1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long

91 632 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, do cơ hội và thách thức mà quá trình hội nhập mang lại, chỉ trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại Việt Nam có nhiều biến đổi tích cực, song song đó là những bất ổn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHAN NGUYỄN THÙY AN

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAMEL TRONG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XÂY DỰNG VIỆT NAM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHAN NGUYỄN THÙY AN

MSSV: 4114346

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAMEL TRONG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XÂY DỰNG VIỆT NAM

Tháng 11 Năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Sau quá trình được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ cùng với khoảng thời gian được thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB) chi nhánh Vĩnh Long, em đã tích lũy được nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này cũng như để áp dụng vào thực tiễn trong tương lai

Vì vậy, trước tiên, em xin được gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến quý thầy cô của trường Đại học Cần Thơ, nhất là các thầy cô khoa

Kinh tế – Quản trị kinh doanh đã tận tình giảng dạy những kiến thức cần thiết

và truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báo cho em trong suốt bốn năm em học tại trường Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Quan Minh Nhựt trong thời gian qua đã luôn tận tình hướng dẫn và chỉnh sửa những sai sót giúp em hoàn thành tốt luận văn

Em cũng vô cùng biết ơn và xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo của Ngân hàng Xây dựng chi nhánh Vĩnh Long đã tiếp nhận em vào thực tập tại đơn vị và tạo điều kiện cho em được tiếp xúc thực tế để bổ sung kiến thức và học hỏi kinh nghiệm cần thiết cho chuyên ngành Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn các anh chị đang công tác tại Phòng Kinh doanh và Phòng Kế toán – Ngân quỹ đã chỉ dẫn kinh nghiệm, sẵn sàng giải đáp thắc mắc và cung cấp

số liệu cũng như nhiệt tình góp ý để em hoàn thiện bài làm trong suốt thời gian thực tập và thực hiện luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,

em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và Ban lãnh đạo, các anh chị tại Ngân hàng

Cuối lời, em xin kính chúc quý thầy cô của trường Đại học Cần Thơ và Ban lãnh đạo cùng các cô chú, anh chị đang làm việc tại Ngân hàng Xây dựng

chi nhánh Vĩnh Long luôn được nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Cần Thơ, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Phan Nguyễn Thùy An

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Phan Nguyễn Thùy An

Trang 5

CHI NHÁNH VĨNH LONG Vĩnh Long, ngày tháng năm 2014 NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP Kính gửi:

Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – chi nhánh Vĩnh Long đã tiếp nhận, hướng dẫn và có nhận xét về sinh viên thực tập theo các thông tin dưới đây: 1 Họ tên sinh viên:

2 Sinh viên trường:

3 Thời gian thực tập:

4 Nơi thực tập:

5 Nhận xét về quá trình thực tập:

6 Nhận xét về báo cáo kết quả thực tập:

Trân trọng

P.GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH

Nơi nhận:

- Như kính gửi;

- Lưu TCNS/TCHC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Không gian 2

1.3.2 Thời gian 3

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Khái niệm và hoạt động của ngân hàng thương mại 4

2.1.2 Khái niệm, đối tượng và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh NHTM 5

2.1.3 Mô hình CAMEL 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 22

Chương 3: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG VIỆT NAM (VNCB) CHI NHÁNH VĨNH LONG 25

3.1 Sự hình thành và phát triển của VNCB chi nhánh Vĩnh Long 25

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 25

3.1.2 Các hoạt động chủ yếu của VNCB chi nhánh Vĩnh Long 26

3.2 Cơ cấu tổ chức của VNCB chi nhánh Vĩnh Long 27

3.2.1 Cơ cấu tổ chức 27

3.2.2 Giới thiệu từng bộ phận 27

3.3 Khái quát kết quả kinh doanh của VNCB chi nhánh Vĩnh Long từ năm 2011 đến tháng 6/2014 29

Trang 7

3.3.1 Khái quát kết quả kinh doanh từ năm 2011 – 2013 29

3.3.2 Khái quát kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2014 31

3.4 Định hướng hoạt động của VNCB chi nhánh Vĩnh Long 32

Chương 4: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG VNCB CHI NHÁNH VĨNH LONG TỪ NĂM 2011 ĐẾN THÁNG 6/2014 THEO MÔ HÌNH CAMEL 33

4.1 Phân tích hoạt động kinh doanh của VNCB chi nhánh Vĩnh Long theo mô hình CAMEL 33

4.1.1 Phân tích mức độ an toàn vốn (C) 33

4.1.2 Phân tích chất lượng tài sản có (A) 38

4.1.3 Phân tích năng lực quản trị (M) 57

4.1.4 Phân tích khả năng sinh lời (E) 60

4.1.5 Phân tích khả năng thanh khoản (L) 66

4.2 Một số ưu điểm và hạn chế trong hoạt động kinh doanh của VNCB chi nhánh Vĩnh Long 68

4.2.1 Ưu điểm 68

4.2.2 Hạn chế 69

Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG VNCB CHI NHÁNH VĨNH LONG 70

5.1 Cơ sở đề ra các giải pháp 70

5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh 70

5.2.1 Các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn 70

5.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 71

5.2.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 72

5.2.4 Các giải pháp tăng trưởng lợi nhuận 73

5.2.5 Các giải pháp hạn chế rủi ro 74

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

6.1 Kết luận 75

6.2 Kiến nghị 76

6.2.1 Kiến nghị đối với NHNN và các cơ quan có thẩm quyền 76

Trang 8

6.2.2 Kiến nghị đối với Hội sở Ngân hàng VNCB 76 6.2.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long 77 Tài liệu tham khảo 78

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Khái quát kết quả kinh doanh của VNCB chi nhánh Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 30 Bảng 4.1 Tình hình nguồn vốn của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 33 Bảng 4.2 Tình hình huy động vốn của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 35 Bảng 4.3 Tình hình nguồn vốn của VNCB-Vĩnh Long 6 tháng đầu năm 2014 37 Bảng 4.4 Tình hình tài sản của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 39 Bảng 4.5 Tình hình cho vay và thu nợ của VNCB-Vĩnh Long từ năm

2011 – 2013 40 Bảng 4.6 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 41 Bảng 4.7 Doanh số cho vay theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm

2011 – 2013 43 Bảng 4.8 Doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 45 Bảng 4.9 Doanh số thu nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm

2011 – 2013 47 Bảng 4.10 Dư nợ theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB- Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 49 Bảng 4.11 Dư nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm

2011 – 2013 51 Bảng 4.12 Tình hình phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 53 Bảng 4.13 Tình hình tài sản của VNCB-Vĩnh Long 6 tháng đầu năm 2014 55 Bảng 4.14 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản có của VNCB- Vĩnh Long từ năm 2011 đến tháng 6/2014 55 Bảng 4.15 Tình hình chi phí hoạt động của VNCB-Vĩnh Long từ 2011 – 2013 58

Trang 10

Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực quản trị của VNCB-Vĩnh Long

từ năm 2011 đến tháng 6/2014 60 Bảng 4.17 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 61 Bảng 4.18 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long 6 tháng đầu năm 2014 63 Bảng 4.19 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của VNCB-Vĩnh Long

từ năm 2011 đến tháng 6/2014 64 Bảng 4.20 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của VNCB- Vĩnh Long từ năm 2011 đến tháng 6/2014 66

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long 27 Hình 3.2 Vốn huy động của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 29 Hình 3.3 Dư nợ tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 30 Hình 3.4 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 31 Hình 4.1 Cơ cấu nguồn vốn của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 34 Hình 4.2 Cơ cấu vốn huy động của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 36 Hình 4.3 Cơ cấu tài sản của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 40 Hình 4.4 Cơ cấu doanh số cho vay theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 41 Hình 4.5 Cơ cấu doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 45 Hình 4.6 Cơ cấu doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế và thời hạn tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 49 Hình 4.7 Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 54 Hình 4.8 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 đến tháng 6/2014 59 Hình 4.9 Cơ cấu thu nhập thuần của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 62 Hình 4.10 Tỷ lệ NPM, ROAA và NIM của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 đến tháng 6/2014 65

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Công nghiệp CBCT : Công nghiệp chế biến, chế tạo

