1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG THÀNH HOÀNG LÀNG và HIỆN TƯỢNG KIỆU QUAY TRONG lễ rước THÀNH HOÀNG LÀNG ở xã ĐỒNG TIẾN, HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

101 303 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 22,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng lược quan của mình,chúng tôi xin lược kê các công trình nghiên cứu về đề tài nên trên theo chủ đề cụ thể sau đây: Một là, những công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA VIỆT NAM HỌC

- -TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG THÀNH HOÀNG LÀNG

VÀ HIỆN TƯỢNG KIỆU QUAY TRONG LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG

Ở XÃ ĐỒNG TIẾN, HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP VIỆT NAM HỌC

Người hướng dẫn: TS Hà Đăng Việt Người thực hiện: Hà Thúy Hồng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận này, trước hết em xin chân thành cảm ơn

sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong khoa Việt Nam Học , trường Đạihọc Sư Phạm Hà Nội trong suốt thời gian em học tập Đặc biệt, em xin bày tỏ lờitri ân sâu sắc tới thầy Hà Đăng Việt, thầy đã tận tình hướng dẫn em từ việc địnhhướng đề tài, lựa chọn phương pháp nghiên cứu đến tìm kiếm tài liệu và gợi mởnhững nội dung quan trọng  của luận văn. Sau, em xin cảm ơn sự giúp đỡ, độngviên, chia sẻ của Gia đình, Bạn bè trong suốt quá trình em nghiên cứu và hoànthành luận văn.  Mặc dù đã nỗ lực rất nhiều, nhưng do trình độ, năng lực nhậnthức của  bản thân còn hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếusót Vì vậy, em rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý chân thành của các Thầy,

Cô giáo để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2019

Tác giả 

Hà Thúy Hồng

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu .3

3 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN 12

1.1 Một số vấn đề cơ sở 12

1.1.1.Khái niệm lễ, nghi lễ 12

1.1.2.Thành Hoàng và cơ sở hình thành của thành Hoàng làng 13

1.2.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu xã Đồng Tiến 21

1.3.2 Vị thế đất, hướng các ngôi đình xã Đồng Tiến 35

1.3.3.Một số di vật chủ yếu trong các ngôi đình làng ở xã Đồng Tiến 36

1.3.4 Vai trò của những ngôi đình đối với dân làng xã Đồng Tiến 37

CHƯƠNG 2: LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG Ở XÃ ĐỒNG TIẾN, HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH 39

2.1 Phần lễ trong lễ hội làng thờ cúng thành Hoàng làng ĐồngTiến 39

2.2.1 Thời gian và không gian tiến hành nghi lễ 42

2.1.2 Đối tượng thực hiện nghi lễ 42

2.1.3 Những điều cấm kị khi thực hiện nghi lễ rước thành Hoàng làng 43

2.1.4 Các nghi thức trong lễ rước thành Hoàng làng 44

2.2 Phần hội trong lễ hội làng thờ thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến 46

CHƯƠNG 3: HIỆN TƯỢNG KIỆU QUAY TRONG LỄ RƯỚC

THÀNH HOÀNG LÀNG Ở XÃ ĐỒNG TIẾN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH 50

3.1 Giới thiệu về hiện tượng kiệu quay 50

3.1.1 Thời gian và địa điểm kiệu quay 50

Trang 6

3.2 Lý giải một số vấn đề của hiện tượng kiệu quay 52

3.2.1 Hiện tượng kiệu quay trong mối quan hệ giữa người phù giá và thần linh 52

3.2.2 Hiện tượng kiệu quay dưới góc nhìn văn hóa 54

3.3 Hiện tượng kiệu quay trong lễ rước thành Hoàng làng đối với người dân xã Đồng Tiến 57

3.3.1 Giá trị hướng về nguồn cội 58

3.3.2 Về giá trị cố kết cộng đồng 60

3.3.3 Phản ánh đời sống tâm linh phong phú 61

3.3.4 Giá trị bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa 61

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn hóa làng là đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Việt Nam Làng ở đồngbằng Bắc Bộ Việt Nam lại tiêu biểu cho cơ cấu tổ chức xã hội nông thôn ViệtNam suốt nhiều thế kỉ Ở đó, làng như một xã hội thu nhỏ xét về mặt tổ chức

Về mặt văn hóa, trong không gian làng xã nói chung, biểu hiện ra vô vàn hiệntượng văn hóa, thể hiện sinh động qua những lề thói, tập tục, tín ngưỡng dângian, ví dụ như tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ ThànhHoàng làng… Nổi bật lên với những giá trị cốt lõi của tín ngưỡng của cơ tầng vănhóa bản địa, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng gắn liền với quá trình hình thànhnên làng Đó là quá trình quần cư của cư dân nông nghiệp định canh với phươngthức sản xuất trồng lúa nước là chủ đạo Tín ngưỡng ấy đã trở thành một nhu cầucăn bản của cư dân nông nghiệp nói chung, ăn sâu vào đời sống vật chất và tinhthần, rồi trao truyền đời đời kiếp kiếp Hiện tượng văn hóa này theo biến thiênlịch sử và qui luật phát triển của văn hóa, dần cũng nhạt phai như nhiều hiệntượng văn hóa khác Hiện tượng đặc sắc này có thể nhanh chóng mất đi trong naymai, hoặc là biến tướng đi do nhiều lí do Đó là một thực tế nhãn tiền

Nằm ở vùng lõi của đồng bằng châu thổ sông Hồng, Thái Bình tuy khôngphải là một vùng đất có phát tích những nền văn hóa cổ xét theo tiến trình vănhóa Việt, nhưng ở đó lại thể hiện đặc sắc những đặc trưng của vùng văn hóa Bắc

bộ Việt Nam Trên vùng đất ấy vẫn còn lưu giữ được kho tàng di sản văn hóa

vô cùng phong phú và đặc sắc trong đó có hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa

và sinh hoạt lễ hội truyền thống Đó là tài sản vật chất và tinh thần vô giá cầnđược giữ gìn và phát huy Thái Bình là nơi lưu giữ những dấu ấn của triều đạinhà Trần ( 1226 – 1400) Tính đến năm 2015, tỉnh Thái Bình có tổng cộng là

2539 di tích lịch sử, trong đó có 2 di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt và 151 ditích được xếp hạng cấp quốc gia Hầu hết các xã, làng ở Thái Bình đều có đình,miếu làng cùng với các lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm Vì vậy, việc

Trang 8

nghiên cứu các giá trị văn hóa tín ngưỡng tâm linh góp phần bảo tồn các di tíchlịch sử, nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng dân cư địa phương.

Xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là một địa phương giàutruyền thống văn hóa và đời sống tôn giáo phong phú Bên cạnh sự tồn tại củaPhật giáo, Nho giáo và Đạo Giáo, xã Đồng Tiến còn thờ cúng một số vị thànhhoàng làng , nổi bật cho tín ngưỡng tôn giáo ở đồng bằng Bắc Bộ Xã Đồng

Tiến gồm 6 ngôi làng thờ các vị thành hoàng Làng khác nhau: Đức Thánh Trực

Công Nhập Nội Hành Khiển Đại Vương, Tướng Lai Công, Thạch Thần Quý nhân Đại vương, Ông ăn xin – đều thuộc nhóm nhân thần, Thần Rắn ( tiêu biểu

cho hệ nhiên thần) Lễ hội làng thờ cúng thành Hoàng làng diễn ra ở 6 ngôi làng

xã Đồng Tiến đều được tổ chức cùng một ngày, đó là ngày mùng 10 tháng 03

âm lịch - trùng với ngày giỗ tổ Hùng Vương Nhà và nước, nước và nhà, nướcmất thì nhà tan, nước giàu thì dân mạnh Có thể nói ngày giỗ tổ Hùng Vương là

sự bắt rễ sâu xa từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ, từ tínngưỡng thờ cúng thành hoàng trong làng xã Chính vì vậy, lễ hội làng thờ cúngthành Hoàng ở xã Đồng Tiến trùng với ngày giỗ Tổ, không chỉ nhớ về công laocủa các vị thành Hoàng giúp dân làng khai hoang, lập ấp mà còn hướng trái tim

về với đất Tổ Thông qua nghi lễ thờ cúng, dân làng xã Đồng Tiến nói riêng vàngười Việt Nam nói chung gửi gắm tình cảm biết ơn đối với các vị thành Hoàng

làng “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “ Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước

có nguồn mới bể rộng sông sâu” Thành Hoàng làng đã trở thành chỗ dựa tinh

thần không thể thiếu với cộng đồng dân cư xã Đồng Tiến Vì vậy, lễ rước ThànhHoàng làng trở thành nét tâm linh đặc sắc được tổ chức hàng năm Hoạt động lễhội đã có những đóng góp tích cực đối với đời sống tính thần của nhân dân xãĐồng Tiến nói riêng và công cuộc giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc nói chung

Trong phần lễ hội làng thờ cúng thành Hoàng làng, hiện tượng kiệu quayđược chú ý hơn cả, thu hút sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng dân cư trong và

