Thực tế cho thấy lúa xuân muộn luôn cho năng suất cao hơn lúa xuân sớm, song nông dân trong huyện thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân còn nhiều hạn chế, bình quân 5 năm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 24 tháng5 năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Vương
Trang 3Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn TS Đinh Văn Đãn, người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong bộ môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Bảo vệ thực vật huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lóng biết ơn sâu sắc tới các tập thể, cá nhân, đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Trang 4
Môc lôc
Danh mục các biểu đồ Error! Bookmark not defined
Danh mục các chữ viết tắt Error! Bookmark not defined
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH SẢN XUẤT LÚA XUÂN NGẮN NGÀY 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm và vai trò của đánh giá thực hiện chương trình sản xuất lúa xuân ngắn ngày 4
2.1.2 Nội dung đánh giá chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân 7
2.1.3 Sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân 9
2.1.4 Đặc điểm của sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân 10
2.1 5 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chương trình sản xuất lúa ngăn ngày 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
Trang 5Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… iv
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở Việt Nam 16
2.2.3 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở đồng bằng sông Hồng 18
2.2.4 Những tiến bộ và kinh nghiệm trong sản xuất lúa ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương và của tỉnh Thái Bình 19
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Khung phân tích của đề tài 47
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu: 47
3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 49
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 52
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 52
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 54
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
4.1 Khái quát mục tiêu, nội dung của chương trình sản xuất lúa ngắn ngày của huyện Quỳnh Phụ 56
4.1.1 Sơ lược về chương trình 56
4.1.2 Đánh giá triển khai thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ 59
4.2 Kết quả thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 64
4.2.1 Tình hình phát triển sản xuất lúa ngắn ngày ở huyện Quỳnh Phụ từ 2001-2010 64
4.2.2 Kết quả thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân năm 2010 67
Trang 64.2.3 Hiệu quả của Chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân 69
4.2.4 Đánh giá tính thích hợp của chương trình sản xuất lúa ngắn ngày 74
4.2.5 Kết quả, hiệu quả sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở các hộ, các điểm điều tra 76
4.2.6 Đánh giá tác động của chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 86
4.3 Đánh giá chung kết quả chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ 93
4.3.1 Kết quả của chương trình 93
4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chương trình 95
4.3.3 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân 98
4.3.4 Một số kinh nghiệm rút ra trong việc triển khai thực hiện chương trình 101
4.4 Phương hướng và giải pháp thực hiện việc sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ 102
4.4.1 Phương hướng phát triển của các xã và của cả huyện 102
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất lúa ngắn ngày ở huyện Quỳnh Phụ 104
5 KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 113
5.1 Kết luận 113
5.2 Đề nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 7Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… vi
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu, thời tiết huyện Quỳnh Phụ giai đoạn 2006 - 2010 28
Bảng 3.2 Các loại đất chính của huyện Quỳnh Phụ 32
Bảng 3.3 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2010 34
Bảng 3.4 Tình hình dân số, lao động của huyện Quỳnh Phụ, 2008 – 2010 36
Bảng 3.5 Số hộ nông dân được điều tra phân loại theo vùng ở huyện Quỳnh Phụ 51
Bảng 4.1 Số lượng các lớp đào tạo tập huấn kỹ thuật cho nông dân 62
Bảng 4.2 Tình hình sản xuất lúa của Quỳnh Phụ từ 2001-2010 64
Bảng 4.3 Diện tích, cơ cấu gieo cấy các trà lúa vụ Xuân ở Quỳnh Phụ năm 2005 - 2010 66
Bảng 4.4 Kết quả gieo cấy lúa ngắn ngày vụ Xuân năm 2010 68
Bảng 4.5 Chi phí sản xuất lúa trung bình trên 1 sào Bắc Bộ 360m2 70
Bảng 4.6 Năng suất, giá bán, doanh thu và lợi nhuận trên 1 sào 360m2 73
Bảng 4.7 So sánh hiệu quả gieo cấy lúa ngắn ngày và lúa dài ngày vụ xuân 74
Bảng 4.8 So sánh ưu thế giữa giống lúa ngắn ngày và các giống lúa dài ngày ở Quỳnh Phụ 76
Bảng 4.9 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra 77
Bảng 4.10 Tỷ lệ hộ điều tra tham gia các ngành nghề sản xuất 78
Bảng 4.11 Kết quả chuyển dịch cơ cấu giống lúa ngắn ngày vụ xuân ở các xã điều tra qua 3 năm 2008-2010 79
Bảng 4.12 Diện tích sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân của các hộ điều tra 80
Bảng 4.13 Hiệu quả sản xuất lúa ngắn ngày ở vụ xuân của các hộ điều tra năm 2010 82
