Vì vậy việc trồng cây cao su đã trở nên phổ biến đặc biệt khi trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng được áp dụng Gio Linh là một huyện nhỏ của tỉnh Quảng Trị, với tổng diện tích đất tự nh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn đã trở thành một mục tiêu quan trọng Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi mỗi vùng cần phải phân tích đánh giá đầy đủ các tiềm năng tự nhiên
để phục vụ cho phát triển nông nghiệp Đây là một nhiệm vụ quan trọng để trên cơ sở
đó có phương án phát triển nông nghiệp phù hợp với từng địa phương nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao đời sống xã hội, tạo ra bộ mặt nông thôn trong thời đại mới
Cây cao su là một trong những cây công nghiệp mang lại hiệu quả cao và nhiều lợi ích thiết thực cả về giá trị kinh tế và sinh thái Việc trồng cây cao su góp phần không nhỏ vào việc phủ xanh đất trống đồi trọc, vừa tạo ra sản phẩm để xuất khẩu có giá trị, tạo nguồn ngoại tệ thúc đẩy ngành kinh tế phát triển và góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân Vì vậy việc trồng cây cao su đã trở nên phổ biến đặc biệt khi trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng được áp dụng
Gio Linh là một huyện nhỏ của tỉnh Quảng Trị, với tổng diện tích đất tự nhiên
là 473km2 Gio Linh có những đặc điểm khí hậu, địa hình và đất đai thuận lợi cho việc phát triển cây cao su Tuy nhiên, trong những năm vừa qua việc trồng cây cao su vẫn còn gặp nhiều khó khăn, năng xuất vẫn còn thấp, thêm vào đó là những khó khăn về mặt tự nhiên như: hạn hán về mùa khô, mùa mưa kéo dài, tình hình sâu hại… dẫn đến kết quả đạt chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng Vì vậy để phát huy hơn nữa hiệu quả kinh tế cũng như giúp các hộ nông dân trong huyện có những hướng đúng đắn phát triển loại cây trồng này thì việc phân tích các điều kiện tự nhiên ở huyện chính là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển cây cao su ở huyện đạt hiệu quả cao hơn
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế đó ở địa phương và mong muốn góp phần
vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện nên em chọn đề tài: “Phân tích điều kiện tự
nhiên phục vụ việc phát triển cây cao su ở huyện Gio Linh – Tỉnh Quảng Trị Các giải pháp đề xuất” để làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 32.Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là phân tích các điều kiện tự nhiên để phục
vụ cho sự phát triển cây cao su ở huyện Gio Linh từ đó phân tích đánh giá mức độ thích nghi của cây cao su
- Đề ra các giải pháp đúng đắn nhằm phát triển cây cao su trên địa bàn của huyện mang lại hiệu quả kinh tế cao đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội và môi trường
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên thì nhiệm vụ của đề tài là phải:
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái của cây cao su và điều kiện tự nhiên của huyện Gio Linh
- Khảo sát thực tế, đánh giá, tổng hợp tài liệu và xác định được tình hình phát triển và phân bố cây cao su trên địa bàn huyện
- Thu thập các tài liệu số liệu về khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình và nguồn nước ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su huyện Gio Linh
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Gio Linh nói riêng để phát triển các loại cây công nghiệp nhiệt đới mang giá trị kinh tế cao trong đó có cây cao su là vấn đề được các cơ quan ban ngành, các chuyên gia về lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh, huyện quan tâm từ rất lâu
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình tổng thể nghiên cứu các điều kiện tự nhiên để phát triển nông nghiệp trong đó có vấn đề phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và trên địa bàn huyện Gio Linh như:
- “Tìm hiểu tình hình phát triển và phân bố cây cao su Quảng Trị từ năm 2000 -
2005, định hướng đến năm 2015” Nguyến Thị Lâm - Trường ĐHSP Đà Nẵng
- “Tìm hiểu tình hình khai thác và xuất khẩu mủ cao su tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2005-2009 Định hướng phát triển đến năm 2010” Võ Thị Diệu Thu - Trường ĐHSP Đà Nẵng
- “Thực trạng và giải pháp phát triển cây công nghiệp dài ngày ở huyện Gio Linh – Tỉnh Quảng Trị” Nguyễn Thị Hạnh - Trường ĐHSP Huế
Trang 4Tuy nhiên những nghiên cứu trên chỉ đề cập ở mức khái quát, hiện chưa có một
đề tài nào về phân tích, đánh giá chi tiết mức độ thích nghi của cây cao su đối với điều kiện tự nhiên của một huyện như ở huyện Gio Linh
4 Giới hạn của đề tài
+ Điều kiện địa hình
+ Điều kiện khí hậu
+ Điều kiện nguồn nước
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1.Quan điểm tổng hợp
Quan điểm này được vận dụng nhằm mục đích đi sâu phân tích các điều kiện tự nhiên từ đó đi đến đánh giá được một cách tổng thể tự nhiên của một vùng, một lãnh thổ cùng với các mối quan hệ tương tác giữa chúng Do đó khi nghiên cứu địa lí tự nhiên của một huyện cần phải xét đến tính tổng thể của nó trong một thể thống nhất hoàn chỉnh Ngoài ra tính tổng hợp còn thể hiện ở việc phân tích các điều kiện tự nhiên như thổ nhưỡng, địa hình và khí hậu, nguồn nước đối với sự thích nghi của cây cao su
ở huyện
5.1.2 Quan điểm hệ thống
Theo quan điểm này thì địa lí một huyện bao gồm cả về tự nhiên, kinh tế - xã hội là một hệ thống Đặc trưng của hệ thống là bao gồm nhiều yếu tố, nhiều thành phần và các thành phần này có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy khi nghiên cứu, phân tích đặc điểm tự nhiên của một lãnh thổ cần đặt nó trong một hệ thống thống nhất Trong đề tài này khi phân tích cần đặt các điều kiện tự nhiên của huyện Gio Linh trên nền chung của các điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị để có thể thấy được mối quan
hệ của nó đối với các đối tượng khác
Trang 55.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Nghiên cứu lãnh thổ là đặc trưng của địa lí học, do đó khi nghiên cứu một vấn
đề phải xác định được phạm vi, giới hạn và sự liên kết của nó trong không gian với các địa bàn khác Các điều kiện tự nhiên là không đồng nhất trên toàn lãnh thổ, mà có sự phân hóa theo không gian Vì vậy, nghiên cứu đề tài này chúng ta cần sử dụng quan điểm lãnh thổ - vùng để thể hiện sự phân hóa của các yếu tố đó
5.1.4 Quan điểm sinh thái
Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lí và ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự nhiên, đặc biệt là giữa con người với việc sử dụng, khai thác và tái tạo hệ địa lí tự nhiên Việc phân tích các điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện nhằm mục đích đề xuất phương hướng sử dụng hợp lí và lâu dài cho nông nghiệp, để phát triển cây cao su, cần phải tính đến tác động của nó đến toàn bộ hệ sinh thái của huyện
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Mỗi thành phần tự nhiên hay kinh tế - xã hội đều có quá trình hình thành phát sinh và phát triển Nhưng để đánh giá các vấn đề một cách khách quan ta phải đặt nó trên quan điểm phát triển bền vững Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội phải đảm bảo các mục tiêu phát triển hài hòa giữa lợi ích kinh tế xã hội và môi trường,
6.1 Các phương pháp nghiên cứu
6.1.1 Phương pháp thu thập, xử lí, phân tích, tổng hợp tài liệu
Đây là một phương pháp rất quan trọng được áp dụng trong quá trình nghiên cứu Cần phải tiến hành thu thập tài liệu, số liệu từ các cơ quan ban ngành có liên quan Để thực hiện đề tài này cần thu thập số liệu có sẳn ở Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Gio Linh và các cơ quan ban ngành khác Tài liêu thu thập dưới dạng văn bản, số liệu quan trắc, đo đạc, tính toán…Các tài liệu sau khi đã thu thập cần phải xử lí tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp chúng một cách thống nhất Với nguồn tài liệu thu thập được sẽ là cơ sở để tiến hành phương pháp nghiên cứu trong phòng
