Bên cạnh đó, một số địa phương người dân có cơ hội tốt hơn từ các hoạt động phi nông nghiệp dẫn tới tình trạng lãng phí trong sử dụng nguồn lực đất đai, các kinh nghiệm sản xuất cây vụ đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 02 tháng 02 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền, người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Bảo vệ thực vật huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, các doanh nghiệp, người dân ở 3 xã Quỳnh Hải, Quỳnh Lâm, An Quý đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu hoàn thành luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các tập thể, cá nhân, đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 02 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 5
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY
2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây vụ đông 13
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất cây ngắn ngày ở một số nước trên
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển cây vụ đông ở vùng Đồng bằng Sông Hồng 19
Trang 63.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.1 Thực trạng phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ 39 4.1.1 Khái quát về tình hình ngành trồng trọt của huyện Quỳnh Phụ 39 4.1.2 Phát triển qui mô và cơ cấu cây trồng vụ đông 43 4.1.3 Phát triển hình thức tổ chức sản xuất cây vụ đông 44
4.1.5 Sử dụng đầu vào trong phát triển cây vụ đông 51
4.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển cây vụ đông 62
4.2.4 Cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cho sản xuất cây vụ đông 72 4.2.5 Yếu tố thị trường và liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây vụ đông 75
4.3.1 Định hướng phát triển sản xuất cây vụ đông huyện Quỳnh Phụ 81
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 So sánh dinh dưỡng đất bỏ hoang và đất trồng khoai lang trong vụ đông 7 2.2 Tác động của một số cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất 7
3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu, thời tiết huyện Quỳnh Phụ giai đoạn
3.3 Tình hình dân số, lao động của huyện Quỳnh Phụ 30
3.5 Mẫu điều tra, phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 36 4.1 Tình hình sản xuất lúa của Quỳnh Phụ từ 2005-2014 41 4.2 Diện tích, cơ cấu gieo cấy các trà lúa vụ mùa ở Quỳnh Phụ năm
4.14 Thứ tự các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cây vụ đông của hộ 63 4.15 Tỷ lệ hộ điều tra được thụ hưởng một số chính sách nhà nước các
4.16 Sự tham gia của người dân trong công tác quy hoạch 66
Trang 94.17 Mức độ vi phạm quy hoạch ở 2 vùng sản xuất tập trung 68 4.18 Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ điều tra năm 2014 69 4.19 Vốn bình quân của các hộ gia đình phục vụ phát triển cây vụ đông 71 4.20 Tình hình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển cây
4.21 Kết quả các khóa tập huấn kỹ thuật canh tác cây vụ đông từ năm 2012 - 2014 74 4.22 Tỷ lệ hộ dân tham gia vào các hình thức liên kết sản xuất và tiêu
4.23 Mức độ liên kết và khả năng áp dụng trong chuyển giao khoa học
4.24 Đối tượng liên kết trong tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân 79 4.25 Nguồn cung cấp thông tin khi bán sản phẩm và khi quyết định sản
4.26 Tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật sản xuất cây vụ đông 89
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
3.1 Bản đồ hành chính huyện Quỳnh Phụ trong bản đồ tỉnh Thái Bình 23 4.1 Mô hình liên kết trong hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật 77
4.1 Diễn biến các tổ nhóm trong phát triển cây vụ đông qua các năm 48 4.2 Tỷ lệ nảy mầm của các nguồn giống được người dân sử dụng 50 4.3 Giá một số phân bón chủ yếu giai đoạn 2005-2012 71
Trang 11
PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vụ đông ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân Những năm trước đây vụ đông nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực trong những ngày giáp hạt và phục vụ chăn nuôi thì hiện nay nó đang dần trở thành vụ mang lại thu nhập cao cho các hộ nông dân
Sản xuất vụ đông góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động đang
dư thừa ở nông thôn, tăng nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và
là biện pháp quan trọng để góp phần tăng độ phì nhiêu cho đất đặc biệt là đối với các thửa đất dùng để canh tác hai vụ lúa chất lượng cao Vì vậy phát triển sản xuất cây vụ đông giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập đời sống cho người nông dân; Đóng góp đa dạng hóa sản phẩm, cung cấp sản phẩm có chất lượng cho người tiêu dùng
Hiện nay cây vụ đông đã được nhiều địa phương quan tâm phát triển, tuy nhiên cũng không ít nơi người dân thờ ơ với vụ đông do việc sản xuất còn gặp phải không ít khó khăn Đầu ra không có trong khi giá cả các yếu tố đầu vào lại ngày một tăng đang cản trở người dân đầu tư phát triển cây vụ đông Bên cạnh
đó, một số địa phương người dân có cơ hội tốt hơn từ các hoạt động phi nông nghiệp dẫn tới tình trạng lãng phí trong sử dụng nguồn lực đất đai, các kinh nghiệm sản xuất cây vụ đông của người nông dân và bỏ qua các cơ hội trong phát triển các cây trồng có giá trị và hiệu quả
Quỳnh Phụ là huyện nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình Toàn huyện có
38 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 20.961,47 ha Là huyện có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 90% diện tích tự nhiên và 80% dân số toàn huyện Do đó, trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Quỳnh Phụ xác định ưu tiên phát triển nông nghiệp, trong đó nông nghiệp hàng hóa là hướng chủ đạo
Trong những năm qua, cùng với chủ trương của tỉnh, huyện Quỳnh Phụ đã
Trang 12có những chính sách nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp hàng hóa, định hướng phát triển như quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, dồn điền đổi thửa, phát triển cây trồng vụ đông trên đất hai lúa Tuy nhiên, hiện nay phát triển cây
vụ đông ở Quỳnh Phụ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề đó là mặc dù huyện đã
có quy hoạch vùng sản xuất tập trung nhưng việc quản lý vùng quy hoạch còn chưa chặt chẽ; phương thức canh tác theo truyền thống; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất rau quả đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tổ chức quản lý, giám sát, xác nhận còn triển khai chậm và thiếu đồng bộ; tổ chức liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn do giá trị kinh
tế của rau, màu chưa cao Để góp phần giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây vụ đông
- Đánh giá thực trạng phát triển cây vụ đông của huyện Quỳnh Phụ
- Phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển cây vụ đông của huyện Quỳnh Phụ
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ đến năm 2020
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:
Có các vấn đề lý thuyết nào liên quan tới phát triển cây vụ đông đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế trong nông nghiệp?
Các quốc gia trên Thế giới và trong khu vực, các địa phương khác trong
cả nước đã có các kinh nghiệm gì trong phát triển cây vụ đông?
Thực trạng phát triển cây vụ đông đang diễn ra như thế nào ở huyện
Trang 13Quỳnh Phụ? Quỳnh Phụ đã làm gì để phát triển cây vụ đông?
Yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ? Trong định hướng phát triển cây vụ đông, huyện Quỳnh Phụ cần tập trung vào những loại cây trồng nào để nâng cao hiệu quả?
