Sở dĩ có điều này là do trong tổng diện tích cây trồng thì cây lúa chiếm ưu thế hơn,hơn thế nữu lúa đã được thâm canh từ rất lâu đời trên mảnh đất Quỳnh Phụ, chấtđất nơi đây phù hợp nhất
Trang 1Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Phụ- tỉnh Thái Bình.
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Phụ- tỉnh
Thái Bình 1
Phần I: Mở Đầu 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1 Mục tiêu chung 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
Chương I:Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả sản xuất lúa 7
I.Đặc điểm sản xuất lúa gạo 7
II Vai trò sản xuất lúa gạo 8
1 Gạo dùng làm lương thực – một trong những nhu cầu cơ bản của con người 8
2 Gạo dùng để chăn nuôi 8
3 Gạo dùng cho công nghiệp chế biến 9
4 Gạo dùng để xuất khẩu 9
5 Lúa gạo tham gia ổn định an ninh lương thực của thế giới 9
III.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 10
1 Điều kiện tự nhiên 10
2 Nhóm biện pháp kĩ thuật canh tác 10
3.Nhóm các nhân tố kinh tế- tổ chức 11
4 Nhóm nhân tố xã hội 12
IV Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 12
Trang 21 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 12
2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 13
Chương II Thực trạng sản xuất lúa gạo của huện Quỳnh phụ 15
I.Vị trí của cây lúa trong diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện 15
II Diện tích, năng xuất, sản lượng lúa của huyện các năm gần đây 17
III Tình hình tiêu thụ 21
1 Thuận lợi : 22
V Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của hộ nông dân 22
1 Tình hình cơ bản của hộ điều tra 22
2 Cơ cấu các giống lúa của nhóm hộ điều tra 23
5.Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ 24
5.1 Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở hai vụ lúa xuân và lúa mùa 24
5.2 Chi phí sản xuất giữa các giống khác nhau 30
5.3 Chi phí sản xuất lúa của các vùng sản xuất 34
5.4 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa của nhóm hộ điều tra 37
5.5 So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giữa các vùng sản xuẩt 41
5.3.Các yếu tố ảnh hưởng tới năng xuất lúa 44
5.3.1 Các yếu tố được đưa vào trong mô hình suất 44
5.3.2 Các yếu tố ngoài mô hình sản xuất 50
4.3 So sánh hiệu quả kinh tế cây lúa với một số cây trồng khác 55
4 So sánh hiệu quả kinh tế của cây lúa mùa với một số cây trồng vụ mùa 59
7 Đánh giá trung sản xuất và kết quả sản xuất của huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình 61
7.1 Thành tựu và nhiệm vụ 61
7.2 Những tồn tại và nguyên nhân 67
Chưong III.Phương hướng và Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở Quỳnh Phụ - Thái Bình 73
Trang 3I Phương hướng mục tiêu: 73
II Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ỏ Quỳnh Phụ - Thái Bình 73
1.Giải pháp về giống 73
2 Giải pháp về khuyến nông 74
3 Giải pháp về phân bón 75
4 Giải pháp về vốn 76
5 Giải pháp về thị trường 76
Kết luận 78
Kiến nghị 79
1 Đối với nhà nước 79
2 Với cấp cơ sỏ 79
3 Đối với các nông hộ 79
Trang 4Phần I: Mở Đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội,giữ một vị trí hết sức quan trọng Vì nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm nuôisống con người mà bất kỳ ngành sản xuất khác không thể thay thế được Đặc biệttrong sản xuất nông nghiệp ngành sản xuất lương thực chiếm vị trí quan trọngquyết định sự thành bại, ấm no hay phồn vinh của nông nghiệp và nông thôn, đôikhi là của toàn bộ nền kinh tế xã hội của quốc gia Vì vậy việc phát triển sản xuấtlượng thực không những là quan trọng mà còn là chỗ dựa vững chắc để tạo đà pháttriển cho các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra lương thựccòn là nguồn dự trữ để nhà nước thực hiện chính sách xã hội Từ những ý nghĩacực kì to lớn như vậy Đảng và Nhà nứơc ta đã lấy sản xuất nông nghiệp làm trọngtâm cho các thời kì phát triển của đất nước
Đối với nước ta, sản xuất lương thực chủ yếu và quyết định vẫn là lúa gạo
Do vậy việc thâm canh sản xuất lúa vẫn là mục tiêu hàng đầu đặt ra Quỳnh Phụ làmột huyện thuần nông với đa số dân cư sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp Cơcấu nông nghiệp của huyện chủ yếu là trồng trọt đặc biệt là ngành sản xuất lúa gạochiếm cơ cấu và diện tích chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất này Vì vậy mà sản xuấtlúa gạo quyết định lớn đến thu nhập và đời sống của các hộ sản xuất lúa gạo trênđịa bàn huyện Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quảkhông cao Điều này là do rất nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là do thiên taihạn hán, lũ lụt, dịch bệnh, trình độ áp dụng kỹ thuật khoa học mới còn nhiều hạnchế…
Trang 5Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “ Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, trên cơ sở đó đề xuất ranhững giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Quỳnh Phụtỉnh Thái Bình
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề thuộc về kinh tế sản xuất lúa của các hộ nôngdân với chủ thể là các hộ sản xuất lúa
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 6Phạm vi thời gian: đề tài được bắt đầu tiến hành nghiên cứu từ ngày 31/12/2007đến ngày 25/4/2008.
Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình
Trang 7Chương I:Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả sản xuất lúa
I.Đặc điểm sản xuất lúa gạo
Cây lúa là cây có thời gian sinh trưởng ngắn thường từ 4-5 tháng và phát triểnqua 4 thời kì: thời kì nảy mầm, thời kì mạ, thời kì đẻ nhánh- làm đòng, thời kì trổbông – làm hạt( Giáo trình cây lương thực, Nguyễn Đình Giao…2001) Mỗi giaiđoạn phát triển có những đặc điểm sinh lý khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng và điềukiện phát triển khác nhau Vì vậy, tùy vào điều kiện mà có các biện pháp chăm sóchợp lý để cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết giúp cho cây lúa sinh trưởng vàphát triển tốt đem lại năng xuất cao
Cũng như các cây trồng khác cây lúa chịu sự tác động lớn của các yếu tố điêùkiện tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, lũ lụt, hạn hán … Nếucấy lúa gặp điều kiện thuận lợi cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt cho năng xuất cao.Ngược lại nếu gặp thời tiết khắc nghiệt tùy theo mức độ khác nhau mà cây có thể
bị chết hoặc còi cọc, sinh trưởng và phát triển chậm cho năng xuất thấp
Trên thực tế năng xuất lúa được quyết định bởi tổng hòa rất nhiều các yếu tố:giống, kĩ thuật chăm sóc, điều kiện tự nhiên, yếu tố con người nhiều khi là do tácđộng của yếu tố thị trường Mỗi giống lúa khác nhau cho năng xuất khác nhau vàcùng một giống lúa với biện pháp thâm canh khác nhau có thể cho năng xuất khácnhau Mỗi giống lúa thích hợp với từng loại đất nhất định và cho năng xuất cao khiđảm bảo yêu cầu kĩ thuật Chính vì vậy mà cần thiết phải nắm rõ các đặc điểm củacây lúa để có biện pháp canh tác thích hợp Ngoài ra sản xuất lúa còn mang nặngtính thời vụ Thòi gian gieo cấy và thu hoạch dồn dập đã gây sức ép lớn về laođộng khi thời vụ đến nhưng sau khi thời vụ qua đi thì lao động lại nhàn rỗi nhiều
Trang 8Do đó phải có thêm nghề phụ để ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề lao độngtrong lúc nông nhàn.