6.1.2 Phương pháp bản đồ
Trang 6Đây là phương pháp truyền thống của các nhà địa lí khi nghiên cứu một đơn vị lãnh thổ Từ các bảng số liệu đã thu thập được, tiến hành phân tích, xử lí số liệu, thành lập các bản đồ, để xác định sự phân bố và tình hình phát triển cây cao su trong không gian và thời gian Với đề tài này có thể sử dụng các loại bản đồ như : bản đồ hành chính huyện Gio Linh, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, bản đồ thủy văn, bản đồ phân bố cây cao su…Phương pháp này giúp trực quan hóa các thông tin, số liệu về địa hình, khí hậu, đất đai, phạm vi và phân bố các đối tượng nghiên cứu
6.1.3 Phương pháp thực địa
Phương pháp này rất quan trọng trong nghiên cứu địa lí Đi thực địa nhằm tìm hiểu một số điểm trên thực địa để bổ sung thêm một số tư liệu còn thiếu Đồng thời nhằm kiểm chứng kết quả nghiên cứu tại một số điểm mang tính chìa khóa Hơn nữa thực địa nhằm cung cấp những tư liệu ảnh quan trọng về đối tượng nghiên cứu Tiến hành thăm quan, khảo sát thực tế để tìm hiểu đặc điểm tự nhiên của huyện, thăm quan các nông trường trồng cao su ở địa phương để thu thập thông tin, hình ảnh, số liệu… cần thiết cho đề tài Đồng thời qua thực tế em có thể phân tích, đánh giá đúng với hiện thực hơn
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Đặc điểm sinh học của cây cao su
1.1.1 Nguồn gốc cây cao su
Cây cao su thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae) mọc hoang dại chủ yếu ở Parana
của Braxin và một phần của Bolivia và Pêru Cây cao su cũng được thấy ở phía Bắc sông Amazon về phía Tây Nam của Manaus cũng như cực nam của Columbia vùng phía Nam của sông Amazon trải rộng đến vùng Acre Matto Grosso
Ở Việt Nam cây cao su (Hevea brasiliensis) du nhập vào đầu năm 1878 Sự
phát triển cây cao su ở Việt Nam qua nhiều giai đoạn :
Từ năm 1900 – 1920 cây cao su được nhân trồng tại Việt Nam với tính chất thử nghiệm và được trồng tại Công ty Nông Nghiệp Suzananh
Từ năm 1920 – 1945 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ cây cao su ở Việt Nam, địa bàn phát triển là vùng đất đỏ tại vùng Đông Nam Bộ và vùng đất xám tỉnh Sông Bé nay là tỉnh Bình Dương, Bình Phước
Từ năm 1945 – 1960 thời kỳ đình trệ và khôi phục Trong nửa đầu giai đoạn này, vào khoảng 1945 - 1954 diện tích cao su không phát triển được do chiến tranh, thực dân Pháp dần chuyển sang Campuchia, Indonesia, Châu Phi nên diện tích cao su ngừng phát triển và thu hẹp lại
Từ năm 1961 – 1975 là thời kỳ tiếp tục khủng hoảng do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam, do đó Pháp thu hẹp diện tích cao su ở Việt Nam
Từ năm 1975 – 1995, sau khi tiếp quản cây cao su (năm 1975) nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su nên Nhà nước đã triển khai chương trình khôi phục và phát triển cao su thành ngành kinh tế quan trọng, (Nguyễn Thị Huệ, 1997)
Đến nay có 20 giống do Viện Nghiên cứu Cao Su Việt Nam lai tạo và 11 giống nhập nội được Bộ nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận cho sản xuất diện rộng hoặc khu vực hóa
1.1.2 Đặc điểm thực vật và đặc tính sinh học của cây cao su
* Hình dạng thân
Cây Cao su xuất xứ là cây rừng hoang dại, thân cao trên 30m, vanh thân có thể đạt tới 5m, tán lá rộng và có thể sống trên 100 năm Đây là cây cao nhất trong giống cây cho mủ, cây cao su trưởng thành cao khoảng 20 – 25m, cây có thể cao đến 40m,
Trang 8sống trên trăm năm Thân cây lúc còn non thường có màu tím hoặc xanh tím Thân cây sau một năm tuổi thường có hình trụ và có chân voi nếu là cây ghép, có hình chóp trụ
và không chân voi nếu là cây thực sinh
* Hoa
Sau thời kỳ cây qua đông, rụng lá, hoa mọc cùng lúc với sự ra lá mới Hoa mọc thành chùm với hoa cái to hơn nằm ở phần cuối chùm hoa, hoa đực với số lượng nhiều hơn hoa cái mọc ở phần trên của chùm hoa
Hoa màu vàng hơi ngả lục, cuống hoa ngắn có mùi hương nhè nhẹ, dạng hoa hình chuông với 5 lá dà, nhưng không có cánh hoa Hoa đực dài khoảng 5mm mang 1 cột nhị chứa 10 nhị đực chia làm 2 vòng trên cột nhị Hoa cái dài khoảng 8mm màu vàng lục noãn cùng với 3 vòi nhị màu trắng hơi dính Hoa sống trong khoảng 2 tuần Khi nở, hoa đực nở trước trong vòng một ngày thì rụng, còn hoa cái nở trong khoảng 3 – 5 ngày Thường hoa đực và hoa cái không nở cùng lúc nên xãy ra sự thụ phấn chéo giữa các cây với nhau
* Sự thụ phấn
Thụ phấn chủ yếu do tác động của côn trùng, gió chỉ đóng vai trò nhỏ hoặc không có ý nghĩa Hạt phấn có hình tam giác bề mặt có tính dính Tỷ lệ sống của hạt phấn có thể cao khoảng 90%, trung bình 50%
* Sự đậu quả
Sự thụ phấn xãy ra trong vòng 24 giờ sau khi thụ phấn Hoa cái không thụ phấn
sẽ nhanh chóng héo đi và rụng Chỉ có khoảng 5% hoa đậu quả Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ này còn nhỏ hơn
Quả có 3 ngăn, có đường kính 3 – 5cm, vỏ quả là lớp gỗ ngoài có lớp vỏ bọc mỏng, qủa có 3 hạt Quả đạt độ lớn tối đa sau 12 tuần và vỏ quả cứng lại sau 16 tuần
Vỏ hạt và mầm hạt chín trong 19 đến 20 tuần, vào lúc phôi đã hình thành hoàn chỉnh
20 – 24 tuần sau thụ phấn quả chín hoàn toàn, độ ẩm quả giảm nhanh khi khô quả mở thành 6 mảnh phóng thích 3 hạt có thể văng xa đến 15m
* Hạt:
Hạt cao su thường chín sinh lí trước khi rụng khá lâu, nên khi rụng hạt rất dễ mất sức nãy mầm, do hiện tượng oxi hóa và mất nước xãy ra nhanh chóng khi chưa gặp điều kiện thuận lợi cho việc nãy mầm Vì thế mà hạt được gieo ngay sau khi thu
về từ vườn cây để tránh hiện tượng trên
* Sự nảy mầm
Trang 9Hạt nảy mầm trong vòng 3 – 25 ngày Đập bỏ lớp vỏ hạt sẽ thúc đẩy sự nãy mầm Cặp là đầu tiên mọc khoảng 8 ngày sau khi nãy mầm và sau đó tầng lá đầu tiên với 3 lá chét hình thành
* Sự sinh trưởng theo chu kỳ
Sinh trưởng của thân non không liên tục, thân mọc dài nhanh trong 2 – 3 tuần sau đó nghĩ để hình thành những tầng lá trong vòng 2 – 3 tuần Vì vậy, lá mọc thành tầng Sự phát triển theo chiều cao có tính gián đoạn, nhưng sự phát triển về đường kính thì vẫn liên tục trong cả mùa sinh trưởng
* Rễ
Cao su vừa có rễ cọc vừa có rễ bàng và rể tơ, rễ cọc cắm sâu vào đất, chống đỗ ngã và hút nước, dinh dưỡng từ tầng đất sâu Hệ thống rễ bàng phát triển rất rộng và phần lớn tập trung ở tầng canh tác, nhiệm vụ chủ yếu là hút nước và hút dinh dưỡng
* Lá
Lá cao su là loại lá kép lông chim mọc cánh, mỗi lá gồm 3 lá chét Khi trưởng thành lá có màu xanh đậm ở mặt trên và xanh nhạt ở mặt dưới Lá cao su thường phát triển thành tầng trên thân khi chưa phân cành Sau 3 – 4 năm sinh trưởng, cao su thường biểu hiện đặc tính rụng lá theo mùa Thời gian thay lá nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh
1.1.3 Các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su
Trong chu kỳ trồng trọt kinh doanh cây cao su thường đươc phân thành 5 giai đoạn Giai đoạn vườn ươm, giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB), giai đoạn khai thác cao su non (KTCSN), giai đoạn khai thác trung niên(KTCSTN) và giai đoạn khai thác cao su già (KTCSG)
- Giai đoạn cây con trong vườn ươm
Giai đoạn này từ khi gieo hạt đến khi xuất khỏi vườn, có thể kéo dài từ 6 đến 24 tháng Đặc điểm của giai đoạn này là cây con tăng trưởng theo chiều cao, sự sinh trưởng của các tầng là theo chu kỳ và mọc trên các thân chính Đường kính thân tăng trưởng chậm hơn chiều cao rất nhiều Trong vòng 20 – 30 ngày cây có thể tăng cao 10-
15 cm trong điều kiện thuận lợi Trong điều kiện bị lạnh (<180C), khô hạn hay bị bệnh
lá thì tốc độ tăng trưởng chiều cao, số tầng lá và đường kính thân bị chậm lại rất nhiều Đây là nhược điểm cho việc sản xuất cây con trong những vùng có mùa đông lạnh