Làm thế nào để phát triển bền vững các loại cây vụ đông cho địa phương?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu các vấn đề kinh tế, quản lý trong phát triển một số loại cây vụ đông đang được trồng phổ biến trên địa bàn huyện như: Cây ớt, Đậu Tương, Khoai Tây, Ngô, các loại rau
- Đối tượng khảo sát: Các bên có liên quan trong phát triển sản xuất cây vụ đông: Các hộ nông dân sản xuất vụ đông, các trang trại, HTX, người thu gom, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu…
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
Phân tích thực trạng phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng trong việc phát triển cây vụ đông Từ đó, nghiên cứu sẽ đưa ra định hướng và các giải pháp chủ yếu trong việc phát triển cây vụ đông ở huyện Quỳnh Phụ
1.4.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, trong
đó sẽ nghiên cứu sâu tại các xã có điều kiện địa hình đại diện cho huyện Quỳnh
Phụ và có tiềm năng trong phát triển cây vụ đông
Trang 14PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY VỤ ĐÔNG
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển sản xuất
* Khái niệm về phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh
tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người
Theo MalcomGills – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự
đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo
ra các thay đổi trên
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng và cs., 2006)
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều cho rằng phát triển là sự tăng thêm về qui mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối cùng
đó là tăng hiệu quả kinh tế
* Khái niệm về phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản
Trang 15phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra)
Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất càng có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm trong khi các yếu tố đầu vào luôn khan hiếm
Phát triển sản xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Thứ nhất đây là quá trình tăng quy mô về số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai là quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Cả hai quá trình này đều nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người
Vậy phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng cao của con người
2.1.1.2 Khái niệm cây vụ đông
* Khái niệm cây vụ đông
Cây vụ đông chủ yếu là các cây cạn và ngắn ngày có đặc tính sinh lý, sinh hóa khác nhau, đa dạng và phong phú với nhiều cây trồng trên các loại đất khác nhau, cho ra các sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng nước cao nên rất khó bảo quản Hầu hết các loại cây trồng này có thời vụ tương đối nghiêm ngặt
và rất dễ bị sâu bệnh hại
Trước đây quan niệm cho rằng cây vụ đông là cây ưa lạnh, nên chủ yếu cây vụ đông được trồng từ cuối tháng 9 đến tháng 12, song những năm gần đây, cây vụ đông còn mở rộng sang khái niệm cây vụ đông ưa ấm và vụ đông được
mở rộng từ tháng 8 đến tháng 12
Cây vụ đông rất có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hoá Cây vụ đông được tiến hành sản xuất trong điều kiện thời tiết khí hậu lạnh, khô và diễn biến phức tạp Khí hậu lạnh và khô là điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh, nhưng sự diễn biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản
Trang 16xuất vụ đông Do đó cần có biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ kịp thời để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm, vừa tránh được rủi ro thị trường
2.1.1.3 Khái niệm về phát triển cây vụ đông
Từ khái niệm về phát triển, phát triển sản xuất, cây vụ đông có thể hiểu:
Phát triển cây vụ đông là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội Phát triển cây vụ đông bao hàm cả sự biến đổi về số lượng và chất lượng Sự thay đổi
về lượng đó là sự tăng lên về quy mô diện tích, chủng loại, khối lượng sản phẩm, hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất và việc sử dụng đấu vào trong sản xuất Sự thay đổi về chất bao gồm sự chuyển dịch sự tăng lên về năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập/đơn vị diện tích với từng loại cây trồng trong
vụ đông
2.1.2 Vai trò của phát triển cây vụ đông
- Khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực, đặc biệt nguồn lực đất đai và lao động Sản xuất cây vụ đông góp phần tận dụng đất đai sau 2 vụ chính Sản xuất nông nghiệp trước đây thường tập trung vào hai vụ chính là vụ xuân và vụ mùa Tuy nhiên, thời tiết ở miền Bắc có mùa đông lạnh đã tạo điều kiện phát triển sản xuất cây vụ đông Đồng thời, cơ cấu mùa vụ được điều chỉnh và các giống cây ngắn ngày được đưa vào sử dụng nhằm đảm bảo cho sự phù hợp của sản xuất vụ đông Do đó, sản xuất cây vụ đông góp phần của tăng hệ số sử dụng đất trong năm, tận dụng tối đa diện tích đất sản xuất nông nghiệp vào trong sản xuất Bên cạnh đó, sản xuất cây vụ đông góp phần tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, đặc biệt các lao động không đủ điều kiện làm thuê, làm việc phi nông nghiệp
- Góp phần cải tạo, bồi dưỡng đất Trồng cây vụ đông tạo điều kiện cho việc luân canh cây trồng trên đất, thay đổi loại cây trồng giúp sử dụng hợp lý nguồn nước, chất dinh dưỡng, tạo ra môi trường bất lợi cho sự tồn tại, lây lan của sâu bệnh, dịch hại từ vụ này sang vụ khác Bên cạnh đó, nếu chỉ tập trung trồng một loại cây trồng trên đất, dễ dẫn đến tình trạng đất bạc màu, thiếu hụt một vài chất nhất định
Trang 17Bảng 2.1 So sánh dinh dưỡng đất bỏ hoang và đất trồng khoai lang
(Nguồn: Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 193 năm 1998)
Một số loại cây vụ đông như các cây họ đỗ, lạc… ngoài mục đích luân canh cây trồng, với đặc điểm sinh học đặc biệt còn có khả năng cải tạo đất, bổ sung dinh dưỡng cho đất, góp phần tăng năng suất các cây trồng khác
Bảng 2.2 Tác động của một số cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ
của đất
STT Chỉ tiêu
Đất trước khi thu hoạch
Đất sau khi thu hoạch vụ đông
Khoai lang
Khoai tây
Ngô gié
Đậu Côbơ
(Nguồn: Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 193 năm 1998)
- Cung cấp lương thực cho con người và thức ăn cho chăn nuôi Cũng như các loại cây trồng khác, cây vụ đông góp phần cung cấp lương thực và rau màu
đa dạng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người Ngoài những cây vụ đông đã được trồng lâu năm như ngô, khoai tây, khoai lang, đậu tương… thì ngày càng có nhiều loại rau cao cấp khác được đưa vào trồng trong vụ đông như bí, cà chua, dưa chuột, súp lơ, hành, ớt… nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa đạng của con người Ngoài ra, các phụ phẩm từ sản xuất cây vụ đông là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt một số cây trồng vụ đông như ngô, đỗ