DPRRTD : Dự phòng rủi ro tín dụng

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trải qua nhiều bước phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò là mạch máu của nền kinh tế cả nước Tuy nhiên, do cơ hội và thách thức mà quá trình hội nhập mang lại, chỉ trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại Việt Nam có nhiều biến đổi tích cực, song song đó là những bất ổn sau giai đoạn phát triển nóng như: Năm 2011, sự biến động tăng lãi suất trở nên gay gắt, các ngân hàng xé rào trong huy động vốn, lãi suất huy động cao nhất lên đến 22%/năm, lãi suất cho vay cũng cao ngất ngưỡng khoảng 25%/năm; Hàng loạt các giải pháp đã được đưa ra để hạ nhiệt tín dụng làm cho tổng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng năm 2012 đã sụt giảm gần 50%

so với năm 2011 và nhiều ngân hàng phải đi đến sáp nhập trong năm; Cuối năm 2012 và đầu năm 2013, nợ xấu tăng đột biến, tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại rất thấp, có nguy cơ đổ vỡ rất cao; Năm 2013, nhiều vấn đề tiêu cực, đặc biệt là trong công tác quản lý ngân hàng liên tiếp xảy ra… Tuy ngành ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2014 chuyển biến tốt hơn về mặt lãi suất, vốn huy động, tình hình thanh khoản và xử lý nợ xấu nhưng tín dụng lại tăng trưởng khá thấp ở mức 3,52% cần được cải thiện để thúc đẩy kinh tế Thực tiễn trên cho thấy việc phân tích và đánh giá hoạt động kinh doanh cũng như năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này là rất quan trọng, giúp các nhà quản lý có cơ sở để đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đẩy lùi nguy cơ đổ vỡ, phát triển bền vững và tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng liên doanh

và ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam Bên cạnh đó, ngày 1/3/2012 Chính phủ ra quyết định 254/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” nên kết quả đánh giá thực trạng kinh doanh từng ngân hàng thương mại còn là căn cứ để Ngân hàng Nhà nước

cơ cấu lại hệ thống ngân hàng một cách khoa học, góp phần thực hiện đề án thành công Do đó, các nhà kinh tế đang quan tâm nhiều hơn đến các tiêu chí

để đánh giá hoạt động của ngân hàng và hệ thống CAMEL do Cục Quản lý các tổ chức tín dụng Hoa Kỳ xây dựng là một trong những khung phân tích toàn diện nhất được nhiều nước ứng dụng hiện nay

Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Đại Tín được hình thành từ Ngân hàng TMCP nông thôn Rạch Kiến thành lập vào năm 1989, đã trải qua nhiều khó khăn để phát triển và tăng trưởng ổn định cho đến cuối năm 2010

Từ năm 2011, do chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, hoạt động

Trang 14

kinh doanh của ngân hàng giảm sút dẫn đến phải thực hiện tái cơ cấu vào cuối năm 2012 với sự tham gia của cổ đông mới Sự ra đời của Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB) vào tháng 5/2013 với chiến lược mới, đặc biệt hướng đến khách hàng là các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng, góp phần phát triển nền kinh tế đã tạo một bước tiến cho ngân hàng Tuy nhiên, sự việc

về ba lãnh đạo của ngân hàng vừa qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của cả hệ thống Ngân hàng VNCB, trong đó có VNCB chi nhánh Vĩnh Long Ngoài những khó khăn chung trong bước đầu tái cơ cấu, VNCB chi nhánh Vĩnh Long còn chịu sự cạnh tranh từ nhiều ngân hàng khác trên cùng địa bàn

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, phân tích tình hình kinh doanh là việc làm cấp thiết đối với nhà quản trị Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long

Từ các lý do trên, đề tài “Ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích

hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB) chi nhánh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm đánh giá

thực trạng kinh doanh tại chi nhánh, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh Vĩnh Long nói riêng và cho cả hệ thống Ngân hàng VNCB

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích và đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB) chi nhánh Vĩnh Long theo mô hình CAMEL Qua đó, các giải pháp được đưa ra để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng

Trang 15

1.3.2 Thời gian

Thời gian thu thập số liệu: Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp trong 3 năm từ

2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 của VNCB chi nhánh Vĩnh Long

Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mặt phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của một ngân hàng theo mô hình CAMEL như: nguồn vốn, tài sản, kết quả kinh doanh, bộ máy và các chiến lược quản trị tại Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm và hoạt động của ngân hàng thương mại

2.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước và có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM Trong đó, Luật số 47/2010/QH12 là Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam qui định:

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) có thể được thực hiện

tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận

2.1.1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại

Theo điều IV của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam:

Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một

hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình

thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận

Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một

khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng các

phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng

Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu trên thì NHTM còn được phép thực hiện một số hoạt động khác như: góp vốn, mua cổ phần; tham gia thị trường tiền tệ;

Trang 17

kinh doanh, cung ứng các dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh; nghiệp vụ

ủy thác và đại lý; các dịch vụ quản lý tiền mặt, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; dịch vụ tư vấn ngân hàng, tài chính; dịch vụ môi giới tiền tệ, Tuy hoạt động ngân hàng rất đa dạng nhưng các NHTM chỉ được thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép kinh doanh do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định theo từng trường hợp cụ thể

2.1.2 Khái niệm, đối tượng và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh NHTM

2.1.2.1 Khái niệm của phân tích hoạt động kinh doanh NHTM

Phân tích hoạt động kinh doanh (Operating activities analysis) là môn nghiên cứu quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động

cụ thể như: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Bằng những phương pháp riêng, kết hợp với các lý thuyết kinh tế và phương pháp kỹ thuật khác nhằm đi đến việc phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, phát hiện những quy luật của các mặt hoạt động trong doanh nghiệp dựa vào các dữ liệu lịch sử, làm cơ sở cho các quyết định hiện tại, những dự báo và hoạch định chính sách trong tương lai (Nguyễn Tấn Bình, 2004)

Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả hoạt động kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu (Nguyễn Năng Phúc, 2009)

Vậy, phân tích hoạt động kinh doanh của NHTM có thể hiểu là việc phân chia có cơ sở các quá trình và kết quả kinh doanh ngân hàng thành nhiều yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, thông qua các lý thuyết kinh tế và phương pháp kỹ thuật phù hợp, đối chiếu với yếu tố môi trường kinh doanh nội, ngoại vi của NHTM, nhằm đánh giá chất lượng hoạt động và các nguồn tiềm năng cần khai thác, từ đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

2.1.2.2 Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh NHTM

Với tư cách là môn khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế Chỉ tiêu kinh tế có thể hiểu là các mục tiêu đặt ra hướng tới tương lai, các chỉ tiêu này

Trang 18

phải được lượng hóa bằng thước đo giá trị Các chỉ tiêu kinh tế khác nhau có nội dung cấu thành riêng biệt và giá trị của các chỉ tiêu thường thay đổi qua các kỳ kinh doanh (Phạm Văn Dược, 2008)

Tương tự, các quá trình và kết quả kinh doanh NHTM được lượng hóa

cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế là đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các chỉ tiêu được sử dụng tùy thuộc vào mục đích phân tích, đối chiếu với các tiêu chuẩn, qui định cụ thể để đánh giá hoạt động ngân hàng

2.1.2.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh NHTM

Như đối với doanh nghiệp, việc phân tích hoạt động kinh doanh cũng rất

2.1.3.1 Sự ra đời của mô hình CAMEL

CAMEL là một hệ thống phân tích do Cục Quản lý các tổ chức tín dụng Hoa Kỳ (NCUA – National Credit Union Aministration) xây dựng từ những năm 70 của thế kỷ XX và được dùng để đánh giá toàn diện các ngân hàng Phương pháp phân tích theo mô hình CAMEL ngày càng được ứng dụng bởi nhiều nước trên thế giới trong đánh giá năng lực tài chính cũng như mức độ lành mạnh của một ngân hàng, giúp cho nhà quản trị hay các đối tác bên ngoài đưa ra quyết định phù hợp Việt Nam không áp dụng trực tiếp khung CAMEL cho đến khi Quy chế xếp loại các Tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam (1998)

ra đời thì CAMEL mới được công nhận

Mô hình CAMEL đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng: An toàn là khả năng ngân hàng bù đắp mọi