Trang 10Giai đoạn cây con trong vườn ươm Giai đoạn kiến thiết cơ bản
Giai đoạn khai thác mủ (giai đoạn kinh doanh)
- Giai đoạn kiến thiết cơ bản
Giai đoạn này được tính từ khi cây con được trồng đại trà cho đến lúc bắt đầu
khai thác mủ Giai đoạn KTCB có thể kéo dài 10 năm hoặc 6 năm tùy thuộc vào giống,
điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu và chế độ chăm sóc Những cây con có thời gian dài
trong vườn ươm (trên 18 tháng) có khả năng tăng trưởng nhanh hơn những cây con
dưới 12 tháng trong vườn ươm, vì thế có thể rút ngắn thời gian KTCB đến 6 tháng
Vào giữa hoặc cuối thời kỳ KTCB là giai đoạn cây cao su bắt đầu thành thục có
thể cho hoa và quả (khoảng 5 năm sau khi trồng) Giai đoạn này cây sinh trưởng về
đường kính thân Nhu cầu dinh dưỡng của cây cao su trong thời kỳ này đặc biệt cần
Trang 11thiết vì vậy thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ này cây sẽ cho mủ kém và sinh trưởng kém
- Giai đoạn khai thác mủ (giai đoạn kinh doanh)
Đây là giai đoạn dài nhất, bắt đầu từ khi cây có thể khai thác mủ đến lúc cây bị thanh lý Căn cứ vào sự biến thiên về năng suất hàng năm có thể chia thành 3 thời kỳ: thời kỳ khai thác cao su non (KTCSN), thời kỳ khai thác cao su trung niên (KTCSTN)
và thời kỳ khai thác cao su già (KTCSG)
Thời kỳ KTCSN: Cây vẫn tiếp tục sinh trưởng mạnh mẽ về số lượng cành
nhánh, chu kỳ thân, độ dày vỏ, sản lượng mủ tăng nhanh theo năm Thời kỳ này kéo dài chừng 10 – 12 năm Vườn cây trong giai đoạn này thường âm u, ẩm thấp thuận lợi cho nhiều loại bệnh lá phát triển mạnh mẽ thành dịch, đặc biệt là bệnh phấn trắng và bệnh rụng lá mùa mưa
Thời kỳ KTCSTN: Khi năng suất không còn tăng thêm nữa và giữ cũng năng
suất đó theo năm thì cây cao su đã bước vào thời kỳ KTCSTN Nếu vườn cây không được chăm sóc tốt trong giai đoạn KTCB và KTCSN khi cây bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất trong một thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất
Thời kỳ KTCSG : Khi vườn cây có hiện tượng giảm năng suất trong nhiều năm
liền thì vườn cây đã bước vào thời kỳ này Tốc độ sinh trưởng nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào giống, chế độ chăm sóc và khai thác trước đó
1.2 Các yêu cầu về sinh thái
1.2.1 Yêu cầu về khí hậu
1.2.1.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Cao su là cây trồng nhiệt đới điển hình nên thường sinh trưởng bình thường trong khoảng nhiệt độ từ 22 – 300 C, khoảng nhiệt độ tối thích là 26 – 280C Nhiệt độ thấp sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và gây trở ngại cho quá trình chảy mủ khi khai thác Ở nhiệt độ nhỏ hơn 18 sẽ ảnh hưởng đến sức nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại Nếu nhiệt độ thấp hơn 100C, hạt mất sức nảy mầm hoàn toàn, đối với cây ngoài vườn thì bị rối loạn hoạt động trao đổi chất và chết nếu nhiệt độ này kéo dài Nhiệt độ thấp hơn 50C, cây sẽ bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng
bị khô và cây chết Nếu nhiệt độ lớn hơn 300C, sẽ gây ra hiện tượng mủ chảy dai trong khai thác, làm giảm năng suất mủ Nhiệt độ mà cao hơn 400C, gây ra hiện tượng khô
vỏ ở gốc cây và dẫn đến cây chết
1.2.1.2 Yêu cầu về lượng mưa
Trang 12Cây cao su thường được trồng trong những vùng có lượng mưa 1800 - 2500mm/năm, số ngày mưa thích hợp là 100 – 150ngày/năm Tốt nhất mưa hàng tháng 150mm, mưa dưới 50mm được xem như hạn Mưa phân bố đều mưa rào vào trưa và tối rất thuận lợi cho sinh trưởng của cây cao su và cạo mủ, Mưa sáng, mưa tập trung lớn hoặc mưa dầm đều cản trở việc cạo mủ, mủ lỏng chảy nhiều dể gây kiệt cây, vết cạo ẩm ướt dễ bị các bệnh loét miệng cao Bên cạnh lượng mưa thì sự phân bố mưa và tính chất cơn mưa cũng rất quan trọng Việc khai thác mủ tập trung vào buổi sáng, vì thế số ngày mưa vào buổi sáng càng nhiều thì năng suất càng giảm
1.2.1.3 Yêu cầu về độ ẩm
Độ ẩm không khí bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su là trên 75%, độ ẩm cao sẽ làm cho tế bào cây cao su trương lên, đẩy mủ ra ngoài, mủ chậm đông năng xuất cao Đồng thời ẩm độ không khí cũng thể hiện tương quan tỷ lệ thuận với dòng chảy mủ khi khai thác
Khả năng chịu hạn: Cây cao su có khả năng chịu hạn cao hơn một số cây công ngiệp khác như: tiêu, cà phê… Tuy nhiên cây cao su trồng mới từ 6 tháng trở xuống không thể chịu hạn tốt do bộ rễ chưa được phát triển đầy đủ, cao su trong vườn ươm thì không thể chịu hạn quá 1 tháng Nhưng cao su trồng mới trên 6 tháng có thể chịu hạn trên 4 – 5 tháng
Khả năng chịu úng: Cây cây cao su cũng thể hiện một sức chịu đựng tốt Tuy nhiên tuỳ thuộc vào từng giống, đối với cây đang trong giai đoạn cạo mủ, nếu bị ngập sâu khoảng 30- 40 ngày, thì 75% số cây trên vườn sẽ chết, số còn lại tăng trưởng chậm, cây khô và bong vỏ nên không cạo mủ được nữa
1.2.1.4 Yêu cầu về ánh sáng
Khác với hồ tiêu và cà phê, cao su là cây ưa sáng Thời gian và cường độ chiếu sáng trong ngày lớn thì việc sinh tổng hợp được càng nhiều Ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả năng đề kháng của cây, nhất là tính chống chịu của cây Các vườn ươm trong mùa đông ở những vùng có ánh sáng đầy đủ thường chịu rét khỏe hơn các vườn khác
Số giờ chiếu sáng thích hợp trong năm bình quân từ 1800 – 2800giờ/năm Thiếu ánh
sáng cây sẽ mọc vống, nhỏ yếu, vỏ mỏng, ít mủ, khó bóc vỏ khi ghép
1.2.1.5 Yêu cầu về gió
Gió lớn thường gây ngã đổ, đứt rễ, là tác nhân đầu tiên cho các bệnh về thân, cành do đó làm giảm mật độ vườn cây và giảm năng xuất mủ Gió khô như gió phơn Tây Nam sẽ làm giảm mức độ sinh trưởng của cây đáng kể, cụ thể là tăng nhanh chậm
Trang 13và kéo dài thời kỳ hình thành tầng lá Vì thế cần gió lặng, gió nhẹ Tốc độ gió thích hợp cho cây cao su là từ 1 – 2m/giây, gió trên 3m/giây cây sinh trưởng kém Cần chọn địa hình kín gió để trồng cao su Vùng có gió bão, gió Tây Nam, gió địa hình nhất thiết phải có đai rừng chắn gió
1.2.2 Yêu cầu về địa hình
1.2.2.1 Độ cao địa hình
Thống kê cho thấy cao su càng trồng ở bình độ cao thì năng xuất càng giảm Ở
độ cao trên 1000m cao su thường cho năng xuất rất kém Điều này cũng được hiểu như
là kết quả của sự giảm nhiệt độ và tăng tốc độ gió vượt trên những yêu cầu cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây
1.2.2.2 Độ dốc địa hình
Yêu cầu địa hình là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình quy hoạch vùng trồng cây cao su Đất trồng có địa hình bằng phẳng thì việc trồng trọt, vận chuyển, khai thác sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với vùng có độ dốc lớn, vì thế chi phí đầu tư trồng mới, chăm sóc, và khai thác sẽ giảm đi đáng kể so với vùng có độ dốc cao Cao
su thích hợp tốt ở cả đất bằng và đất dốc Khi trồng cao su trên đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốn kém như đê, mương, làm ruộng bậc thang, hoặc trồng theo đường đồng mức và kết hợp trồng cây chống xói mòn Chỉ nên trồng cao su ở nơi có độ dốc dưới 25 – 300
Độ sâu tầng đất: Độ sâu lý tưởng cho trồng cây cao su là 2m, tuy nhiên trong thực tế nếu độ sâu tầng đất là 0,8 -2m thì vẫn có thể trồng được Đất trồng cao su phải
có cấp hạt sét ở lớp đất mặt (0- 30cm) tổi thiểu là 20%, ở lớp đất sâu hơn (>30cm) tối thiểu là 25% Đất nơi có mùa khô kéo dài, thì thành phần sét phải đạt 30 - 40% Ở các vùng khí hậu khô đất có tỉ lệ sét từ 20–25% (đất cát pha sét) được xem là giới hạn cho cây cao su Đất có thành phần hạt thô chiếm trên 50% trong 0,8m lớp đất mặt là ít thích hợp cho việc trồng cao su Các thành phần hạt thô sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của rễ cao su và ảnh hưởng bất lợi đến khả năng dự trữ nước của đất
1.2.3 Yêu cầu về thổ nhưỡng
1.2.3.1 Lý thổ nhưỡng
- Hệ hấp thu (T) : Khả năng trao đổi là hổn hợp các chất keo mùn và sét Chính