Trang 18tương… còn là nguồn nguyên liệu chính cung cấp cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay
- Tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn, có giá trị kinh tế cao Cây vụ đông rất đa dạng về chủng loại, dễ chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt và có giá trị kinh tế cao, điển hình như các loại cà rốt, cà chua, khoai tây, súp lơ, dưa chuột, ớt, cây gia vị… Đặc biệt, đối với những khu vực hình thành vùng sản xuất lớn, hướng tới những cây trồng hàng hóa, có khả năng xuất khẩu… sẽ góp phần nâng cao giá trị cây vụ đông Do đó, sản xuất cây vụ đông tuy cần nhiều công chăm sóc hơn nhưng khối lượng sản phẩm thu được lớn, giá trị cao góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho người sản xuất
- Góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nông dân Từ việc sản xuất 2 vụ lúa/năm, các hộ sản xuất cây vụ đông đã tăng vụ lên thành 3 vụ/năm,
sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đất đai, lao động Thời gian gieo trồng ngắn, tuy nhiên cây vụ đông tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đặc biệt với các loại cây có giá trị kinh tế cao đã góp phần nâng cao thu nhập của người sản xuất, từ
đó cải thiện đời sống của hộ gia đình
2.1.3 Đặc điểm và phân loại cây vụ đông
2.1.3.1 Đặc điểm cây vụ đông
Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ở nước ta nhờ thành công tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên đã rút ngắn được thời gian sinh trưởng của một số loại cây trồng tạo điều kiện cơ cấu lại mùa vụ Từ đó trong cơ cấu nông nghiệp nước ta chính thức hình thành thêm một vụ sản xuất mới đó là “vụ đông”
Do đặc điểm thời tiết khí hậu nên nước ta duy nhất có các tỉnh phía Bắc từ Mục Nam Quan đến Bắc đèo Hải Vân có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất cây
vụ đông ngoài hai vụ lúa Cây vụ đông là cây trồng có các đặc điểm sau:
- Hầu hết những loại cây trồng này có yêu cầu về thời vụ tương đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại Do đó khâu lựa chọn giống cây trồng cần đảm bảo cho nâng cao năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, đồng thời các khâu sản xuất phải làm đúng, kịp thời để không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ đông, không ảnh
Trang 19hưởng đến vụ sản xuất kế tiếp
- Cây vụ đông phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên việc lựa chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và thích nghi với sự biến động
về điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu là hết sức cần thiết (Đinh Văn Đãn, 2002)
- Vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau, do vậy các hộ nông dân cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với chi phí đầu tư của mình nhằm tạo
ra năng suất cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của thị trường Có như vậy hiệu quả sản xuất mới được tăng lên, tỷ trọng hàng hóa trong cơ cấu sản phẩm cũng tăng lên thúc đẩy việc hoàn thành chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hóa (Đinh Văn Đãn, 2002)
- Sản xuất vụ đông được tiến hành trong điều kiện khí hậu lạnh, khô và diễn biến phức tạp Khí hậu lạnh và khô là điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh hại, nhưng sự diễn biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản xuất vụ đông Vì vậy, từng vùng, từng địa phương cần nắm rõ được quy luật thay đổi của khí hậu để có những giải pháp khắc phục hiệu quả, tránh được những thiệt hại khôn lường có thể xảy ra (Đinh Văn Đãn, 2002)
- Sản phẩm cây vụ đông có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng nước cao nên rất khó bảo quản Cũng do đặc điểm trên mà sản phẩm cây vụ đông sản xuất ra phải tiến hành tiêu thụ ngay nên đã làm cho tỷ suất hàng hóa tăng cao Vì vậy cần
có những biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ kịp thời để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm, vừa tránh được rủi ro thị trường (Đinh Văn Đãn, 2002)
- Cây trồng vụ đông đòi hỏi đầu tư lớn về lao động, chi phí vật chất Do vậy, để cây vụ đông đạt năng suất, chất lượng cao các hộ nông dân phải bố trí hợp lý tiền vốn, lao động cho vụ sản xuất này (Đinh Văn Đãn, 2002)
2.1.3.2 Phân loại cây vụ đông
a Phân loại cây vụ đông theo loại đất trồng
- Cây vụ đông trồng trên đất lúa
Cây vụ đông trên đất lúa là các cây được gieo trồng hàng năm vào mùa thu sau khi kết thúc vụ lúa hè thu và được thu hoạch vào mùa đông (Bùi Huy Đáp, 1972)
Trang 20- Cây vụ đông trên đất màu
Cây vụ đông trên đất màu là các cây được trồng ở vùng đất khô chuyên trồng các loại cây hoa màu như khoai, lạc, đậu… trong mùa thu và thu hoạch vào mùa đông (Bùi Huy Đáp, 1972)
- Cây vụ đông trên đất bãi
Cây vụ đông trên đất bãi là các cây được trồng ở vùng đất được hình thành ven sông, ven cù lao trên sông do phù sa bồi tụ, các loại cây này cũng được gieo trồng trong khoảng thời gian tương tự như trên đất lúa và đất bãi (Bùi Huy Đáp, 1972)
b Phân loại cây vụ đông theo chủng loại cây
- Cây phân xanh và thức ăn gia súc
Trong các loại cây trồng vụ đông cần phát triển, đáng chú ý là các loại cây phân xanh và thức ăn gia súc Diện tích các cây phân xanh hiện nay chiếm một tỷ
lệ rất nhỏ trong tổng diện tích trồng trọt vậy nên việc bồi dưỡng và cải tạo đất gặp nhiều khó khăn, yêu cầu về phân bón và hệ thống trồng trọt thâm canh chưa được thỏa mãn Với cơ cấu các vụ sản xuất và chế độ luân canh có vụ đông, có thể đặt một số cây phân xanh và thức ăn gia súc vào lịch thời vụ một cách ổn định thành những vụ sản xuất mới giữa vụ mùa và vụ xuân ở đất ruộng cấy lúa hai vụ hay để thay thế cho những tháng bỏ hóa trên những loại đất mới cấy có một vụ lúa mùa Khi phát triển loại cây này đến một quy mô nhất định sẽ tạo ra những chuyển biến
về chất lượng trong tình hình sản xuất nông nghiệp, trong năng suất của cây trồng cũng như trong sản lượng của gia súc Một số cây phân xanh và thức ăn gia súc: Bèo dâu, điêu tử và tử vân anh, rau lấp (Bùi Huy Đáp, 1972)
- Đỗ đậu mùa đông
Phát triển mạnh đỗ đậu mùa đông sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và kỹ thuật, có tác động tích cực, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng và cải tạo đất Sản xuất
đỗ đậu mùa đông tạo thêm được một khối lượng thực phẩm và thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng cao Rễ cây họ đậu có khả năng tổng hợp đạm tự do của khí trời thành đạm hữu cơ, trồng đỗ đậu mùa đông trên các chân ruộng cạn có tác dụng như những loại cây phân xanh (Bùi Huy Đáp, 1972)
Trang 21- Rau mùa đông
Rau vụ đông là vụ rau quan trọng nhất trong năm, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao, tăng thêm thu nhập cho người nông dân Từ lâu đời, nông dân ta đã quen trồng rau vụ đông với những giống rau ta chịu rét ở vườn cạn hay dưới ao như các loại rau cải ta, rau diếp, hành tỏi, rau mùi, rau thơm, rau cần…Ngoài ra còn trồng một số rau ôn đới nhập nội như: bắp cải, xu hào, xà lách, súp lơ, cải xoong, cà rốt, tỏi tây, hành tây, cần tây…Hiện nay nước ta đã hình thành một số vùng chuyên canh rau có trình độ thâm canh cao, cho năng suất cao và với nhiều loại sản phẩm sớm, muộn, rau trái