II Vai trò sản xuất lúa gạo.
1 Gạo dùng làm lương thực – một trong những nhu cầu cơ bản của con người
Cây lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa mì, lúa, ngô.Lúa gạo là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng của con người Lúa cung cấptinh bột: giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo.Lúa cung cấp các vitamin, protein,lipit Từ đặc điểm dinh dưỡng của hạt, đã từ lâu lúa gạo được coi là nguồn thựcphẩm và dược phẩm có giá trị Tổ chức Quốc tế đã gọi hạt gạo là “hạt của sựsống’’ Lúa cung cấp lương thực cho 1/2 dân số thế giới Trong cơ cấu sản xuấtlương thực của thế giới: lúa mì chiếm 30,5%, lúa gạo 26,5%, ngô 24%, còn lại cácloại ngũ cốc khác
Ngoài việc sử dụng làm lương thực chủ yếu, các sản phẩm của cây lúa còn được
sủ dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
2 Gạo dùng để chăn nuôi.
Nói chung, gạo dùng để chăn nuôi gia súc chủ yếu là tấm và gạo có chất lượngxấu Trước đây, khoảng 5% tổng sản lượng gạo được dùng để chăn nuôi hàngnăm Kể từ thập kỉ 60, nhất là những năm đầu thập kỉ 90, tỷ lệ này giảm nhanhchóng bởi lẽ:
- Sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển, trước hết là ở châu Á dẫn đếnquan hệ cung cầu gạo trên thế giới căng thẳng và giá gạo tăng trong những nămgần đây Đặc biệt năm 2007 và đầu năm 2008 này giá gạo tăng một cách chóngmặt
Trang 9- Trình độ kỹ thuật sản xuất và công nghệ chế biến gạo được chú trọng đáng kể
đã giảm nhanh chóng tỉ lệ tấm và không ngừng nâng cao chất lượng gạo, đáp ứngnhững nhu cầu cấp thiêt của con người cả về chất lượng và số lượng
- Sản xuất ngô được đẩy mạnh, cùng với sự phát triển của sản xuất ngô các loạikhác như khoai,sắn cũng được sử dụng cho chăn nuôi gia súc nhằm tiết kiệm triệt
để lúa gạo Hiện nay gạo dùng cho chăn nuôi chỉ chiếm khoảng 1%
3 Gạo dùng cho công nghiệp chế biến.
Từ lâu, gạo đã được sử dụng để chế biến các loại rượu cồn, cồn cao cấp hay gạođược dùng để làm bún, bánh phở …một số loại dược liệu y tế cũng được chế biến
từ gạo Nhiều năm qua, ngành công nghiệp thực phẩm phát triển đã sử dụng gạochế biến ra hàng loạt bánh mứt kẹo cao cấp Trong suốt thời gian dài trước đây,gạo được dùng làm nguyên liệu chế biến thường chiếm tỷ trọng từ 3-5% trong cơcấu tiêu thụ gạo trên thế giới Đến nay việc sử dụng gạo làm nguyên liệu trongcông nghiệp chế biến cũng mang tính kinh tế thực dụng hơn
4 Gạo dùng để xuất khẩu.
Hàng năm lượng gạo lưu thông trên thế giới khá lớn Việt Nam là một trong banước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho nềnkinh tế Trong những năm tới chúng ta sẽ chú ý sản xuất lúa đặc sản có mùi, dạnghạt đẹp để tăng chất lượng gạo, tăng giá trị xuất khẩu Hiện tại có nhiều doanhnghiệp đã chú trọng đến vấn đề này Công tác lai tạo giống có chất lượng cao phùhợp với điều kiện ngoại cảnh đang được đẩy mạnh Chủ chương liên kết 4 nhà: nhànước, nhà khoa học, nhà nông nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp sẽ giúp choviệc xuất khẩu gạo của Việt Nam phát triển
5 Lúa gạo tham gia ổn định an ninh lương thực của thế giới.
Trang 10Đứng trước sự khó khăn về lương thực ở nhiều nước và các châu lục Hội nghịthượng đỉnh lương thực thế giới do FAO tổ chức tháng 10 năm 1996 tại Roma đãnêu rõ “ vấn đề đói và không an ninh lương thực là vấn đề mang tính toàn cầu vàngày càng có xu hướng trầm trọng thêm ở một số khu vực, đòi hỏi ngay phải cónhững hành động khẩn cấp vì theo dự đoán dân số thế giới ngày càng tăng và tàinguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt” vì vậy hội nghị quốc tế này đã đề ra 7 camkết và hành động, trong đó có 3 cam kết quan hệ lớn đến sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất lúa nói riêng.
III.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất lúa.
1 Điều kiện tự nhiên
Khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng nhất của điề kiện sinh thái có ảnh hưởnglớn nhất và thường xuyên nhất tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa.Cây lúa có xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên điều kiện khí hậu nước ta thuận lợi chocây lúa sinh trưởng và phát triển Trên đồng ruộng cây lúa chịu ảnh hưởng tổnghợp của các điều kiện khác nhau, trong đó yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt nhất.Các yếu tố khác như ánh sáng, nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinhtrưởng và phát triển của cây lúa Năm nào điều kiện khí hậu thuận lợi thì năm ấycây lúa cho năng xuất cao và ngược lại Vì vậy có thể nói yếu tố thời tiết khí hậumang tính chất quyết định đến năng xuất lúa
2 Nhóm biện pháp kĩ thuật canh tác
Biện pháp kĩ thuật canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng như chọngiống, kĩ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…
+ Giống lúa: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng xuất và hiệu quả kinh tếcủa cây lúa Mỗi giống có nằng xuất nhẩt định và cho năng xuât cao khi đảm bảo
Trang 11yêu cầu kĩ thuật của chúng Tuy nhiên mỗi giống chỉ phù hợp với từng loại đất cụthể, từng miền khí hậu nhất định cho nên việc lựa chọn giống phù hợp và cho năngxuất cao đối với từng địa phương là hết sức quan trọng và cần thiết.
+ Kĩ thuật chăm sóc: Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình sản xuấtnếu muốn đạt năng xuất cao Trong quá trình chăm sóc phải cung cấp đầy đủ nhucầu dinh dưỡng cho cây trồng có như vậy mới đem lại năng xuất như mong muốn.+ Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năngxuất lúa Ở cây lúa tình hình sâu bệnh rất phức tạp, với từng giống lúa thườngxuyên xuất hiện những loại sâu bệnh khác nhau Trong quá trình sản xuất cần quantâm tới đồng ruộng để phát hiện kịp thời các loại bệnh Từ đó có biện pháp tiêudiệt ngay khi chúng mới xuất hiện Phòng chống sâu bệnh kịp thời, hữu hiệu sẽgiúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và đem lại năng xuẩt và chất lượng lúa tốt hơn
3.Nhóm các nhân tố kinh tế- tổ chức.
Các nhân tố của nhóm này gồm nhiều vấn đề có thể chia ra như sau:
+ Trình độ năng lực của chủ thể sản xuất kinh doanh: nó có tác dụng quyết địnhtrực tiếp tổ chức và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Năng lực của các chủ thể kinh tếsản xuất kinh doanh thể hiện qua:
Trình độ khoa học kĩ thuật và tổ chức quản lí của các chủ thể
- Khả năng ứng sử trước những thay đổi của điều kiện kinh tế thị trường vàmôi trường sản xuất kinh doanh
- Khả năng và trình độ trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật của các chủ hộ
+ Quy mô sản xuất: Các nông hộ khác nhau có diện tích đất canh tác khác nhau.Diện tích càng lớn thì mọi công việc như tổ chức, chăm sóc, thu hoạch, chi phí,
Trang 12cũng được tiết kiệm hơn Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả kinh tế.