Trang 19

chi phí và thực hiện các nghĩa vụ của mình, được đánh giá thông qua mức độ

đủ vốn, chất lượng tài sản có và năng lực quản trị; Khả năng sinh lời thể hiện qua mức lợi nhuận mà ngân hàng có thể tạo ra từ tiền đầu tư của chủ sở hữu; Thanh khoản là khả năng đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn theo kế hoạch hoặc bất thường của ngân hàng Vì vậy, khung CAMEL gồm 5 yếu tố được xem là quan trọng nhất đối với một trung gian tài chính, phản ánh thực trạng sức khỏe của một NHTM, đó là:

 Mức độ an toàn vốn (C – Capital adequacy);

 Chất lượng tài sản có (A – Asset quality);

 Năng lực quản trị (M – Management competence);

 Khả năng sinh lời (E – Earnings strength);

Khả năng thanh khoản (L – Liquidity risk)

Khi phân tích theo mô hình CAMEL, mỗi yếu tố trên sẽ được đánh giá

bằng các nhóm chỉ tiêu riêng

2.1.3.2 Ứng dụng mô hình CAMEL trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới sử dụng mô hình CAMEL như một công cụ phân tích nhằm quản lý, giám sát các TCTD Năm 1997, một yếu tố mới được thêm vào là độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S – Sensitivity to market risk) tạo thành mô hình CAMELS Tuy nhiên, tại hầu hết những nước phát triển, khung CAMEL thường được dùng để phân tích tài chính của các ngân hàng thay vì CAMELS Một vài ví dụ: Hồng Kông sử dụng mô hình CAMEL gốc; Hàn Quốc lại áp dụng khung CAMELS với biến đổi yếu tố S là thử nghiệm chịu đựng cực điểm (Stress testing) Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương và các NHTM ở một số nước như Nepal, Kenya,… chỉ sử dụng mô hình CAEL Tại Việt Nam, mô hình CAMEL bắt đầu được ứng dụng trong công tác quản lý hệ thống ngân hàng thông qua Quyết định số 400/2004/QĐ-NHNN ngày 16/04/2004 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về việc xếp loại các Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân Sau đó, Quyết định này được thay thế bởi Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN, trong đó quy định việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá xếp loại NHTM bao gồm: vốn tự có, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, kết quả hoạt động kinh doanh

và khả năng thanh khoản Tuy nhiên, đến nay các NHTM ở Việt Nam chưa vận dụng một cách toàn diện và hiệu quả những chỉ tiêu của mô hình CAMEL trong phân tích và đánh giá ngân hàng

Trang 20

2.1.3.3 Nội dung mô hình CAMEL

Mỗi yếu tố của mô hình CAMEL được phân tích và đánh giá dựa trên

các chỉ tiêu định tính và định lượng như sau:

i Các chỉ tiêu về mức độ an toàn vốn (C)

Vốn là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập và huy động, được dùng

để đầu tư, cho vay hay thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác; bù đắp những tổn thất không mong đợi; đảm bảo cho người gửi tiền và các chủ nợ cũng như cam kết tuân thủ những quy định của nhà nước nhằm bảo vệ người gửi tiền và

ổn định hệ thống ngân hàng Vì vậy, vốn là điều kiện tiên quyết, yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của một NTHM Trong đó, vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng rất quan trọng, phản ánh mức độ an toàn vốn của ngân hàng và là cơ sở quyết định quy mô vốn huy động

Vốn tự có là vốn riêng của một NHTM, đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam: “Vốn tự có gồm giá trị thực vốn điều lệ của TCTD hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các quỹ dự trữ

và một số tài sản nợ khác của TCTD theo qui định của NHNN”

Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản chứa đựng rủi ro, các NHTM cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết nên một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất luôn được dùng để đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng theo mô hình CAMEL là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR – Capital Adequacy Ratio) bằng phần trăm của vốn tự có so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng

x 100 (%) Tổng tài sản “Có” rủi ro

Trong đó:

- Vốn tự có: của các ngân hàng bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2

 Vốn cấp 1: là tổng các khoản gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia và thặng dư

cổ phần được tính vào vốn trừ phần dùng mua cổ phiếu quỹ (nếu có), sau đó trừ đi những khoản phải trừ khỏi vốn cấp 1 được quy định trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN

 Vốn cấp 2: bao gồm các khoản đánh giá lại tài sản cố định và tài sản tài chính, quỹ dự phòng tài chính, trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác thỏa điều kiện trừ đi các khoản phải trừ khỏi vốn cấp 2 theo quy định

Trang 21

- Tài sản “Có” rủi ro (RWA) = (Tài sản nội bảng x Hệ số rủi ro) +

(Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro) với hệ số rủi ro, hệ số chuyển đổi theo quy định của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Thông tư số 22/2011/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung sau đó

Các nhà quản lý ngành ngân hàng luôn xác định và giám sát NHTM phải duy trì một tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu để đảm bảo tính ổn định của hệ thống Tại Việt Nam, cũng theo Thông tư số 13/2010, các TCTD, trừ chi nhánh của ngân hàng nước ngoài, đều phải duy trì tỷ lệ này tối thiểu là 9%

Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện chất lượng nguồn vốn cũng như mức độ

an toàn vốn của một ngân hàng, các vấn đề sau cần được phân tích:

 Quy mô và sự biến động của từng bộ phận nguồn vốn NHTM gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và vốn khác

 Tình hình huy động vốn của ngân hàng bằng các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá

ii Các chỉ tiêu về chất lượng tài sản có (A)

Nội dung hoạt động chủ yếu và phần lớn các rủi ro của một ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản có (hay tài sản) nên cùng với việc duy trì đủ vốn thì nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng giúp đảm bảo an toàn trong kinh doanh NHTM Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản sẽ quyết định

sự phát triển bền vững của ngân hàng

Tài sản có của NHTM bao gồm các tài sản sinh lời (chiếm từ 80 – 90%)

và tài sản không sinh lời Tài sản có sinh lời là những tài sản đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng, đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro, gồm các khoản: tiền gửi tại NHNN; tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay TCTD; chứng khoáng kinh doanh; cho vay khách hàng; chứng khoán đầu tư; góp vốn, đầu tư dài hạn và bất động sản đầu tư Tài sản không sinh lời gồm: tiền mặt, kim loại quý tại quỹ; công cụ tài chính phái sinh và tài sản tài chính khác; tài sản cố định và tài sản có khác

Chất lượng tài sản thấp thường là hệ quả của việc giảm sút chất lượng tín dụng, thua lỗ trong đầu tư, được thể hiện qua các khoản trích lập dự phòng hay khoản lỗ thực làm cho dòng tiền bị ảnh hưởng, ngân hàng có thể gặp rủi ro thanh khoản, sự sụt giảm uy tín và nguy cơ phá sản Vì vậy, chất lượng tài sản

là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên sự bền vững về tài chính, năng lực quản lý, khả năng sinh lời và thanh khoản của NHTM, được phản ánh qua các mặt như:

cơ cấu tài sản có nội bảng, chất lượng cam kết ngoại bảng và quan trọng nhất

là chất lượng các khoản tín dụng và đầu tư

Trang 22

Để đánh giá chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu cần được xem xét trước tiên

là doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ Trong đó, doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã phát ra cho khách hàng vay trong một thời kỳ nhất định, không kể đã thu hồi về hay chưa; doanh số thu nợ là tổng số tiền mà ngân hàng đã thu hồi được từ các khoản cho vay trong một thời kỳ nhất định

và dư nợ là số tiền mà khách hàng đang còn nợ chưa trả tại một thời điểm hay

số tiền ngân hàng đã phát cho vay nhưng chưa thu hồi Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế, thời hạn, ngành kinh tế và tình hình biến động doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tổng dư nợ được phân tích kết hợp với các chỉ tiêu:

Tỷ lệ cấp tín dụng trên vốn huy động = Dư nợ tín dụng

x 100 (%) Vốn huy động

Theo Thông tư 21/2010/TT-NHNN, dư nợ tín dụng là toàn bộ số dư tại một thời điểm cụ thể của các khoản cấp tín dụng cho cá nhân, tổ chức dưới hình thức: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; cho thuê tài chính; bao thanh toán; các khoản trả thay trong trường hợp cá nhân, tổ chức được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác được NHNN chấp nhận

Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng từ số vốn huy động được Tuy nhiên, dư nợ tín dụng cao hơn nhiều so với vốn huy động

là trạng thái chứa đựng rủi ro tín dụng rất cao Vì vậy, ngân hàng trung ương các nước thường quy định một mức tối đa cho tỷ lệ này nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và tình trạng thiếu thanh khoản do việc cấp tín dụng quá mức gây ra

Tỷ lệ cấp tín dụng trên tổng tài sản

(chỉ số năng lực cho vay)

= Dư nợ tín dụng

x 100 (%) Tổng tài sản

Tỷ lệ này cho biết dư nợ tín dụng chiếm bao nhiêu phần trăm tài sản, phản ánh hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản có của ngân hàng Chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng tạo nhiều lợi nhuận nhưng rủi ro tín dụng rất cao

Tỷ lệ nợ xấu (NPL – Non-Performing Loan ratio)

= Dư nợ xấu

x 100 (%) Tổng dư nợ

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và một số sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN, các khoản gồm: cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác của NHTM (gọi tắt là nợ) phải được phân loại vào 5 nhóm theo thứ tự: nợ đủ tiêu chuẩn,

Trang 23

nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Tuy nhiên, kể từ ngày 01/06/2013, nợ được bao gồm thêm một số khoản như:

cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng; trả thay theo cam kết

ngoại bảng; số tiền mua và ủy thác mua trái phiếu chưa niêm yết; ủy thác cấp

tín dụng; tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại TCTD khác trong và ngoài nước,

tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng phải được xếp vào 5 nhóm theo

Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 09/2014/TT-NHNN sửa đổi,

bổ sung sau đó Dư nợ (khoản nợ) là số tiền mà ngân hàng đã gửi, giải ngân

từng lần theo thỏa thuận đối với nợ trên và tổng dư nợ bằng dư nợ của 5 nhóm

Nợ xấu được dùng để chỉ những khoản nợ của ngân hàng đang đối diện

với rủi ro cao trong việc thu hồi nợ gốc và lãi do khách hàng gặp khó khăn,

gồm nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng

mất vốn (nhóm 3,4,5) nên dư nợ xấu bằng tổng dư nợ của 3 nhóm

Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lượng và rủi ro của các

khoản tín dụng, cho biết bao nhiêu đồng bị xếp vào nợ xấu trên 100 đồng nợ

Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng là một dấu hiệu

cho thấy NHTM đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng tín dụng

Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu giảm thể hiện chất lượng tín dụng đã được cải thiện

Tỷ lệ nợ xấu của một NHTM được khuyến cáo là không nên quá 3%

Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn

x 100 (%) Tổng dư nợ

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã

quá hạn Chỉ tiêu này càng thấp cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng

cao Tỷ lệ nợ quá hạn của NHTM cũng được khuyến cáo là không quá 5%

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ

= Dự phòng rủi ro tín dụng

x 100 (%) Tổng dư nợ

Dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD) là một trong các khoản dự phòng

của ngân hàng Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, DPRRTD là số tiền

được trích lập và hạch toán vào chi phí để dự phòng cho những tổn thất có thể

xảy ra đối với nợ của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có

khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết

DPRRTD bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung với mức trích và cách

trích lập trước đây được thực hiện theo Quyết định số 493/2005 và số 18/2007

nhưng kể từ năm 2013, các NHTM phải áp dụng theo Thông tư số 02/2013 và

số 09/2014 để phân loại nợ và trích lập DPRRTD

Trang 24

Tỷ lệ DPRRTD trên tổng dư nợ (hay tỷ lệ trích lập DPRRTD) cho biết bao nhiêu phần trăm dư nợ phải trích lập dự phòng Vì vậy, tỷ lệ này càng cao phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM càng kém, khả năng thu hồi nợ thấp

và ngược lại Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao lại cho thấy khả năng bù đắp rủi ro tín dụng của ngân hàng tốt

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên nợ xấu

= Dự phòng rủi ro tín dụng

x 100 (%)

Dư nợ xấu Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ xấu của ngân hàng càng tốt

Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ

x 100 (%) Doanh số cho vay

Hệ số thu nợ cho biết số tiền mà ngân hàng thu được trong kỳ kinh doanh

từ một đồng doanh số cho vay, phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng

Hệ số này càng cao cho thấy công tác thu nợ càng tốt, rủi ro tín dụng thấp

Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ

(Vòng/năm)

Dư nợ bình quân Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển của vốn tín dụng, phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mấy lần trong một năm Vòng quay vốn tín dụng càng lớn cho thấy thời gian thu hồi nợ càng nhanh và chiến lược của ngân hàng thiên về cấp tín dụng ngắn hạn

Bên cạnh tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần làm tăng qui mô tổng tài sản của ngân hàng Khoản đầu tư bao gồm các mục như: chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn, đầu tư dài hạn Tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán là một trong các chỉ tiêu phản ánh chất lượng đầu tư

Tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán trên tổng đầu tư

=

(Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh

+ Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư)

x 100 (%) Tổng số dư các khoản đầu tư

Ngoài ra, chất lượng tài sản còn được đánh giá dựa trên chỉ tiêu là tỷ lệ tài sản có sinh lời, phản ánh cơ cấu tài sản của ngân hàng

Tỷ lệ tài sản có sinh lời = Tổng tài sản sinh lời

x 100 (%) Tổng tài sản

Trang 25

Chỉ tiêu này cho biết tài sản sinh lời chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản Theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN, tỷ trọng này đạt từ 75%

là một trong các tiêu chí để đánh giá tốt về chất lượng tài sản có của NHTM

iii Các chỉ tiêu về năng lực quản trị (M)

Do bản chất khá phức tạp của hoạt động tài chính ngân hàng, năng lực quản trị luôn là yếu tố rất quan trọng cần phải xem xét khi đánh giá một NHTM Kết quả kinh doanh, sự an toàn và phát triển của ngân hàng cũng được quyết định bởi năng lực và chất lượng quản trị

Quản trị nói chung là tạo ra hệ thống các hoạt động thống nhất, phối hợp

và liên kết mọi quá trình lao động của cán bộ nhân viên từ các phòng ban đến hội đồng quản trị, nhằm đạt mục tiêu kinh doanh ở từng thời kỳ xác định trên

cơ sở giảm thiểu chi phí về nguồn lực Đánh giá năng lực quản trị là xem xét nhân tố con người trong bộ máy quản lý và hoạt động qua một số nội dung như: đề ra những chính sách kinh doanh đúng đắn và hiệu quả; xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành và quy trình nghiệp vụ hợp lý, sát thực và đúng pháp luật; tạo lập cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả và giảm tiêu cực

về đạo đức trong hệ thống quản lý

Bên cạnh đó, năng lực quản trị còn được thể hiện ở khả năng nhận biết kịp thời những tình huống bất lợi hay rủi ro tiềm ẩn đe doạ đến sự an toàn của ngân hàng và đưa ra các biện pháp hiệu quả; tình hình tuân thủ tất cả quy định của NHNN và quy chế nội bộ; mức lợi nhuận tăng lên; đảm bảo thanh khoản; sức cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thị trường ngày một nâng cao và đặc biệt là sự phát triển bền vững trước những biến động trong và ngoài nước Kiểm soát tốt chi phí trong kinh doanh sẽ giúp ngân hàng cải thiện được lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động Vì vậy, các tỷ lệ về chi phí thường được dùng để đánh giá năng lực quản trị của NHTM, ví dụ như :

Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (Cost to income, CIR – Cost/Income Ratio)

CIR = Chi phí hoạt động x 100 (%)

Tổng thu thuần từ hoạt động Đây là một chỉ số quan trọng giúp đánh giá kết quả kinh doanh cũng như năng lực quản trị của ngân hàng, cho thấy mối tương quan giữa thu nhập và chi phí, cụ thể là ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí hoạt động để thu về được một đồng thu nhập thuần

Tổng thu thuần từ hoạt động (hay tổng thu nhập thuần) là thu nhập thuần

từ tất cả hoạt động kinh doanh của một NHTM, bằng tổng các khoản: thu nhập

Trang 26

lãi thuần; lãi (lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ; lãi (lỗ) thuần từ kinh doanh ngoại hối; lãi (lỗ) thuần từ mua, bán chứng khoán kinh doanh, đầu tư; lãi (lỗ) thuần từ góp vốn, mua cổ phần và lãi (lỗ) thuần từ hoạt động khác