Trang 9

ngoài khu vực xã Đồng Tiến Hiện tượng kiệu quay chính là minh chứng rõ nhấtcho tính thiêng của vị thần được dân làng tôn thờ cũng như di tích thờ tự Đó làquan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người chết và ngườisống bằng con đường hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của người sống, quởtrách hoặc phù hộ cuộc sống của họ Đây là hiện tượng văn hóa tâm linh đã có

từ lâu đời và đến nay rất khó để lý giải tại sao lại xảy ra hiện tượng kiệu quay.Dân làng tin vào sự xuất hiện của thần linh và quan niệm rằng nếu kiệu quaycàng mạnh thì sẽ mang lại may mắn, hạnh phúc Tuy nhiên, thời gian gần đây,hiện tượng tâm linh này bị biến sắc và đặt ra yêu cầu cần được nghiên cứu, xemxét để giúp các cấp chính quyền có những định hướng tổ chức và quản lý cáchoạt động thờ cúng thành Hoàng làng trên địa bàn xã, góp phần nâng cao tinhthần đoàn kết, uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta Hiện tượng kiệu quay có thể

sẽ mất đi nếu chúng ta không bảo tồn lễ hội theo đúng nghĩa của nó

Với những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “ Tín ngưỡng thờ cúng Thành

Hoàng làng và Hiện tượng kiệu quay trong lễ rước ở xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình” cho khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Việt Nam

Học của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tín ngưỡng Thành Hoàng làng là một chủ đề nhận được sự quan tâm đặcbiệt trong giới nghiên cứu Cho đến nay, khá nhiều công trình nghiên cứu về đềtài này dưới những góc nhìn và phạm vi khác nhau Bằng lược quan của mình,chúng tôi xin lược kê các công trình nghiên cứu về đề tài nên trên theo chủ đề

cụ thể sau đây:

Một là, những công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

có đề cập đến tục thờ Thành hoàng làng một cách khái quát nhất:

Ngô Đức Thịnh ( 2001), trong “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt

Nam” [12] đã nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng theo góc nhìn đời sống tâm

linh Trong đó, tác giả đã đề cập tới khái niệm văn hóa tôn giáo tín ngưỡng biểuhiện trên các hình thức khác nhau của sinh hoạt tâm linh cộng đồng như nhạc lễ,

Trang 10

hát thờ, múa thiêng, tranh thờ, diễn xướng nghi lễ,… Đồng thời, tác giả đi sâuvào nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian cụ thể như thờ cúng tổ tiên của cácgia tộc, dòng họ và sự phóng đại của nó trên bình diện quốc gia – dân tộc là thờcúng Hùng Vương.

Vũ Ngọc Khánh ( 2007), trong “ Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam”

[23], đã đề cập những vấn đề chung, khái quát mang tính lý luận về văn hóa dângian Đồng thời, tác giả thể hiện nó trong nghiên cứu văn hóa gia đình và vănhóa làng Tác giả đi sâu nghiên cứu các nhân tố chính yếu của văn hóa làng nhưtín ngưỡng, lễ hội, phong tục Nghiên cứu này trình bày về lịch sử thành Hoànglàng, đặc điểm của các ngôi đình làng [tr.442-447]

Nguyễn Thị Thái (2011), trong “Tín ngưỡng dân gian trên địa bàn huyện

Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” [27], đã nghiên cứu về Tín ngưỡng dân gian trên địa

bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo góc nhìn văn hóa Trong đó, tác giả

đã trình bày về các vấn đề liên quan đến Thành hoàng làng như: điện thờ, cáchình thức thờ Thành hoàng làng, lễ hội Đồng thời, tác giả đưa ra các giải phápnhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và phát huy những giá trị tích cực của tínngưỡng Thành hoàng ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay Nghiên cứu này đề cập nhữngđặc điểm của tín ngưỡng thờ Thành Hoàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mà chưanghiên cứu về các nghi lễ trong lễ hội làng thờ cúng Thành hoàng

Hai là, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Thành Hoàng làng Việt Nam:

Lê Trung Vũ ( 1992), trong “Lễ hội cổ truyền” [ 1 ] đã trình bày về lễ hội

cổ truyền của người Việt ở nhiều vùng miền, nhất là khu vực Đồng bằng Bắc

Bộ Trong đó, tác giả đã đề cập đến những lễ hội liên quan đến tín ngưỡng thờcúng thành Hoàng Tuy nhiên, tác giả dừng lại ở việc trình bày khái quát chung

về lễ hội thành Hoàng mà chưa nghiên cứu về các nghi lễ tiến hành trong lễ rướcthành Hoàng, đặc biệt là hiện tượng kiệu quay

Trang 11

Nguyễn Duy Hinh (1996), trong “Tín ngưỡng thành Hoàng làng Việt

Nam” [ 2 ] đã trình bày khá đẩy đủ về khái niệm, lịch sử phát triển, một số vị

thành Hoàng làng ở nước ta, chủ yếu là ở Đồng bằng Bắc Bộ Bên cạnh đó, tácgiả mô tả các hình thức thờ cúng Thành Hoàng làng cũng như thần phả, sắcphong qua các triều đại phong kiến Việt Nam [tr.291]

Nguyễn Vĩnh Phúc và Nguyễn Duy Hinh ( 2004), trong “ Thần tích Hà

Nội và tín ngưỡng thị dân” [18] đã nghiên cứu về các thần tích cũng như phong

tục thờ thành Hoàng làng của Thăng Long – Hà Nội Thông qua nghiên cứu củamình, tác giả cũng trình bày thần tích nhìn từ ngày nay và yếu tố thị dân trongtín ngưỡng thành Hoàng làng

Nguyễn Duy Hinh ( 2004), trong “Thành Hoàng và thần làng” [ 19 ]đã

đưa ra khái niệm và phân loại các vị thành Hoàng trong phạm vi tỉnh Hà Đông,Bắc Ninh, Thanh Hóa Thông qua nghiên cứu của mình, tác giả đã phân loại vàthống kê chi tiết các vị thành Hoàng làng mà chưa đề cập đến các nghi lễ liênquan đến tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng [ tr.56-63]

Nguyễn Gia Hùng (2006), trong “Tín ngưỡng thành Hoàng ở Bắc Ninh

hiện nay”, [20] đã nghiên cứu về tín ngưỡng thành Hoàng trên địa bàn tỉnh Bắc

Ninh trong giai đoạn hiện nay Trong đó, tác giả đã làm rõ khái niệm, nguồngốc, vai trò của tín ngưỡng thành Hoàng ở Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng đềcập đến vấn đề liên quan đến tín ngưỡng thành Hoàng làng như các hình thứcthờ cúng, lễ hội và ảnh hưởng của nó đến đời sống của nhân dân tỉnh Bắc Ninh.Tác giả mới trình bày sơ lược về lễ hội, chưa đi sâu vào các nghi lễ tiến hànhtrong lễ rước thành Hoàng làng

Ba là, những công trình nghiên cứu về nghi lễ kiệu quay trong lễ rước thành Hoàng làng của người Việt Nam:

Đỗ Thúy Quỳnh (2015), trong “Đình Bền – khu di tích lịch sử văn hóa

cấp tỉnh xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình” đã nêu lên những

thông tin liên quan đến vị thành Hoàng làng ở đây để công nhận đình Bền là ditích lịch sử văn hóa

Trang 12

Thu Hiền ( 2016), trong “ Giải mã hiện tượng kiệu bay” và Nguyễn Sơn

An ( 2017), trong “ Độc đáo nghi lễ rước kiệu tại Đền Và” đã đưa ra một số lý

giải về hiện tượng kiệu bay dưới góc độ khoa học

Qua sự lược kê tổng quan trên chúng ta thấy có tất cả 10 công trình đã tùy theo yêu cầu và mục đích khác nhau của nó, đề cập đến “ tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng làng” trong phạm vi rộng hẹp khác nhau Cụ thể là:

Một là, các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam trìnhbày đầy đủ về khái niệm, các loại hình và các sinh hoạt văn hóa tinh thần liênquan đến tôn giáo tín ngưỡng Tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng làng được đềcập một cách khái quát mà chưa được đề cập một cách chuyên biệt về đặc điểm,các nghi thức diễn ra trong lễ hội thờ thành Hoàng

Hai là, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng thành Hoàng

ở Việt Nam đã đề cập đến khái niệm, phân loại, nơi thờ tự và các lễ hội liênquan đến tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng Tuy nhiên các nghi thức cụ thể diễn

ra trong lễ rước thành Hoàng vẫn chưa được phác họa cụ thể, rõ ràng

Ba là, các công trình nghiên cứu về hiện tượng kiệu quay trong lễ rướcthành Hoàng làng đã bước đầu lý giải hiện tượng kì bí này dưới góc nhìn khoahọc Ở đó có thể điểm một số nhận định của các nhà khoa học về hiện tượng

kiệu quay như sau: “Hiện tượng này có thể do yếu tố không cân xứng về trọng

lực của những người khi khiêng kiệu” [29]. GS.TS Nguyễn Văn Trị, Đại học

Bách khoa Hà Nội lý giải: “Hiện tượng kiệu quay có thể được thực hiện nhờ

Định luật bảo toàn momen động lực, trong đó 8 người khiêng đều thống nhất với nhau Đây là trạng thái thăng hoa cao độ của con người, gần giống như hình ảnh những người đứng trên không trung” [29]

Qua đó, có thể thấy rằng, đề tài “ Tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng làng

và hiện tượng kiệu quay trong lễ rước ở xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình” chưa được công trình nào đề cập với tư cách là một đối tượngnghiên cứu chuyên sâu và chuyên biệt Điều đó cho phép chúng tôi lựa chọn đềtài này làm đối tượng nghiên cứu của mình như đã được trình bày trong phần Lý

do chọn đề tài

Trang 13

3 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận này xuất phát từ thực tế những vấn đề xung quanh hiện tượngkiệu quay trong lễ rước thờ cúng thành Hoàng ở Xã Đồng Tiến, huyện QuỳnhPhụ, tỉnh Thái Bình nhằm:

Một là, thông qua nội dung của luận văn, người đọc sẽ tìm hiểu được

những nét cơ bản về tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng và đặc điểm của lễ rướcthành Hoàng làng tại xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Đồngthời, người đọc cũng có cái nhìn toàn diện về hiện tượng kiệu quay dưới góc độvăn hóa Từ đó, góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ ditích thờ tự cũng như lễ hội rước thành Hoàng trong xã hội công nghiệp hóa-hiệnđại hóa, hội nhập quốc tế

Hai là, nội dung của luận văn cũng bổ sung thêm vào kho tàng tài liệu về

các hình thức liên quan đến sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thành Hoàng làng đặcbiệt là hiện tượng kiệu quay

Ba là, đề tài cung cấp những tư liệu giúp các nhà chuyên môn, nhà quản

lý và các nhà nghiên cứu khác có thêm cơ sở thực tiễn trong công tác chuyênmôn, nhằm bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh của nghi lễ rướcthành Hoàng làng của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ nói chung và trên địa bàn

xã Đồng Tiến nói riêng Qua đó, hiện tượng kiệu quay được bảo tồn như giá trịvốn có của nó trước nguy cơ bị biến chất

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi tập trung giảiquyết những nhiệm vụ sau đây:

- Giải thích những vấn đề chung về tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng vàđịa bàn nghiên cứu xã Đồng Tiến

- Trình bày những phương diện cơ bản liên quan đến tín ngưỡng thờThành hoàng làng ở xã Đồng Tiến như đối tượng thờ tự, cơ sở thờ tự, các nghithức trong lễ rước thành Hoàng làng,…

Trang 14

- Lý giải hiện tượng kiệu quay dưới góc nhìn văn hóa để làm nổi bật nétvăn hóa tín ngưỡng tâm linh đặc sắc ở xã Đồng Tiến.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện tượng kiệu quay trong lễ rướcthành Hoàng làng dưới góc nhìn văn hóa ở xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu các tài liệu lýluận về một đề tài bằng cách phân tích các tài liệu ấy thành từng mặt để hiểu cặn

kẽ về vấn đề nghiên cứu Từ đó, dựa trên các thông tin thu thập được để tạo ramột hệ thống lý thuyết sâu sắc và đầy đủ về vấn đề nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong chương 1 để tổng hợp các côngtrình nghiên cứu về đề tài trước đó và tìm ra hướng tiếp cận cho đề tài nghiên cứucủa mình Đồng thời, trong chương 2 chúng tôi vận dụng phương pháp trên để tìmhiểu về thần tích và thần phả của các vị thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến

5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong khóa luận này, phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện nhằmmục đích tìm hiểu về đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng làng, hìnhthức kiệu bay và cũng như niềm tin của người dân đối với hoạt động thờ cúngthành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến

Trang 15

Tổng số cuộc phỏng vấn sâu đã thực hiện: 12 cuộc Trong đó, chúng tôiphỏng vấn 2 cán bộ quản lý di tích đình làng, 6 người dân tham gia lễ rước thànhHoàng gồm 3 nam, 2 nữ và 4 người phù giá kiệu rước thần gồm 2 nam, 2 nữ.

5.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thậpnhững thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu Bảng hỏi được thiết kếgồm những câu hỏi liên quan đến hoạt động tín ngưỡng thờ thành Hoànglàng, giá trị của lễ rước thành Hoàng và niềm tin tôn giáo của người trả lời.Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý di tích, người dân sinh sống trên địabàn 6 thôn ở xã Đồng Tiến

Dung lượng mẫu: 180 mẫu

Bảng cơ cấu mẫu:

Trang 16

5.4 Phương pháp liên ngành

Khi nghiên cứu văn hóa, một sự vật phải được nhìn nhận dưới các góc nhìnkhác nhau, các phương pháp khác nhau Do đó, khi nghiên cứu về văn hóa cần phảinhìn nhận dưới quan điểm liên nghành Hơn nữa, giữa các ngành ấy phải có sự liênkết với nhau để có thể hiểu cặn kẽ và văn hóa qua từng cách tiếp cận

Phương pháp liên ngành là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức,dựa trên dữ liệu của nhiều chuyên ngành Chúng tôi sử dụng phương pháp nàytrong quá trình nghiên cứu đề tài để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về hiệntượng kiệu quay trong lễ rước thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến, huyện QuỳnhPhụ, tỉnh Thái Bình

- Địa lý học: chúng tôi tìm hiểu đặc điểm vị trí tự nhiên xã Đồng Tiến

để đưa ra những mối liên hệ giữa địa bàn nghiên cứu và tín ngưỡng thànhHoàng làng

- Sử học: chúng tôi có thể xác định được niên đại của các di tích thờ tựthành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến Trong giai đoạn phát triển của tín ngưỡngthờ cúng thành Hoàng làng trên địa bàn nghiên cứu thì có những giai đoạn sinhhoạt tín ngưỡng phát triển mãnh mẽ

- Tâm lý học: chúng tôi nghiên cứu về sự quan tâm, tâm lý của cộngđồng đối với hiện tượng kiệu quay trong lễ rước thành Hoàng làng Đồng thời,chúng tôi đưa ra những nhận định về mối quan hệ của đoàn phù giá khiêng kiệukhi thực hiện nghi lễ rước

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để giái quyết một cách toàn diện,khách quan và hiệu quả nhất những vấn đề liên quan đến đề tài

5.5 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được chúng tôi sử dụng nhằm tìm hiểu về kiến trúc

cơ sở thờ tự thành Hoàng làng cũng như các di vật liên quan Chúng tôi đãxuống trực tiếp lễ hội địa phương để quan sát các nghi lễ diễn ra trong lễ rước và

Trang 17

đặc biệt là hiện tượng kiệu quay Đồng thời, nhờ phương pháp quan sát màchúng tôi nắm bắt được hành vi và thái độ của người dân đối với lễ rước thànhHoàng làng.

Thời gian quan sát được chia làm 3 giai đoạn chính: 1) Giai đoạn điều trathử: quan sát diễn ra trong thời gian điều tra thực tế trước khi chọn đề tài, 2)Giai đoạn điều tra sâu: quan sát diễn ra trong quá trình thực hiện đề tài về cơ sởthờ tự và các di vật liên quan, 3) Quan sát trong quá trình phỏng vấn: quan sáthành vi, thái độ của người trả lời diễn ra trong quá trình phỏng vấn

Trang 18

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ RƯỚC THÀNH HOÀNG LÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU XÃ ĐỒNG TIẾN I.1 Một số vấn đề cơ sở

1.1.1.Khái niệm lễ, nghi lễ

Lễ là một từ Hán – Việt có nghĩa là những khuôn mẫu, phép tắc, luật lệcửa người xưa quy định, buộc phải tôn trọng và tuân theo Lễ được hình thành

và củng cố theo thời gian, quy định chặt chẽ mọi mặt của con người từ đi đứng,

ăn uống,… Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng “ tiên học lễ,

hậu học văn” Đối với họ, lễ là điều bất biến, không thể không thực hiện, là

mệnh của trời Trong các mối quan hệ phức tạp của con người, lễ là hộ pháp giữgìn trật tự xã hội Lễ ngăn ngừa những hành vi lệch lạc và quy định chặt chẽ vềthái độ và hành vi Lễ cũng là tấm gương phản chiếu để mỗi cá nhân tự điềuchỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp với xã hội Con người ở từng lứatuổi vị trí, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội sẽ có những biểu hiện lễkhác nhau Lễ thể hiện sự tôn kính của con người đối với đồng loại Lễ hìnhthành và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử có thể nói, lễ là hiện thâncủa những thuần phong mỹ tục, tập quán sinh hoạt của một cộng đồng dân cưnào đó Nó chi phối và tạo ra sợi dây gắn kết các cá nhân trong cộng đồng

Tác giả Lê Văn Kỳ cho rằng : “ Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành

vi, động tác nhằm thể hiện sự tôn kính của dân làng đối với thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo” [1,tr.67].

Lễ hay nghi lễ thờ cúng là những nghi thức được con người tiến hành theomột quy tắc, chuẩn mực tâm linh nhất định, mang tính biểu trưng nhằm thể hiệntấm lòng biết ơn, tôn kính đối với một nhân vật và mong muốn nhận được sựche chở, giúp đỡ từ nhân vật được thờ cúng ấy Có thể nói, lễ như một cây cầunối giữa thế giới hiện tại và thế giới của siêu nhiên, thánh thần Dương Văn Sáu

Trang 19

trong cuốn “ Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” [ 18 ] cho rằng “ nghi

lễ là những ứng xử của tầng lớp nhân dân dành cho thần, hướng về thần trong mối quan hệ người – thần vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của mọi người, mọi thời đại Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành trong các hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng thờ cúng , với vị thế xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành hoạt động nghi lễ Trong những hình thái như vậy, cần phải vượt ra ngoài những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái , cúng tế mà còn phải coi lễ, nghi

lễ là rường mối kỉ cương, phép tắc, đạo lý, góp phần tôn vinh, củng cố và bảo vệ

sự tồn tại và phát triển của gia đình, xã hội”[18, tr.27].