+ Thị trường: Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất lúa Trênthực tế do bản chất của người nông dân vốn rất thực dụng do đó nếu vụ trước đượcmùa thì lập tức vụ sau người nông dân sẽ đầu tư vào sản xuất nhiều hơn Vì vậyvấn đề đặt ra là khi có sản lượng cao cần mở rộng thị trường tiêu thụ làm sao chosản xuất ổn định và phát triển để người sản xuất đảm bảo chi phí cho quá trình sảnxuất
+ Thu nhập: nói lên sức mua của người tiêu dùng, nếu thu nhập thấp sức mua củangười tiêu dùng giảm và ngược lại
Tóm lại các nhóm nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội trên có liên quan mật thiết vàtác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng tới quá trìnhsản xuất và hiệu quả sản xuất Do vậy đánh giá đúng sự tác động của nó đến hiệuquả sản xuất lúa là rất cần thiết để có những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quảkinh tế trong sản xuất lúa
IV Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam.
1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới.
Trang 13Trong những năm gần đây tình hình sản xuất lúa gạo thế giới có những bước pháttriển đáng kể Năm 2004 sản lượng lúa gạo thế giới đạt 608,49 triệu tấn Đến năm
2005 thế giới sản xuất được 628 triệu tấn gạo đạt mức kỉ lục nhờ giá cả tăngtrongnăm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt Vụ lúa năm 2006 được tổ chức Nông-Lương Liên Hợp quốc(FAO) đánh giá đang tiến triển tương đối tốt tại nhiều nướctại bán cầu nam hoặc gần xích đạo Một số nước thậm chí đã thu hoạch vụ lúachính trước tháng 5/06 Số liệu ước tính của FAO cho thấy sản lượng lúa thế giớinăm 2006 có thể đạt 635 triệu tấn Tại các nước thuộc bán cầu nam, sản xuất lúa vụnăm 2006 của các nước Argentina, Australia, Indonesia, Madagascar có thể tăng
do vụ mùa diễn ra khá thuận lợi trong khi sản xuất lúa của Brazin, Ecuador giảm
2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam.
Từ sau khi có nghị quyết 10, giao ruộng đất cho nông dân và chính sách coi
hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, nông nghiệp nước ta đã có những bước pháttriển vượt bậc Nước ta từ chỗ thiếu đói về lương thực cho đến nay đã trở thànhmột trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Hiện nay cây lúa đượcđưa vào sản xuất ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Do điều kiện đa dạng củakhí hậu địa hình và tập quán canh tác nên nên sản xuất lúa gạo cũng phân bố khôngđều trong cả nước Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích gieo trồng lúalớn nhất cả nước, chiếm khoảng 51% tổng diện tích gieo trồng lúa của cả nước.Tiếp đến là đồng bằng sông Hồng với diện tích gieo trồng chiếm khoảng 16% Cácvùng còn lại chiếm khoảng 33% diện tích gieo trồng lúa cả nước Diện tích gieotrồng lúa tăng chủ yếu là do tăng vụ chứ không phải do diện tích đất canh tác tăng Năng xuất lúa của Việt Nam liên tục tăng trong những năm vừa qua Năm 1990năng xuất lúa chỉ mới đạt 31,9 tạ /ha/năm Năm 2003 năng xuất trung bình của
Trang 14Việt Nam đạt 46,3 tạ/ha, tăng 1,45 lần so với năng xuất trung bình năm 1990 Hiệnnay Việt Nam là nước có năng xuất lúa cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Tuynhiên, so với năng xuất trung bình của các nước tiên tiến trên thế giới thì năng xuấtcủa Việt Nam chỉ bằng 60 %.
Về sản lượng: cùng với chính sách đảm bảo an ninh lương thực, sản xuất lúagạo của Việt Nam đã đạt được nhiều thành công Sản lượng lúa liên tục tăng.Sảnlượng lương thực năm 2005 là 39.622 nghìn tấn, năm 2006 là 39.648 nghìn tấn,năm 2007 là 39.977 nghìn tấn Trứơc đây Việt Nam là nước phải nhập khẩu gạo,thì nay Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới ĐBSH vàĐBSCL là 2 vựa lúa lớn nhất của cả nứơc Chỉ tính riêng 2 vùng này, sản lượng lúa
đã chiếm khoảng 70 % tổng sản lượng lúa cả nước Tuy nhiên sản lượng lúa trong
4 năm trở lại đây biến động thất thường hơn so với giai đoạn trước, đặc biệt là đốivới các vùng ĐBSH và ĐBSCL
Trang 15
Chương II Thực trạng sản xuất lúa gạo của huện Quỳnh phụ.
I.Vị trí của cây lúa trong diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện.
Cây lúa chiếm diện tích hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nóichung và trong sản xuất trồng trọt nói riêng của huyện Quỳnh Phụ Cây lúa cungcấp hầu hết nhu cầu lương thực trong sinh hoạt và trong chăn nuôi của người dânnơi đây Mặc dù cây lúa không mang lại hiệu quả cao nhưng lại được hết sức chútrọng trong sản xuất, đã có rất nhiều giải pháp và thay đổi nhiều phương thức sảnxuất nhằm nâng cao năng xuất và hiệu quả kinh tế của cây lúa trong địa bàn huyện
Sở dĩ có điều này là do trong tổng diện tích cây trồng thì cây lúa chiếm ưu thế hơn,hơn thế nữu lúa đã được thâm canh từ rất lâu đời trên mảnh đất Quỳnh Phụ, chấtđất nơi đây phù hợp nhất với cây lúa còn các loại cây màu khác thì ít phù hợp.Chủng loại cây trồng ở địa bàn huyện rất đa dạng và phong phú, được chia thànhnhững nhóm cây chủ yếu sau: cây lúa, nhóm cây màu lương thực, nhóm cây cóchất bột, cây công nghiệp, cây thực phẩm, rau đậu và các loại cây hàng năm khác.Trong đó cây lúa chiếm ưu thế hơn hẳn các loại cây trồng khác và các loại cây này
có sự chuyển dịch theo nhiều hướng khác nhau
Cây lúa là cây trồng chủ lực đối với ngành trồng trọt Phần lớn diện tích ngànhtrồng trọt là của cây lúa: năm 2005 là 24028 ha giảm so với năm 2004 là 0,311%,năm 2006 là 23949 ha giảm so với năm 2005 là 0, 33% Năm 2007 diện tích lúa cảnăm là 23913 ha giảm 36 ha do chuyển dịch diện tích cấy lúa kém hiệu quả sangnuôi trồng thủy sản và trồng cây màu có giá trị kinh tế cao hơn Tổng diện tíchgieo trồng cả năm 2007 đạt 32306 ha tăng 863 ha so với năm 2006, chủ yếu là tăngdiện tích cây trồng cây vụ đông và các loại rau màu Lúa trên địa bàn huyện được
Trang 16gieo cấy làm hai vụ chính, vụ xuân và vụ mùa Diện tích gieo trồng của hai vụ gầnnhư tương đương nhau và không chênh lệch lớn, hai vụ lúa kể trên trong 3 nămqua đều giảm nhẹ Bình quân mỗi năm vụ xuân giảm 0,5% trong khi đó vụ mùagiảm 0,6% Tuy diện tích gieo trồng lúa trong những năm qua giảm nhưng vị thếcủa cây lúa trong gieo trồng cây hàng năm của huện vẫn đứng hàng đầu.