những hạt này là phần từ hoạt động lý hóa tính chính của đất Tùy điều kiện mà nó hấp thu hay giải phóng các ion T phụ thuộc vào các thành phần sét và các chất hữu cơ
Trang 14trong đất Đất có trên 8meq/100gam đất là đất có hệ hấp thu tốt cho việc trồng cao su Nếu dưới mức này cần bón thêm phân hữu cơ để cải tạo đất
- Độ pH: Cao su không có yêu cầu đặc biệt về pH Nó có thể mọc bình thường
trong phạm vi độ pH từ 3,5 – 7,5 Thông thường độ pH vẫn là từ 4 – 6
- Độ sâu tầng đất: Đất có mức thủy cấp nông hoặc có tầng laterite nông đều
không có lợi cho việc trồng cao su, do bị hạn chế sự phát triển của rể cọc Cao su trồng trên những nền đất này thường sinh trưởng kém về chiều cao, chậm tăng trưởng vành thân, có khi tầng lá bị kéo vàng sau 2- 3 năm trồng Vì vậy, độ sâu tầng đất thích hợp cho việc trồng cao su lâu dài thường được quy định ít nhất 2m
1.2.3.2 Hóa thổ nhưỡng
Cũng như nhiều loại cây trồng khác cây cao su rất cần các chất khoáng như N,
P, K, Ca, Mn, S và chúng có mặt trong tất cả các bộ phận của cây với thành phần và hàm lượng khác nhau
- Đạm: Đạm cần thiết trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
Nitơ có thể làm tăng chu vi thân, tăng mật độ lá và lá có màu xanh đậm Đạm là chất điều tiết dinh dưỡng của các nguyên tố khác như lân và kali Đạm còn tham gia tích cực trong việc tổng hợp nên mủ cao su Cây cao su cần yếu tố đạm với khối lượng tương đối lớn so với các chất dinh dưỡng khác Tuy nhiên nếu hàm lượng đạm quá nhiều sẽ làm gổ phát triển kém, dễ gây nên đổ ngã, cây đề kháng kém với sâu bệnh Ngược lại, khi cây thiếu đạm sẽ sinh trưởng kém, tán lá bị thu hẹp, lá có biểu hiện vàng
Hàm lượng đạm cần thiết trong đất: Hàm lượng đạm trong đất có từ 0,20% và tỉ
lệ C/N từ 10 – 12 là loại đất tốt cho việc trồng cây cao su (CN diễn tả điều kiện của sự mùn hóa và nitrat hóa) Ở những loại đất có 2 chỉ tiêu này thấp cần phải tiến hành bón phân và cải tạo đất
Bảng 1.1 : Hàm lượng N, P, K trong mủ nước ở các năng xuất khác nhau
Trang 15quang hợp và các phản ứng chuyển hóa khác, cao su có ảnh hưởng nhiều đến dòng chảy mủ Cây thiếu kali cũng làm giảm chu vi thân, độ cao và số lượng lá Khi thiếu kali hàm lượng Mg trong mủ tăng lên làm cho mủ dể đông trên đường cạo Vì thế bón kali có thể hạn chế được bệnh khô cần, tăng tính chống chịu gió bảo, khắc phục một phần bệnh khô mặt cao
Hàm lượng kali cần thiết trong đất: Kali có nhiều trong các loại đất trồng chính
ở Việt Nam và đặc tính đệm của kali rất lớn nhờ đó khi trong dung dịch đất thiếu hụt
K+ nó có thể bổ sung bởi keo đất
- Lân( P2O5) : Lân là yếu tố cấu thành nên axit nucleic trong nhân tế bào, cần thiết cho sự phân bào và phát triển của mô phân sinh Nó cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong các enzim, trong các phản ứng hóa sinh, và cho hô hấp của cây Lân kích thích sự sinh trưởng của rể, tăng cường sự hình thành thân lá và quả Cây thiếu lân thì đỉnh sinh trưởng kém phát triển, là có màu đỏ hay đỏ gạch, lá nhỏ, thân vanh kém phát triển Nhu cầu lân cần thiết trong suôt quá trình sinh trưởng và nhu cầu khi cây còn non
Hàm lượng lân cần thiết trong đất: Lân trong đất dạng tổng số ở mức cao hoặc trung bình, tuy nhiên dạng dễ tiêu chiếm rất ít Đất xám Đông Nam Bộ, đất sa phiến thạch ở miền Trung đều có hàm lượng lân dễ tiêu thấp, ngược lại đất đỏ bazan thì có hàm lượng lân dễ tiêu cao( từ 100 – 120ppm) Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất khoảng 30ppm là thích hợp cho cây cao su
Ngoài ba nguyên tố trên các nguyên tố khác như Mg, Mn, Cu, Bo,…cũng có vi trò nhất định trong cây tuy nhiên cây chỉ yêu cầu một lượng nhỏ thường có sẵn trong đất
1.3 Vai trò, ý nghĩa của cây cao su đối với kinh tế - xã hội
1.3.1 Về kinh tế
Cao su là cây đa tác dụng, trồng cây cao su cho hiệu quả kinh tế cao, ngoài khai thác mủ, thân cây còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ Mủ cây cao su có giá trị kinh tế cao, 1ha khai thác mủ bình quân đạt 1,5 tấn/ha/năm, có nơi có thể đạt 1,8
- 2,0 tấn/ha/năm Sản phẩm cây cao su trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị trong ngành công nghiệp, thu ngoại tệ về cho đất nước, sản phẩm mủ xuất khẩu có thể đạt tới 36 triệu đồng/tấn Vì vậy nó góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đồng thời phát triển cây cao su còn đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 16Hạt cao su dùng làm giống, làm nguyên liệu tẩy rửa, thức ăn gia súc, hoá chất sơn và các loại phụ kiện khác Cành lá dùng làm củi đun, lá cao su dùng làm phân bón khi phân huỷ, gỗ sử dụng trong công nghiệp chế biến có giá trị kinh tế cao
1.3.2 Đối với đời sống và xã hội
a Ổn định xã hội và tạo công ăn việc làm cho người lao động
Việc trồng cây cao su giúp ổn định xã hội và tạo công ăn việc làm cho người lao động Việc trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su đòi hỏi một lượng lao động khá lớn và ổn định dài suốt 30 – 35 năm cho nên trên các diện tích trồng cao su với quy mô trung bình đến lớn, một số lượng công nhân sẽ có việc làm thường xuyên và ổn định trong thời gian dài Việc trồng cao su còn có tác dụng tham gia phân bố dân cư hợp lý giữa vùng thành thị và nông thôn, thu hút lao động cho các vùng trung du, miền núi, vùng định cư của các dân tộc ít người Ngoài ra phát triển cây cao su còn góp phần nâng cao trình độ quản lý, chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ sản xuất cho nhân dân
1.3.3 Đối với môi trường, sinh thái
Cây cao su trồng tập trung có khả năng giữ và tạo được nguồn nước, có độ che phủ lớn, chống xói mòn và có giá trị cảnh quan sinh thái du lịch Trên các loại đất bạc màu, đất đồi dốc, đất trống dồi trọc, cây cao su khi trồng với diện tích lớn còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chống xói mòn, bảo vệ môi trường rất tốt nhờ vào tán lá cao su rộng rậm che phủ toàn bộ mặt đất Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, với mỗi tấn cao su thiên nhiên được sản xuất, cây cao su có khả năng hấp thụ 7 tấn khí CO2; trong khi sản xuất 1 tấn cao su tổng hợp sẽ thải ra 10 tấn khí
CO2 Ngoài ra, do chu kỳ sống của cây cao su dài (30 – 35 năm) cho nên việc bảo vệ vùng sinh thái được bền vững trong thời gian dài Đồng thời trồng cao su có thể giúp cải thiện khí hậu, giữ ẩm cho đất, phát triển chăn nuôi dưới tán rừng
1.4 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh
1.4.1 Vị trí địa lí
Trang 17Huyện Gio Linh là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, nằm trên tọa
độ địa lý từ 16o9 đến 17o vĩ Bắc, 106o đến 107o kinh Đông được giới hạn bởi ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Linh
- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong, Cam Lộ và thành phố Đông Hà
- Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa và Đakrông
- Phía Đông giáp biển Đông
Gio Linh có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Đi qua địa phận của Huyện có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc
lộ 1A, đường Hồ Chí Minh nhánh Đông, tuyến đường sắt Bắc - Nam Đặc biệt là Huyện nằm cuối tuyến đường Xuyên Á nối liền 13 tỉnh của 4 quốc gia (Việt Nam, Lào,Thái Lan và Mianmar) và thông ra biển Đông qua cảng Cửa Việt,…Với lợi thế
về vị trí địa lý trên cho phép Gio Linh có điều kiện rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và sản xuất cây cao su nói riêng
1.4.2 Điều kiện tự nhiên
1.4.2.1 Địa hình
Nét đặc trưng của địa hình Huyện được phân chia thành 03 tiểu vùng lãnh thổ khá rõ rệt (Vùng gò đồi miền núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển), với cùng nét đặc trưng là dốc nghiêng từ Tây sang Đông; 67,18% diện tích lãnh thổ là đồi núi, 26,7% diện tích là đồng bằng và 6,12% diện tích là bãi cát và cồn cát ven biển