vụ khá phong phú (Bùi Huy Đáp, 1972)
- Cây lương thực vụ đông
Trong vụ đông có thể trồng một số cây lương thực ăn hạt hay ăn củ Thích hợp nhất là loại cây ôn đới ngắn ngày, ưa nhiệt độ lạnh của mùa đông Một số loại cây yêu cầu nhiệt độ tương đối cao trong thời kì đầu sinh trưởng, nhưng có thời gian sinh trưởng ngắn nên có thể gieo trồng sớm từ mùa thu để thu hoạch vào giữa hay cuối mùa đông Các loại cây ăn củ khá phổ biến như khoai lang, khoai tây, lạc Còn cây ăn hạt là ngô thu đông và một số giống mì và mạch hoa đã được trồng lâu đời ở miền núi (Bùi Huy Đáp, 1972)
Tuy có nhiều cách phân loại cây vụ đông song đề tài nghiên cứu tập trung vào việc phân loại cây vụ đông theo loại đất trồng để nhằm định hướng quy hoạch phát triển cây vụ đông phù hợp với thời vụ sản xuất của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
2.1.4 Nội dung đánh giá phát triển cây vụ đông
Phát triển cây vụ đông theo số lượng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ cho tiêu dùng tại chỗ, cho các cơ sở chế biến hay nhu cầu xuất khẩu sản phẩm đi nước ngoài Phát triển cây vụ đông trên khía cạnh số lượng bao gồm: i) Mở rộng quy mô diện tích; ii) tăng chủng loại sản phẩm; iii) tăng sản lượng, giá trị sản xuất
và iv) áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất Phát triển cây vụ đông trên khía cạnh chất lượng gồm: i) tăng năng suất cây vụ đông; ii) tăng sản lượng cây vụ đông) iii) tăng giá trị cây vụ đông và iv) tăng hiệu quả kinh tế cây vụ đông
Trang 222.1.4.1 Mở rộng quy mô và cơ cấu cây vụ đông
Để thực hiện mục tiêu phát triển số lượng cây vụ đông thì yêu cầu thứ nhất phải thực hiện đó là mở rộng diện tích gieo trồng cây vụ đông Các cơ quan nghiên cứu nên có kế hoạch điều tra, thử nghiệm sản xuất trên các vùng đất mới, ngoài đất màu, đất bãi, đất hai lúa truyền thống nếu đạt hiệu quả cao thì tiến hành sản xuất đại trà, mở rộng diện tích sản xuất, tránh để đất hoang hóa, lãng phí nguồn tài nguyên đất nước
Ngoài việc mở rộng diện tích việc phát triển cây vụ đông còn được xem xét trên khía cạnh phát triển hệ thống cây trồng với việc nghiên cứu, thử nghiệm
và đưa các loại giống mới, cây trồng mới vào vụ đông
Sử dụng những giống mới không chỉ giúp người sản xuất đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường mà còn góp phần rất lớn giúp người nông dân trong khâu canh tác, nâng cao thu nhập Người nông dân nên liên kết với các
cơ sở nghiên cứu cây giống có chất lượng, uy tín cao để được hỗ trợ về giống, về vốn, nhận được sự hướng dẫn của các nhà khoa học trong sản xuất nhằm tránh được các rủi ro trong nông nghiệp như sâu bệnh hại, phòng trừ thiên tai, biến đổi khí hậu…Bên cạnh đó cần có những chính sách hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu cây trồng nông nghiệp để thúc đẩy việc nghiên cứu tạo ra các giống mới cho năng suất cao
2.1.4.2 Phát triển hình thức tổ chức sản xuất cây vụ đông
Việc phát triển sản xuất cây vụ đông không chỉ được xem xét trên khía cạnh gia tăng về diện tích, sản lượng sản phẩm tạo ra mà còn được xem xét là sự phát triển (tăng lên) của các hình thức tổ chức sản xuất bao gồm: hộ, trang trại, hợp tác
xã, doanh nghiệp trong đó chú trọng phát triển theo hình thức hợp tác xã, trang trại có quy mô lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường Phát triển hình thức tổ chức sản xuất cây vụ đông ngoài việc xem xét sự phát triển về mặt số lượng các
hình thức tổ chức sản xuất còn phải xem xét mức độ hợp tác, liên kết giữa các hình
thức tổ chức sản xuất nhằm tận dụng lợi thế về quy mô
2.1.4.3 Phát triển kỹ thuật sản xuất
Ứng dụng các công nghệ mới, máy móc tiên tiến nhằm giảm sức lao động
Trang 23con người đồng thời nâng cao năng suất cây trồng Ứng dụng các giải pháp khoa học-công nghệ trong chọn tạo giống lúa để chọn tạo giống lúa cho năng suất cao,
ổn định, chất lượng gạo tốt, kháng sâu bệnh, chống chịu được với điều kiện khó khăn của thời tiết Xây dựng quy trình canh tác kỹ thuật theo từng nhóm giống- tiểu vùng sinh thái Hiện nay đang có quy trình GAP (Good Agricultural Practices) để sản xuất sạch, đạt chất lượng cao
2.1.4.4 Tăng năng suất, sản lượng sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường việc phát triển sản xuất cây vụ đông cần phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có giá trị cao, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
2.1.4.5 Tăng giá trị sản phẩm
Bên cạnh việc phát triển số lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường thì việc phát triển chất lượng sản phẩm vô cùng quan trọng Việc phát triển sản xuất cây vụ đông trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sản phẩm tạo ra phải đảm bảo an toàn, sạch theo những tiêu chuẩn, quy định nhất định (Vietgap, Gold balgap )
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ thì phải tăng cường chất lượng sản phẩm, đảm bảo đúng theo quy trình kỹ thuật đã đặt ra thì người sản xuất
sẽ rất có lợi thế trong cạnh tranh khi đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ Giúp người sản xuất nhận được sự tin tưởng của khách hàng đối với thực phẩm an toàn Đồng thời giá cả sản phẩm khi sản xuất ra không bị mất giá, luôn ổn định
2.1.4.6 Tăng hiệu quả kinh tế cây vụ đông
Ở khía cạnh hiệu quả kinh tế là việc phát triển cây vụ đông mang lại thu nhập cao hơn cho người dân so với các loại cây trồng khác xét trên chi phí bỏ ra, công lao động tiêu hao, diện tích canh tác…
2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây vụ đông
2.1.5.1 Nhân tố về chính sách phát triển cây vụ đông
Chính sách phát triển cây vụ đông của nhà nước, của vùng, của địa phương: Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế thị trường, dưới tác động từ nhiều phía các hoạt động kinh tế và các chính sách Nhà nước ban hành nhằm đáp ứng
Trang 24nhu cầu cụ thể cho mỗi đối tượng trong mọi lĩnh vực Trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích nông dân tích cực sản xuất, đưa tiến bộ KHKT mới vào để tăng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất Nhiều chính sách khi áp dụng đã thực sự góp phần thúc đẩy nền sản xuất phát triển
2.1.5.2 Quy hoạch phát triển cây vụ đông
Dựa vào các tính chất đất đai, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và lợi thế của địa phương, để quy hoạch vùng sản xuất cây vụ đông nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả Định hướng phát triển các cây trồng vụ đông ở những vùng có thế mạnh là một yếu tố vô cùng quan trọng nó có ý nghĩa thúc đẩy phát triển sản xuất cây vụ đông cả về diện tích và quy mô và chủng loại cây trồng