Cây công nghiệp ngắn ngày trên địa bàn huyện rất đa dạng và phong phú baogồm các loại cây: cây đay, cói, lạc, vừng, đậu tương, thuốc lào Tuy đa dạng nhưvậy nhưng chúng chiếm phần diện tích gieo trồng rất khiêm tốn Năm 2004 có
1396 ha diện tích gieo trồng chiếm 4,44% diện tích gieo trồng, năm 2005 là 1338
ha chiếm 4,24%, năm 2006 là 1331 ha chiếm 4,24%, bình quân mỗi năm giảm0,24% Nguyên nhân của tình trạng này là do đất màu dần trở thành đất ở và đấtlàm trang trại Trong nhóm cây công nghiệp thì đậu tương được gieo trồng chủyếu, bình quân trong vòng 3 năm tăng 2,6% Cây đậu tương rất được chuộng trongsản xuất cây vụ đông của nông dân trong huyện bởi vì kĩ thuật chăm sóc đơn giản,đầu tư thấp và có hiệu quả cao hơn hăn so với cây trồng vụ đông khác Cây lạc códiện tích lớn thứ hai trong tổng diện tích gieo trồng cây công nghiệp: năm 2004gieo trồng 275 ha chiếm 19,7% tổng diên tích gieo trồng cây công nghiệp, đến năm
2006 chỉ còn 168 ha, năm 2007 chỉ còn 151 ha Diện tích cây lạc giảm một cáchnhanh chóng là do lạc không đem lại hiệu quả cao và người nông dân chuyển sangtrồng đậu tương Cây công nghiệp còn lại chiếm cơ cấu và sản lượng nhỏ và luôn
có sự biến động, sự biến động này không ảnh hưởng nhiều đến giá trị sản xuấtngành trồng trọt
Cây thực phẩm các loại nhiều năm qua phát triển không ngừng trừ năm 2005lắng xuống do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt làm rau màu sinh trưởng, phát triển
Trang 17kém Năm 2004 diện tích của nhóm cây này là 2835 ha chiếm 9,03 % tổng diệntích gieo trồng cây hàng năm, năm 2005 là 2760 ha giảm so với năm 2004 là2,65% tức 75ha, đến năm 2006 tăng lên 3124 ha tăng so với năm 2005 là 13,19 ha,bình quân trong vòng 3 năm tăng 4,9% Cây thực phẩm rau màu ngày càng có giátrị kinh tế cao và đem lại nguồn thu đáng kể cho nông dân, đặc biệt nhóm này đượcsản xuất phổ biến ở vụ đông Ở nhiều xã như Quỳnh Hải, Quỳnh Hội có trình độthâm canh cây vụ đông rất cao.
II Diện tích, năng xuất, sản lượng lúa của huyện các năm gần đây.
Cây lúa được thâm canh từ rất lâu đời trên mảnh đất Quỳnh Phụ, nó gắn bómật thiết với người dân nơi đây, nó đi sâu vào tâm lý của họ nhất định phải sảnxuất lúa nếu không thì không có đủ lương thực hoặc có tiền đi mua thì cũng khôngđược hạt gạo ngon Trải qua rất nhiều lần thay đổi giống, thay đổi phương thức sảnxuất để nâng cao năng xuất cũng như hiệu quả kinh tế của cây lúa, hiện nay trênđịa bàn huyện đang sử dụng các giống phổ biến nhu:giống dài ngày là Xi23, 13/2,
8865, nếp thơm; giống ngắn ngày là Q5, TBR1, Khang dân 18, Khâm dục, N87,N97, hương thơm 1, bắc thơm 7, BC15 Theo số liệu của phòng nông nghiệphuyện, hiện nay có trên 10% diện tích lúa chất lượng cao Người dân nơi đây đangchuyển dần từ sản xuất về lượng sang sản xuất về chất lượng
Bảng : Diện tích, Năng suất, sản lượng của lúa qua 3 năm
Trang 18(Nguồn: Phòng nông nghiệp huyện Quỳnh Phụ)
Qua bảng số liệu cho thấy:
Mùa vụ: cây lúa trên địa bàn huyện được gieo trồng ở hai vụ: vụ xuân và vụ mùa
và cả hai vụ này đều có diện tích tương đương nhau Tuy nhiên sản xuất lúa gạođều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên cho nên lúa xuân thường chonăng xuất cao hơn lúa mùa
Diện tích: Hiện nay cây lúa không mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các câytrồng màu khác hoặc rau màu chính vì thế mà trong những năm gần đây diện tíchsản xuất lúa cho hiệu quả thấp được chuyển dần mục đích sản xuất Đây cũngchính là nguyên nhân khiến diện tích lúa giảm dần Ở vụ lúa giống, lúa chủ yếu làgiống lúa dài ngày Xi23, thích hợp với chân đất trũng Năm 2005 diện tích lúaxuân là 12120 ha tăng so với năm 2004 là 0,67% tức là 81ha, đến năm 2006 chỉcòn 11940 ha giảm so với năm 2005 là 4,19%(180 ha) Bình quân 3 năm diện tíchlúa xuân giảm 0,14% Diện tích cấy lúa xuân ngắn ngày qua 2 năm 2006, 2007phấn đấu toàn huện vẫn chỉ đạt được 67,3% diện tích gieo cấy Diện tích lúa mùaliên tục giảm bình quân trong 3 năm mỗi năm giảm 0,67% Nguyên nhân là trongnhững năm gần đây các yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa tăng Diện tích ở hai vụlúa sản xuất đều giảm dần, bình quân mỗi năm diện tích lúa của huện giảm 0,59%.hiện nay chủ chương của huyện là chuyển đổi diện tích cấy lúa không có hiệu quả
Trang 19sang mục đích sử dụng khác, sản xuất lúa gạo không cần tăng về diện tích mà chỉcần tăng về năng xuất và chất lượng.