Như vậy, có thể hiểu rằng, lễ hay nghi lễ là cách thức tiến hành theo

những quy tắc, luật tục nhất định, mang tính tượng trưng nhằm thể hiện tấm lòng cảm tạ, tôn trọng đối với nhân vật nào đó với mong muốn nhận được sự phù hộ, che chở của nhân vật được thờ cúng đó.

1.1.2.Thành Hoàng và cơ sở hình thành của thành Hoàng làng

Theo Nguyễn Duy Hinh trong “ Tín ngưỡng thành Hoàng Việt Nam”

(1996) cho rằng: Thành hoàng ( chữ Hán: 城城) là một vị thần xuất hiện ở TrungQuốc thời kì cổ đại với nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành và được thờcúng để bảo vệ, cai quản cho tòa thành Thành Hoàng thường được nhà vua banbiển miếu hoặc phong chức tước Bất cứ nơi đâu xây dựng thành, đào hào là ở

đó xuất hiện Thành hoàng [3,tr.23]

Thành Hoàng chính thức xuất hiện ở nước ta vào năm 822, thời nhàĐường và vị thành Hoàng đầu tiên là thần sông Tô Lịch Lý Nguyên Gia thờiĐường thấy ngoài cửa bắc của thành có một dòng sông có địa thể khả quan, bènchọn một nơi hợp lý nhất để rời phủ lý đến đó, y cũng tâu lên vua để chọn thầnsống Tô Lịch làm thành Hoàng Năm 866, Cao Biền đã phong thần sống TôLịch làm đô phủ Thành Hoàng thần quân Rồi vua Lý Thái Tổ khi rời đô lạiphong thần sông Tô Lịch thành Quốc đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vươngvào năm 1010 Đến thời nhà Trần, thần sông tô Lịch được phong thêm các mỹ

Trang 20

tự như bảo quốc, hiển linh và đinh bang Nguyễn Duy Hinh trong “Tín ngưỡng

Thành hoàng Việt Nam” nhận định rằng: “ Thành Hoàng là một phạm trù thần linh bảo hộ thành trì của phong kiến Trung Quốc, được du nhập vào nước

ta từ thời Đường rồi tiếp tục phát triển trong các triều đại độc lập ở nước ta Tại kinh đô có miếu thờ Thành Hoàng của cả nước, các tỉnh có miếu thờ Thành Hoàng Đó đều là những vị thần linh bảo hộ một tòa thành ở trung ương hay của tỉnh Đó là hệ Thành Hoàng kiểu phong kiến Trung Quốc mang tính trừu tượng, cơ bản là bảo vệ thành trì, vô nhân xưng, do vua phong”[ 3,tr.60] Như

vậy, Thành Hoàng ở nước ta phân ra làm hai loại : Đô Thành Hoàng và ThànhHoàng làng

Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” ( 1999) cũng viết: “ Cứ xét cái

chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy để làm chủ tể cho việc âm ti một phương mà thôi Kế sau triều đình tinh biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với đất nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy Từ đó, dân gian bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tế trong làng mình Làng nào có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị, việc bói khoa, việc tá khẩu, tin là một sự linh dị mà thờ Hoặc nơi thì vì một sự ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duê hiệu để thờ…Tổng chi là dân ta tin rằng: đất có thổ công, sông có hà bá, cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh”[7,tr.98].

Như vậy, có thể thấy rằng, việc thờ cúng Thành Hoàng làng ở Việt Nam

có nguồn gốc từ Trung Quốc Tuy nhiên, khi tín ngưỡng ấy bén rễ vào nước ta

đã tạo nên những sự khác biệt so với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng cổ TrungQuốc Từ chỗ bảo vệ thành hào của vua quan, kinh thành, Thành Hoàng đã trởthành vị thần bảo vệ xóm làng, trở thành một tín ngưỡng chung cho cộng đồng

Trang 21

làng xã người Việt Từ đó có thể hiểu: Tín ngưỡng thờ cúng Thành Hoàng làlòng tin của một cộng đồng dân cư vào sự phù hộ, đem lại may mắn, che chởcủa vị thần linh thường được nhà vua phong tước, thường gắn với những ngồiđình, miếu Vị thần này được dân làng thờ từ trước, sau đó mới được vua phongvới các chức danh Thành Hoàng và các vị thần đều có nhân xưng cụ thể Tuy rađời sau và có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng Thành Hoàng làng Việt Nam vẫn

có những điểm khác biệt độc đáo, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc Nguyễn

Duy Hinh trong “ Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam” viết: “rõ ràng trong

thành Hoàng Việt Nam có hai dòng riêng biệt” [3,tr.97] Dòng thứ nhất là hệ

thống thành Hoàng cả nước, tỉnh huyện Dòng thứ hai là hệ thống thành Hoànglàng xã Đó mới là dòng chủ thể phản ánh bản chất tư duy tôn giáo tín ngưỡngViệt Nam

Tín ngưỡng thành Hoàng làng du nhập vào Việt Nam và được phong các

mỹ tự tùy thuộc vào công lao với dân, với nước Xã hội Việt Nam thời nguyênthủy đã xuất hiện manh nha của tín ngưỡng thành Hoàng làng Đó là việc thờnhững hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt conngười như mây, gió, sấm, chớp, núi, rừng,…Trong tư duy của con người, nhữngđối tượng ấy có sức mạnh siêu phàm và kì bí Khi xã hội phát triển, xuất hiệnnhiều nhiều giai cấp phức tạp tất yếu sẽ xuất hiện những cá nhân có khả năngtập hợp sức mạnh, chi phối cuộc sống của cộng đồng và cá nhân ấy trở thànhthần linh với sức mạnh bất biến Do vậy, đối tượng thờ cúng của con người rấtphong phú từ thiên thần đến nhân thần và cũng sự giao thoa giữa hai loại thầnlinh ấy Việc thờ Thành hoàng làng trở nên phổ biến khi triều đình phong kiếncông nhận công lao của các bậc nghĩa sĩ, hiền tài và những bậc anh hùng bằngviệc lập đền thờ khi họ hi sinh để luôn nhớ đến công lao của họ Dần dần, tụcnày lan truyền khắp từ làng này sang làng khác, làng nào cũng mong muốn tìmmột vị thần cho làng mình

Do điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến phương thức sản xuất nên con ngườihình thành nên tâm lý sợ các hiện tượng tự nhiên Trước hết đó là nền kinh tế

Trang 22

nông nghiệp, phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, tự cung tự cấp Con người tinrằng “ vạn vật hữu linh”- mọi vật đều có linh hồn Đó chính là môi trường thuậnlợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần Con người bắt đầu nhận thức được mốiquan hệ giữa cái hữu hình và cái hữu hình, giữa sự sống và cái chết Vẫn vớiquan niệm vật linh kể trên, họ hình thành nên tâm lý thờ thần, thờ thiên nhiênxung quanh mình để cầu mong cuộc sống yên ổn, thịnh vượng Một đặc điểmhết sức nổi bật song song với tâm lý sợ thiên nhiên, đó là con người đã từng đốimặt với ngoại xâm, bành trướng, xâm lược lãnh thổ và đồng hóa văn hóa Với sựbiết ơn những anh hùng đã hi sinh để bảo vệ cuộc sống ấm no, người Việt đã suytôn những vị anh hùng đó thành các vị Thành hoàng Ở Đồng bằng Bắc Bộ, tínngưỡng Thành hoàng làng được phân chia thành ba nhóm lớn sau đây:

Thành Hoàng làng có nguồn gốc nhiên thần: thủy thần( thần nước), thổ

thần ( thần đất), sơn thần( thần núi),…

- Thành Hoàng sơn thần: chiếm số lượng lớn trong các vị thần, bởi lẽ trong

vũ trụ quan và nhân sinh quan thì Sơn – Thủy, Đất – Nước lả những cặp tương sinhtương khắc tạo nên môi trường sinh sống và canh tác cho con người Tùy theo từngđịa phương mà sơn thần có nhiều tên gọi khác nhau Tiểu biểu nhất đó là thần TảnViên, Cao Các Đại Vương, Cao Sơn và Quý Minh Khu vực thờ cúng chủ yếu củathành Hoàng là Sơn thần chủ yếu ở Sơn Tây, Thanh Hóa, Nghệ An,…

- Thành Hoàng thủy thần: Tên của các vị thủy thần rất đa dạng ở từng địaphương và thường được thờ ở những khu vực ven biển, ven song lớn, hồ, đầm.Tiêu biểu nhất trong các vị thành Hoàng là thủy thần đó là: Đại Càn, Rồng, Rắn,

Hà Bá, Tam Giang Linh Lang,…

- Thành Hoàng thổ thần: Có nhiều thổ thần bị loại ra khỏi loại ThànhHoàng có sắc phong hoặc nhập vào các thành Hoàng là nhân vật lịch sử nhưthành Hoàng ở làng Trúc Đông xã Đông Trục huyện Thạch Thất ( Hà Tây) theoHai Bà Trưng đi đánh giặc, mang sắc phong là Giám Sát Đại Vương Tuy nhiên,

Trang 23

ở một số địa phương vẫn còn giữ nguyên tên của thổ thần như ở làng ĐìnhBảng: thổ thần.