Bảng 4.14 So sánh thu nhập bình quân một hộ/năm tại thời điểm trước và sau khi có chương trình 87
Bảng 4 15 Tổng hợp kết quả của gieo cấy lúa ngắn ngày 88
Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu phát triển trồng trọt đến năm 2020 104
Bảng 4.17 Định hướng bố trí cơ cấu luân canh cây trồng của huyện 107
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Bản đồ hành chính huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 23 Biểu số 1 Cơ cấu sử dụng đất đai ở huyện Quỳnh Phụ năm 2010 35
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 4.1 Giống lúa ngắn ngày đem lại hiệu quả kinh tế 85Hộp 4.2 Thu nhập của người dân tăng cao do cấy lúa xuân ngắn ngày 86Hộp 4.3 Trình độ dân trí của người dân nâng lên rất nhanh… 91
Hộp 4.5 Nhiều khó khăn khi thực hiện cái mới 96
Trang 9Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân BVTV : Bảo vệ thực vật
CC : Cơ cấu CN-XD : Công nghiệp – xây dựng CNH -HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CPLĐ : Chi phí lao động
CPTG : Chi phí trung gian
DT : Diện tích
DV : Dịch vụ ĐVT : Đơn vị tính GTSX : Giá trị sản xuất GTGT : Giá trị gia tăng HTX : Hợp tác xã HQKT : Hiệu quả kinh tế
KH : Kế hoạch
LĐ : Lao động
NN : Nông nghiệp
NS : Năng suất NTTS : Nuôi trồng thuỷ sản PTNT : Phát triển nông thôn
SL : Số lượng
TB : Trung bình TNHH : Thu nhập hỗn hợp TTCN : Tiểu thủ công nghiệp TM-DV : Thương mại – dịch vụ UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 101 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực thực phẩm, cung cấp năng lượng chính cho sự sống của con người, là cơ sở để ổn định và phát triển đất nước Sản xuất lúa gạo được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và có các chính sách để duy trì mở rộng diện tích tăng năng suất Đối với Việt Nam với dân số đông, việc đảm bảo đủ lương thực cho người dân là mục tiêu lớn cần đẩy mạnh thực hiện Vì thế, áp dụng các giống mới có năng suất, chất lượng cao đang được khuyến khích và mở rộng diện tích trên phạm vi cả nước
Tỉnh Thái Bình vẫn xác định nông nghiệp là ngành sản xuất chính, trong đó sản xuất lương thực với 2 vụ: đông xuân và vụ mùa vừa đảm bảo sản lượng cho tiêu dùng vừa cung cấp một lượng hàng hóa cho xuất khẩu Đặc biệt sản xuất lúa xuân có vai trò quan trọng, quyết định năng suất, sản lượng lúa cả năm Năm 2005, tỉnh Thái Bình triển khai Nghị quyết 04-NQ/TU về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trong đó có chủ trương gieo cấy lúa xuân muộn đạt 100% diện tích Theo đó các huyện đã ban hành các Nghị quyết, đề án sản xuất thực hiện chương trình sản xuất này Tỉnh và huyện đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để khuyến khích nông dân tham gia thực hiện chương trình, các huyện phía Nam tỉnh Thái Bình đã chuyển sang cấy trà xuân muộn, chỉ còn một số huyện phía Bắc tỉnh Thái Bình trong đó có Quỳnh Phụ còn gieo cấy trà xuân sớm Thực tế cho thấy lúa xuân muộn luôn cho năng suất cao hơn lúa xuân sớm, song nông dân trong huyện thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân còn nhiều hạn chế, bình quân 5 năm diện tích lúa xuân ngắn ngày trà muộn chỉ đạt 70 - 80 % so với tổng diện tích lúa của huyện Do đó ảnh hưởng đến cơ cấu mùa vụ, kết quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp và đời sống của nông dân Bởi vậy, việc nghiên cứu đánh giá thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở địa bàn là
Trang 11Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 2
Quỳnh Phụ là huyện có truyền thống thâm canh lúa, hoa màu, hàng năm Quỳnh Phụ gieo cấy 24.000 ha lúa, trong đó vụ xuân 12.000 ha Các địa phương trong huyện đã và đang nỗ lực cố gắng trong việc chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật, nhiều giống lúa mới, năng suất chất lượng cao được đưa vào sản xuất Với tập quán gieo cấy lúa đông xuân chủ yếu các giống dài ngày nên năng suất sản lượng thóc chưa cao, chưa quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng hàng hoá
Nhắm xóa bỏ tập quán canh tác trà lúa xuân dài ngày của nông dân cần đưa giống ngắn ngày vào sản xuất vụ xuân để bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý, đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính Thực hiện các đề án sản xuất nông nghiệp hàng năm của tỉnh, mặc dù đã tập trung lãnh đạo chỉ đạo song kết quả thực hiện vẫn chưa đạt được kết quả mong đợi, nông dân vẫn gieo cấy giống dài ngày trà xuân sớm với tỷ lệ cao, có nơi đến 50% diện tích Để giải quyết vấn đề này và tăng năng suất, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác, UBND huyện đã triển khai thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân Chương trình được triển khai từ 10/2005 đến 6/2010 với mục tiêu gieo cấy 100% diện tích lúa vụ xuân bằng các giống lúa ngắn ngày trà xuân muộn
Vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học và nhà quản lý cần phải nghiên cứu là: 1- Chương trình sản xuất lúa xuân ngắn ngày vụ xuân ở huyện được thực hiện như thế nào? 2 Hiệu quả của lúa xuân ngắn ngày như thế nào, liệu có bằng lúa xuân dài ngày? 3 Việc thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở địa bàn đang gặp những khó khăn vướng mắc ra sao? 4 Những giải pháp để thực hiện tốt chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở Quỳnh Phụ là gì?
Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình”
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở Quỳnh Phụ, từ đó đề xuất những giải pháp thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân đạt hiệu quả cao trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề kinh tế, tổ chức có liên quan đến sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở hộ nông dân, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung:
Tiến hành khảo sát quá trình triển khai thực hiện sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân Đánh giá kết quả thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày hàng năm; đánh giá và so sánh hiệu quả sản xuất của giống lúa ngắn ngày so với giống lúa dài ngày tại địa phương
+ Về không gian: Nghiên cứu tại một số xã được chọn làm điểm khảo sát trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Về thời gian : số liệu nghiên cứu phân tích tập trung chủ yếu 5 năm 2006-2010
Thời gian thực hiện đề tài : Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10/2010
Trang 13Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 4
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH SẢN XUẤT LÚA
- Chương trình sản xuất nông nghiệp: chương trình sản xuất nông nghiệp là một chương trình để giải quyết một vấn đề của sản xuất nông nghiệp với sự tham gia của các hộ nông dân, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, cơ quản quản lý nhà nước về nông nghiệp nhằm mục đích tạo ra những thay đổi theo hướng tích cực trong sản xuất nông nghiệp, thể hiện bằng những đề án sản xuất với những tiêu phí về tài chính và tài nguyên đã được định trước
- Chương trình sản xuất lúa xuân ngắn ngày là chương trình sản xuất nông nghiệp do cơ quan nhà nước đề ra nhằm mục đích vận động người nông dân gieo cấy toàn bộ diện tích lúa vụ xuân bằng giống lúa ngắn ngày để tăng năng suất, tạo điều kiện bố trí cơ cấu mùa vụ, tăng hệ số sử dụng ruộng đất trong năm sản xuất
- Đánh giá là quá trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan một chương trình, dự án hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành từ giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt được Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành các mục tiêu, tính hiệu quả, tác động và tính bền vững Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học
Trang 14kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của các nhà tài trợ và của đối tượng tiếp nhận tài trợ
- Đánh giá chương trình là sự thu thập cẩn thận các thông tin về một chương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định cần thiết đối với chương trình (Guiding Principles for Program Evaluation in Ontario Health Units, 1997)
- Đánh giá thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân là để xem chương trình sản xuất vụ xuân có đạt được những mục đích đề ra không, đồng thời xem xét kết quả tổng thể mà chương trình đạt được, bao gồm cả những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài
2.1.1.2 Vai trò của đánh giá thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày
vụ xuân
Đánh giá thực hiện chương trình có vai tròng quan trọng giúp các nhà lãnh đạo quản lý thấy được những ưu điểm, khuyết điểm cũng như thiếu sót, tồn tại của chương trình để rút ra bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo sản xuất trong thời gian tới Xem xét quá trình chuyển giao quy trình sản xuất của chương trình đến người nông dân, để áp dụng đúng, đem lại hiệu quả, có sản phẩm lúa ngắn ngày đủ tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường Chương trình đã đáp ứng được mục tiêu, nội dung và tiến độ như đã xây dựng và phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương, đem lại hiệu quả cao, được nhiều địa phương khác sử dụng làm giống phục vụ sản xuất
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất đã mang lại hiệu quả cao Qua 5 vụ sản xuất lúa ngắn ngày, chương trình đã sản xuất được cho Công ty
cổ phần giống cây trồng Thái Bình số lượng lớn giống lúa ngắn ngày có chất lượng đảm bảo, năng suất cao hơn, giúp cho người dân sản xuất giúp người nông dân trồng lúa có thể nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích gieo trồng Việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất đã mang lại hiệu quả cao cho sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở Quỳnh Phụ Các mô hình sản xuất đã
Trang 15Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 6