Năng suất: yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
đó chính là năng xuất, năng xuất lúa giữa hai vụ lúa xuân, lúa mùa khác nhau rõrệt Năm 2005 năng xuất lúa xuân là 71,16 tạ/ha, lúa mùa chỉ đạt 51,8tạ/ha, lúaxuân cao hơn lúa mùa là 19,36 tạ/ ha; đến năm 2006 lúa xuân đạt 70,15 tạ/ha, lúamùa đạt 61,2 tạ/ha mức chênh lệch chỉ còn 8,95 tạ/ha Năm 2007 năng xuất lúaxuân đạt 60,81 tạ, vụ mùa 62,65 tạ, mức chênh lệch chỉ còn 1,84 tạ/ha Qua bảng
số liệu cho thấy năng xuất lúa xuân tương đối ổn định, bình quân trong 3 năm có
sự giảm nhẹ 0,33% Nhưng ngược với lúa xuân lúa mùa có sự biến động lón vềnăng xuất: năm 2005 do điều kiện thời tiết bất lợi cho sản xuất lúa vụ mùa, cho nênnăng xuất lúa mùa chỉ còn 51,9 tạ/ha, giảm 9,39% tức là 5,37 tạ/ha Nhưng đếnnăm 2006 điều kiện thời tiết thuận lợi đã làm cho năng xuất lúa mùa tăng vọt với61,2 tạ/ha, tăng so với năm 2005 là 18,15% Năm 2007 năng xuất lúa mùa đạt62,65 tạ/ha Bình quân trong năng xuất lúa mùa tăng 3,46 % Qua đây cho thấynăng sản xuất lúa chịu tác động rất lớn của điều kiện tự nhiên Trên địa bàn huyện
2 giống X23 và Q5 được sử dụng khá lâu đời và cho năng xuất cao và ổn định.Hiện nay huyện đang có chủ trướng sản xuất lúa có chất lượng cao như bắc thơm,N97… trong đó chủ yếu là bắc thơm Các giống lúa có chất lượng cao cho năngxuất thấp hơn nhiều so với các giống cũ điều này cũng ảnh hưởng đến năng xuấtlúa bình quân của toàn huyện
Diện tích và năng xuất lúa biến động dẫn đến sản lượng lúa của huyện biếnđộng, năm 2004 toàn huyện đạt 154699 tấn lúa gạo, đến năm 2005 do lúa mùa thấtthu cho nên sản lượng lúa giảm xuống 148862 tấn giảm 3,75% tức là 5807 tấn;
Trang 20năm 2006 sản lượng lúa tăng lên 157199 tấn tăng so với năm 2005 là 5,6% tức
8337 tấn, nguyên nhân chủ yếu là do lúa mùa được mùa, bình quân 3 năm sảnlượng lúa tăng 0,81% Năm 2007 sản lượng thóc đạt 147.607 tấn giảm so với năm
2006 là 9592 tấn nguyên nhân là do thời tiết khí hậu không thuận lợi và chi phí sảnxuất lúa cao nên người dân chuyển đổi mục đích sủ dụng đất
Tóm lại, sản xuất lúa gạo hiện nay của nhân dân trong huyện có sự chuyển biếntheo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế chứ không còn chú trọng trongviệc tăng về diện tích điều này khẳng định nhận thức về sản xuất của nông dân nơiđây được nâng cao rất nhiều, điều này góp phần tích cực vào công cuộc phát triểnsản xuất nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của huyện nói chung
Trang 21III Tình hình tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng đối với bất cứ ngành sản xuất nào Phầnlớn các hộ nông dân trên địa bàn huyện có diện tích sản xuất ít cho nên lúa gạo sảnxuất chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và chăn nuôi của gia đình, phần còn lạimới để bán Việc tiêu thụ sản phẩm do các nông hộ chịu trách nhiệm thực hiện.Kênh tiêu thụ sản phẩm của hộ qua qua các hình thức sau: Hộ có thể mang thóc
Hộ nông dân
SX lúa
Chợ Người thu gom Đại lý thu mua Chế biến
Người tiêu dùng
Trang 22gạo ra chợ bán, bán trực tiếp cho người tiêu dùng tại nhà, bán cho người thu gomhoặc bán cho đại lí thu mua Thông tin về giá lúa gạo khá phổ biến thuận lợi chonông dân trong việc tiêu thụ sản phẩm và có sự điều chỉnh theo giá lúa gạo quốcgia Lúa gạo từ các hộ nông dân hoặc những người thu gom tới đại lí thu mua từ đóđược chuyển đi chế biến xuất khẩu Tuy nhiên trên địa bàn huyện không có một cơ
sỏ chế biến lúa gạo nào lớn chỉ có những cơ sở rất nhỏ chế biến gạo để bán chonhân dân trong huyện và các vùng phụ cận Theo số liệu của phòng thống kê toànhuyện có 4 cơ sở chế biến gạo nhỏ của tư nhân, trong đó có hai cơ sở ở thị trấnQuỳnh Côi
IV Những thuận lợi khó khăn.
1. Thuận lợi :
Đất đai của huyện rất phù hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt Mặtkhác nông dân nơi đây có kinh nghiệm sản xuất lúa gạo từ lâu đời Cơ sở hạ tầngphục vụ cho sản xuất tương đối tốt: hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng đãđược 38 xã phường nâng cấp và đi vào hoạt động rất tốt Hệ thống khuyến nôngđang trên đà phát triển cùng với việc tổ chức các lớp tập huấn kết hợp với thôngtin, tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức trong sản xuất cho người nôngdân
Khó Khăn :
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì sản xuất của huyện cũng gặp một sốkhó khăn Khó khăn lớn nhất hiện nay là diện tích đất canh tác và đất sản xuất lúacủa các hộ quá ít, diện tích đât nông nghiệp được chia theo đầu người thấp Đâychính là nguyên nhân mà nông hộ không thực hiện quy mô sản xuất lớn hơn được
V Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của hộ nông dân.
Trang 231 Tình hình cơ bản của hộ điều tra.
* Đặc điểm cơ bản của hộ nông dân ở địa điểm nghiên cứu
Như các địa phương khác từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị, hộ nông dân củahuyện Quỳnh Phụ đã được trao quyền sử dụng ruộng đất ổn định và lâu dài, chínhthức được coi là đơn vị kinh tế tự chủ Cùng với quá trình đổi mới của đất nướckinh tế hộ ở huyện ngày một phát triển
Tuy nhiên đối với hộ nông dân trong điều kiện sản xuất hàng hóa như hiện nayđang nổi cộm lên một số vấn đề: diện tích đát đai của hộ nông dân ở đây còn manhmún, diện tích đất bình quân trên đầu người thấp điều này đã làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến phát triển sản xuất của hộ nông dân
2 Cơ cấu các giống lúa của nhóm hộ điều tra
Giống là yếu tố ảnh hưởng lón đến năng xuất cây trồng vật nuôi Mỗi giống cần
có đặc điểm sinh lí nhất định cần có kĩ thuật chăm sóc riêng và có ngưỡng giới hạnnăng xuất khác nhau Giống lúa là một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏtới năng xuất lúa từ đó mà ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất của cây lúa
Diện tích canh tác lúa của các hộ ở hai vụ lúa: lúa xuân và lúa mùa tương đối nhưnhau và bằng diện tích đất canh tác Tổng diện tích đất canh tác của các hộ điều tra
là 269,3 sào, trong đó hộ khá 46,2 sào, hộ trung bình có diện tích đất canh tác202,9 sào, hộ nghèo có diện tích đất canh tác là 20,2 sào Ở mỗi vụ các hộ lại sửdụng các giống lúa khác nhau
Qua điều tra cho thấy ở vụ xuân các hộ sử dụng giống Xi23, Q5, Bắc Thơm làchủ yếu; giống Xi23 được gieo trồng 213,07 sào chiếm 79,12% diện tích gieotrồng lúa xuân, giống Q5 có 33,04 ha chiếm 12,27%; Bắc Thơm có 14,08ha chiếm5,23% còn lại các giống khác có 9,1ha chiếm 3,38% Các nhóm hộ điều tra có cơ
Trang 24cấu giống lúa khác nhau hoàn toàn Hộ khá đã chuyển từ cấy lúa có năng xuất caonhưng chất lượng không cao sang cấy lúa có chất lượng cao Do đó mà giống Xi23chiếm 76,5%, Q5 chiếm 10,82%, diện tích bắc thơm chiếm 13,14% tổng diện tíchtrồng lúa xuân của nhóm hộ này Nhóm hộ trung bình diện tích giống Xi23 chiếm76,5%, Q5 chiếm 10,82%, diện tích bắc thơm chiếm 3,95% tổng diện tích gieotrồng vụ xuân của nhóm hộ này, ngoài ra nhóm hộ này còn dành 4,48 % diện tíchgieo trồng vụ mùa để sản xuất các giống khác ( Khâm Dục, Hương thơm, N97…).