- Thành Hoàng cây thần: số lượng ít , tiêu biểu như Bao Đại Vương ( HàNội); Mộc Thụ Đại Vương( Mỹ Lộc),…

Thành Hoàng có nguồn gốc là thiên thần: Các vị thần có nguồn gốc

trên trời, đã được nhân hóa mang hình hài con người, tiêu biểu là các vịthiên thần: Thông Lĩnh Hào Quang, Tích Lịch Hào Quang ( Hà Tây); TứPháp ( mây, mưa, sấm, chớp) thờ ở nhiều nơi; Ngũ Lôi ( Nam Định); NamTào, Bắc Đẩu; Ngọc Hoàng; thánh mẫu trong Tam Phủ, Tứ phủ; tứ vị ThánhVương Mẫu Liêu ( Nam Định),…

Thành Hoàng có nguồn gốc là nhân thần: chiếm số lượng lớn các vị thần

và nhiều loại: vị anh hùng có công với đất nước; vị có công khai hoang lập ấp,

vị truyền dạy nghề nghiệp, người ăn xin,…Các vị thần ấy được xếp vào các giaiđoạn phát triển của lịch sử như sau:

- Giai đoạn Hai Bà Trưng: các tướng lĩnh đánh giặc thời kì này đa phần

là phụ nữ, được phong thần và thờ cúng ở nhiều nơi khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.Bên cạnh một số vị thần một số vị thần tiêu biểu như Hai Bà Trưng, Lê Chân,…thì còn có nhiều vị thần khác không được sắc phong

- Giai đoạn Tiền Lý: các vị thần trở thành thành Hoàng làng như Lý Phật

tử, Lý Thiên Bảo, Triệu Việt Vương, Thổ Lệnh và Thạch Khanh ( thờ ở HàNội) Khá nhiều vị thần khác cũng được xác định là dưới thời Tiền lý, nhưngkhông biết chính xác có phải là nhân vật lịch sử hay không mặc dù đủ lý lịch rõràng [3, tr.269-270]

- Giai đoạn Ngô – Đinh – Tiền Lê: Thành Hoàng giai đoạn nhà Ngô là bavị: Lộ Đài, Lộ Chấu, Lộ Diện ( Hưng Yên) Thành Hoàng nhà Đinh gồm ĐinhTiên Hoàng cùng một số nhân vật như Nguyễn Lịnh Công, ba anh em Lý Đài –

Lý Trâu – Lý Quốc, hai anh em Lê Dương – Lê Quang; Trần Lãm;…Nhà Tiền

Lê có một số vị thần thành Hoàng như Vũ Định, Long Táo [2,tr.276-277]

Trang 24

- Giai đoạn Lý – Trần: đáng chú ý nhất trong giai đoạn nhà Lý đó làmột số thành Hoàng là nhân vật theo Phật giáo Ngoài ra, thời kì này xuấthiện rất nhiều thành Hoàng là nhiên thần, đặc biệt là thủy thần đã được nhânhóa đó là thần Linh Lang.

Ở triều đại nhà Trần, nhân vật được thần thánh hóa và thờ phụng như TrầnHưng Đạo, Trần Thủ độ, Trần Quốc Chẩn, Trần Khát Chân,…[2, tr.288-290]

- Giai đoạn nhà Lê: đây là thời kì bùng nổ sắc phong thành Hoàng cácthời đại trước đó, xuất hiện khá nhiều các vị thần thành Hoàng là người có côngkhai hoang lập ấp Thành Hoàng trong giai đoạn này là Lê Lai, Phan Quốc Hoa,

…được thờ ở đình, miếu, nghè và đền

- Giai đoạn nhà Nguyễn: tái phong các vị thành hoàng trước đó và thànhhoàng được thờ một cách ổn định theo truyền thống

- Giai đoạn hiện nay ( sau 1945): Vũ Trường Giang trong bài “ Ba vị

thành Hoàng mới được suy tôn ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu Tôn Giáo, số

10/2013), đã chỉ ra có ba nhân vật nổi bật có công lao đối với đất nước, với nhândân và được suy tôn làm thành Hoàng

Vị thứ nhất, đó là bác sĩ Alexandre Esmile jean Yersin ( 1863 – 1943),

sinh ra và lớn lên ở Thụy sĩ, đếm Việt Nam làm việc vào năm 1890 Ông đã pháthiện ra Đà lạt, cố vấn cho chính phủ Pháp trồng cây cao su ở Việt nam Đồngthời, ông cũng là người thành lập viện Pasteur ở Việt Nam và giữ chức hiệutrưởng của Đại học Y khoa Đông Dương Ông đã nhập chủng và trồng thànhcông cây quinquina ở Việt Nam – một loại nguyên liệu để sản xuất thuốc chữabệnh sốt rét

Vị Thứ hai, đó là ông Phan Thế Phương ( 1934 -1991), Giám đốc Sở Thủy

sản tỉnh Thừa Thiên Huế Ông là người vận động dân cư vùng đầm phá TamGiang lên đất liền định cư, giúp ngư dân toàn tỉnh Thừa Thiên Huế nuôi trồngthủy sản đạt năng suất cao, cải thiện đời sống Ngày 06/11/1991, ông đã qua đời

Trang 25

trong một vụ tan nạn trên đường công tác vào Nam Ngư dân Thừa Thiên Huế

đã lập miếu thờ ông và suy tôn ông là “ Tổ nghề nuôi tôm” của phá Tam Giang.

Vị Thứ ba, đó là ông Nguyễn Tạo (1905 – 1994), đảm nhiệm nhiều vị trí

quan trọng trong bộ máy Đảng và Nhà nước, là người lập làng Thủy Lạc ( xãNam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) Ông cũng là người đề nghị Chínhphủ xây dựng vườn quốc gia Cúc Phương và thành lập lực lượng kiểm lâm ViệtNam Sau khi ông mất, người dân làng Thủy Lạc đã thỉnh bát nhang, lập bài vị

và rước về đình làng Thủy Lạc thờ cúng với tư cách là thành Hoàng làng

Xét theo công trạng mà nhà vua ban sắc phong cho các thần thành Hoànglàng thì được phân ra làm ba nhóm:

Thượng đẳng thần (城 城 城): đó là các vị thần có nhiều công lao hiểm háchvới nước, với nhân dân như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh,

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,…

Trung Đẳng Thần (城 城 城): là các vị thần có công khai điền lập ấp, có khi làcác vị thần mà dân làng thờ lâu, có tên họ mà không rõ công trạng hoặc có côngtrạng mà không rõ họ tên

Hạ Đẳng Thần (城 城 城 ): là những vị thần được dân làng thờ cúng tuykhông rõ thần tích, những cũng thuộc chính thần Triều đình theo dân làng màsắc phong làm hạ đẳng thần [2, tr.38]

Tuy nhiên, không phải làng nào cũng có thần Thành Hoàng Tác giả Toan

Ánh trong “ Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam” phân tích như sau: “Nhiều làng

hoặc vì lý do này lý do khác không có thành Hoàng Có những làng trước đây cũng đã có thần, nhưng theo sự tin tưởng, thần này đã được dời đi cai quản nơi khác, hoặc được đem lên dự vào hàng Thiên thần Lại có nhiều thần bị phế truất, có thể do một đạo sắc của nhà vua, có thể do một vị Ác thần khác đánh bại, rồi sau dân làng cầu khấn các vị Thượng đẳng thần khác tới trị vị Ác thần,

vị Ác thần phải bỏ đi, mà vị thần cũ chưa triệu trở lại được Cũng có những làng mới lập, nên chưa có thần” [2, tr.133 – 134] Ngoài ba nguồn gốc thần thành

Hoàng làng trên ( tức Thượng, Trung, Hạ đẳng thần), nhiều làng còn thờ cúng cả

Trang 26

những vị thần không tốt như thần gắp phân ( làng Đông Kỵ, tỉnh Bắc Ninh);thần ăn trộm ( Thái Bình)…Những vị thần này được thờ cúng do chết vào cácgiờ thiêng làm cho dân làng sợ hãi mà thờ cúng để mong ngăn chặn những rủi ro

và che chở cuộc sống yên ổn cho dân làng Về loại thần này, tác giả Phan Kế

Bính trong “ Việt Nam phong tục” viết: “ Ngoài ba bực thần ấy còn nhiều nơi

thờ bậy, thờ bạ: Nơi thì thờ Thần bán lợn, nơi thì thờ Thần trẻ em và thần ăn xin, Thần chết nghẹn, Thần tà dâm…Các hạng ấy, gọi là Tà thần, Yêu Thần, Đê tiện thần vì dân ngu xuẩn tin bậy mà thờ, chứ không được vào Tự Điển, không

có phong tặng gì cả”[7, tr.86].