cho thấy, giống lúa ngắn ngày thích ứng với điều kiện sản xuất của huyện, có năng suất cao, khả năng kháng bệnh khá và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trên một đơn vị diện tích Vì vậy người dân nhanh chóng sử dụng giống lúa ngắn ngày vào sản xuất thay thế giống lúa dài ngày, giống địa phương năng suất thấp Những giống lúa ngắn ngày mới nhanh chóng được nhân rộng ra địa bàn toàn huyện và các huyện khác của tỉnh Thái Bình Giúp bà con nông dân nắm bắt đúng kỹ thuật sản xuất, cán bộ khuyến nông của trạm khuyến nông cùng với khuyến nông viên các xã, thôn đã phối hợp tổ chức triển khai các lớp tập huấn kỹ thuật ở các xã giúp bà con nông dân nắm bắt kỹ thuật và ứng dụng vào sản xuất Các đoàn thể : Hội nông dân, Hội phụ nữ là cầu nối, phổ biến những thông tin về giống lúa ngắn ngày mới, tập hợp những nông dân có nhu cầu trồng lúa ngắn ngày giống mới và có trách nhiệm đăng kí với cán bộ khuyến nông để mua giống Hội nông dân các cấp còn tạo điều kiện giúp người dân mua chịu phân bón cho nông dân đầu tư sản xuất, cuối vụ thu hoạch mới phải thanh toán Với các giống lúa ngắn ngày mới, người trồng lúa
có khả năng nâng cao thu nhập trên môt đơn vị gieo trồng so với giống lúa truyền thống của địa phương
Đối với bà con nông dân huyện Quỳnh Phụ, nhờ đưa giống lúa mới vào sản xuất đại trà trên diện rộng, nên vụ xuân năm 2010 là một thắng lợi lớn trên cả 3 phương diện về năng suất, chất lượng, giá bán Kết quả này đã giúp người dân địa phương nâng cao thu nhập, đồng thời khẳng định cây lúa ngắn ngày ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng hàng năm của huyện Giá lúa ngắn ngày ổn định, năng suất cao, thời tiết thuận lợi đã tạo khí thế phấn khởi cho người nông dân huyện Quỳnh Phụ trồng lúa những năm tiếp theo Được biết, đây là vụ sản xuất thứ ba liên tiếp huyện đạt năng suất lúa xuân cao nhất từ trước đến nay
Đánh giá các hoạt động của chương trình đi đến thúc đẩy phát triển ngành trồng trọt của huyện Để trồng trọt nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung
Trang 16phát triển bền vững, không tàn phá hoặc làm tổn hại môi trường, đồng thời kích thích và tăng được khả năng tự chủ của nông dân trong sản xuất
2.1.2 Nội dung đánh giá chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân
Đánh giá là xem một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức
độ thành công và những tác động (về kinh tế, xã hội, môi trường) của chương trình so với mục tiêu đã đề ra Đây là một hoạt động quan trọng của chương trình nhằm để trả lời các câu hỏi
- Chương trình được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể hay không?
- Kết quả đạt được có thoả đáng không so với các nguồn lực đã đầu tư?
- Liệu chương trình đã cải thiệu được đời sống của cộng đồng ở vùng chương trình?
- Chương trình làm cho xã hội công bằng hơn hay không?
- Chương trình đã góp phần bảo vệ tải nguyên và môi trường?
- Chương trình đã góp phần làm tăng tính tự lập và sự phát triển bền vững của cộng đồng?
- Để quyết định có nên mở rộng chương trình hay không?
- Để rút ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chương trình nhằm đánh giá những khuyết điểm tương tự cho những chương trình, đề
Trang 17Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 8
chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân Trong phần này người phân tích cần: (1) Chỉ rõ số lượng nguồn lực: tài chính, vật chất, nhân lực, thời gian dùng vào việc thực hiện chương trình; (2) Nêu rõ nội dung của chương trình; (3) Cách can thiệp của UBND tỉnh, UBND huyện và cách triển khai chương trình ở xã, thị trấn Cụ thể trong nghiên cứu này cần trả lời các câu hỏi sau:
- Số lượng nguồn lực (tài chính, vật chất, nhân lực…) dùng vào việc thực hiện chương trình sản xuất lúa xuân ngắn ngày ở huyện là bao nhiêu? Nguồn lực đó được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, từ ngân sách địa phương, từ các tổ chức kinh tế cụ thể ra sao?
- Nội dung cụ thể của chương trình sản xuất lúa ngắn ngày là gì? Trong một số trường hợp từ nội dung ban hành của chương trình chung lại có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện của địa phương như thế nào?
- UBND tỉnh, huyện can thiệp một cách trực tiếp hay gián tiếp vào chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân của địa phương ?
2.1.2.2 Kết quả thực hiện
Việc xem xét kết quả thực hiện là tiền đề cho việc đánh giá của chương trình Ở đây những kết quả phải được thể hiện bằng số lượng đạt được nhờ thực hiện các hoạt động của chương trình và cụ thể hóa vấn đề thì kết quả này cần thiết phải định lượng và định tính là chính
Trong nghiên cứu này cần thể hiện rõ diện tích cấy lúa ngắn ngày trước khi thực hiện chương trình là bao nhiêu và sau khi thực hiện là bao nhiêu? những thay đổi nào là nhờ chương trình thực hiện được?