2.1.5.3 Nhóm nhân tố về nguồn lực
Nguồn lực hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ cho sản xuất: vốn, lao động, tri thức, khả năng tổ chức, điều kiện tự nhiên Trong sản xuất kinh doanh, các nguồn lực được hiểu đó là giá trị đầu vào, là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Người sản xuất chủ động về nguồn lực sẽ thực hiện tốt hơn quá trình sản xuất
- Nguồn lực về đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thiếu được đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Số lượng, chất lượng của đất đai qui định lợi thế so sánh của mỗi vùng, cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và
cả vùng Mặc dù hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, có một số loại rau quả sản xuất không dùng đất, song nhìn chung chúng chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể, không thể thay thế được đất đai
Đất đai phản ánh quy mô của sản xuất, trong điều kiện sản xuất hàng hoá theo hướng chuyên môn hoá cần phải quy hoạch vùng để sản xuất Mặt khác đất đai
có đặc điểm là cố định về vị trí, giới hạn về diện tích, chất lượng không đồng đều
Do đó, chất lượng sản phẩm và năng suất của các loại rau quả ở các địa điểm là khác nhau Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất cần phải liên tục bảo vệ bồi dưỡng đất, tích cực mở rộng diện tích đất bằng cách khai hoang tăng vụ, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu thâm canh sản xuất, coi thâm canh là con đường phát triển chủ yếu
Trang 25- Về lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả của quá trình phát triển sản xuất
Tuy nhiên, lao động của các nông hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Để phát triển sản xuất cây vụ đông yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải bồi dưỡng một đội ngũ lao động có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới
- Trình độ khoa học công nghệ, kinh nghiệm của người nông dân trong việc sản xuất cây vụ đông: Cây vụ đông đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm cho năng suất tăng, chất lượng tốt Nếu chủ hộ có trình độ văn hoá cao, có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây vụ đông sẽ lựa chọn giống cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón một cách hợp lý Từ đó cây sinh trưởng, phát triển tốt tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại, chủ hộ có trình độ văn hoá thấp, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất cây vụ đông sẽ không nắm bắt được kỹ thuật thâm canh, chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật sẽ cho kết quả và hiệu quả thấp
- Nguồn vốn: Là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình phát triển sản xuất
là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa
Cây vụ đông là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn tuy nhiên đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về lao động, đất đai, trình độ sản xuất và nguồn vốn Nguồn vốn phát triển cây vụ đông chủ yếu là vốn mua vật tư, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Đây là cây trồng có thời gian quay vòng nhanh do đó đòi hỏi người dân phải chủ động được nguồn vốn phục vụ sản xuất
2.1.5.4 Nhóm nhân tố về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công
Trang 26- Thủy lợi: Phát triển thuỷ lợi nhằm phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, giúp đa dạng hóa cây trồng, đặc biệt phát triển thủy lợi có ý nghĩa sống còn để giúp giải quyết nguồn nước cho tưới, tiêu cho cây vụ đông trong giai đoạn biến động bất lợi của thời tiết
- Giao thông nội đồng: Giao thông nội đồng phát triển giúp cho việc cung ứng vật tư kỹ thuật, cho các sản xuất cây vụ đông đồng thời hỗ trợ việc vận chuyển sản phẩm đến thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục và thuận lợi Các mối liên hệ giữa các vùng sản xuất được thực hiện nhờ mạng lưới giao thông nội đồng Vì thế, những nơi gần các tuyến đường trục chính nội đồng, các vị trí thuận lợi về giao thông là nơi tập trung sản xuất, trong khi các vùng xa hơn về giao thông, tuy có điều kiện thuận lợi về đất đai nhưng cũng hạn chế rất nhiều trong phát triển cây vụ đông
- Hoạt động khuyến nông: Hoạt động khuyến nông có vai trò quan trọng trong phát triển cây vụ đông Đó là việc tuyên truyền, vận động hộ dân phát triển cây vụ đông trên đất hai lúa Ngoài ra hoạt động khuyến nông giúp người dân nâng cao trình độ sản xuất, kỹ thuật sản xuất thông qua các lớp tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn
2.1.5.5 Nhóm nhân tố thị trường và công tác tiêu thụ
Trong điều kiện sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra rất quan trọng, việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm cây vụ đông cho các hộ sản xuất phải đặc biệt được quan tâm Trước tiên là phải cung cấp thông tin về nhu cầu tiêu dùng, giá thành của các loại sản phẩm để giảm thiểu được những rủi ro khi tham gia thị trường Qua đó hình thành các kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm hợp lý, hiệu quả nhất cho nông dân, các thương lái, các công ty thu mua tránh sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Đồng thời có kế hoạch bảo quản, dự trữ sản phẩm chờ cơ hội được giá thì bán
2.1.5.6 Nhóm nhân tố kỹ thuật
- Giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản
Trang 27xuất Những giống cây trồng có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai, chịu thâm canh và có khả năng chống chịu sâu bệnh sẽ cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt Ngày nay, với trình độ khoa học phát triển, ngày càng
có nhiều giống tốt đưa vào sản xuất Tuy nhiên, ngoài việc được hướng dẫn cụ thể về quá trình sản xuất của từng giống thì người nông dân cũng cần phải có một trình độ canh tác nhất định để khai thác có hiệu quả các loại giống tốt, thích nghi với điều kiện sản xuất cụ thể
- Kỹ thuật và biện pháp canh tác: Từ đặc điểm cây vụ đông có thể thấy đây
là loại cây trồng đòi hòi người nông dân phải tính toán cụ thể, chính xác về thời
vụ gieo trồng, kỹ thuật bón phân, chăm sóc mới mang lại hiệu quả cao
Trong quá trình phát triển của nông nghiệp trên thế giới, nếu chế độ canh tác cơ bản hóa là đặc trưng của nông nghiệp phong kiến châu Âu và chế độ luân canh có cây lấy củ, quả, cây thức ăn gia súc, cây phân xanh là đặc trưng của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa thời kỳ đầu, thì hiện nay nông nghiệp hiện đại đã áp dụng những chế độ và công thức luân canh đa dạng hóa, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho nhu cầu của đời sống và của công cuộc phát triển kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa, ở các nước đang phát triển nhất là đối với các nước xã hội chủ nghĩa (Hoàng Đức Phương, 1981)
Trang 28Bảng 2.3 Chỉ số tăng vụ ở một số nước trên thế giới
(Nguồn: Dẫn theo Hoàng Đức Phương, 1981)