- Vùng gò đồi và miền núi: Có diện tích tự nhiên 31.022 ha, chiếm 67,18% diện tích tự nhiên, trong đó: vùng núi có diện tích 20.593,01 ha, phân bố chủ yếu ở 3
xã phía tây là Linh Thượng, Vĩnh Trường và Hải Thái, nơi có nhiều đỉnh núi cao, cao nhất đến 400m so với mực nước biển, độ dốc cấp III - IV (khu vực Khe Mướp, xã Linh Thượng); vùng gò đồi có diện tích 11.180,74 ha thuộc dạng đồi thấp đến đồi cao, là dạng địa hình đặc thù của vùng trung du chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng phía Đông
và vùng núi phía Tây
- Vùng đồng bằng của Huyện có diện tích 13.106 ha, chiếm khoảng 26,7% diện tích tự nhiên của Huyện, được bồi đắp phù sa từ hệ thống sông Bến Hải; sông Cửa Việt; có địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25 - 30m; đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa của Huyện
Trang 18- Vùng ven biển có diện tích tự nhiên 3.170 ha, chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển Địa hình tương đối bằng phẳng với các dải cát thấp lượn sóng xen kẽ với một số cồn cát dạng đồi thoải
- Chế độ mưa: Gio Linh có lượng mưa trung bình hàng năm 2.500 - 2.700mm,
cao hơn mức trung bình cả nước Tổng lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9,
10, 11 (chiếm tới 70 - 80% lượng mưa cả năm)
- Chế độ gió: Huyện chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây
Nam và gió mùa Đông Bắc Gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân từ 2 - 3m/s, có khi lên tới 7 - 8 m/s; gió khô, nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài Gió mùa Đông Bắc bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tốc độ gió đạt 4 - 6m/s, trong mùa mưa bão có thể lên tới 30 - 40m/s, gió kèm theo mưa lớn gây lũ lụt ngập úng ở nhiều vùng
- Chế độ bốc hơi: lượng bốc hơi lớn, bình quân 1300 – 1500mm Tháng trong
mùa khô(tháng 5 – 9)lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 2,5 – 4,5 lần, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp trong vụ Hè Thu
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trung bình 85 - 90% kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau;
tháng cao nhất có khi lên đến 91% Từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm gió Tây Nam khô nóng nên độ ẩm thường xuyên dưới 50%, có khi xuống tới 30%
1.4.2.3 Thủy văn
- Nguồn nước mặt
Nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Huyện Gio Linh khá dồi dào, được cung cấp chủ yếu từ 3 hệ thống sông chính là: sông Bến Hải, sông Hiếu và sông Cánh Hòm và hàng trăm khe suối, hồ chứa,… phân bố khá đều trên địa bàn Huyện cùng với lượng mưa hàng năm lên đến 2.500 mm sẽ cho tổng trữ lượng nước mặt trên 1,2
tỷ m3/năm
Trang 19Ngoài hệ thống sông, còn có một số hệ thủy lợi như: Hà Thượng, Kinh Môn, Trúc Kinh, hệ thống các công trình thủy lợi miền Tây như: Hồ Phú Dụng, hồ Hải Tân,
hồ Giếng Tép, hồ Bàu Sen, hồ Thôn 5, hồ thôn 4…cung cấp môt phần đáng kể nguồn nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân
- Nguồn nước ngầm
Các kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn nước ngầm trên địa bàn Huyện khá phong phú, đặc biệt ở vùng cát ven biển (khảo sát của Đoàn địa chất 708 cho thấy trữ lượng khai thác cho 1 km2 ở vùng cát có thể đạt 1.000m3 nước/ngày.đêm), chất lượng nước tương đối tốt có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cư dân trên địa bàn và có khả năng cung cấp một phần cho sản xuất
1.4.2.4 Thổ nhưỡng
- Tổng diện tích tự nhiên toàn Huyện 47.381,85ha, trong đó:
+ Tổng diện tích đất nông nghiệp chiếm 37954,94ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 14.166,15ha; đất lâm nghiệp chiếm 23298,85ha; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 484,91ha và đất nông nghiệp khác chiếm 5,03ha
+ Đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp toàn huyện năm 2009 chiếm 5044.55ha, trong đó đất ở 387,31ha, đất chuyên dùng 2280,26ha; đất tôn giáo, tín ngưỡng 29,59ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 581,20; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1766,17ha, đất phi nông nghiệp khác 0,02ha
+ Đất chưa sử dụng chiếm 4382,36ha Trong đó: đất bằng chưa sử dụng 3699,25ha; đất đồi núi chưa sử dụng còn 683,11ha
Đất đai của huyện bao gồm 19 loại và được chia thành 8 nhóm chính, trong đó
có một số nhóm đất có giá trị đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển (arenosols): Có diện tích 9.242 ha,
chiếm 19,54% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo ven biển thuộc các xã Trung Giang, Gio Mỹ, Gio Việt, Gio Mai, Gio Quang, Gio Hải, Gio Thành và thị trấn Cửa Việt Trong đó:
+ Cồn cát trắng (Albiluvic arenosols): Có diện tích 6.745 ha( chiếm 46,33% diện
tích đất đồng bằng); với đặc điểm là tương đối thấp, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp
+ Đất cát biển điển hình (Hapli Dystric arenosols): Có diện tích 2.497 ha(
chiếm 17,15% diện tích đất vùng đồng bằng); loại đất này có hàm lượng mùn và đạm tổng số nghèo ở tầng mặt thích hợp trồng màu
Trang 20 Nhóm đất mặn - Salic fluvisols (fls): Có diện tích 544 ha(chiếm 1,15% tổng
diện tích đất tự nhiên), phân bố ở vùng ven biển, cửa sông thuộc các xã: Trung Giang, Gio Mai, Gio Mỹ, Gio Quang Trong đó:
+ Đất mặn nhiều điển hình - Mn (Hapli Hyper Salic Fluvisols): Có diện tích
109 ha( chiếm 1,09% diện tích đất vùng đồng bằng) Loại đất này có hàm lượng mùn
và đạm tổng số trung bình (1,85%), lân tổng số trung bình khá (0,06 - 0,12%), kali tổng số ở mức khá(>1%) Thích hợp cho trồng lúa và nuôi tôm Hiện nay đang được
sử dụng trồng lúa 1 vụ
+ Đất mặn trung bình điển hình - M (Hapli Molic Salic Fluvisols): Có diện tích
83 ha Loại đất này có hàm lượng mùn và lân tổng số nghèo thích hợp cho trồng lúa( chiếm 0,57% diện tích đất dồng bằng) Hiện nay đất được sử dụng trồng 1 vụ lúa, nếu giải quyết tốt vấn đề thuỷ lợi có thể trồng được 2 vụ lúa/năm
+ Đất mặn ít điển hình - Mi (Hapli Hypo Salic Fluvisols): Có diện tích 352
ha( chiếm 2,42% diện tích đất dồng bằng) Đất có hàm lượng mùn và đạm tổng số đều nghèo, hiện loại đất này đang được sử dụng trồng 2 vụ lúa, hầu hết diện tích đều cho năng suất cao
Nhóm đất phèn (Chionic Fluvisols): Có diện tích 338 ha(chiếm 0,71% tổng diện tích tự nhiên), thuộc loại phèn ít và trung bình - mặn ít - Smi (Sali Orthi) phân bố
ở xã Gio Mỹ, có địa hình trũng Loại đất này có hàm lượng mùn và đạm tổng số đạt mức trung bình, lân tổng số mức trung bình (<0,067 - 0,095%), kali tổng số khá (1,15
- 1,42%), lân và kali dễ tiêu đều nghèo Hướng sử dụng hiệu quả là cải tạo chuyển đổi
từ trồng lúa sang nuôi tôm, nuôi cá
Nhóm đất phù sa (Fluvisols): Có diện tích 4.270 ha (chiếm 9,03% diện tích
đất tự nhiên), phân bố ở các xã ven sông Bến Hải Tuy chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đây là nhóm đất có giá trị, đang được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Trong đó:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm – (Pb) (hapli Dystric Fluvisols): Diện tích 188
ha( chiếm 1,29% diện tích vùng đồng bằng) Hiện nay, đất được dùng để trồng lúa hai
vụ, đây là loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao; do vậy năng suất cây trồng đạt rất cao
+ Đất phù sa không được bồi – (P) (Hapli Dystric Fluvisols): Diện tích 678 ha (
4,66% diện tích vùng đồng bằng) Loại đất này phù hợp để trồng lúa, hoa màu và các cây ăn quả như cam, chanh, chuối…
Trang 21+ Đất phù sa Glây – (Pg) (Gleyic Fluvislos): diện tích 2.533 ha( chiếm 17,4%
diện tích vùng đồng bằng) Đất chua( pHkcl4,5 – 4,8)
+ Đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng – (Pf) (Hapli Dystric Fluvisols): Diện
tích 871 ha( chiếm 5,98% diện tích vùng đồng bằng)
Nhóm đất than bùn - T (Fibric histosols): Có diện tích 26 ha (chiếm 0,18%