Hộ nghèo diện tích cấy giống Xi23 chiếm 81,89%, giống Q5 chiếm 18,10 %tổngdiện tích gieo trồng vụ xuân của nhóm hộ này
Vụ mùa: bước sang sản xuất vụ mùa thì các hộ nông dân lại sử dụng giống khácđiP: giống Q5 được gieo trồng phổ biến ngoài ra còn phải kể đến giống Bắc thơm.Giống Q5 được gieo trồng 241,67 sào chiếm 89,74% tổng diện tích gieo trồng vụmùa, Bắc thơm chiếm 15,21% diện tích cấy lúa mùa của nhóm hộ này Nhóm hộtrung bình diện tích giống Q5 chiếm 89,95%, giống Bắc thơm chiếm 6,67 % tổngdiện tích gieo trồng của nhóm hộ này, ngoài ra hộ còn sủ dụng nhiều giống khácnhưng chiếm cơ cấu rất nhỏ 3,38 % tổng diện tích gieo trồng của nhóm hộ Hộnghèo trong vụ mùa sủ dụng giống duy nhất đó là giống Q5 vào trong sản xuất lúa Tóm lại cơ cấu nhóm lúa ảnh hưởng tới năng xuất bình quân của các nhóm hộ.Tuỳ vào điều kiện kinh tế khác nhau mà các hộ ra quyết định lựa chọn giống trongsản xuất, thông thường các hộ có điều kiện kinh tế đang có xu hướng chuyển sangsản xuất lúa có chất lượng cao còn các hộ khó khăn thì vẫn tập trung vào nhữnggiống đem lại năng xuất cao
5.Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ
5.1Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở hai vụ lúa xuân và lúa mùa
Trang 25Đối với bất kì loại cây trồng nào ngoài yếu tố thời tiết khí hậu thì phân bón,giống, thuốc bảo vệ thực vật,… đều ảnh hưởng tới năng xuất cây trồng Trong sảnxuất lúa việc thay đổi mức đầu tư đều ảnh hưởng tới năng xuất lúa và hiệu quảkinh doanh mà cây lúa đem lại Vì vậy người sản xuất lúa quyết định đầu tư ở mứcnào phù hợp với từng mùa vụ là điều rất quan trọng Nếu như đầu tư cao quá hoặcthấp quá ở các vụ khác nhau sẽ làm giảm năng xuất lúa Chính vì vậy chúng tôitiến hành nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất lúa ở các mức đầu tư khác nhau củacác nhóm hộ điều tra.
a, Chi phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở vụ lúa xuân
Về chi phí trung gían: mức đầu tư chi phí cho một sào lúa giữa các nhóm hộ có
sự khác nhau rõ rệt Bình quân mỗi sào lúa nhóm hộ khá đầu tư 192,12 nghìn đồng,nhóm hộ trung bình đầu tư là 169,94 nghìn đồng, nhóm hộ nghèo đầu tư là 160,56nghìn đồng Qua so sánh cho thấy mỗi sào lúa nhóm hộ khá đầu tư cao hơn nhóm
hộ nghèo
Ở Quỳnh Phụ cây lúa được hết sức quan tâm trong sản xuất và kĩ thuật chăm sócđược các khuyến nông viên huyện đặc biệt coi trọng Các khuyến nông viênthường xuyên tổ chức tập huấn cho khuyến nông các xã và các nông dân điển hình,giúp họ nắm vững kĩ thuật từ đó phổ biến cho địa phương mình đang sinh sống vàcông tác Các yếu tố đầu vào để sản xuất chủ yếu là: phân đạm, phân lân, phân kli,NPK, phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật…Tuy nhiên ở tuỳ mức độ kinh tế và yêucầu kĩ thuật mà các hộ có những cách đầu tư khác nhau
Bảng: Chi Phí sản xuất lúa của các nhóm hộ ở vụ xuân
Tính cho một sào
Trang 26Tiêu ĐVT
Hộ khá(1) Hộ trung bình(2) Hộ nghèo(3) So Sánh(%)
SL GT(1000đ) SL GT(1000đ) SL GT(1000đ) 1/2 2/3 1/31.CPTG 1000đ 182,12 169,94 160,56 107,17 105,84 113,43
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)
Đối với phân bón, tuỳ giống nếu có cách đầu tư cho phù hợp thì sẽ có năng xuất
cao nhất Ở Quỳnh Phụ nông dân đã bỏ kĩ thuật bón phân đơn: đạm, lân, kli Hiện
nay các hộ đang sử dụng phương pháp bón phân tổng hợp NPK kết hợp với bón
phân đạm và phân kali bổ sung Qua điều tra cho thấy các nhóm hộ khác nhau có
mức đầu tư phân bón khác nhau Đối với phân đạm: nhóm hộ khá đầu tư 4,6 kg
trên 1 sào cao hơn nhóm hộ trung bình là 26,44 % tương ứng với 0,96 kg/sào và
thấp hơn nhóm hộ nghèo là 7,95 % tương ứng là 0,4 kg/sào Nhóm hộ trung bình
có mức đầu tư phân đạm thấp hơn nhóm hộ nghèo là 27,20 % tương ứng với 1,36
kg/sào Đối với phân kali: đây là loại phân có tác dụng lớn đối với quá trình tạo hạt
Trang 27của lúa và làm cho cây lúa cứng cáp, tăng cường khả năng chống chịu của cây lúa.Nhận thức được tầm quan trọng của kali cho nên nhóm hộ khá đầu tư lớn hơn sovới các nhóm hộ khác Trung bình mỗi sào lúa xuân nhóm hộ khá đầu tư 3,76 kgcao hơn nhóm hộ trung bình là 5,92 % tương ứng với 0,21 kg và cao hơn nhóm hộnghèo là 58,65 % tương ứng với 1,39 kg Nhóm hộ trung bình đầu tư cao hơnnhóm hộ nghèo là 49,79 % tưng ứng với 1,18 kg Đối với phân NPK: đây là loạiphân chủ yếu mà hộ sử dụng để cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa Hộ khá do cótiềm lực kinh tế cao nên có mức đầu tư cao hơn nhóm hộ trung bình và nhóm hộnghèo Trung bình mỗi sào lúa xuân nhóm hộ khá có mức đầu tư phân NPK là28,13 kg cao hơn nhóm hộ trung bình là 4,54 % tương ứng với 1,22 kg/sào và caohơn nhóm hộ nghèo là 14,91 % tương ứng với 3,65 kg/sào Nhóm hộ trung bình cómức đầu tư cao hơn nhóm hộ nghèo là 9,8 % tương ứng với 2,43 kg/sào Qua đâycho ta thấy nhóm hộ khá đầu tư phân vô cơ cao hơn nhóm hộ nghèo và trung bình.Ngoài ra nhóm này còn biết cân đối tỷ lệ bón phân đạm, kali, với NPK hơn hainhóm hộ còn lại Nhóm hộ nghèo đầu tư phân vô cơ thấp nhất và cũng kết hợp 3loại phân này kém nhất Đối với phân chuồng: đây là loại phân mà các hộ tự cungcấp được và có tác dụng rất tốt cho cây trông, và có tác dụng cải tạo đất tốt Nó bổsung vào trong đất nhiều nguyên tố mà các phân vô cơ không có nếu chỉ sử dụngphân vô cơ mà không sử dụng phân hữu cơ thì đất nhanh chónh bị bạc màu Quađiều tra cho thấy ở vụ lúa xuân nhóm hộ khá đầu tư 2,71 tạ phân chuồng thấp hơnnhóm hộ trung bình là 0,73 % tương ứng với 0,02 tạ và cao hơn nhóm hộ nghèo là30,29 % tương ứng với 0,63 tạ Nhóm hộ trung bình đầu tư cao hơn nhóm hộnghèo là 31,25 % tương ứng với 0,65 tạ Hầu như phân chuồng do chăn nuôi baonhiêu đều được sử dụng hết trong sản xuất.
Trang 28Phòng trừ sâu bệnh là vấn đề không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp.