Chi phí hoạt động (hay chi phí quản lý chung) của NHTM thường gồm: chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí; chi nộp phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí cho nhân viên (lương, phụ cấp, trợ cấp,…), chi về tài sản (chi phí khấu hao, sửa chữa,…), chi cho hoạt động quản lý công vụ và chi phí dự phòng khác

Tỷ lệ chi phí trên tài sản (Cost to assets)

= Chi phí hoạt động

x 100 (%) Tổng tài sản bình quân

Tỷ lệ này cho biết để có được một đồng tài sản thì ngân hàng phải tốn bao nhiêu đồng chi phí hoạt động

Tỷ lệ chi phí trên dư nợ (Cost to loan)

= Chi phí hoạt động

x 100 (%) Tổng dư nợ bình quân

Tương tự như trên, tỷ lệ chi phí trên dư nợ cho biết ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí hoạt động để cho vay được một đồng

Các tỷ lệ trên càng thấp cho thấy chiến lược quản lý và kiểm soát chi phí của ngân hàng càng hiệu quả hay năng lực quản trị càng cao

iv Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời (E)

Khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như sự phát triển bền vững của một NHTM Ngân hàng có khả năng sinh lời cao sẽ tích luỹ được nhiều vốn để đầu tư về nhân lực, vật chất và công nghệ hiện đại,

từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng Mặt khác, từ góc độ nhà đầu tư, khách hàng sẽ quyết định giao dịch khi ngân hàng có khả năng sinh lời tốt để bù đắp rủi ro và đảm bảo thanh khoản Vì vậy, khi đánh giá một NHTM, khả năng sinh lời luôn được đi sâu phân tích, trước hết thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng

Thu nhập của một NHTM thường bao gồm: thu nhập lãi và các khoản tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ (thanh toán, ngân quỹ,…); thu nhập từ kinh doanh ngoại hối (vàng, ngoại tệ,…); thu nhập từ mua, bán chứng khoán (kinh doanh, đầu tư);… sau khi trừ đi các khoản: chi phí lãi tiền gửi, tiền vay; chi phí hoạt động dịch vụ, chi phí kinh doanh ngoại hối; giá vốn chứng khoán; chi phí hoạt động và chi DPRRTD;… sẽ hình thành lợi nhuận của ngân hàng

Trang 27

Để có lợi nhuận, ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng, tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời hạn chế những rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và phải tạo ra cơ cấu nguồn vốn và tài sản hợp lý Tuy nhiên, NHTM có lợi nhuận cao chưa hẳn là tốt vì để đạt mức như vậy, có thể ngân hàng đã chấp nhận cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao Do đó, lợi nhuận cần được phân tích trong mối tương quan với các chỉ tiêu như: khả năng thanh khoản, mức độ chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản và định hướng phát triển dài hạn của ngân hàng Thông thường, khả năng sinh lời của NHTM được đánh giá bằng việc phân tích cơ cấu và tình hình biến động của thu nhập, chi phí cũng như lợi nhuận và đặc biệt là một vài tỷ số sau đây:

Hệ số biên lợi nhuận ròng (NPM – Net Profit Margin)

NPM = Lợi nhuận sau thuế

x 100 (%) Tổng thu nhập

Hệ số biên lợi nhuận ròng (còn gọi là tỷ lệ sinh lời hoạt động) cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận có thể được tạo ra từ một đồng thu nhập, đồng thời phản ánh hiệu quả quản lý chi phí và chính sách định giá dịch vụ của NHTM

Hệ số sử dụng tài sản (AU – Assets Utilization ratio)

AU = Tổng thu nhập

x 100 (%) Tổng tài sản bình quân

Hệ số cho biết bao nhiêu đồng thu nhập được tạo ra từ một đồng tài sản đưa vào kinh doanh, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng

Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROAA – Return On Average Assets)

ROAA = Lợi nhuận sau thuế x 100 (%)

Tổng tài sản bình quân Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời từ tài sản của NHTM, cho biết

cứ một đồng tài sản được sử dụng sẽ tạo bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Tỷ số ROAA cao thể hiện đồng thời khả năng sử dụng tài sản để sinh lời với cơ cấu hợp lý, ít rủi ro và năng lực kiểm soát chi phí, năng lực định giá phù hợp của ngân hàng Theo thông lệ quốc tế, một ngân hàng hoạt động tốt phải có ROAA lớn hơn hoặc bằng 1%

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROAE – Return On Average Equity)

ROAE = Lợi nhuận sau thuế x 100 (%)

Vốn chủ sở hữu bình quân

Trang 28

Tỷ suất này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cũng như đánh giá lợi ích mà cổ đông có được

từ nguồn vốn bỏ ra ROAE càng cao thể hiện việc sử dụng vốn cổ phần trong đầu tư, cho vay của ngân hàng càng hiệu quả Nhà quản trị NHTM luôn muốn

tăng ROAE theo yêu cầu của cổ đông và ROAE từ 15% – 20% là đạt chuẩn

Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM – Net Interest Margin)

NIM = (Thu nhập từ lãi – Chi phí trả lãi)

x 100 (%) Tổng tài sản sinh lời bình quân

NIM phản ánh khả năng ngân hàng duy trì sự tăng trưởng của nguồn thu

cơ bản là thu lãi từ cấp tín dụng, gửi tiền và mua, bán chứng khoán nợ so với mức tăng của chi phí tương ứng là chi lãi tiền gửi và tiền vay,… hay đo lường mức chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi (tức thu nhập lãi thuần)

mà ngân hàng đạt được nhờ quản lý và sử dụng hiệu quả các tài sản sinh lời

Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang quản lý tốt tài sản và nợ, từ đó có khả năng sinh lời cao Tuy nhiên, NIM có xu hướng giảm do các NHTM phải tăng lãi suất đầu vào và giảm lãi suất đầu ra để tăng sức cạnh tranh trên dẫn đến chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi ngày càng giảm

Tỷ lệ thu nhập phi lãi ròng cận biên (NNIM – Net Non Interest Margin)

NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi)

x 100 (%) Tổng tài sản bình quân

Đây là chỉ tiêu phản ánh mức chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi chủ yếu

từ thu phí các dịch vụ; từ kinh doanh ngoại hối; từ mua, bán chứng khoán và góp vốn, mua cổ phần;… với chi phí ngoài lãi như chi cho các dịch vụ; chi phí kinh doanh ngoại hối; chi phí hoạt động và chi DPRRTD;… của ngân hàng

Tỷ lệ NNIM của NHTM thường âm do chi phí ngoài lãi vượt quá thu nhập ngoài lãi Tuy nhiên, hiện nay vì NIM giảm nên các ngân hàng tăng thu nhập ngoài lãi dẫn đến tỷ lệ NNIM ngày càng tăng

Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần

= Thu nhập lãi thuần

x 100 (%) Tổng thu nhập thuần

Chỉ tiêu này đo lường tỷ trọng của thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập thuần và tỷ lệ thu nhập lãi thuần càng cao cho thấy lợi nhuận của ngân hàng càng phụ thuộc vào chất lượng hoạt động tín dụng

Trang 29

v Các chỉ tiêu về khả năng thanh khoản (L)

Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và những hoạt động giao dịch tài chính khác (Nguyễn Văn Tiến, 2011) Các NHTM cần thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn và để đối phó với biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền của khách hàng Ngoài ra, thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và cho vay Vì vậy, khả năng thanh khoản luôn là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng hoạt động

và sự an toàn của một NHTM

Thanh khoản của ngân hàng còn được hiểu là khả năng tiếp cận các loại tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với mức chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu về vốn phát sinh Tài sản có tính thanh khoản cao là những tài sản

có thể được chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn và với chi phí thấp Tương tự, nguồn vốn có tính thanh khoản cao là các nguồn được mở rộng khi cần thiết cũng với thời gian ngắn và chi phí thấp Thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau, nghĩa là một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì sẽ có khả năng sinh lời càng thấp; một nguồn vốn có tính thanh khoản càng cao thì thường tốn chi phí huy động càng lớn, làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay và ngược lại