Tóm lại, thành Hoàng ở Việt Nam có rất nhiều nguồn gốc, trong đó nhânthần vẫn chiếm đa số Dù là nhân thần, thiên thần hay nhiên thần thì trong tâmthức của dân làng Việt Nam thì thành Hoàng làng luôn mang lại sự che chở, yên

ổn, may mắn cho họ

Một số đặc điểm trong tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng làng tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ

Thứ nhất, nhân hóa và lịch sử hóa Đặc điểm này phổ biến ở các vị nhiên

thần, nổi bật là Sơn Tinh – Tản Viên Sơn Thánh Sơn Tinh cùng với Cao Sơn vàQuý Minh là những vị sơn thần nổi bật nhất của người Việt ở đồng bằng Bắc

Bộ, đặc biệt là khu vực Sơn Tây và Phú Thọ Từ đơn thuần là một vị thần núi vô

nhân xưng trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, Sơn Tinh đã được

nhân dân nhân hóa và lịch sử hóa Tản Viên sơn Thánh đã có một lý lịch kháđầy đủ và chi tiết: bố là Nguyễn Cao Hạnh, mẹ là Đinh Thị Điên sinh sống ởđộng Lăng Sương, kết hôn với Mỵ Nương Ngọc Hoa ( con gái của vua Hùng).Khi đất nước bị xâm lăng thì Tản Viên đem quân đi dẹp yên bờ cõi rồi từ bỏngôi báu của vua cha để đi khắp nơi dạy nghề cho dân chúng( được ghi chép bởiNguyễn Bính và Nguyễn Hiền thế kỉ XVI – XVII)

Thứ hai, thần thánh hóa Đây là đặc điểm phổ biến ở cả nhiên thần và

nhân thần và trở thành một xu hướng phổ biến ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thếgiới Xu hướng thần thánh hóa nhân vật lịch sử trên thế giới điển hình nhất là

Trang 27

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đặc biệt là những chuyện liên quan đến việc ra đờicủa Ngài Ở Việt Nam, việc thần thánh hóa nhân vật lịch sử cũng phổ biến vớicác nhân vật tiêu biểu như Trần Hưng Đạo, Lê Lai, Lý Phật Tử,… bên cạnh đó,còn có những vị nhiên thần được thần thánh hóa như Linh Lang với chi tiết liênquan đến việc sinh và tử của thần: bà mẹ nông dân(thời Lý) ra hồ tắm bị rắn phủrồi có thai, sinh ra một cậu con trai thông minh và trí tuệ hơn người, có công laolớn giúp vui đánh thắng giặc ngoại xâm.

Thứ ba, công tích hóa và địa phương hóa Đặc điểm này có nghĩa là

các vị thần để trở thành nhân vật được nhân dân thờ cúng, bên cạnh việc nhấnhóa và lịch sử hóa, các vị thần còn phải có công lao có địa phương nào đónhư đánh giặc, chống lại thiên tai, truyền dạy nghề nghiệp,…Đặc điểm nàyphổ biến ở các vị nhiên thần ví dụ như Sơn Tinh “ ông tổ trăm nghề” SơnTinh có rất nhiều công lao với dân chúng( theo Hà Kỉnh và Đoàn Công Hoạt

– trong cuốn Truyền thuyểt Sơn Tinh, 1973): cứu nhân dân thoát khỏi thiên tai

lũ lụt, dạy dân trị thủy, đào ao/giếng/mương, trồng rau, thả cá, trồng lúa, sănbắt động vật, dạy dân cách tạo ra lửa,…

1.2.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu xã Đồng Tiến

1.2.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở xã Đồng Tiến

Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất phù sa màu mỡ và mộ trong những cáinôi văn hóa của người Việt Từ xa xưa, cư dân trên mảnh đất phù sa ấy đã cónhững hoạt động tín ngưỡng vô cùng phong phú, phản ánh tâm tư, nguyện vọngcủa cư dân trước sự khắc nghiệt của tự nhiên và xã hội Điều kiện tự nhiên baogồm đất, nước, khí hậu,…được hiểu là môi trường để con người có thể sinh sống

Vì vậy, con người chịu những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của môi trường tựnhiên Tự nhiên không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn ảnh hưởng cảđến đời sống tinh thần, trong đó có tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng

Xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình nằm ở khu vực Đồngbằng Bắc Bộ - khu vực rộng lớn nằm ở hạ lưu sông Hồng Nơi đây có khí hậunhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa ( nhiệt độ trung bình năm khoảng 25 độ C và

Trang 28

lượng mưa trung bình khoảng 1400-2000mm) Đây là những điều kiện rất thuậnlợi cho sự phát triển phong phú của thảm thực vật, đặc biệt là sự phát triển củanông nghiệp thâm canh trồng lúa nước Tự nhiên cung cấp những sản phẩm vậtchất cho con người nhưng cũng có thể lấy đi tất cả những gì mang đến Ngoài

ra, với một nên nông nghiệp tự nhiên thì nhu cầu trị thủy rất quan trọng Do hạnchế về nhận thức mà con người đã thần thánh hóa các hiện tượng của tự nhiên,

họ sùng bái thờ cúng để mong muốn tránh khỏi sự trừng phạt của thiên nhiên Vìvậy, muốn tồn tại buộc con người phải hiểu tự nhiên và sống hòa đồng với nó.Nằm trong điều kiện địa văn hóa của Đồng bằng Sông Hồng, xã Đồng Tiến còn

có con sông … chảy qua

Giống như những nơi khác, từ xa xưa cư dân Đồng Tiến đã quý trọng,tôn thờ, sùng bái tự nhiên Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng thiên nhiên ( đất, nước,sông, núi,…) hình thành và được tôn sùng làm thần Hoàng làng cầu mong chechở, bình an cho cư dân trong làng

1.2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội; lịch sử và văn hóa xã Đồng Tiến

Trong cơ cấu kinh tế của xã Đồng Tiến, bên cạnh sản xuất nông nghiệptrồng lúa nước, còn phát triển những ngành kinh tế khác như tiểu thủ công, chănnuôi,…Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước mang tính tự nhiên, tự cấp, tựtúc là chính Với đặc trưng sản xuất nông nghiệp, cư dân buộc phải liên kết chặtchẽ trong cộng đồng làng xóm để trị thủy, mở rộng địa bàn sinh sống, chống sựxâm chiếm lãnh thổ, đồng hóa văn hóa của kẻ thù,…Trong xã hội của ngườiViệt nói chung và cư dân xã Đồng Tiến nói riêng thì làng có một vai trò đặc biệtquan trọng Làng giống như những ốc đảo độc lập, người dân sinh sống và tiếnhành lao động sản xuất trong một không gian chung, đồng thời có những nét vănhóa khác nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của mình Làng góp phần hình thành ýthức về cội nguồn, lòng biết ơn đối với những người khai hoang, lập ấp, tạodựng nghề nghiệp và cả những người có công bảo vệ sự bình yên cho cư dântrong làng Từ đó, nảy sinh không gian văn hóa tín ngưỡng thờ thành Hoàng

Trang 29

làng Xã Đồng Tiến gồm 6 làng đó là: làng Đò Neo, làng Bất Nạo, làng ĐôngHòe, làng Quan Đình Bắc, làng Quan Đình Nam, và làng Cổ Đẳng Mỗi làng tuy

có một bộ máy hành chính riêng những vẫn nằm trong một chỉnh thể thống nhất

ở mọi phương diện

Một đặc điểm hết sức nổi bật song song với việc cố kết cộng đồng trongsản xuất nông nghiệp, đó là cư dân người Việt nói chung và cư dân xã ĐồngTiến đã từng đối mặt với giặc ngoại xâm, bành trướng, xâm lược lãnh thổ vàđồng hóa văn hóa Họ buộc phải đoàn kết với nhau để bảo vệ cuộc sống bìnhyên xóm làng Người Việt từ xa xưa quan niệm rằng con người sau khi chết sẽtiếp tục tồn tại ở thế giới bên kia Với sự biết ơn những người anh hùng đã hisinh để bảo vệ cuộc sống ấm no, người Việt đã suy tôn những vị anh hùng đóthành những vị thần thành Hoàng Hằng năm, dân làng tổ chức tổ chức lễ hội đểtưởng nhớ đến công lao của các bậc tiên hiền

Ngoài ra, Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ thế kỉ đầu công nguyên

và trong suốt thời kì Bắc thuộc, nó có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ trong lĩnhvực chính trị mà còn cả trong đời sống tinh thần, trong đó có cả những sinh hoạtvăn hóa tín ngưỡng của dân cư đồng bằng Bắc Bộ nói chung và cư dân xã ĐồngTiến nói riêng Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến tín ngưỡng dân gian xã ĐồngTiến được thể hiện rõ nét qua tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng làng Tư tưởng

cơ bản của Nho giáo nhằm xây dựng trật tự xã hội phong kiến đó là thuyết chínhdanh Ai ở địa vị nào phải làm tròn trách nhiệm và ai giữ phận nấy, không đượchưởng những quyền lợi cao hơn địa vị của mình Muốn cho xã hội khỏi loạn lạcNho giáo đã đề ra học thuyết “chính danh”, mà muốn chính danh thì phải tôntrọng lễ và phải có nhân Như vậy, tư tưởng này đã quy định con người sốngphải biết trước biết sau, uống nước nhớ nguồn Vì vậy, người Việt đã thờ cúngthành Hoàng làng như một sự biết ơn, kính trọng đối với những người có côngkhai làng, lập ấp, truyền dạy nghề, đấu tranh bảo vệ cuộc sống bình yên,…

Học thuyết “chính danh” cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sửdụng người hiền tài đúng với năng lực của họ Đây cũng là học thuyết coi trọng

Trang 30

học tập, có học mới làm quan Việc học ở đây là vừa học tri thức, vừa học đạođức và rèn khí tiết, từ đó, hình thành con đường làm quan thông qua thi cử, đỗđạt Những nhân vật hiền tài, thông minh xuất chúng được nhân dân hết mực cangợi và sau khi mất được thờ cúng, tôn sung thành thần Hoàng làng Xã ĐồngTiến cũng là một trong những nơi thờ thành Hoàng làng là người hiền tài, đó làtrạng nguyên Vũ Duệ Nhân dân trong xã đều có truyền thống hiếu học, tinhthần đoàn kết, yêu thương đùm bọc đồng loại, có tinh thần yêu nước, anh hùngcách mạng “ Gái Đông Tiêm cầm liềm đánh giặc / Trai Quan Đình vác cuốcđuổi Tây”.