Các nước nhiệt đới và nửa nhiệt đới do chế độ mưa và nhiệt thuận lợi nên quanh năm có thể trồng cây Vì vậy đã phát triển thêm nhiều hệ thống luân canh tăng vụ giữa cây trồng cạn và lúa nước rất phong phú
Ở miền Bắc Ấn Độ có tổng số nhiệt các năm khoảng 90000C và có 3 - 4 tháng nhiệt dưới 200C, hàng năm vụ rét trồng lúa mì, đại mạch, cải dầu hoặc
đỗ đậu mùa đông, vụ nóng trồng lúa nước, lúa miến, ngô Hiện nay, vùng này
đã xác định công thức luân canh 3 vụ trên năm như: Lúa + lúa + lúa mì + ngô + cải dầu (hoặc khoai tây, lúa mì); ngô + khoai tây + lúa mì; hoặc công thức 4 như đậu xanh (hay kê) + ngô + khoai tây (hay cải dầu) + lúa mì (Hoàng Đức Phương, 1981)
Ở Đài Loan và miền nam Trung Quốc một số nơi dân cư đã gieo trồng 3 vụ/năm gồm cây lúa nước và các loại cây trồng cạn Trường hợp cây vụ đông (lúa mì) không chín kịp người ta gieo gối cây trồng sau vào như: bông, ngô, đậu tương (Hoàng Đức Phương, 1981)
Vùng Philippin có nhiệt độ cao quanh năm, không có tháng nào dưới 200C
đã xác định có thể trồng 3 - 4 vụ/năm với các công thức luân canh như: Lúa + lúa + đỗ tương; lúa + khoai lang + đỗ tương + ngô đương
Trang 29Mặc dù điều kiện tự nhiên thuận lợi cho tăng vụ song hiện nay chỉ số tăng
vụ của các nước Châu Á còn khá thấp, từ 108-184 (đất trồng 1 năm 1 vụ được tính với chỉ số là 100) (Hoàng Đức Phương, 1981)
Vì vậy từ những năm 1960 nhiều nhà khoa học đã thấy rằng đối với vùng nhiệt đới là vùng có tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp, còn nhiều khả năng tăng tổng sản lượng hàng năm trên các đơn vị diện tích, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt cho đời sống và cho phát triển kinh tế Ở một số nơi các nguồn tài nguyên còn chưa được khai thác hợp lý và đầy đủ vì vậy luân canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối một cách khoa học chính là khai thác hợp lý và đầy đủ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó
Cũng vào những năm này, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy nếu với chỉ riêng một giống lúa thấp cây đứng lá (như IR8) thì cũng không thể giải quyết vấn
đề lương thức cho nhiều vùng đất đai với nhiều kiểu khí hậu khác nhau Do đó, đã chuyển sang nghiên cứu không những chuyện về lúa mà còn về nhiều cây hoa màu khác nhau, lấy lúa làm cơ sở Và các chế độ luân canh, trồng xen, trồng gối ngày càng được chú trọng nghiên cứu phát triển nhiều hơn
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển cây vụ đông ở vùng Đồng bằng Sông Hồng
* Thành phố Hà Nội
Những năm gần đây diện tích cây vụ đông biến động không đều do quá trình đô thị hoá đã thu hẹp một phần diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, năng suất và sản lượng cây vụ đông nói chung lại có xu hướng tăng dần Năng suất không ngừng tăng lên là do Hà Nội có lợi thế tiếp cận nhanh với các tiến bộ khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều các công trình khoa học nghiên cứu nhằm giúp cho nông dân nâng cao năng suất và sản lượng cây vụ đông Ngoài ra vấn đề mở rộng diện tích trồng cây vụ đông đang được thành phố đẩy mạnh để tăng thêm thu nhập và tăng độ phì nhiêu cho đất Để thực hiện tốt kế hoạch diện tích, năng suất cây trồng vụ đông thì thành phố đã chỉ đạo thực hiện tốt một số giải pháp như:
- Tăng cường công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền qua nhiều hình thức cho nông dân; giúp nông dân có những nhận thức đầy đủ về sản xuất hàng
Trang 30hóa, sử dụng giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các kỹ thuật canh tác khác
- Tập trung chỉ đạo điều tiết nước, đảm bảo độ ẩm đất, rút nước đệm phù hợp
để sau khi thu hoạch lúa mùa là trồng ngay cây vụ đông Đối với các diện tích không tiêu, thoát nước được bằng tự chảy phải chỉ đạo bơm tiêu thoát nước sớm Chủ động tiêu úng kịp thời, nhất là cuối tháng 9 đầu tháng 10 khi cây vụ đông đang gieo và mới gieo
- Sử dụng các giống cây trồng ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị cao
Một số huyện đã có chính sách hỗ trợ giá giống khoai tây như: Ứng Hòa hỗ trợ 100%, Mỹ Đức 50%, Chương Mỹ 50%, Thạch Thất 20% Ngoài ra, huyện Đông Anh hỗ trợ 1,5 tỷ đồng mua giống ngô nếp, ngô lai, khoai tây Đức và 500 triệu đồng mua thuốc trừ sâu sinh học trên rau; Ứng Hòa hỗ trợ 30% giá giống đậu tương, 100% thuốc diệt chuột; Phú Xuyên hỗ trợ 100% chi phí sản xuất khoai tây
vụ hè thu để làm giống cho vụ đông…Nhờ các chính sách trên, tổng giá trị thu nhập vụ đông toàn thành phố năm 2011-2012 đạt khoảng 1.400 tỷ đồng Được biết, trong vụ đông 2012-2013, các địa phương tiếp tục có những cơ chế, chính sách khuyến khích nông dân trồng cây vụ đông (Hữu Thông (2012)
“Sáng lúa, chiều cây vụ đông” - Đó là phương châm sản xuất trong vụ
đông xuân sắp tới của Hà Nội Cụ thể, bước vào vụ đông xuân 2012-2013, cùng với nhiều địa phương miền Bắc, Hà Nội đã lên kế hoạch sớm và triển khai các biện pháp cụ thể đến từng địa phương
Theo chủ trương này, vụ đông xuân 2012-2013, toàn thành phố phấn đấu đạt tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông là 65.070ha, giá trị sản xuất toàn vụ phấn đấu đạt trên 2.500 tỷ đồng Trong đó, diện tích đậu tương 30.598ha, năng suất ước đạt 16 tạ/ha; ngô 11.504ha, năng suất 45 tạ/ha; lạc 1.234ha, năng suất
160 tạ/ha; khoai lang 4.211ha, năng suất 90 tạ/ha; khoai tây 2.530ha, năng suất
160 tạ/ha; rau đậu các loại 13.073ha, năng suất 200 tạ/ha; hoa, cây cảnh 1.045ha…(Hữu Thông (2012)
Trang 31* Tỉnh Nam Định
Những năm qua, cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định có sự chuyển dịch theo xu hướng tăng dần diện tích các loại cây có giá trị kinh tế, hàng hóa cao Việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống được thực hiện ngày càng rộng rãi và dần trở thành tập quán sản xuất, góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Trong thực tiễn sản xuất, nông dân các địa phương trong tỉnh đã nhanh nhậy nắm bắt cơ hội chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá, bước đầu đáp ứng yêu cầu của thị trường
Tỉnh đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa Để phát triển nông nghiệp hàng hóa, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, dồn điền, đổi thửa nhằm quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa là hướng đi đúng đắn Đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông, nhất là sản xuất cây vụ đông trên đất 2 lúa Hình thành vùng sản xuất rau màu hàng hóa tập trung với các cây trồng có giá trị và hiệu quả kinh tế cao như khoai tây, cà chua, rau các loại Cây khoai tây tập trung phát triển sản xuất theo 2 hướng: Một là khoai tây phục vụ thị trường ăn tươi trong nước và xuất khẩu, hai là phục vụ thị trường chế biến Tăng cường sử dụng các giống khoai tây chất lượng, năng suất cao được chọn tạo từ các nước Hà Lan, Đức, Úc… áp dụng quy trình thâm canh tiên tiến để nâng cao năng suất và sản lượng Để chủ động được nguồn giống khoai tây chất lượng, sạch bệnh phục vụ cho sản xuất đại trà, UBND tỉnh đã quy hoạch vùng sản xuất giống và khuyến khích phát triển hệ thống kho lạnh bảo quản khoai tây giống tại các vùng chuyên sản xuất khoai tây (Ngọc Ánh, 2013) Vùng sản xuất rau chuyên canh tập trung ở các chân đất cao, pha và chân ruộng cao, đất thịt nhẹ trồng 2 lúa Việc phát triển các vùng cây rau, quả làm nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu phải gắn với các nhà máy, đơn vị chế biến xuất khẩu Sản xuất rau an toàn áp dụng quy trình VietGAP tập trung ở các