Rủi ro thanh khoản (RRTK) là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán (Phan Thị Cúc, 2009) Trên thực tế, ngân hàng vẫn có thể đáp ứng được nhưng phải trả một chi phí lãi cao cho các khoản vốn huy động hoặc bán các tài sản với giá thấp tức phải gánh chịu một khoản lỗ Do đó, bản chất của RRTK là việc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí cao vượt quá sức chịu đựng của ngân hàng, làm giảm khả năng sinh lời, đặc biệt là dẫn đến tình trạng vỡ nợ Việc phá sản của một NHTM khi gặp RRTK có thể kéo theo sự sụp đỗ của hệ thống ngân hàng

Các chỉ tiêu thường được dùng để đo lường RRTK, đồng thời đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng là:

Trạng thái thanh khoản ròng (NLP – Net Liquidity Position)

NLP = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản

Trang 30

- Cung thanh khoản: là các khoản vốn làm tăng dự trữ và tăng khả năng chi trả của ngân hàng, bao gồm: các khoản tiền gửi sẽ nhận được; thu nhập từ cung cấp các dịch vụ; các khoản tín dụng được hoàn trả; bán các tài sản đang nắm giữ; vay trên thị trường tiền tệ

- Cầu thanh khoản: là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, các khoản làm giảm dự trữ của ngân hàng như: khách hàng rút các khoản tiền gửi; yêu cầu cấp tín dụng của khách hàng; hoàn trả các khoản vay đáo hạn cho NHNN, TCTD khác; các chi phí hoạt động và thuế; chi trả cổ tức bằng tiền cho cổ đông

Chỉ số cho biết trạng thái cân bằng (NPL = 0) hay thặng dư (NLP > 0) hoặc thiếu hụt (NPL < 0) thanh khoản của ngân hàng để nhà quản trị đưa ra các biện pháp tương ứng

Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản

= Tài sản thanh khoản

x 100 (%) Tổng tài sản

Tài sản thanh khoản của ngân hàng là những tài sản có tính thanh khoản cao như: tiền mặt, kim loại quý tại quỹ; tiền gửi tại NHNN; tiền gửi tại các TCTD khác và các loại chứng khoán có ít rủi ro, thời gian đáo hạn ngắn và dễ chuyển đổi ra tiền, ví dụ như chứng khoán ngắn hạn do Chính phủ phát hành Đây là tỷ số cơ bản nhất phản ánh khả năng thanh khoản của ngân hàng, cho biết tài sản thanh khoản chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản NHTM thường duy trì tỷ trọng này từ 20% – 30% để đảm bảo thanh khoản

Hệ số thanh khoản

= Tài sản thanh khoản – Vay ngắn hạn

x 100 (%) Vốn huy động

Hệ số thanh khoản chỉ sự so sánh giữa số tiền cần thiết để thanh toán cho người gửi tiền rút ra và sự gia tăng cho vay với nguồn thực sự hoặc tiềm năng trong thanh toán Hệ số này càng cao cho thấy RRTK càng thấp, khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao

Chỉ số trạng thái tiền mặt

= (Tiền mặt + Tiền gửi tại các định chế tài chính)

x 100 (%) Tổng tài sản

Trang 31

Chỉ số này cho biết tỷ trọng của các tài sản có tính thanh khoản cao nhất Chỉ số trạng thái tiền mặt càng lớn cho thấy ngân hàng càng có thể đáp ứng các nhu cầu tiền mặt tức thời, khả năng thanh khoản càng cao nhưng chi phí

cơ hội cũng tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

Chỉ số chứng khoán thanh khoản

Chỉ số chứng khoán thanh khoản phản ánh tỷ lệ nắm giữ những loại chứng khoán có tính thanh khoản cao so với tổng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao cho thấy trạng thái thanh khoản của NHTM càng tốt Ngoài ra, chứng khoán thanh khoản cũng có thể chỉ xét các loại chứng khoán Chính phủ như tín phiếu và trái phiếu Kho bạc

Chỉ số năng lực cho vay = Dư nợ tín dụng

x 100 (%) Tổng tài sản

Chỉ tiêu này phản ánh đồng thời năng lực cấp tín dụng và trạng thái thanh khoản của ngân hàng Vì các khoản tín dụng được xem là tài sản có tính thanh khoản thấp nhất nên ngân hàng có chỉ số năng lực cho vay càng cao thì càng kém thanh khoản

Chỉ số tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD trên tổng tiền gửi huy động

= Tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTD

x 100 (%) Tổng tiền gửi

Chỉ số này càng cao cho thấy ngân hàng càng có khả năng đáp ứng ngay yêu cầu rút tiền gửi của khách hàng và các TCTD tức khả năng thanh khoản càng cao nhưng lại không có hiệu quả kinh doanh cao

Chỉ số tín dụng trên tiền gửi = Dư nợ tín dụng x 100 (%)

Tổng tiền gửi

Sự tương quan giữa nhận tiền gửi và cấp tín dụng được dùng để đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng vì rút tiền luôn là nhu cầu thanh khoản thường xuyên và các khoản tín dụng thì luôn là tài sản kém thanh khoản nhất Chỉ số tín dụng trên tiền gửi càng cao thì RRTK càng lớn và chỉ số này tăng cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng đang giảm Tuy nhiên, tỷ lệ này quá thấp lại phản ánh NHTM chưa tận dụng tốt nguồn tiền gửi để cấp tín dụng

Trang 32

Chỉ số trạng thái ròng

= Tiền gửi tại và cho vay các TCTD

x 100 (%) Tiền gửi của và vay từ các TCTD

Tương tự như chỉ số tín dụng trên tiền gửi khi chỉ xét nhận tiền gửi và

cho vay trên thị trường liên ngân hàng, chỉ số trạng thái ròng càng tăng thì

RRTK cũng tăng, khả năng thanh khoản của ngân hàng càng giảm

Chỉ số cơ cấu tiền gửi = Tổng tiền gửi không kỳ hạn

x 100 (%) Tổng tiền gửi có kỳ hạn

Đây là chỉ tiêu đo lường tính ổn định của nguồn tiền gửi Chỉ số cơ cấu

tiền gửi càng thấp thì nhu cầu thanh khoản càng ít biến động nên khả năng

thanh khoản của ngân hàng càng đảm bảo

Chỉ số thành phần tiền biến động = Tiền gửi giao dịch

x 100 (%) Tổng tiền gửi

Tiền gửi giao dịch (hay tiền gửi không kỳ hạn dùng để thanh toán) là loại

tiền gửi có độ biến động cao nhất nên tiền gửi này chiếm tỷ trọng càng lớn, tức

chỉ số tiền biến động càng cao thì ngân hàng càng kém thanh khoản

Khả năng thanh toán ngay = Tài sản thanh toán ngay

x 100 (%)

Nợ phải trả

Hệ số này cho biết một đồng nợ phải trả của ngân hàng được đảm bảo

thanh toán ngay bằng bao nhiêu đồng tài sản Tài sản có thể thanh toán ngay

gồm các khoản mục theo quy định về tỷ lệ khả năng chi trả trong Thông tư số

13/2010 Cũng theo Thông tư, tỷ lệ này của các TCTD tối thiểu phải đạt 15%

Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng để cho vay trung, dài hạn (CVTDH)

Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn có thời hạn còn lại đến 12 tháng và

nguồn vốn trung, dài hạn là nguồn vốn có thời hạn còn lại trên 12 tháng

CVTDH là các khoản cho vay, cho thuê tài chính có thời hạn trên 12 tháng

Các khoản mục của nguồn vốn ngắn hạn và trung, dài hạn sử dụng để CVTDH

được quy định trong Thông tư số 15/2009/TT-NHNN Chỉ tiêu này càng thấp

cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao Mức tối đa của tỷ lệ

này đối với các NHTM theo quy định của NHNN là 30%

Trang 33

Tóm lại, các nhóm chỉ tiêu nêu trên được dùng để phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM hệ thống nên việc đánh giá đối với một chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng cần áp dụng các chỉ tiêu này với cách tính và mức đánh giá phù hợp hơn

2.1.3.4 Ưu, nhược điểm của mô hình CAMEL

Ưu điểm

Đảm bảo an toàn về nguồn vốn, nâng cao chất lượng tài sản, đẩy mạnh khả năng sinh lời và giữ tính thanh khoản ở mức cần thiết nhờ vào năng lực quản lý tốt luôn là những nhiệm vụ và mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị để ngân hàng hoạt động hiệu quả và vững mạnh Vì vậy, việc sử dụng

mô hình CAMEL trong phân tích tài chính có nhiều ưu điểm đối với công tác quản trị ngân hàng như sau:

 Mô hình CAMEL tổng hợp 5 yếu tố vi mô đo lường sức mạnh và độ

an toàn của một TCTD, giúp các nhà quản trị phát hiện kịp thời những bất cập, thiếu sót trong hoạt động cung ứng dịch vụ, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu

để khắc phục vấn đề và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

 Để phân tích và đánh giá từng yếu tố cơ bản, khung CAMEL gồm các chỉ tiêu quan trọng và thường được ứng dụng ở nhiều ngân hàng trên thế giới, một trong số đó là chỉ tiêu hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) phản ánh mức độ

an toàn vốn của ngân hàng Hơn nữa, các chỉ tiêu này còn liên quan chặt chẽ với nhau, giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng quát và phân tích các yếu tố trong mối quan hệ ràng buộc để đánh giá đúng tình hình tài chính của ngân hàng

 Khung CAMEL còn vận dụng kết hợp những chỉ tiêu mới với một số chỉ số như ROA, ROE đã xuất hiện trong mô hình phân tích tài chính Dupont Tuy nhiên, điểm tiến bộ hơn của CAMEL là tất cả chỉ tiêu đo lường mức độ

an toàn vốn, chất lượng tài sản có, năng lực quản trị, khả năng sinh lời và tính thanh khoản đều được định trọng số tương ứng với mức độ quan trọng lần lượt

là 15%, 21%, 23%, 24% và 17% và từng yếu tố của mô hình sẽ được đánh giá gắn với một mức điểm nhất định từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất)

 Ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích tài chính NHTM còn giúp xác định các rủi ro hiện tại và dự đoán những nguy cơ tiềm ẩn trong tương lai, góp phần tránh tình trạng phá sản của một ngân hàng, có thể gây khủng hoảng

cả hệ thống

Trang 34

Nhược điểm

Với những ưu điểm trên, mô hình CAMEL giúp cho các nhà quản trị đánh giá ngân hàng toàn diện và chính xác để đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực tài chính của một NHTM và phát triển bền vững hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, mô hình cũng tồn tại một số nhược điểm cần khắc phục như:

 Việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng dựa trên những chỉ tiêu trong mô hình CAMEL còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của các cán bộ phân tích và nhà quản lý, giám sát Sự thay đổi mức chuẩn của các chỉ tiêu cho phù hợp với quy mô từng ngân hàng, tình hình kinh tế ở mỗi nước

và sự biến đổi về thời gian chưa được phân tích cụ thể Ngoài các chuyên gia cần tiếp tục nghiên cứu thì để khắc phục nhược điểm này, các nhà phân tích, nhà quản trị ngân hàng cũng phải nhạy bén trong việc lựa chọn những chỉ tiêu

và đưa ra mức chuẩn hợp lý đối với ngân hàng của mình

 Để vận dụng hiệu quả mô hình CAMEL, ngân hàng phải xây dựng một đội ngũ cán bộ phân tích có trình độ, năng lực và kinh nghiệm hay trang bị thêm những phần mềm, công nghệ làm tăng các khoản chi phí Nhược điểm này được giải quyết tùy thuộc vào những chính sách tuyển dụng, đào tạo của ngân hàng

 Ngân hàng trung ương ở nhiều nước sử dụng mô hình CAMEL vào việc thanh tra, giám sát hệ thống TCTD nhưng sự minh bạch và tính chân thực của những thông tin và số liệu do các ngân hàng cung cấp lại ảnh hưởng đến kết quả phân tích Việc đánh giá, xếp hạng các NHTM sẽ không chính xác nếu những dữ liệu này có sai lệch Vì vậy, các cơ quan quản lý ngành cần quy định chặt chẽ hơn về tính minh bạch của thông tin tài chính đối với ngân hàng

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin và số liệu thứ cấp trong đề tài được thu thập từ hai nguồn:

 Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long qua: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo hoạt động tín dụng và báo cáo huy động vốn trong 3 năm từ 2011 – 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 của chi nhánh

 Tổng hợp từ website của VNCB và các bài báo, bài viết có liên quan

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi thu thập được dùng để tính toán các chỉ tiêu theo khung phân tích CAMEL kết hợp với những phương pháp sau:

Trang 35

2.2.2.1 Phương pháp phân tích tỷ lệ

Phương pháp phân tích tỷ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng chỉ tiêu này trong các quan hệ tỷ lệ với các đại lượng của chỉ tiêu khác Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi các đại lượng kinh tế Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu cần phải xác định được các ngưỡng, các định mức chuẩn để so sánh Trên cơ sở so sánh về tỷ lệ các chỉ tiêu kinh tế với giá trị của các tỷ lệ định mức chuẩn, có thể rút ra những kết luận về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2009)

Phương pháp này được áp dụng để tính các tỷ lệ phản ánh những chỉ tiêu theo mô hình CAMEL của Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long và so sánh với mức qui định cụ thể của NHNN để đánh giá

2.2.2.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được dùng để xác định xu hướng, mức biến động của các chỉ tiêu khi phân tích hoạt động kinh doanh Sử dụng phương pháp này cần chú ý các vấn đề: chọn gốc so sánh; điều kiện có thể so sánh được và

kỹ thuật so sánh

Chọn gốc so sánh: phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích, số

gốc có thể là giá trị của các chỉ tiêu ở kỳ trước hoặc cùng kỳ năm trước; là mục tiêu dự kiến trong kế hoạch, định mức; là nhu cầu, mức độ hợp đồng,… Thời kỳ được chọn làm gốc (chọn để phân tích) gọi là kỳ gốc (kỳ phân tích)

Điều kiện so sánh được: là điều kiện để phép so sánh có nghĩa, hay các

chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất Khi so sánh theo thời gian, điều kiện là các chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính và đơn vị tính Về mặt không gian, các chỉ tiêu cần được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau

Kỹ thuật so sánh: được áp dụng tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu của

phân tích, tính chất và nội dung của các chỉ tiêu kinh tế Luận văn chỉ sử dụng các kỹ thuật sau:

- So sánh bằng số tuyệt đối: dựa trên kết quả của phép trừ giữa trị số kỳ

phân tích với trị số kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, biểu hiện sự biến động về quy mô của hiện tượng

- So sánh bằng số tương đối: dựa trên kết quả của phép chia giữa trị số

kỳ phân tích với trị số kỳ gốc của các chỉ tiêu, biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến và xu hướng biến động của các hiện tượng Số tương đối có thể là: số tương đối động thái, số tương đối kế hoạch hay số tương đối phản ánh mức độ thực hiện

Trang 36

2.2.2.3 Phương pháp phân tích chi tiết

Phương pháp phân tích chi tiết thường được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau như: chi tiết theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu; chi tiết theo thời gian; chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh Trong đó, luận văn chỉ

sử dụng phương pháp chi tiết theo bộ phận các chỉ tiêu của mô hình CAMEL Mọi kết quả kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộ phận

Vì vậy, phương pháp chi tiết mỗi chỉ tiêu theo các bộ phận giúp đánh giá chính xác từng yếu tố cấu thành và sự tác động đến chỉ tiêu

Ngoài những phương pháp nêu trên thì chuyên đề còn sử dụng các bảng tính số liệu, biểu đồ, hình minh họa, để phân tích và đánh giá các chỉ tiêu

Trang 37

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG

VIỆT NAM (VNCB) CHI NHÁNH VĨNH LONG

3.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VNCB CHI NHÁNH VĨNH LONG

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam, tiền thân là Ngân hàng TMCP Đại Tín, được hình thành từ Ngân hàng TMCP nông thôn Rạch Kiến thành lập vào năm 1989 và là ngân hàng cổ phần đầu tiên của Long An, được NHNN cấp giấy phép hoạt động số 0047/NH-GP ngày 29/12/1993 với trụ sở chính đặt tại số 1, thị tứ Long Hòa, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Ra đời trong giai đoạn đầu Việt Nam chuyển từ kinh tế hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, sau mười năm thành lập, Ngân hàng đã hoạt động ổn định

và bước đầu tăng trưởng đều theo từng năm kể từ năm 1999 Đến năm 2007, sau khi được NHNN chấp thuận chuyển đổi mô hình thành ngân hàng TMCP