Người dân xã Đồng tiến còn thờ cúng nhiều vị thành Hoàng làng Mỗilàng trong xã đều thờ một vị thần riêng của làng mình Đây là những vị thần cócông với làng, với xã Đó là các vị thần như Lai Công, đức thánh Trần Khánh

Dư, trạng nguyên Vũ Duệ, đức Thánh Trực, thạch thần quý nhân đại vương, ông

ăn mày, thần rắn Điều này hội tụ được sự đặc sắc, tiểu biểu cho tín ngưỡngthành Hoàng làng của cư dân khu vực đồng bằng Bắc Bộ Xã Đồng Tiến vẫncòn dấu tích ( nơi thờ tự và đối tượng thờ tự) của Đạo Giáo và Phật Giáo

Như vậy, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa là những nhân tố

trực tiếp tác động đến quá trình hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ cúngthành Hoàng làng tại ở Đồng Tiến Sự kết hợp một cách tự nhiên ấy góp phần tôđậm thêm nét tín ngưỡng riêng riêng của xã Đồng Tiến, tồn tại lâu dài cho đếntận ngày hôm nay

Một số đặc điểm nổi bật của tôn giáo, tín ngưỡng tại xã Đồng Tiến:

Một là, tín ngưỡng của dân cư xã Đồng Tiến là đa thần Từ xa xưa, con

người tin rằng xung quanh họ có những vị thần linh mang tới may mắn hoặc cónhững tà thần mang tới xui xẻo cho họ Vì thế mà con người luôn hướng tớinhững vị thần để cầu xin sự che chở, bảo vệ của những vị thần ấy Con ngườitồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại giữa nhiều yếu tố vì vậy con người

Trang 31

thờ cúng nhiều vị thần khác nhau Mặc dù đa thần, nhưng xã Đồng Tiến không

có sự tranh giành, đấu tranh, xung đột tôn giáo

Hai là, tín ngưỡng của người dân xã Đồng Tiến liên quan đến hệ thống các thần thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục và lễ hội, tạo thành giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú Lễ hội là hình thức thể hiện sự tưởng nhớ,

tôn vinh những vị thần có công lao với làng, với xóm và đất nước Là hội cũng

là sinh hoạt tập thể, gắn kết những thành viên trong tập thể ấy Chính vì những

lý do ấy mà xã Đồng Tiến tổ chức lễ hội đều đặn hằng năm để giữ gìn và pháthuy những giá trị ấy

Ba là, tín ngưỡng, tôn giáo xã Đồng Tiến gắn bó chặt chẽ với văn hóa cổ truyền của dân tộc Tín ngưỡng đôi khi là môi trường nảy sinh và lưu truyền các

giá trị văn hóa cổ truyền Các tín ngưỡng, tôn giáo ở xã Đồng Tiến đều gắn với mộtkhông gian văn hóa cụ thể, mang đậm nét sinh hoạt tiểu biểu của địa phương

I.2 Các vị thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

1.2.1 Thần tích về các vị thần thành Hoàng ở xã Đồng Tiến

“Thần tích” còn gọi là Thần phả, Ngọc phả, Phả lục Theo nghĩa của từ

ngữ thì đó là văn bản ghi chép sự tích của thần linh, song không phải tất cả các

vị thần có thần tích đều là thành hoàng [ 7, tr.87]

Đa phần thần tích ở đồng bằng Bắc Bộ đều có chung một khuôn mẫu vàkhắp nơi đều có sự tích thành Hoàng làng Thần tích làng xã người Việt hầu hếtđược Viện Viễn Đông Bác Cổ sưu tập Hiện nay, chúng còn được lưu trữ tạiviện Nghiên cứu Hán Nôm Kho thần tích này có 568 sách, ghi chép sự tích cácthần được thờ cúng ở 95 huyện, châu, phủ thuộc 22 tỉnh phía Bắc từ Nghệ Antrở ra, trong đó có Thái Bình

Dựa vào những bản thần tích ở địa phương thì thần tích về các vị thànhHoàng làng ở xã Đồng Tiến được nói đến như sau:

Thành Hoàng làng Quan Đình Bắc: Đức Thánh Trực Công Nhập Nội Hành Khiển Đại Vương: Ngài họ Chu, tên húy là Trực, cha là Chu Việt, mẹ là

Hiền Ngài có công rất lớn giúp Vua Hùng đánh giặc Thục và các bộ tộc quanh

Trang 32

vùng, đến xâm lược nước Văn Lang Vị tướng Cao Sơn từ miền núi Tản Viên( Ba Vì Sơn Tây ngày nay) cùng Đức Thánh đến các vùng ven sông Nam Hàngày nay, chiêu mộ quân sỹ, lập đồn binh, tích lũy lương thực và tiến đánh quânThục Trong các trận đánh thường thì Đức Thánh đi hậu quân, Đức Thánh TảnViên đi trung quân, ông Đồng, ông Nghệ đi tiên phong Sau khi chiến đấu thắnglợi được Vua Hùng phong chức, tước, cho hưởng bổng lộc Ngài đã đến LanĐình ( làng Quan Đình ngày nay) khai làng, mở ấp, đem binh sỹ về đây đónggiữ Lan Đình, nhân dân hưởng lạc, thái bình [28] Khi Ngài qua đời, nhân dân

lập đình hương hảo, thờ phụng và được Quốc Triều gia phong mĩ tự:“ Nhất

phong hiển ứng anh linh nhập nội Hành Khiển Trực Công Đại Vương trải hậu

Lý, tiền Lý, Trần Lê [31]

Thành Hoàng làng Quan Đình Nam : Thạch Thần quý nhân đại vương:

Vào thời Hùng Vương, có hai vợ chồng ngoài 40 tuổi nhưng vẫn chưa có con

Họ chăm làm việc thiện, cứu giúp người nghèo Sau đó, bà có thai sinh đượcmột người con gái dung nhan tuyệt sắc đặt tên là Thạch Nương Nàng vừa tròn

18 tuổi thì được gả chồng ở trang Văn Xá, huyện Thanh Liêm, tên là Cao Công.Một hôm, nàng cùng chồng đi thuyền qua bến Bích Trì thì gặp 2 quả trứng bềncho vào nồi luộc Lạ thay, đun từ sáng đến chiều mà nước vẫn lạnh, không thểchín được Cao Công cho là chuyện lạ, bèn đem thả xuống giếng Trăm ngàysau, hai quả trứng nở ra hai con rắn, mỗi con dài hai trượng Hai con rắn trôngthấy Cao Công thì vui mừng lắm

Khi giặc Thục đem quân đánh tiến nước ta , vua Hùng lấy làm lo lắng,bèn lập đàn cầu trời đất và bách thần Đêm ấy, nhà vua được báo mộng: thiênđình cử hai vị tướng tài xuống trợ giúp là hai vị thủy thần hiện đang ẩn mìnhthành mãng xà giáng sinh ở làng Văn Xá, huyện Thanh Liêm Nhà vua sai ngườixuống ngôi làng ấy thì bỗng nhiên trời đất tối rầm, hai mãng xà xuất thế thànhhai người, mình rồng, đánh tan quân xâm lược

Một hôm, Thạch Nương đi thăm thú trang Lan Đình, huyện Phu Phượng,phủ Thái Ninh, đạo Sơn Nam, thấy nhân dân ở đây nhiều năm bị mất mùa, đời

Trang 33

sống khổ cực Bà liền đem tiền bạc của mình nộp thuế thay cho dân còn khuyếnkhích nhân dân trồng lúa, nuôi tằm, làm điều lợi, trừ điều hại Sau đó, ThạchNương tự nhiên không mắc bệnh mà qua đời Nhà vua thương xót, mới truyphong bốn chữ “ Hiển ứng linh thông”, cho hai ấp của trang Lan Đình đón sắc

về cho dân thờ phụng [33]

Thành Hoàng làng Cổ Đẳng: Trạng nguyên Vũ Duệ: Ổng nổi tiếng về óc

sáng tạo, lòng trung thực và khẩu tài từ lúc nhỏ Có một sự tích kể lại về Vũ Duệnhư sau: Hồi còn nhỏ, Duệ thường hay chơi đùa với bọn trẻ con trong xóm Mộtlần, Duệ lấy đất nặn con voi, bắt hai con bướm làm hai tai, cầm con đỉa làm vòi,lấy bốn con cua làm chân Con voi bằng đất có thể di chuyển được khiến ai cũngngạc nhiên

Lần khác, có người đến đòi nợ, Duệ liền trả lời rằng: “ Bố tôi đi chém câysống, trồng cây chết” còn “ mẹ tôi đi bán gió, mua que” Người đòi nợ lấy làm

lạ, tò mò hỏi bố mẹ Duệ làm gì nhưng Duệ không nói Cuối cùng chủ nợ phải

dỗ dành: “ Mày nói thật, ta sẽ tha nợ cho” Duệ cầm một cục đất dẻo bảo chủ

nợ in tay vào làm chứng Sau đó, Duệ nói : “ Bố tôi đi nhổ mạ cấy lúa, còn

mẹ tôi đi bán quạt” Người chủ nợ ngẩn mặt ra, không biết nói làm sao, nhânkhuyên cha mẹ Duệ cho đi học Duệ học rất thông minh, các sách chỉ đọc quamột lần là thuộc [32]

Nhân dân trong làng Cổ Đẳng, xã Đồng Tiến suy tôn ông làm Thànhhoàng làng nhằm đề cao tinh thần hiếu học của những người con trong làng