2.1.2.3 Các tác động tích cực và tiêu cực chương trình
Tác động mang lại từ việc thực hiện chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân có nhiều cấp độ Vì vậy, việc nhìn nhận các tác động đó cần dừng lại ở cấp liên quan đến đối tượng thụ hưởng của chương trình Khi triển khai thực hiện chương trình thì sự thành công, tác động tốt đến cơ cấu kinh tế luôn là mong muốn của cả cộng đồng Tuy nhiên, việc thất bại của chương
Trang 18trình cũng như tác động xấu đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương là không thể tránh khỏi Do vậy, tác động của chương trình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân bao gồm cả tác động tích cực và tác động tiêu cực
- Tác động tích cực: Là những thay đổi được mong đợi hay những mong muốn của Chính phủ, UBND tỉnh, huyện hay người dân địa phương khi thực hiện chương trình; đây là những mục tiêu chương trình cần đạt tới
- Tác động tiêu cực: Là những tác động không mong đợi nhưng không thể tránh khỏi khi thực hiện chương trình
Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi sẽ nhìn nhận các vấn đề dựa trên sự lồng ghép những lĩnh vực tác động tích cực hay tiêu cực của thực hiện chương trình nhằm đánh giá được toàn diện nhất những tác động của nó
2.1.3 Sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân
- Lúa ngắn ngày là danh từ để gọi các giống lúa cảm ôn, có thời gian sinh trưởng ngắn từ 100 - 130 ngày Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt thóc nảy mầm tới lúc kết thúc quá trình chín sinh lý (thu hoạch)
- Vụ xuân là vụ sản xuất có thời gian gieo cấy xung quanh tiết lập xuân
- Sự khác nhau của các giống lúa ngắn ngày, dài ngày chủ yếu căn cứ vào thời gian sinh trưởng Mặc dù có thời gian sinh trưởng khác nhau, các giống lúa đều trải qua hai giai đoạn sinh trưởng phát dục chính: sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Thời gian sinh trưởng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, nên cùng một giống lúa gieo cấy trong vụ xuân có thời gian sinh trưởng dài hơn vụ mùa Lúa gieo thẳng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn lúa cấy 7 - 10 ngày, là thời gian cây mạ bén rễ hồi xanh sau cấy Nhưng do thời gian mạ (18 - 20 ngày) không nằm trên ruộng cấy nên lúa cấy lại chiếm đất ngắn hơn tạo điều kiện cho việc tăng vụ Sự khác nhau của các giống ngắn ngày với dài ngày chủ yếu ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng Các giống lúa
Trang 19Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 10
ngắn ngày hầu như không có thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng chậm, hoặc là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng có thể thay đổi rất lớn (18-38 ngày) Các giống lúa dài ngày mẫn cảm với ánh sáng mới có thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng chậm, xuất hiện từ sau khi đẻ nhánh rộ đến lúc phân hóa đòng Các giống lúa ngắn ngày có phần đầu thời kỳ sinh trưởng sinh thực lại xuất hiện ngay khi chưa kết thúc thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng
2.1.4 Đặc điểm của sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân
- Các giống lúa ngăn ngày vừa có thời gian sinh trưởng ngắn vừa không mẫn cảm hay mẫn cảm yếu với độ dài của ngày, có thể ra hoa và chín quanh năm nếu có đủ nước Vì vậy, sử dụng các giống ngắn ngày làm cho kế hoạch trồng lúa dễ linh hoạt và thích hợp với đặc điểm luân canh tăng vụ Nếu như chúng ta chỉ đạo thực hiện tốt về mặt thời vụ, để đảm bảo an toàn cho mạ và lúa mới cấy, đảm bảo cho lúa xuân làm đòng, trỗ bông vào thời điểm thuận lợi thì vẫn có được một vụ xuân ăn chắc và hoàn toàn có điều kiện để sản xuất lúa mùa sớm nhằm mở rộng cây vụ đông trên đất 2 lúa Tập trung chỉ đạo gieo cấy lúa xuân muộn trong khung thời vụ tốt nhất (từ 25/1– 05/2) để đảm bảo có được vụ lúa xuân ăn chắc; đồng thời nếu thực hiện tốt, kịp thời các khâu sản xuất vụ mùa thì hoàn toàn có điều kiện để mở rộng sản xuất cây vụ đông trên đất 2 lúa nhằm
nâng cao giá trị thu nhập trên 1 đơn vị diện tích
- Thâm canh lúa ngắn ngày để đạt năng suất cao cần bón nhiều phân, nhiều nghiên cứu đã kết luận do phần lớn nhu cầu dinh dưỡng (đạm, lân, ka ly) cần được đáp ứng tập trung trong một thời gian rất chặt chẽ ở thời kỳ sinh
trưởng đầu
- Độ an toàn của việc gieo cấy các giống ngắn ngày trà xuân muộn cao hơn so với gieo cấy các giống dài ngày trà xuân sớm Giống lúa ngắn ngày vừa có khả năng thâm canh cao vừa có khả năng tăng vụ để tăng thu nhập cho
hệ thống canh tác sử dụng chúng Lúa ngắn ngày vụ xuân được gieo cấy ở trà
Trang 20xuân muộn (gieo mạ trước ngày 20/1) để kết thúc vụ xuân sớm, tạo điều kiện