xã có truyền thống làm rau màu và thuận lợi nguồn nước Quy hoạch và đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống thủy lợi nội đồng đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho từng loại cây trồng, trong đó ưu tiên vùng sản xuất vụ đông trên đất 2 lúa (Ngọc Ánh, 2013) Trong sản xuất vụ đông năm 2013, lựa chọn các cánh đồng 2 lúa có điều kiện
Trang 32để xây dựng thành các vùng sản xuất vụ đông tập trung ở từng thôn, xóm Vùng
vụ đông tập trung phải đảm bảo quy mô từ 3ha trở lên, gọn ô thửa, thuận lợi tưới tiêu Tỉnh tập trung giải quyết đồng bộ các vấn đề: thị trường tiêu thụ, vần đề vốn đầu tư cho sản xuất, đầu tư hạ tầng cơ sở, đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật cho nông dân, đẩy mạnh cơ giới hóa vào các khâu trong quá trình sản xuất, áp dụng thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất… để tăng năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho nông sản hàng hóa; từng bước xây dựng thương hiệu cho từng loại sản phẩm nông sản; đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở chế biến, xuất khẩu
để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm nông sản với giá trị gia tăng cao trong tỉnh (Ngọc Ánh, 2013)
Trang 33PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Điều kiện vị trí địa lý
Quỳnh Phụ là huyện nằm phía Bắc của tỉnh Thái Bình ở toạ độ địa lý từ
20090’ đến 200105’ vĩ độ Bắc và từ 106010’ đến 106025’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương, ranh giới là dòng sông Luộc Phía Đông giáp huyện Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng, ranh giới là sông Hoá Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thuỵ Phía Tây giáp huyện Hưng Hà
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quỳnh Phụ
Trang 34Huyện Quỳnh Phụ có hệ thống sông ngòi dày đặc, hệ thống đường bộ đa dạng gồm cả quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện nên rất thuận lợi cho hoạt động giao lưu hàng hoá giữa các địa phương trong và ngoài huyện Xung quanh huyện
có hai con sông vừa là ranh giới thiên nhiên với các tỉnh bạn vừa là tuyến giao thông thuỷ nối với các tỉnh thuộc tam giác động lực kinh tế trọng điểm phía Bắc
là Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng tạo cơ hội giao lưu kinh tế, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư phát triển các ngành kinh tế Quốc lộ 10 chạy qua huyện là tuyến đường nối Quảng Ninh - Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định vừa được nâng cấp, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá Ngoài ra, trong huyện còn có các tuyến đường tỉnh lộ như 396B, 455, 452, đường huyện như 72,
73, 75, 76 là những cơ sở hạ tầng quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương trong thời gian tới
Về mặt hành chính, Quỳnh Phụ có 38 đơn vị hành chính bao gồm: Thị trấn Quỳnh Côi, An Bài là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của huyện và 36 xã
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình của huyện Quỳnh Phụ tương đối bằng phẳng, có địa mạo của một vùng đồng bằng châu thổ Địa hình có hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam tương tự như địa hình chung của toàn tỉnh Đại đa số diện tích đất của huyện có độ cao 1 - 2m trên mực nước biển (chiếm 62,5%), nơi cao nhất là 3m thuộc xã Quỳnh Ngọc, nơi thấp nhất là các điểm ở Chiều Trắng, Chiều Ruồi thuộc thôn Lường Cả - xã An Ninh (0,4m)
Thực tế, đất đai của huyện cũng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, mương máng tạo thành các tiểu vùng khác nhau về độ cao, tuy nhiên sự khác biệt không lớn nên không gây nhiều khó khăn cho sản xuất mà chỉ tạo ra sự đa dạng trong thâm canh tăng vụ
Nhìn chung, địa hình của huyện Quỳnh Phụ không phức tạp, đất đai được hình thành do sự bồi đắp của phù sa hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá nên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và canh tác lúa nước nói riêng
3.1.1.3 Khí hậu
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí
Trang 35hậu có đặc điểm chung của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng là nóng ẩm, mưa nhiều, một năm chia thành hai mùa theo nhiệt độ là mùa nóng và mùa lạnh, nhiệt độ trung bình trong năm từ 23-240C Trong một năm, lượng bức
xạ mặt trời khá lớn, khoảng trên 100Kcal/cm2/năm Số giờ nắng từ
1600-1800 giờ/năm và tổng nhiệt lượng cả năm ước khoảng 8.5000C Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.500 - 1.900 mm, độ ẩm không khí 80 - 90%
Diễn biến thời tiết phân mùa khá rõ rệt với hai mùa chính là mùa hè và mùa đông, hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu
* Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ mùa hè rất cao, trung bình > 260C, cao nhất là 39,20C Trong mùa hè thường gặp hai kiểu thời tiết là thời tiết dịu mát và thời tiết ảnh hưởng của gió Tây Nam nóng khô Những ngày dịu mát nhiệt độ trung bình khoảng 250C, những ngày gió Tây Nam nóng nhiệt độ lên tới 35 - 370C làm cho cây trồng bị héo ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng Nhiệt độ trung bình của mùa đông tại địa phương là 200C, nhiệt độ tối thấp là 4,10C Trong mùa đông thường có những đợt lạnh kéo dài
do chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc, xen kẽ giữa các đợt gió lạnh này là những ngày ẩm ướt do sự giao nhau giữa các khối không khí khác nhau về nhiệt ẩm Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh là khoảng 15 -200C, biên độ nhiệt độ ngày đêm có khi lên tới trên 100C
Bảng 3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu, thời tiết huyện Quỳnh Phụ
(Nguồn : Trạm khí tượng thuỷ văn Thái Bình, 2014)
Trang 36* Lượng mưa: Lượng mưa mùa hè thường chiếm 80% tổng lượng mưa cả
năm và thường tập trung vào các tháng 7 - 8 Cường độ mưa lớn, có trận mưa tới
200 - 250mm Lượng mưa tập trung với cường độ lớn đã gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, gây nên hiện tượng úng ngập tại một số vùng có tiểu địa hình thấp, khó tiêu thoát nước Đặc biệt, mùa hè tại địa phương thường gặp hiện tượng mưa không đều, có những tháng hầu như không mưa, nắng gắt nên gây hạn, có những tháng mưa hết cả tháng gây úng ngập kéo dài Lượng mưa trong mùa đông rất thấp, chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm và tập trung vào các tháng 2, 3 là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt Còn các tháng 12, tháng