đô thị, ngày 17/09/2007, Ngân hàng Rạch Kiến đã đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đại Tín (TRUSTBank) theo Quyết định số 2136/QĐ-NHNN Việc chuyển đổi mô hình hoạt động đã góp phần giúp Ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, mở rộng mạng lưới kinh doanh, cung cấp đa dạng hơn các sản phẩm dịch vụ và phấn đấu với mục tiêu trở thành một ngân hàng bán lẻ hiện đại theo chuẩn mực quốc tế

Nhằm tăng điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động, ngày 21/08/2008, Ngân hàng Đại Tín dời trụ sở chính (Hội sở) đến địa điểm mới là 145-147-149 Hùng Vương, phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An theo Quyết định số 1855/QĐ-NHNN Trong năm 2010, Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc Ngân hàng được thành lập Ngân hàng tiếp tục tăng trưởng ổn định

và đến ngày 31/12/2010, vốn điều lệ đạt 3.000 tỷ đồng Nhưng từ năm 2011,

do chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đại Tín gặp nhiều khó khăn hơn dẫn đến Ngân hàng phải thực hiện tái cơ cấu vào cuối năm 2012 theo đề án của NHNN và đổi lại tên gọi sau đó Ngày 23/05/2013, theo Quyết định số 1161/QĐ-NHNN do Thống đốc NHNN ban hành, Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam chính thức được thành lập với một số đặc điểm:

Trang 38

 Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam – Vietnam Construction Joint Stock Commercial Bank

 Tên gọi tắt: Ngân hàng Xây dựng Việt Nam – Vietnam Construction Bank

 Tên viết tắt: VNCB

 Địa chỉ: 145-147-149 Hùng Vương, phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An

 Sản phẩm dịch vụ chính: Huy động vốn (nhận tiền gửi từ khách hàng);

Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh); Các dịch vụ trung gian (thanh toán trong nước, dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng); Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ Trong đó, cho vay xuất khẩu, cho vay và dịch vụ đối với ngành vật liệu xây dựng và nhà ở cho người có thu nhập thấp được ngân hàng chú trọng phát triển

 Mạng lưới hoạt động: đạt 122 điểm trên khắp cả nước tính đến ngày 30/6/2014

Việc hình thành một TCTD tập trung hơn đáp ứng các nhu cầu về vốn, dịch vụ thanh toán và một số dịch vụ khác cho những doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng rất quan trọng với nền kinh tế đang phát triển được xem là một chiến lược mang tính đón đầu thị trường, mở ra trang mới trên hành trình phát triển của Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB)

Sáng ngày 21/05/2010, Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (khi đó còn là Ngân hàng Đại Tín) đã làm lễ khai trương, đưa vào hoạt động thêm một đơn vị mới tại tỉnh Vĩnh Long và là điểm giao dịch thứ 73 trên toàn quốc, với tên gọi hiện tại là Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long tại địa chỉ số 66, đường Phạm Thái Bường, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

3.1.2 Các hoạt động chủ yếu của VNCB chi nhánh Vĩnh Long

Chi nhánh Vĩnh Long của Ngân hàng hoạt động nhằm đem lại những dịch vụ tiện ích nhất về ngân hàng cho khách hàng khi đến giao dịch với các chức năng tương tự những phòng giao dịch khác của VNCB:

 Nhận tiền gửi bằng VNĐ, ngoại tệ;

 Cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng;

 Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western Union, thu đổi ngoại tệ;

Trang 39

 Các dịch vụ khác theo sự phân cấp và ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng Xây dựng Việt Nam

Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long được kết nối trực tuyến với Hội sở, tất cả chi nhánh và phòng giao dịch trong hệ thống Ngân hàng VNCB

để giúp khách hàng có thể gửi tiền, rút tiền và sử dụng các dịch vụ của VNCB một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất

3.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VNCB CHI NHÁNH VĨNH LONG

3.2.1 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu nhân sự tại Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long được tổ chức hợp lý và chặt chẽ, gồm Ban Giám đốc và các phòng ban như sơ đồ sau đây:

Nguồn: Phòng Kinh doanh tại Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long

3.2.2 Giới thiệu từng bộ phận

Ban Giám đốc và các phòng ban tại VNCB chi nhánh Vĩnh Long được

cơ cấu và hoạt động với các vai trò, chức năng tương tự như những chi nhánh khác của VNCB, cụ thể như sau:

 Ban Giám đốc

Ban Giám đốc bao gồm: Giám đốc và Phó Giám đốc

Giám đốc: có quyền điều hành và chịu trách nhiệm về tất cả hoạt động

của chi nhánh, hướng dẫn hoặc trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cấp trên giao

và quyết định những vấn đề liên quan đến bổ chức, bổ nhiệm hay miễn nhiệm; khen thưởng và kỷ luật cán bộ, công nhân viên

Phó Giám đốc: có vai trò hỗ trợ cho Giám đốc về nghiệp vụ, đồng thời

giám sát hoạt động của các phòng ban và phụ trách theo dõi tài chính, công tác tín dụng và tình hình huy động vốn

Trang 40

- Lập báo cáo về các công tác hành chính, quản trị và công tác cán bộ, lao động, tiền lương theo quy định

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Giám đốc giao phó

Phòng Kinh doanh: tập trung các hoạt động chính, quyết định phần lớn kết quả kinh doanh của chi nhánh

- Nghiên cứu về tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn hoạt động nhằm tiếp cận thị trường và thu thập thông tin, từ đó đề xuất phương án kinh doanh mới, lập và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch phát triển mạng lưới

- Tìm kiếm những khách hàng mới và duy trì quan hệ với các khách hàng hiện tại theo chiến lược khách hàng của chi nhánh

- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ vay theo chế độ tín dụng hiện hành, trình Ban Giám đốc duyệt hồ sơ vay vốn của khách hàng

- Thẩm định các dự án đầu tư và phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn, tổ chức kiểm tra, giám sát các khoản vay, đôn đốc thu hồi những khoản nợ đến hạn và đề ra các biện pháp xử lý nợ quá hạn

- Tổ chức quản lý, theo dõi các tài sản thế chấp, bảo lãnh và bất động sản cầm cố được lưu giữ tại kho

- Bán chéo sản phẩm, huy động tiền gửi, phát hành thẻ, mở tài khoản thanh toán, thanh toán quốc tế, chuyển tiền nội địa

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Giám đốc giao

Ngày đăng: 26/10/2015, 08:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng VNCB chi nhánh Vĩnh Long (Trang 39)
Hình 3.3 Dư nợ tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 3.3 Dư nợ tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 42)
Hình 3.4 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 3.4 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 43)
Hình 4.2 Cơ cấu vốn huy động của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 4.2 Cơ cấu vốn huy động của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 48)
Hình 4.4a Cơ cấu theo thành phần kinh tế          Hình 4.4b Cơ cấu theo thời hạn tín dụng - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 4.4a Cơ cấu theo thành phần kinh tế Hình 4.4b Cơ cấu theo thời hạn tín dụng (Trang 53)
Bảng 4.7 Doanh số cho vay theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.7 Doanh số cho vay theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 55)
Bảng 4.9 Doanh số thu nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.9 Doanh số thu nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 59)
Bảng 4.11 Dư nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.11 Dư nợ theo ngành kinh tế của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 63)
Bảng  4.12 Tình hình  phân  loại nợ  và  trích lập dự phòng rủi ro tín dụng  của  VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
ng 4.12 Tình hình phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 – 2013 (Trang 65)
Hình 4.7 Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 4.7 Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của (Trang 66)
Bảng 4.14 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản có của VNCB-Vĩnh Long - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.14 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản có của VNCB-Vĩnh Long (Trang 67)
Hình 4.8 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 4.8 Kết quả kinh doanh của VNCB-Vĩnh Long (Trang 71)
Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực quản trị của VNCB-Vĩnh Long - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực quản trị của VNCB-Vĩnh Long (Trang 72)
Bảng 4.19 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của VNCB-Vĩnh Long - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Bảng 4.19 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của VNCB-Vĩnh Long (Trang 76)
Hình 4.10 Tỷ lệ NPM, ROAA và NIM của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 - ứng dụng mô hình camel trong phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng việt nam (vncb) chi nhánh vĩnh long
Hình 4.10 Tỷ lệ NPM, ROAA và NIM của VNCB-Vĩnh Long từ năm 2011 (Trang 77)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w