làm mùa sớm và mở rộng cây vụ đông
- Sử dụng các giống ngắn ngày còn tiết kiệm được nước tưới mà cây lúa có yêu cầu rất lớn, đồng thời giảm chi phí chăm sóc nâng cao hiệu quả
kinh tế cho nghề trồng lúa
2.1 5 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chương trình sản xuất lúa ngăn ngày
2.1.5.1 Yếu tố tự nhiên
Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có những điều kiện tự nhiên tác động ảnh hưởng đến sản xuất lúa xuân ngắn ngày như sau:
+ Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian
sinh trưởng của lúa xuân Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt thời gian
sinh trưởng phát triển Thời tiết vụ xuân ở đồng bằng sông Hồng nhìn chung
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không có sự sai khác lớn giữa các tỉnh trong khu vực Tuy nhiên vẫn có những năm thời tiết diễn biến bất thường, không giống quy luật chung, đã làm ảnh hưởng đáng kể đến kết quả sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Tính từ năm 1970 đến 2010,
có 20 năm thời tiết vụ đông xuân diễn biến bất thường, trong đó có 9 năm rét
và 11 năm ấm hơn trung bình nhiều năm Những năm thời tiết vụ đông xuân rét, nếu bảo vệ và chăm sóc mạ tốt, không bị đảo lộn cơ cấu giống và có biện pháp thâm canh hợp lý thì chắc chắn sẽ giành được năng suất cao Ngược lại vào những năm thời tiết vụ đông xuân ấm, cây lúa sinh trưởng ở giai đoạn đầu khá thuận lợi nhưng nếu không kịp thời có biện pháp tác động vào quy trình thâm canh, lúa sẽ trỗ bông sớm, năng suất giảm
+ Ánh sáng: Lúa là cây phản ứng với quang chu kỳ rất cao Số giờ nắng
có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lúa, quá trình trỗ bông của lúa thuận lợi khi số giờ nắng cao
Trang 21Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 12
Các yếu tố nhiệt độ và ánh sáng (nhất là nhiệt độ) tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa xuân, rõ nét nhất là tác động đến các quá trình: Sinh trưởng của cây mạ; tốc độ ra lá, khả năng đẻ nhánh và hình thành dảnh hữu hiệu; hiệu suất quang hợp, tích luỹ chất khô và quá trình thụ phấn, tỷ lệ hạt mẩy từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất lúa
+ Độ ẩm, lượng mưa: Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa, lúa là cây trồng ưa nước Cây lúa nước đòi hỏi có đủ lượng nước nhất định trong suốt thời gian sinh trưởng của lúa Vụ xuân thường khô hạn lúc đầu vụ song cuối vụ lượng nước lại dồi dào
+ Đất đai: lúa yêu cầu độ phì của đất cao, do đặc điểm sinh lý của lúa, đất trồng lúa đảm bảo giữ nước tốt, thành phần cơ giới của đất tốt nhất là thịt nhẹ, thịt nặng, thích nghi ở nhiều loại chân đất vàn, vàn trũng, vàn cao
2.1.5.2 Thời vụ gieo trồng
Các giống lúa trong trà xuân muộn có thời gian sinh trưởng ngắn: Nếu gieo mạ xuân muộn vào thời điểm trước ngày 20/1, cấy lúa vào đầu tháng 2 - đây là thời điểm có nhiệt độ thấp nhất trong vụ đông xuân (nhiệt độ trung bình đều dưới 17oC, có nhiều đợt rét đậm, rét hại) do vậy sẽ rất không an toàn cho cây mạ và lúa mới cấy Lúa làm đòng từ trung tuần tháng 3 đến cuối tháng 4 (nhiệt độ TB 20 – 24oC, không thuận lợi cho quá trình làm đòng); lúa trỗ bông vào từ 20/4 – 05/5 (nhiệt độ TB dưới 27oC, không thuận lợi cho quá trình trỗ bông), mặt khác vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 xác suất gặp gió mùa đông bắc còn cao (tần suất 7- 9%) Như vậy quá trình làm đòng và trỗ bông của lúa đều không thuận lợi, lúa sẽ bị bớt đầu bông, tỷ lệ lép cao, năng suất giảm Đặc biệt nếu lại gặp những năm có vụ đông xuân ấm, lúa trỗ bông trong tháng 4, năng suất lúa càng giảm
Nếu gieo mạ xuân muộn vào thời điểm từ ngày 25/1 – 05/2, cấy lúa vào nửa cuối tháng 2 – lúc này nhiệt độ tăng dần và đã đạt trên 17oC, xác suất
Trang 22gặp rét đậm, rét hại thấp nên khá an toàn cho mạ và lúa mới cấy Lúa làm đòng từ nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 (nhiệt độ TB 25,5 - 27oC); trỗ bông tập trung từ 10/5 – 15/5 (nhiệt độ TB trên 27oC) Mặt khác vào thời điểm lúa trỗ bông, vào chắc xác suất gặp gió tây khô nóng ở khu vực thấp (tần suất 5-13%), điều kiện ánh sáng tốt (số giờ nắng đạt trên 6 giờ/ngày) Như vậy quá trình làm đòng, trỗ bông và vào chắc của lúa đều rất thuận lợi, chắc chắn sẽ cho năng suất cao
2.1.5.3 Yếu tố tâm lý - xã hội
- Tâm lý người nông dân luôn muốn theo những cái đã ổn định, ăn chắc, ít rủi ro, trong khi đó gieo cấy giống lúa dài ngày trà xuân sớm vẫn có những ưu điểm nhất định, và họ đã có tập quán canh tác từ lâu
- Trình độ năng lực của hộ nông dân: am hiểu khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý; khả năng ứng xử trước những thay đổi của thị trường; khả năng trang bị cơ sở vật chất của chủ hộ