Thành Hoàng làng Cao Mộc: Ông ăn xin: đó là vào một ngày rất xa xưa,

người dân trong làng Cổ Đẳng, xã Đồng Tiến phát hiện thi hài của một người ănmày xấu số Sau sự việc đó xảy ra thì ngẫu nhiên làng bị “động” Mấy già làngbảo phải mời thầy phù thủy nổi tiếng trong vùng đến xem lại long mạch và “chỉlối” cho cả làng Thầy phủ thủy chậm rãi phán rằng để linh hồn người ăn màyđược bình yên thì nhân dân trong làng phải thờ cúng Vì vậy, dân làng đã lậpmiếu thờ và tôn người ăn mày làm thành Hoàng làng để cầu may măn, bình an

Trang 34

Thần Rắn: Nhiều người dân trong làng Đò Neo, xã Đồng Tiến đã chứng

kiến tận mắt từ trong gốc đa cổ thụ đầu làng có con rắn to, màu sắc trắng ngà, cógai trên lưng Rắn vươn cổ cao, xuất hiện chừng nửa tiếng rồi chui vào hốc đa

ấy Người dân trong làng hoảng sợ cho rằng thần xà hiển linh bèn lập miếu thờcúng và tôn làm thần Hoàng làng

Thành Hoàng làng Bất Nạo: Tướng Lai Công: Ngài là tướng đã có công

cùng Hai Bà Trưng đánh giặc ngoại xâm Tương truyền, thầy giáo cũ của ngàiLai Công là người thôn Quan Đình xã Đồng Tiến nên sau khi thắng trận, Ngàitưởng nhớ lại công ơn của thầy nên trở về thăm lại thầy cũ Khi ông khấn bênngoài trời thì bị một cơn gió cuốn đi Để tưởng nhớ công lao của đức thánhNgài, người đã có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước, nhân dân ĐồngTiến đã thờ ông làm thành Hoàng làng [30]

Trên đây là sự lược kê thần tích về những vị thần thành Hoàng ở 6 ngôilàng xã Đồng Tiến: thôn Quan Đình Bắc, thôn Quan Đình Nam, thôn Bất Nạo,thôn Cao Mộc và thôn Đông Hòe Chúng ta có thể thấy, mỗi vị thành Hoànglàng ở xã Đồng Tiến đều có những lai lịch riêng Chúng ta có thể hiểu thêm vềlịch sử mỗi làng trong xã, hiểu được nguồn gốc các vị mình tôn sùng, thờ cúng.Qua đó, làm giàu đẹp thêm truyền thống văn hóa quê hương đặc sắc mà chúng taphải tiếp tục bảo tồn và phát huy Tất cả điều đó tạo nên giá trị của thần tíchđình làng xã Đồng Tiến

I.2.2 Thần sắc về các vị thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến

Thần sắc là sắc phong của triều đình phong kiến qua các giai đoạn phong

tặng cho các vị thần được nhân dân thờ phụng trong các đình, đền trong tínngưỡng làng xã của người Việt Thần sắc hay sắc phong được làm bằng giấymàu vàng phủ nhũ, nội dung khẳng định công lao của vị thần ấy với nhân dân,với đất nước Trên mỗi sắc phong đó, dấu ấn uy quyền của các vị vua được thểhiện một cách rõ rệt Dòng họ nào có người được ban sắc phong hoặc làng nào

có vị thần được ban sắc là một vinh dự vô cùng to lớn Có nhiều ngôi làng vì

Trang 35

một lý do nào đó mà vị thần không được ban sắc, đã “khai man” lý lịch của vịthần để nhà nước phong kiến công nhận, có làng còn đi trộm sắc phogn của làngkhác để thờ ở làng mình,… Sắc phong là tài sản chung của làng xã nên được cấtgiữ tại đình, đền, miếu mạo.

Do đặc điểm của và thứ hạng của các vị thần, biến thiên của lịch sử nên một

số thần sắc của các vị thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến ( thần sắc ông ăn xin,thần Rắn, Trạng nguyên Vũ Duệ) không có hoặc không còn nữa nên tác giảkhông thể trích dẫn thành văn Các bản sắc được triều đình phong kiến phongtặng cho các vị thần Thành hoàng làng xã Đồng Tiến đều là Thượng đẳng thần Sau đây, chúng tôi xin được trích dẫn sắc phong cho Thạch Thần Quý NhânĐại Vương Những sắc phong khác được đưa vào phần phụ lục của khóa luân

Sắc phong Thạch Thần Quý nhân Đại Vương

Nguồn tư liệu: Viện Thông tin khoa học xã hội TTTS 1981, Hà Nội 1995 Người dịch: TS Nguyễn Hữu Mùi, Cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trang 36

Đạo thứ nhất

Sắc ban cho xã Quan Đình huyện Phụ Dực tỉnh Nam Định nguyên trước đâychỉ thờ tên hiệu của Thần, chưa được dự phong sắc Nay trẫm nối theo mệnhlớn, mở rộng ân trạch thấm nhuần, đặc chuẩn ban cấp cho ngài làm thần Thành

hoàng, ban một đạo sắc phong, phong tặng là Bản cảnh Thành hoàng linh phù

chi thần Chuẩn cho xã này phụng thờ như cũ Thần hãy che chở cho dân của

trẫm Vậy nay ban sắc!

Ngày 23 tháng 10 niên hiệu Tự Đức thứ 6 ( 1853)

Đạo thứ hai

Sắc ban cho xã Quan Đình huyện Phụ Dực tỉnh Nam Định từ trước đến nay

phụng thờ vị thần là Bản cảnh Thành hoàng linh phù Trải các tiết được ban cấp

sắc phong, chuẩn cho thờ cúng Năm Tự Đức thứ 31 ( 1878), nhân trẫm gặp lúclàm lễ mừng thọ hưởng tuổi ngũ tuần, bèn ban chiếu báu, làm lễ mở rộng ânhuệ, long trọng đăng trật, cho phép phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày quốckhánh mà kéo dài việc thờ thần Vậy nay ban sắc!

Trang 37

Ngày 24 tháng 11 niên hiệu Tự Đức thứ 33 ( 1880)

Đạo thứ ba

Sắc ban cho vị thần là Bản cảnh Thành hoàng linh phù: Từ trước đến nay

ngài phù giúp đất nước, che chở nhân dân, linh ứng lừng lẫy, trải các tiết đượcban cấp sắc phong, tặng sắc lưu thờ Nay trẫm gánh vác việc lớn, nghĩ đến công

lao của thần, xứng đáng gia tặng là Dực bảo trung hưng chi thần Chuẩn cho xã

Quan Đình huyện Phụ Dực tỉnh Nam Định phụng thờ như cũ Thần hãy che chởcho dân của trẫm Vậy nay ban sắc!

Ngày mồng 01 tháng 07 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2 ( 1887)

Đạo thứ tư

Sắc ban cho xã Quan Đình huyện Phụ Dực tỉnh Thái Bình từ trước đến nay

phụng thờ vị thần Bản cảnh Thành hoàng là Linh phù dực bảo trung hưng Trải

các tiết được ban cấp sắc phong, cho phép thờ cúng Năm Duy Tân thứ nhất( 1907), nhân đại lễ lên ngôi của trẫm, bèn ban chiếu báu, làm lễ mở rộng ânhuệ, long trọng đăng trật, cho phép thờ phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày quốckhánh mà kéo dài việc thờ thần Vay nay ban sắc!

Ngày 11 tháng 08 niên hiệu Duy Tân thứ 3 ( 1909)

Bảng 1.2.2 Sắc phong Tướng Lai Công làng Bất Nạo ở xã Đồng Tiến

( 1908)

Hách liệt Uy nghiêm Nghi biểu Thuầnchính Dực bảo Trung hưng Nguyên tểThiên bổng chi thần

Ngày 25 tháng 07 năm Khải Định thứ 9

( 1924)

Linh thủy Dực bảo Trung hưng Trungđẳng thần

Trang 38

Ngày 25 tháng 07 năm Khải Định thứ 9

Ngày 11 tháng 08 năm Duy Tân năm

thứ ba ( 1903)

Phong đôn nghi tôn Linh phù dực bảotrung hưng bản Thành hoàng trực thầnĐại Vương tôn thần

Cơ sở thờ tự các vị thành Hoàng làng ở xã Đồng Tiến

Xã Đồng Tiến gồm 6 thôn và có 2 cơ sở thờ cúng thành Hoàng làng đó làđền và đình Đình nằm ở địa phận làng Bất Nạo, làng Quan Đình Nam, làngQuan Đình Bắc, làng Đông Hòe còn miếu nằm ở khu vực làng Đò Neo và làng

Trang 39

Cổ Đẳng Đình là cơ sở thờ tự chính và mọi lễ hội sinh hoạt tín ngưỡng thờ cúngthành Hoàng làng đều tổ chức tại đây Vì vậy, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu vềđình làng xã Đồng Tiến.

Toàn cảnh đình làng thôn Cổ Đẳng Nguồn: Hà Thúy Hồng chụp năm 2019

Toàn cảnh đình làng thôn Quan Đình Nam Nguồn: Hà Thúy Hồng chụp năm 2019

Trang 40

Toàn cảnh đình làng thôn Quan Đình Bắc Nguồn: Hà Thúy Hồng chụp năm 2019

Toàn cảnh đình làng thôn Bất Nạo

Ngày đăng: 10/07/2019, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w