diện tích vùng đồng bằng), phân bố ở xã Gio Quang trên địa hình trũng thấp Đất được hình thành do lớp xác thực vật bán phân giải có hàm lượng cacbon trên 20%, hàm lượng đạm tổng số trung bình từ 0,2 - 0,8%
Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ - D (Dystric Gleysols): Có diện
tích 90 ha (chiếm 0,62% diện tích vùng đồng bằng), phân bố ở các xã Gio Bình, Hải Thái trên địa bàn hình trũng Đất chua, mùn, đạm và kali tổng số giàu, lân tổng số nghèo; sử dụng để trồng 2 vụ lúa nhưng cần chú ý để khử chua cho đất
Nhóm đất đỏ vàng - Acrisols: Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 26996,51 ha
chiếm 60,3%, được phát triển trong quá trình phong hoá của đá macma bazơ, rất thích hợp để trồng cây ăn quả và sản xuất lâm nghiệp Hiện nay nhóm đất này khai thác chủ yếu vào mục đích lâm nghiệp, một phần nhỏ được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
+ Đất nâu đỏ trên đá bazan điển hình - FX (Hapli Dystric Fluvisols): Có diện
tích 4.556 ha (chiếm 16,26% diện tích đất vùng gò đồi), phân bố ở các xã Gio Quang, Gio Bình, Gio Sơn, Gio Hoà, Gio An, Gio Châu Đất có thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, thích hợp để trồng cao su, hồ tiêu
+ Đất nâu vàng trên đá bazan điển hình - Fu (Hapli Xanthic Fluvisols): Có
diện tích 2.453 ha (chiếm 8,73% so với diện tích vùng gò đồi), phân bố tại các xã Gio Hoà, Gio Sơn, Gio Phong, Linh Hải Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, phản ứng của đất rất chua, thích hợp trồng cây cao su và hồ tiêu
+ Đất đỏ vàng trên đá sét - Fs (Ferralic Acrisols): Có diện tích 12.265,51 ha
(chiếm 43,57% so với diện tích vùng gò đồi), phân bố tại các xã Linh Hải, Gio Quang, Hải Thái, Gio An, Linh Thượng Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ Loại đất này tuy
có diện tích lớn nhưng bị chia cắt, có độ dốc lớn, tầng đất mỏng, có thể sử dụng để trồng cây ăn quả, cao su, hồ tiêu ở những đất có tầng dày và độ dốc thấp, còn phần lớn
sử dụng trồng rừng
+ Đất vàng nhạt trên đá cát - Fq (Hapli Acrisols): Diện tích 7.626 ha (chiếm
27,16% so với diện tích vùng gò đồi, phân bố chủ yếu tại xã Linh Thượng Phần lớn diện tích có độ dốc > 25o, tầng đất mỏng Hướng sử dụng là trồng rừng và khoanh nuôi
Trang 22bảo vệ rừng
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ - FD (Hapli Ferralic Acrisols): Diện tích 96 ha
(chiếm 0,34% so với đất vùng gò đồi), phân bố ở xã Gio An trên địa hình đồi núi thấp thoải Đất đang sử dụng trồng lúa nước, năng suất đạt trung bình
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá - E (Hapli Dystric Leptosols): Có diện tích 425
ha (chiếm 1,51% so với diện tích vùng gò đồi), phân bố chính ở xã Trung Sơn Lớp đất mặt 5 - 8 cm, lẫn nhiều đá (70%) Đất chua và nghèo các chất dinh dưỡng, nên trồng rừng để bảo vệ đất
Trong các loại đất này đất chiếm ưu thế nhất là nhóm đất bazan với diện tích là 26996,51 chiếm 60,3% diện tích đất của toàn huyện; đất này có độ dinh dưỡng cao, tầng phong hóa dày Bên cạnh đó còn có nhóm đất phù sa với diện tích 4.270 ha chiếm 9,03% diện tích đất của toàn huyện Đây là những loại đất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp dài ngày đặc biệt là cây cao su có giá trị kinh tế cao Các loại đất khác ít hoặc không thích hợp trồng cao su nhưng lại có giá trị trong việc trồng lúa và phát triển lâm nghiệp
1.4.2.5 Rừng và thảm thực vật
Toàn Huyện có 17.053,35 ha rừng, chiếm 32,5% diện tích tự nhiên, trong đó: Rừng tự nhiên có diện tích 5.220,95 ha, rừng trồng có diện tích 11.832,35 ha với tổng trữ lượng 3,2 triệu m3, trong đó: Rừng trồng phòng hộ 4.172,20 ha, chiếm 35,26%, rừng trồng sản xuất 7.660,15 ha, chiếm 64,74% diện tích rừng trồng
Thực vật rừng tự nhiên Huyện Gio Linh cũng mang nét đặc trưng của thực vật rừng Quảng Trị là khá đa dạng về thành phần loài, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao, nguồn gen quý hiếm và là nơi giao lưu giữa nhiều luồng thực vật với các họ tiêu biểu: Họ Dẻ, họ Re, họ Mộc Lan…Động vật rừng cũng khá p\\\hong phú và đa dạng với các loài lớp thú, lớp chim và lớp lưỡng cư bò sát
1.4.3 Hiện trạng kinh tế- xã hội
1.4.3.1 Nguồn nhân lực
a Thực trạng dân số
Dân cư là một trong những nhân tố quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội Gio Linh là một huyện có quy mô dân số nhỏ Theo niên giám thống kê dân số trung bình toàn Huyện năm 2010 có 72.620 người (17.950 hộ); trong đó: dân số nam 35.874 người, dân số nữ 36.746 người; dân số sống ở nông thôn 60.569 người chiếm
tỷ lệ 83,5%, dân số sống ở thành thị 12.101 người chiếm 16,5%; Mật độ dân số trung
Trang 23bình cả Huyện 153 người/km2, dân cư phân bố không đồng đều: Vùng đồng bằng 153,8 người/km2, vùng trung du 260 người, vùng núi 9 người/km2, vùng ven biển 500 người/km2
b Thực trạng lao động và việc làm
Tổng số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn Huyện năm 2010 có khoảng 37.000 người chiếm khoảng 49% dân số
Trong đó:
- Lao động nữ có 18.804 người chiếm 50,9% tổng số lao động
- Lao động nam có 18.196 người chiếm 49,1% tổng số lao động
Tổng số lao động trong độ tuổi có nhu cầu về việc làm khoảng 30.700 người, trong đó đang làm việc trong các ngành kinh tế 30.455 người, tỷ lệ thất nghiệp tính chung chiếm khoảng 5,17% tổng số lao động có nhu cầu về việc làm Cơ cấu lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 57,17%; ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 17,6%; ngành thương mại- dịch vụ chiếm 25,23%
Bảng 1.2 : Lao động do địa phương quản lí đang làm việc trong các ngành kinh tế
Tổng số người trong độ tuổi
lao động
35.563 36.942 37.108 36.893 36.360
Số người trong độ tuổi lao
động thực tế có tham gia lao
lệ hộ nghèo của Huyện còn lại là 11,72% năm 2010, giảm 2,5% so với năm 2009, qua
đó thu nhập và mức sống của người dân ngày một tăng cao
Trang 24a Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn vừa qua nền kinh tế Gio Linh đã có những bước tăng trưởng mạnh, vững chắc qua các năm Năm 2010, tổng giá trị sản xuất cả năm (giá cố định) tăng 21,78% so với năm 2009 Trong đó: Nông - lâm - thuỷ sản 15,63%; Công nghiệp
- TTCN - xây dựng 27,9%; Thương mại - Dịch vụ 31,99% Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2010 đạt 13.615.000 đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,5% so với năm 2009, còn 11,72% Sản lượng lương thực có hạt đạt 33.065,6 tấn, đạt 96% kế hoạch, giảm 398,8 tấn so với năm 2009
Bảng 1.3: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu tổng hợp giai đoạn 2000 – 2010
trưởng(%)
2000 2005 2010 01-05 06-10
1 Tổng GO (giá SS 1994) Tỷ đồng 202 332 653 0,4 14,5
3 Cơ cấu ngành(GO giá
HH)
(Nguồn : Niên giám thông kê huyện Gio Linh )
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Huyện tính theo giá trị sản xuất (GO giá 1994) các
Trang 25thời kỳ đều đạt xấp xỉ hoặc tương đương với mức tăng bình quân chung của tỉnh, thời
kỳ 2001 - 2005 đạt 10,4% (toàn tỉnh tăng 10,9%), thời kỳ 2006 - 2010 ước tăng 14,4% (toàn tỉnh tăng khoảng 14,4%)
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng phi nông nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp Tỷ trọng khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 65% năm 2005 xuống 50% vào năm 2010 Trong phi nông nghiệp, khu vực thương mại – dịch vụ, du lịch đạt tỷ trọng 32%, khu vực công nghiệp đạt 18%
Cơ cấu vùng kinh tế đã được hình thành khá rõ nét trên cơ sở định hướng phát triển các tiểu vùng lãnh thổ Các thành phần kinh tế phát triển ngày càng đa dạng, một
số thành phần phát triển mạnh như kinh tế tư nhân, cá thể và kinh tế hợp tác Trên địa bàn hiện có 3.818 đơn vị, doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh với nhiều loại hình hoạt động khác nhau