Qua điều tra cho thấy nhóm hộ khá có chi phí thuốc BVTV cao hơn nhóm hộ trung
bình và nhóm hộ nghèo Bình quân mỗi sào lúa nhóm hộ khá có chi phí thuốc
BVTV là 31,7 nghìn đồng, nhóm hộ trung bình là 27,52 nghìn đồng, nhóm hộ
nghèo là 26,42 nghìn đồng
Chi phí lao động: hầu hết các nông hộ sản xuất lúa đều thuê làm đất và tuốt lúa,
chi phí mà họ bỏ ra cho phần thuê này là 78 nghìn đồng Qua điều tra cho thấy mỗi
nhóm hộ khác nhau bỏ công lao động gia đình ra khác nhau Trung bình mỗi sào
lúa nhóm hộ khá bỏ ra 6,8 công thấp hơn nhóm hộ trung bình là 6,59% tương ứng
với 0,48 công còn thấp hơn nhóm hộ nghèo là 10,68 % tương ứng với 0,81 công
Nhóm hộ trung bình thấp hơn nhóm hộ nghèo là 4,37 % tương ứng với 0,33 công
b) Chi phí sản xuất lúa mùa của các nhóm hộ ở vụ mùa
Do sự khác nhau về điều kiện thời tiết, khí hậu và sử dụng giống khác nhau cho
nên đầu tư giữa hai vụ cũng khác nhau
Chi phí sản xuất lúa mùa của các nhóm hộ ( tính cho một sào)
Trang 29- Thủy
- Nộp
Chi phí trung gian: qua bảng số liệu cho thấy mỗi sào lúa mùa thì nhóm hộ
khá đầu tư cao nhất Chi phí trung gian mà nhóm hộ này bỏ ra là 168,93 nghìn
đồng cao hơn nhóm hộ trung bình là 2,85 % tương ứng với 4,37 nghìn đồng và cao
hơn nhóm hộ nghèo là 11,79 % tương ứng với 17,71 nghìn đồng Nhóm hộ trung
bình có mức đầu tư cao hơn nhóm hộ nghèo là 8,69 % tương ứng với 13,34 nghìn
đồng Đối với từng yếu tố cụ thể các nhóm hộ cũng có mức đầu tư khác nhau
Trong vụ mùa các nhóm hộ khá và nhóm hộ trung bình có mức đầu tư cao hơn hẳn
nhóm hộ nghèo Nhóm hộ khá và nhóm hộ trung bình có mức đầu tư tương đương
nhau
Chi phí lao động : Lao động đi thuê của các nhóm hộ ở vụ mùa không khác
vu xuân và đều là 78 nghìn đồng nhưng lao động gia đình có giảm đi đôi chút Mỗi
sào lúa mùa nhóm hộ khá bỏ ra 6,64 công lao động, nhóm hộ trung bình 6,84 công,
nhóm hộ nghèo là 7,1 công
Qua phân tích đầu tư sản xuất lúa ở cả hai vụ chúng ta nhận thấy đầu tư của hộ
nghèo còn thấp đặc biệt là lượng NPK Chính điều này đã dẫn đến năng xuất lúa
của nhóm hộ này thấp hơn hẳn so với các nhóm khác Nhóm hộ khá có tiềm lực
kinh tế nên đầu tư hơn hẳn so với các nhóm khác Qua điều tra cho thấy phân
chuồng được sử dụng trong sản xuất phần lớn chưa qua sử lí đặc biệt là nhóm hộ
nghèo và trung bình Phân chuồng qua sử lý sẽ tốt hơn rất nhiều và ít chứa mầm
Trang 30bệnh và các chất gây hại khác cho cây trồng Để sử dụng phân chuồng một cáchhiệu quả hơn và tránh gây lãng phí, các khuyến nông viên cần khuyến cáo nôngdân sử lý phân chuồng trước khi đem vào sản xuất.
5.2 Chi phí sản xuất giữa các giống khác nhau
a) Bất cứ cây trồng nào vật nuôi nào thì yếu tố giống cây trồng đều rất quantrọng Chúng có ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất của cây trồng, vật nuôi
Chi phí sản xuất của các giống lúa ở vụ xuân
173,342
193,254
102,83
100,40
89,74 95,54
Trang 31104,01
92,70 96,41
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếuđiều tra)
Hiện nay trên địa bàn huyện nông dân đang sử dụng đại trà các giống Xi23,Q5, Bắc Thơm cho vụ xuân và giống Q5, Bắc Thơm cho vụ mùa Phòng nôngnghiệp huyện đang tích cực tìm tòi các giống lúa lai, các giống lúa có năng xuất vàchất lượng cao thích ứng với điều kiện thời tiết và điều kiện canh tác của nông dântrong huyện
Chi phí trung gian: Qua bảng số liệu cho thấy: mỗi sào lúa đối với các giốnglúa khác nhau thì chi phí sản xuất lúa cũng khác nhau Giống Bắc Thơm đòi hỏiyêu cầu kĩ thuật cao hơn cho nên chi phí đầu tư cao hơn các giống khác 200,12nghìn đồng trên sào Qua so sánh cho thấy mỗi vụ lúa xuân thì giống Xi23 có chiphí trung gian cao hơn giống Q5 là 2,83% tương ứng với 7,31 nghìn đồng và thấphơn giống Bắc Thơm là 7,76% tương ứng với 14,40 nghìn đồng Giống Q5 có chiphí trung gian thấp hơn giống Bắc Thơm là 9,76 % tương ứng với 18,84 nghìnđồng
Qua điều tra cho thấy giống Bắc Thơm có yêu cầu dinh dưỡng cao hơn nên sửdụng lương phân vô cơ nhiều hơn các giống khác Đối với phân NPK(nguồn cungcấp dinh dưỡng: đạm, lân, kali chủ yếu cho lúa) giống Xi23 thấp hơn giống Q5 là
Trang 320,15% tương ứng với 0,4 kg và thấp hơn giống Bắc Thơm là 16,34% tương úngvới 5,24 kg; giống Q5 thấp hơn giống Bắc Thơm 16,22 % tương ứng với 5,17 kg Giống Bắc Thơm thường mắc nhiều bệnh hơn các giống khác cho nên chi phíBVTV cao hơn Qua so sánh cho thấy mỗi sào lúa giống Xi23 cao hơn giống Q5 là4,46% tương ứng với 1,72 nghìn đồng và thấp hơn giống Bắc Thơm là 10,26 %tương ứng với 3,05 nghìn đồng Thực tế cho thấy giống Xi23 do canh tác trên đấttrũng và có thời gian sinh trưởng dài hơn nên có chi phí BVTV cao hơn các giốngkhác.
Giống Q5 có thời gian sinh trưởng ngắn và thường cấy bằng mạ sân cho nên bỏ ítlao động hơn Bởi vì khâu chăm sóc của giống này cao hơn hai giống còn lại Qua
so sánh cho thấy một sào lúa giống Xi23 đầu tư lao động cao hơn giống Q5 là 4,01
% tương ứng với 0,28 công và thấp hơn giống Bắc Thơm là 3,59 % tương ứng với0,27 công, giống Q5 thấp hơn giống Bắc Thơm là 7,3 % tương ứng với 0,55 công
b Chi phí sản xuất lúa của các giống lúa ở vụ mùa
Trang 33( Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra )
Về chi phí trung gian: qua bảng số liệu cho ta thấy giống Bắc Thơm có chiphí trung gian là 180,12 nghìn đồng cao hơn giống Q5 là 11,23 % tương ứngvới18,19 nghìn đồng Các yếu tố đầu vào của hai giống này khác nhau, giống BắcThơm được đầu tư cao hơn Trung bình một sào giống Bắc Thơm đầu tư đạm thấphơn giống Q5 là 8,15 % tương ứng với 0,42 kg Sở dĩ có điều này là do giống Q5chủ yếu là do hộ trung bình và hộ nghèo sản xuất họ cân đối không tốt so với hàmlượng đạm có trong phân NPK nên bón nhiều hơn so với giống Bắc Thơm ( chủyếu do hộ khá sản xuất) Đối với phân NPK giống Bắc Thơm được đầu tư cao hơnQ5 là 16,4% tương ứng với 4,07 kg
Thuốc BVTV giống Bắc Thơm có chi phí nhiều hơn giống Q5 là 4,26% tươngứng với 4,26 nghìn đồng
Chi phí lao động : mỗi sào lúa giống Xi23 được đầu tư cao hơn giống Q5 là9,59 % tương ứng với 0,65 công Lao động đi thuê đối với một sào lúa giống BắcThơm và giống Q5 bằng nhau đều là 68 nghìn đồng
