan khi chuẩn bị và tham gia vụ việc giải quyết tranh chấp tại WTO đồng thời nâng cao vai trò tư vấn của các Hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ Hiện nay, nhiều cơ quan còn lúng túng chưa biết vai trò, nhiệm vụ của mình trong quá trình xử lý vụ việc, dẫn đến khả năng làm chậm các bước trong việc phối hợp với luật sư và Doanh nghiệp
Thứ hai, xây dựng và nâng cao đội ngũ luật sư công về tranh chấp thương mại
để giảm gánh nặng tài chính khi tham gia các vụ việc tranh chấp trong WTO Vấn đề chi phí thuê luật sư nước ngoài trong các vụ kiện luôn là rào cản lớn nhất đối với sự chủ động của Việt Nam khi đưa vụ việc ra WTO
Thứ ba, các doanh nghiệp tăng cường pháp chế doanh nghiệp về chuyên môn
thương mại quốc tế Hiện nay, pháp chế doanh nghiệp mới quan tâm đến các vấn đề
về thương mại trong nước mà chưa trang bị về lĩnh vực thương mại quốc tế, điều này hạn chế khả năng tham gia của chính doanh nghiệp trong các vụ việc tranh chấp Khi pháp chế doanh nghiệp có sự am hiểu về vấn đề này, sự phối hợp với luật sư và cơ quan nhà nước cũng sẽ hiệu quả hơn
Thứ tư, các doanh nghiệp cần chủ động, tích cực tham gia các vụ kiện mua
bán hàng hóa quốc tế và tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và cơ quan đại diện ở nước ngoài Trong quá trình tham gia các vụ điều tra do cơ quan điều tra nước ngoài tiến hành, nếu phát hiện có những vi phạm pháp luật WTO hoặc pháp luật nước đó, doanh nghiệp cần mạnh dạn, chủ động thông báo cho Chính Phủ để được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
Thứ năm, về tính dự đoán trước được của thiệt hại đối với người mua.
Có thể vận dụng Điều 74 CISG để thiết lập các quy tắc chung cho việc tính toán thiệt hại, cụ thể: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một