1.4.3.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Mạng lưới giao thông phân bố tương đối hợp lý, các tuyến đường huyện, đường tỉnh trên địa bàn nối với các tuyến Quốc lộ tạo thành các trục dọc từ Bắc xuống Nam và trục ngang từ Đông sang Tây, các tuyến đường tỉnh hướng về trung tâm các xã tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt tất cả các xã trong Huyện đều có đường ô tô
đi đến trung tâm
Bảng 1.4: Những công trình thủy lợi của nhà nước và tập thể quản lí trên địa
bàn
Tên công trình ĐVT Năng lực thiết kế Năng lực thực tế
Trang 26su đồng thời là nơi thu mua sản phẩm cho nông dân Ví dụ: Công ty cao su Quảng Trị, Công ty xuất nhập khẩu nông sản Quảng Trị…Ngoài ra còn có các doanh nghiệp, các
cơ sở tư nhân tham gia vào việc thu mua sản phẩm cho nông dân Hiện nay thị trường tiêu thụ các sản phẩm cây cao su ở huyện Gio Linh đã được mở rộng Bên cạnh thị trường tiêu thụ trong nước, sản phẩm cây cao su của huyện đã có chổ đứng trên thị trường thế giới
e Dịch vụ nông nghiệp
- Giống : Để cung cấp các giống mới có năng suất cao cũng như trao đổi kinh
nghiệm sản xuất huyện đã trang bị các trạm giống, các trạm giống ở các hợp tác xã như Trạm giống xã Gio An, Trạm giống Nông Trường Cồn Tiên, Trạm giống xã Gio Thành, Gio Mai, Gio Quang, Trung Hải… và nhiều cơ sở dịch vụ nông nghiệp khác Đây là nơi cung cấp kịp thời cho người dân những giống cây trồng vật nuôi mới cho
năng suất cao
- Thuốc bảo vệ thực vật: Để phục vụ cho hoạt động nông nghiệp huyện thường
xuyên cung cấp các loại phân bón, thuốc trừ sâu nhằm góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho năng suất cao Để cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu huyện có trạm bảo vệ thực vật Gio Linh Đây là nơi cung cấp, phân phối và hướng dẩn cách sử dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu cho nhân dân Các loại phân bón được cung cấp như các loại phân URE, phân KALY, phân đạm…Nhờ vậy mà nhu cầu của người dân luôn được
đáp ứng kịp thời
Trang 27- Dịch vụ về kỹ thuật: Bên cạnh các cơ sở cung cấp các giống cây công nghiệp
cho năng suất cao hiện nay trên địa bàn huyện có hơn 70 cơ sở dịch vụ nông nghiệp Các cơ sở này cung cấp những máy móc hiện đại phục vụ việc chăm sóc bảo vệ cây cao su như máy phun thuốc, máy bơm nước, máy cày, máy bừa… các thiết bị máy
móc giúp cho việc khai thác, thu hoạch mủ
- Các cơ sở chế biến: Huyện đã tích cực đầu tư xây dựng và mỡ rộng các cơ sở
chế biến Hiện nay Gio Linh đã có các cơ sở chế biến cao su, hồ tiêu Nhà máy chế biến cao su tại Gio Bình đang hoạt động rất hiệu quả, bên cạnh đó cón có các điểm chế
biến, sơ chế mủ cao su tạo điều kiện để nâng cao chất lượng sản phẩm
1.4.3.4 Chủ trương đường lối
Trong quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay, nhằm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, nhà nước ta đã có những chính sách thúc đẩy kinh tế phát triển, trong đó có chính sách phát triển cây công nghiệp Trên cơ sở
đó, căn cứ vào điều kiện địa phương và hiệu quả cây công nghiệp mang lại Đảng bộ
và chính quyền huyện Gio Linh đã đưa một số chủ trương như:
- Phát huy nội lực đồng thời có chính sách thu hút nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lưc có trình độ kỹ thuật cho huyện
- Chuyển dịch nhanh cơ cấu cây trồng, mở rộng phát triển các loại cây công nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như cao su, hồ tiêu
- Đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ Đây là động lực lớn thúc đẩy ngành trồng cây công nghiệp dài ngày của huyện
Trang 28CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ
VIỆC PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU Ở HUYỆN GIO LINH
2.1 Điều kiện khí hậu
2.1.1 Các yếu tố khí hậu
2.1.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái Khí hậu đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su Vì năng lượng bức xạ Mặt Trời là 2 nguồn không thể thiếu được trong việc tạo thành năng suất cây trồng Nhiệt độ thích hợp thúc đẩy quá trình quang hợp, quá trình bốc hơi, quá trình khoáng hóa…mỗi loài thực vật đều có 1 ngưỡng nhất định Đối với cây cao su nhiệt độ thích hợp nhất là 220C – 280C
Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ huyện Gio Linh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối điển hình Mùa hè gió Tây Nam khô nóng (từ tháng 4 – tháng 9); mùa đông lạnh ẩm ướt chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 – tháng 1 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24 - 250C; nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 5, 6, 7) khoảng 33 – 350C, có năm lên tới 400C; tháng thấp nhất (tháng 1, 2) khoảng 180C, có khi xuống 8 - 90C; biên độ nhiệt chênh lệch khá lớn
a Chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố cơ bản nhất của khí hậu Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, chế độ nhiệt của huyện Gio Linh thể hiện tính chất nhiệt đới gió mùa với một nền nhiệt độ cao và phân bố khá đồng đều quanh năm Điều đó rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển tốt, giúp tăng cường độ quang hợp cho cây từ đó giúp cây phát triển nhanh sớm cho năng suất cao
Gio Linh nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, được thừa hưởng một chế
độ bức xạ dồi dào nên huyện có một nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình năm của huyện Gio Linh từ 24 - 250C Trong đó nhiệt độ không khí bình quân năm của huyện
là 24,8800C Các tháng có nhiệt độ thấp từ tháng XI đến tháng III năm sau Nhiệt độ thấp nhất khoảng 180C vào tháng I và tháng II Từ tháng III nhiệt độ tăng dần và cao nhất vào các tháng VI, VII, VIII
Trang 29Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình hàng tháng và hàng năm của huyện Gio Linh(0C)
(Nguồn: Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn Đông Hà)
Biểu đồ thể hiện nhiệt độ trung bình hàng tháng của
huyện Gio Linh(0C)
0 5 10 15 20 25 30 35
Gio Linh có một nền bức xạ và nền nhiệt cao Nền bức xạ và nền nhiệt là 2 yếu
tố có tác động trực tiếp đến cây cao su Mỗi thời kỳ phát dục của cây đòi hỏi một chế
độ nhiệt nhất định, nếu nhiệt độ đất thấp quá hay cao quá một giới hạn nào đó, thì rễ cây ngừng phát triển và không cung cấp được chất nuôi dưỡng cho cây, cây sẽ chết
Trang 30Với nền bức xạ và nền nhiệt cao như vậy, đó là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng
và phát triển cây cao su
Bảng 2.2 : Ngày chuyển mùa nhiệt độ qua giới hạn 200C và 250C
Địa
điểm
Mùa lạnh( <20 0 C) Mùa nóng(>25 0 C) Thời gian
chuyển tiếp
Ngày
bắt đầu
Ngày kết thúc
Số ngày
Ngày bắt đầu
Ngày kết thúc
Số ngày
(Nguồn: Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn Đông Hà)
Ngoài hai mùa nóng và lạnh ra, còn có thời kỳ nhiệt độ trung bình ngày ổn định trong khoảng 20 - 250C, đó là thời kỳ chuyển tiếp mùa khí hậu, thời tiết mát mẻ thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây cao su được nhanh hơn
c Biên độ nhiệt độ
Biên độ năm của nhiệt độ có ý nghĩa rất lớn đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su Tuy nhiên huyện có biên độ nhiệt chênh lệch khá lớn giữa tháng có nhiệt độ cao nhất và tháng có nhiệt độ thấp nhất Biên độ nhiệt giao động giữa ngày và đêm khoảng 10 - 110C, giữa ngày nóng và ngày lạnh khoảng 17 - 220C nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 5, 6, 7) khoảng 33 – 350C, có năm lên tới 400C; tháng thấp nhất (tháng
1, 2) khoảng 180C, có khi xuống 8 - 90C Tổng nhiệt độ năm khoảng 8500 - 90000C Như vậy với lượng biên độ nhiệt năm lớn như vậy ảnh hưởng rất lớn đến sự thích nghi của cây cao su Vì vậy biên độ nhiệt chênh lệch khá lớn gây trở ngại rất nhiều cho cây như hiện tượng chóng đông, làm giảm năng suất của mủ Ngoài ra biên độ nhiệt chênh lệch nhau lớn thường ảnh hưởng đến thời kỳ ra hoa và đậu quả của cây