- Thị trường tiêu thụ lúa gạo nó ảnh hưởng đên quyết định có sản xuất giống lúa ngắn ngày, hay giống lúa dài ngày Nếu giá của lúa ngắn ngày cao thì người nông dân sẽ cấy nhiều diện tích lúa ngắn ngày hơn và ngược lại Thị trường bao gồm cả đầu vào và đầu ra, nó ảnh hưởng đến khả năng đầu tư, khả năng tiêu thụ ảnh hưởng đến lợi nhuận của người sản xuất và vì vậy cần có thị trường ổn định
2.1.5.4 Yếu tố tổ chức, quản lý
Quy mô sản xuất của từng hộ, ảnh hưởng tới việc áp dụng cơ giới hóa
và mức đầu tư cho sản xuất Sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước, HTXDV nông nghiệp, tổ chức xã hội cũng tác động rất lớn đến chủ trương gieo cây lúa xuân ngắn ngày Đó là sự lãnh đạo chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp, sự chấp hành kỷ cương thời vụ, sự tuyên truyền đối với các đoàn viên, hội viên, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật chăm sóc bảo vệ lúa
Trang 23Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 14
Quản lý của Nhà nước có tác động rất lớn đến thực hiện chương trình, đảm bảo thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào, đầu ra chất lượng tốt phục
vụ nhân dân sản xuất Điều tiết việc tưới tiêu nước hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân gieo trồng lúa xuân
2.1.5.5 Yếu tố chính sách
Khi một chủ trương mới đi vào cuộc sống, đây là một cuộc cách mạng, làm thay đổi nếp nghĩ cách làm và tập quán canh tác nó đòi hỏi phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và những chính sách kích thích nông dân tham gia Nếu có môi trường và chính sách thuận lợi thì những cái mới có hiệu quả kinh tế sẽ dần được phát triển nhân ra diện rộng
2.1.5.6 Khoa học công nghệ và công tác khuyến nông
Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật một cách hoàn chỉnh về các chuyên ngành cho các trạm khuyến nông cấp huyện để có thể giúp người dân ứng dụng khoa học công nghệ một cách tốt nhất trong sản xuất lúa xuân Thực hiện các đề tài nghiên cứu, ứng dụng, khảo nghiệm những giống lúa mới, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới có giá trị kinh tế, năng suất hiệu quả cao ở trong huyện sẽ giúp nông dân tiếp cận được giống lúa mới, kỹ thuật canh tác mới cũng làm tăng diện tích lúa xuân ngắn ngày Đặc biệt sau khi nghiên cứu có kết quả phải thực hiện công tác chuyển giao kỹ thuật nhanh nhất cho người nông dân vào sản xuất thử nghiệm và nhân rộng, đảm bảo yếu tố khoa học - công nghệ chiếm 90% giá trị mới được tạo ra của nông sản, như vậy nông sản mới có chất lượng tốt, giá thành thấp đủ sức cạnh tranh bền vững trên thị trường
Công tác khuyến nông được xem như một khâu đột phá trong việc sản xuất nông sản hàng hoá Trên cơ sở quy hoạch xác định rõ những nông sản hàng hoá chiến lược, công tác khuyến nông phải được đầu tư theo chương trình tập trung, trọng điểm Chú trọng công tác huấn luyện, trình diễn mô hình cho nông dân Việc tổ chức trình diễn các mô hình khuyến nông với phương
Trang 24châm “Trăm nghe không bằng một thấy” là hết sức quan trọng để thuyết phục, hướng dẫn nông dân áp dụng kỹ thuật mới Ngoài ra cần phải xúc tiến công tác thị trường, chế biến và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình sản xuất hàng hóa, góp phần vào sự nghiệp hiện đại hóa nông nghiệp của huyện
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày trên thế giới
Lúa được thế giới đánh giá là một trong 3 loại cây lương thực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là nguồn thức ăn chính cho hơn 70% dân số trên thế giới Cây lúa dễ trồng, dễ chăm sóc và có khả năng thích ứng rộng cho nên trên thế giới đã có trên 100 quốc gia trồng lúa và được lưu truyền nghề trồng lúa qua nhiều thế hệ
Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO,2008) cho thấy: hiện nay trên thế giới có 114 nước trồng lúa, có 18 nước có diện tích trồng lúa trên 1.000.000 ha tập trung ở châu Á, có 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000ha-1.000.000ha Trong đó có 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha, đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha)
Nhờ có những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã và đang được
áp dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất lúa trên thế giới như: sự đầu tư thâm canh, sử dụng các giống mới, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh biện pháp
kỹ thuật đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa trên thế giới, trong khi diện tích đất sản xuất lúa lại không tăng Các châu lục có vị trí địa lý khác nhau thì kết quả sản xuất lúa và năng suất lúa cũng không giống nhau