1 thì lượng mưa rất thấp, hầu như không có mưa và lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi nên cần có các biện pháp tưới nước cũng như giữ ẩm cho cây trồng
* Gió và hướng gió:
- Vào mùa hè thịnh hành là gió Đông Nam mát mẻ, nhiều hơi nước, tốc độ gió trung bình là 2-4m/giây Những tháng mùa hè thường hay có dông, bão gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống Mỗi năm, huyện chịu ảnh hưởng của 2-3 cơn bão, cá biệt có năm là 6 cơn bão Ngoài gió Đông Nam, địa phương còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nóng khô Gió trong mùa đông chủ yếu là gió Bắc, Đông Bắc, xen kẽ cũng có các đợt gió Đông, Đông Nam Tốc độ gió tuy không mạnh nhưng cũng đạt cấp 3-5
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí của mùa hè thường cao, nhất là
những ngày có mưa ngâu độ ẩm có thể lên tới 90%, nhưng nếu có gió Tây Nam thì độ ẩm chỉ còn khoảng 30%
- Mùa đông, do có lượng bốc hơi cao trong khi lượng mưa thấp nên độ ẩm không khí trong mùa đông tại huyện Quỳnh Phụ không cao Vào những ngày trời nắng hanh, độ bốc hơi cao làm cho độ ẩm không khí giảm chỉ còn 30-40%, xuất hiện chủ yếu vào nửa đầu của mùa đông Nửa cuối mùa đông do có mưa phùn, trời ít nắng nên độ ẩm không khí khá cao, đạt >90%
Ngoài hai mùa chính là mùa hè và mùa đông, còn có hai mùa chuyển tiếp
là mùa xuân và mùa thu Các mùa chuyển tiếp thể hiện sự thay đổi của 2 hệ thống gió mùa: Đông Bắc (mùa đông) và Tây Nam (mùa hè) Do đó các đặc tính
Trang 37khí tượng, thời tiết rất không ổn định Song hai mùa chuyển tiếp có nhiều tính chất gần giống với mùa hè Như vậy khí hậu Quỳnh Phụ là khí hậu gió mùa nhiệt đới nóng ẩm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp quanh năm và đa dạng hoá cây trồng
- Sông Yên Lộng là sông đào lấy nước từ sông Luộc tưới cho 8.238 ha trong đó có 1.000 ha tưới tự chảy
- Sông Sành, sông Diêm Hộ, sông Cô cũng là các sông đào lấy nước từ sông Luộc và sông Hoá dài 83 km cung cấp nước tưới cũng như tiêu thoát nước cho diện tích nội đồng trong cả huyện
- Các hệ thống cống dưới đê từ Lý Xá đến Láng Láy lấy nước của sông Hóa tưới cho 4.500 ha đất canh tác phía Tây của huyện
- Ngoài các hệ thống sông ngòi, trong huyện còn hệ thống hồ, đầm, kênh rạch với mật độ lớn phục vụ khá tốt cho sản xuất nông nghiệp
Đặc điểm chung của hệ thống sông ngòi, kênh rạch trong huyện là đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đổ ra biển Các sông lớn đều là nhánh của
hệ thống sông Hồng (đa số các sông bắt nguồn từ sông Đuống hay sông Hồng) tạo ra lượng phù sa lớn bồi đắp nên những bãi bồi phì nhiêu Mặc dù có nhiều sông ngòi chảy qua nhưng lòng hẹp, có độ dốc nhỏ nên khả năng tiêu thoát nước trong mùa mưa chậm, gây úng lụt khi tần xuất mưa cao Mặt khác, vào mùa mưa thường gây xói lở tại các khu vực bãi bồi, đe dọa lũ lụt đối với diện tích trong đê Chế độ nước của hệ thống sông ngòi của huyện chịu ảnh hưởng của thuỷ triều rõ rệt trong thời gian từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mỗi chu
kỳ thuỷ triều từ 13-14 ngày, trung bình triều cao là 1m Trong mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 thuỷ triều thường không thể gây nhiễm mặn cho đất do lượng nước
Trang 38mưa chảy từ thượng nguồn đã đẩy vùng nước mặn ra xa phía biển Nhưng vào mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4 do lượng mưa ít, triều cường đã đẩy nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền có thể gây nguy cơ nhiễm mặn cho đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cây trồng và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những năm hạn hán
Nhìn chung, hệ thống thuỷ văn nước mặt của huyện Quỳnh Phụ khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, kể cả về mùa khô
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm về đất đai
Đất đai của huyện Quỳnh Phụ được hình thành do phù sa hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình bồi đắp phủ trên nền trầm tích sông và biển Nền trầm tích biển thường là cát pha hoặc sét pha có màu xám đen lẫn tầng xác
sú vẹt, có hàm lượng lưu huỳnh cao (vượt chỉ tiêu 0,75% S tổng số) Tầng đất hữu hiệu (tầng đất mà rễ cây có thể vươn tới được) nói chung dày 60-80 cm, tầng canh tác trung bình dày 17-20 cm Khoảng 70% diện tích đất canh tác nằm trên chân vàn
Nhìn chung đất phù sa của Quỳnh Phụ vẫn giữ được bản chất của nó Điều này được chứng minh bởi tính xen kẽ của các tầng đất theo quy luật bồi tụ Tuy nhiên đất đai Quỳnh Phụ được tạo nên do bồi tụ của hai nguồn phù sa thuộc hai
hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trong đó đất phù sa sông Hồng ít bị thay đổi hơn các loại đất phù sa khác, màu nâu tươi, giàu kali và lân, hàm lượng Ca2+
từ 6-8 lđl/100g đất và thường lớn hơn Mg2+ 3-4 lần, pHKCL từ 6,0 đến 7,50, kết cấu đất tơi xốp, thành phần cơ giới phần lớn là thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất phù sa sông Thái Bình có màu nâu nhạt, nâu vàng nhạt hoặc xám nhạt, hàm lượng lân tổng số trung bình, lượng Ca2+ thấp, pHKCL từ 4,50 đến 5,50, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, địa hình gồ ghề và nghiêng dần về hạ lưu
3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai
Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất là cơ sở đề ra phương hướng bố trí
sử dụng đất hợp lý có hiệu quả Hiện trạng sử dụng đất huyện Quỳnh Phụ xem bảng 3.2
Trang 39Qua bảng 3.2 cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (71,62%) trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ 0,33%, chủ yếu là đất bằng chưa sử dụng, do vậy trong những năm tới cần có kế hoạch cải tạo và dần đưa vào sử dụng phục vụ sản xuất
Bảng 3.2 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2013
1.1.2.1 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm 30,00 8,95 1.1.2.2 Đất trồng cây ăn quả lâu năm 305,24 91,11
Trang 40Page 30
Bảng 3.3 Tình hình dân số, lao động của huyện Quỳnh Phụ
SL CC (%) SL CC (%) SL CC (%) 12/11 13/12 BQ
1 Tổng số nhân khẩu Người 234.212 100 233.282 100,00 232.509 100,00 99,60 99,67 99,64 Khẩu nông nghiệp Người 229.433 97,95 219.916 94,27 219.199 94,27 95,85 99,67 97,76 Khẩu phi NN Người 4.779 02,05 13.366 5,73 13.310 5,73 279,68 99,58 189,63
2 Tổng số hộ Hộ 62.648 100 62.652 100,00 62.538 100,00 100,01 99,82 99,91
Hộ nông nghiệp Hộ 61.451 98,08 56.389 90,03 57.684 92,23 91,76 102,30 97,03
Hộ phi nông nghiệp Hộ 1.197 1,92 35.061 9,97 4.854 7,77 523,22 7,50 300,36
3 Tổng số lao động LĐ 120.429 100 119.896 100,00 119.213 100,00 99,56 9,43 99,49 Lao động NN LĐ 84.315 70,01 84.347 70,35 84.152 70,59 100,04 9,77 99,90 Lao động phi NN LĐ 36.114 29,99 35.549 29,65 35.061 29,41 98,44 98,63 98,53