Bảng 2.3 : Biên độ nhiệt độ năm 2011 ở huyện Gio Linh (oC)
Trang 31Địa điểm Yếu tố Biên độ năm Biên độ tuyệt đối
và phân bố theo mùa Trong khi đó cây cao su thường được trồng thích hợp trong những vùng có lượng mưa 1800- 2500mm/năm
Bảng 2.4 : Lượng mưa trung bình tháng ở Gio Linh từ năm 2010 - 2011 (mm)
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà)
Phân bố lượng mưa theo không gian và thời gian
Huyện có lượng mưa hàng năm khá lớn nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm và được chia làm 2 mùa rõ rệt
+ Mùa mưa nhiều tập trung từ tháng IX năm trước đến tháng II năm sau Lượng mưa khoảng 78% của lượng mưa cả năm Đây là thời kỳ rất thuận lợi cho sự phát triển cây cao su vì đây là giai đoạn cây cao su đang trong thời kỳ ra hoa đậu quả Do đó đây
là thời kỳ cây cao su được cung cấp một lượng nước đầy đủ, giúp cho bộ rễ, thân và lá phát triển một cách toàn diện và hạn chế được sâu bệnh Mùa mưa chỉ tập trung vào một số tháng nên sẽ thuận lợi cho quá trình khai thác mủ được triệt để Cho phép cây trồng phát triển và xanh quanh năm
Đặc biệt từ tháng IX – XI huyện mưa lớn với tổng lượng mưa chiếm khoảng 70 - 80% lượng mưa cả năm Mưa thường xãy ra từng đợt từ 3 – 6 ngày Vào mùa này lượng mưa cao điểm với cường độ lên tới 600mm/tháng Đây là thời kỳ có lượng mưa lớn nhất trong năm Thời gian này mưa với cường độ lớn nên thường không tốt cho sự sinh trưởng của cây
Trang 32Trong các tháng cao điểm này trung bình mỗi tháng có tới 19 – 20 ngày mưa và thường kèm bão Đồng thời vào mùa mưa khi có gió mùa Đông Bắc thường kèm theo mưa lớn nên gây lũ lụt Bên cạnh đó mưa lớn còn gây ra xói lở đất mưa thường kèm theo bão khiến cây bị ngập úng, chết, đổ và không thu hoạch được mủ làm giảm chất lượng cũng như năng suất mủ của cây
Bảng 2.5 : Sự phân bố lượng mưa theo mùa ở huyện Gio Linh (mm)
Địa điểm Tổng lượng
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà)
+ Mùa khô bắt đầu từ tháng III đến tháng VIII, ẩm độ trung bình 77,8% với tổng lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm và thấp nhất vào tháng VII với ẩm độ trung bình là 70% Đây là thời kỳ nắng nóng, nguồn nhiệt cao lại ít mưa nên rất phù hợp cho thời kỳ thu hoạch và bảo quản mủ cao su Đặc biệt từ tháng II - IV mưa không đáng kể hoặc không mưa nên rất thuận lợi trong việc chăm sóc và thu hoạch mủ cao su của bà con địa phương Tuy nhiên vào mùa này gió Tây Nam thường thổi mạnh, nhiệt
độ cao, ẩm độ thấp, lượng mưa ít cũng gây ra những đợt hạn nặng kéo dài gây bất lợi cho việc sản xuất cây cao su Vào tháng VI thường có lũ tiểu mãn nên dể gây ngập úng
cục bộ ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su
Cường độ mưa
Gio Linh không những là nơi có lượng mưa tương đối lớn mà còn là nơi có cường độ mưa cũng rất lớn Tổng lượng mưa lớn nhất tháng có trị số rất lớn đạt từ 1.400 – 1.700mm, thường xảy ra vào tháng XI hoặc tháng X Vào những tháng của mùa mưa ít, tổng lượng mưa lớn nhất tháng cũng đạt 63 – 420mm
Bảng 2.6: Lượng mưa lớn nhất tháng( Rx) và lượng mưa nhỏ nhất tháng (Rn) (mm) Trạm Đặc
Trang 33 Số ngày mưa
Đối với cây cao su số ngày mưa thích hợp là 100 – 150ngày/năm Ở huyện Gio Linh sự phân bố số ngày mưa nhìn chung phù hợp với phân bố tổng lượng mưa năm Trong các tháng mùa mưa (tháng VIII – XII) trung bình mỗi tháng có 15 - 20 ngày mưa Với các tháng ít mưa (tháng I – VII) trung bình mỗi tháng có khoảng 7 - 9 ngày mưa Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất cây cao su Vào những ngày mưa lớn thường xảy ra trong mùa mưa chính (tháng X và XI) Đây chính là nguyên nhân gây nên lũ lụt ngập úng gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như sự sinh trưởng của cây cao su, đặc biệt là cây con trong vườn ươm và cây con mới trồng
Bảng 2.7: Số ngày mưa trung bình tháng và năm ở huyện Gio Linh (ngày)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà)
Như vậy huyện Gio Linh với nền mưa ẩm cao, lại không có mùa đông rõ rệt Mưa là nguồn cung cấp nước chính cho quá trình sinh lí của cây trồng Trong suốt quá trình sinh trưởng của cây cần rất nhiều nước, nhưng tùy từng thời kỳ mà cây cần nhiều nước hay ít nước khác nhau Lượng mưa trung bình năm ở huyện hàng năm tương đối cao 2.500 - 2.700mm Với lượng mưa dồi dào như vậy thì rất thuận lợi để phát triển cây cao su Mặt khác Gio Linh mưa nhiều lại không có mùa khô rõ rệt, còn trong thời
kỳ mùa đông là mùa đông ấm và chỉ kéo dài chừng vài tháng Do đó cho phép cây trồng phát triển và xanh quanh năm
2.1.1.3 Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su là trên 75% Độ ẩm tương đối của huyện ít biến đổi giữa các vùng và dao động không nhiều giữa các tháng trong năm, độ ẩm không khí trung bình cả năm khoảng 80
- 90% kéo dài từ tháng IX đến tháng IV năm sau Phân bố độ ẩm tương đối trung bình thao tháng ở huyện Gio Linh được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.8: Độ ẩm không khí tương đối trung bình(%) huyện Gio Linh
Trang 34Biểu đồ thể hiện độ ẩm không khí tương đối trung
bình huyện Gio Linh (%)
65 56
70 61 42
49 43
52 48
65
61 65
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Trong những tháng mùa nóng, vào những ngày ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng, độ ẩm tương đối thấp nhất giảm xuống 30 – 32% Trong những tháng mùa đông, độ ẩm tương đối thấp nhất trong ngày có thể giảm xuống rất thấp 16 – 20% Đây là điều kiện hết sức bất lợi cho cây trồng, đối với cây cao su khi độ ẩm xuống quá thấp sẽ gây ra hiện tượng chảy mủ hàng loạt
Bảng 2.9: Độ ẩm thấp nhất ở huyện Gio Linh(%)
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà)
Tuy không tác động trực tiếp như nhiệt độ nhưng độ ẩm không khí tác động gián tiếp đến thực vật không kém phần quan trọng Sự thoát hơi nước của cây phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm không khí Độ ẩm cao sự thoát hơi nước bị hạn chế, độ ẩm thấp mặt đất và cây thoát hơi nước nhiều dẫn đến khô và lạnh nhanh chóng
Trang 35Với điều kiện thích hợp của cây cao su là trên 75% Độ ẩm không khí có sự tương quan với dòng chảy mủ khi khai thác Với độ ẩm trung bình từ 80 – 90%, kèm theo đó là không có hiện tượng sương muối, sương giá nên huyện Gio Linh có điều kiện rất thuận lợi cho cây cao su phát triển
2.1.1.4 Ánh sáng
- Bức xạ tổng cộng : Huyện Gio Linh nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, được thừa hưởng một chế độ bức xạ dồi dào nên huyện có một nền bức xạ và nền nhiệt cao Lượng bức xạ tổng cộng phân bố không đều trong các tháng và phân bố không đều trong các mùa Lượng bức xạ mùa khô (từ tháng I đến tháng VIII) chiếm 75 – 80% tổng bức xạ năm, mùa mưa (từ tháng IX đến tháng XII) chỉ chiếm 20 – 25%, lượng bức xạ này khá phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su
- Nắng : là một trong các yếu tố khí hậu được quan trắc bằng độ dài thời gian,
nó có quan hệ chặt chẽ với bức xạ mặt trời và bị chi phối trực tiếp bởi lượng mây Huyện Gio Linh có số ngày nắng từ 1670 – 1800 giờ, số ngày nắng trung bình hàng năm là 217 ngày/năm Tháng có giờ nắng trung bình cao nhất trong năm là tháng VI, tháng VII khoảng 25 – 28 ngày Tháng có số giờ nắng trung bình thấp nhất trong năm
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Đông Hà)
Ánh sáng có vai trò quan trọng cho sự phát triển của thực vật vì ánh sáng cần cho quá trình quang hợp Tính chu kỳ của ánh sáng còn ảnh hưởng đến sinh lý của thực vật Cao su là một loài ưa sáng, số giờ chiếu sáng thích hợp trong năm từ 1800 –
2800 giờ/năm Điều kiện khí hậu ở huyện Gio Linh có mùa khô kéo dài từ tháng II đến tháng VII, với số giờ chiếu sáng cao Đây là điều kiện rất thích hợp cho nhu cầu cần nhiều ánh sáng của cây cao su