5.3 Chi phí sản xuất lúa của các vùng sản xuất.
Trang 34Trong sản xuất nông nghiệp mỗi vùng sản xuất có những điểm đặc trưng riêngbiệt Tùy theo điều kiện của từng vùng mà có cách đầu tư khác nhau, có phươngthức sản xuất khác nhau để đạt kết quả cao Qua thực tế điều tra 2 xã Quỳnh Ngọc
và Quỳnh Lâm chúng tôi thấy sản xuất lúa gạo của 2 xã này có sự khác nhau rõrệt
a) Chi phí sản xuất lúa ở vụ xuân của các vùng
Bảng ;Chi phí sản xuât lúa ở vụ xuân của các vùng
* Về chi phí trung gian: trong vụ lúa xuân xã Quỳnh Ngọc thường Gieo cấy trước
xã Quỳnh Lâm do vậy mà quá trình sinh trưởng lúa xuân của 2 xã này hoàn toànkhác nhau Vụ xuân năm 2006 thời tiết có nhiều bất lợi cho lúa xuân sớm Chính
Trang 35điều này đã làm cho chi phí sản xuất lúa của xã Quỳnh Ngọc cao hơn xã QuỳnhLâm Qua bảng số liệu cho ta thấy mỗi sào lúa xã Quỳnh Ngọc đầu tư cao hơn xãQuỳnh Lâm Đối với từng loại đầu vào 2 xã này cũng có sự đầu tư khác nhau Quathực tế điều tra chúng tôi thấy ở Quỳnh Ngọc có nhiều hộ không sử dụng phânchuồng mà thay vào đó là phân NPK Đây là một trong những nguyên nhân đã đẩychi phí sản xuất xã Quỳnh Ngọc lên cao hơn xã Quỳnh Lâm.
b) Chi phí sản xuất lúa ở vụ mùa của các vùng
Chi phí trung gian: trong sản xuất vụ mùa chi phí sản xuất của xã Quỳnh Ngọc vẫncao hơn xã Quỳnh Lâm Qua so sánh cho thấy xã Quỳnh Lâm thấp hơn 6,9% tươngứng với 11,83 nghìn đồng Các yếu tố đầu vào như đạm, phân Kali, chi phí bảo vệthực vật xã Quỳnh Ngọc đều nhỉnh hơn xã Quỳnh Lâm Nhưng ở đây ta thấy sựkhác biệt lớn nhất trong phương thức canh tác đó là các hộ nông dân ở xã QuỳnhNgọc đã dần thay thế phân chuồng bằng phân NPK Bình quân mỗi sào lúa ở xãQuỳnh Lâm có mức đầu tư phân chuồng cao hơn xã Quỳnh Ngọc 0,38 tạ/sào vàmức đầu tư NPK thấp hơn 3,98 kg/sào
Do các hộ nông dân huyện Quỳnh Ngọc sản xuất giống Bắc Thơm nhiều hơnkhoảng 13% tổng diện tích lúa ( Ban thống kê xã Quỳnh Ngọc) trong khi đó ởQuỳnh Lâm chỉ có khoảng 4% tổng diện tích lúa.( Ban thống kê xã Quỳnh Lâm) đãlàm cho chi phí sản xuất lúa của hai xã có những nét khác biệt
Bảng: Chi phí sản xuất lúa ở vụ mùa của các vùng
Tính cho một sào
sánh(%)SL(kg) GT(1000đ) SL(kg) GT(1000đ)
Trang 365.4 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa của nhóm hộ điều tra.
Người sản xuất luôn quan tâm đến giống có hiệu quả cao Giống nào đem lạihiệu quả cao nhất tất yếu sẽ được người nông dân sử dụng Ở mỗi vụ lúa khác nhau
có các giống sản xuất khác nhau Do đó mà lựa chọn từng giống đối với từng vụcũng khác nhau
a) Hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa ở vụ xuân.
Kết quả và Hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa ở vụ xuân của hộ điều tra
Trang 37737,604
173,338
190,115
511,265
547,489
195,440
210,840
443,265
479,489
247,825
268,649
101,93
103,93
Trang 38đ 9 (Nguồn :tổng hợp từ phiếu điều tra)Qua bảng số liệu cho thấy, ở vụ xuân các giống lúa khác nhau cho năng xuấtkhác nhau Mỗi sào lúa giống Xi23 cho năng xuất 211,45 kg, giống Q5 cho năngxuất 236,67 kg/sào, còn giống Bắc Thơm là 175,62 kg/sào.
Năng xuất lúa kết hợp giá tạo ra giá trị sản xuất của giống đó Mỗi sào lúa giốngXi23 đạt 740,08 nghìn đồng cao hơn giông Q5 là 8,11% tương ứng với 55,48nghìn đồng, cao hơn giống Bắc Thơm là 0,348% tương ứng với 2,48 nghìn đồng.Chi phí sản xuất của các giống này hoàn toàn khác nhau Hai giống Xi23 vàgiống Q5 đã được nông dân sử dụng thành thạo nên chi phí ổn định, còn giống BắcThơm yêu cầu dinh dưỡng cao hơn cho nên chi phí trung gian cao hơn Mỗi sào lúaXi23 phải bỏ ra 178,31 nghìn đồng, chi phí trung gian bỏ ra của giống Q5 là173,34 nghìn đồng, giống Bắc thơm cao nhất 190,12 nghìn đồng
Các chỉ tiêu hiệu quả của Xi23 cũng cao hơn giống Q5 và Bắc Thơm Mỗi sàolúa khi bỏ ra một đồng chi phí thì giống Xi23 thu được 4,15 đồng giá trị sản xuất,giống Q5 3,95 đồng giá trị sản xuất, còn giống Bắc Thơm do chi phí cao nên chỉthu được 3,88 đồng giá trị sản xuất
Trong sản xuất người nông dân quan tâm đến thu nhập mà họ thu được Đó chính
là thu nhập hỗn hợp và người ta thường nói với nhau là “lấy công làm lãi” Tuynhiên để đánh giá đầy đủ hơn người ta cũng phải xét đến hiệu quả lao động bỏ ra.Qua nghiên cứu cho thấy giống Xi23 mỗi công lao động 68,01 nghìn đồng thunhập hỗn hợp cao hơn giống Q5 là 4,5 nghìn đồng và cao hơn giống Bắc Thơm là4,33 nghìn đồng Giống Bắc Thơm mặc dù có thu nhập hỗn hợp cao hơn nhiều so
Trang 39với giống Q5 nhưng công lao động bỏ ra cũng nhiều cho nên chỉ tiêu MI/côngLĐGĐ của hai giống này tương đương nhau.
Như vậy qua nghiên cứu cho thấy giống Xi23 đem lại hiệu quả kinh tế lớn hơncác giống khác và được bà con nông dân ưu tiên nhất trong sản xuất Theo bácTiền ( chủ nhiệm HTX Quỳnh Ngọc ): “Ở Quỳnh Ngọc nếu như chúng tôi khôngchỉ đạo gieo cấy giống ngắn ngày khoảng 20% diện tích gieo trồng thì nông dân đaphần sẽ sản xuất giống Xi23”
b) Hiệu quả kinh tế giữa các giống lúa ở vụ mùa
Bảng kết quả và HQKT giữa các giống lúa ở vụ mùa của hộ điều tra