Sản lượng lúa trên thế giới năm 2008 là 661,811 triệu tấn, đứng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có công nghệ sinh học phát triển đã chọn tạo ra bộ giống lúa cảm ôn, ngắn ngày cho năng suất cao như lúa lai Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế - Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 - 2010, các nước xuất khẩu gạo ở Châu Á sẽ vẫn tiếp tục là nguồn
Trang 25Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 16
xuất khẩu gạo chính trên thế giới bao gồm các nước: Thái Lan, Việt Nam, Ấn
Độ Riêng xuất khẩu gạo của Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng ½ tổng lượng gạo xuất khẩu trên thế giới Một số nước khác cũng có đóng góp cho việc tăng sản lượng gạo trên thế giới như Ấn Độ Sahara, Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil…
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở Việt Nam
Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa
ở các nước châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam Cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 đồng bằng Bắc bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ/ha và sản lượng thóc tương ứng 2,4 - 3,0 triệu tấn Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ,
ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp Nhà nông có câu “Nhất thì, nhì thục”, từ năm 1963- 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều, thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời vụ Nhờ tiến bộ kỹ thuật đã đưa vào một số giống lúa xuân thấp cây, ngắn ngày đã đảm bảo được thời vụ Đã chuyển vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân, chuyển từ xuân sớm thành xuân chính vụ (80-90%) diện tích và thời
kỳ 1985-1990 sang xuân sớm (5-10%) và 70-80% là xuân muộn Một số giống lúa xuân đã có năng suất cao hơn hẳn lúa chiêm, có thể cấy được cả hai
vụ chiêm xuân và vụ mùa Do thay đổi cơ cấu sản xuất lúa, kết hợp với áp dụng hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới nên sản xuất lúa ở Việt Nam ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 lên 15,9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng
Trang 26dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất Tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm
Từ khi thực hiện đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ là nước thiếu ăn triền miên đã không những đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu từ 3-4 triệu tấn gạo /năm, đứng hàng thứ 2 trên thế giới về các nước xuất khẩu gạo Tuy diện tích đất trồng tăng không đáng kể, nhưng năng suất
và sản lượng lúa vẫn tăng mạnh và đạt kỷ lục 2005 với năng suất 4,76 tấn/ha, sản lượng 36,2 triệu tấn và xuất khẩu 5,25 triệu tấn, những năm tiếp theo sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng đạt sản lượng 38,73 triệu tấn (năm 2008) Đến năm 2009 sản lượng lúa đạt 38,90 triệu tấn, với năng suất đạt 5,23 tấn/ha Những thành tựu trên là kết quả của việc tạo chọn các giống lúa mới năng suất cao, ngắn ngày, kháng sâu bệnh, chất lượng tốt và áp dụng các biện pháp thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng sinh thái (Lê Minh Triết, 2006) Nhập nội, chọn tạo các giống lúa mới: Trong những năm
70, Việt Nam đã nhập nội các giống lúa Thần Nông, NN8, IR20, IR26,… từ IRRI Nhiều giống lúa thấp cây, ngắn ngày năng suất cao đã được nhập nội, lai tạo và tuyển chọn Kết quả điều tra của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống cây trồng Trung ương trong hai năm 2000, 2001 cho thấy: cả nước có trên 680 giống lúa được gieo trồng (chưa kể các giống địa phương chưa rõ tên) (trích dẫn bởi Lê Minh Triết, 2003) Năm 2000 ở các tỉnh phía Bắc trong
vụ Đông Xuân có 198 giống, vụ mùa có 218 giống Năm 2001, các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên trong vụ Đông Xuân có 129 giống Đây là thành tựu hết sức lớn lao của ngành nông nghiệp, điều đó đã giúp nước ta từ một nước phải nhập khẩu gạo thường xuyên đến nay đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới
Trang 27Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 18
2.2.3 Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày vụ xuân ở đồng bằng sông Hồng
Khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng là một trong hai khu vực sản xuất lúa lớn nhất của nước ta Tình hình sản xuất lúa ngắn ngày của khu vực đồng bằng sông Hồng thể hiện ở những nội dung sau:
a) Diễn biến năng suất lúa xuân: Trong 10 năm qua năng suất lúa đồng bằng sông Hồng tăng nhanh từ 13,3 tạ/ha lên 62,9 tạ/ha năm 2004 Trong 11 tỉnh đồng bằng Sông Hồng thì có 9 tỉnh năng suất trà xuân muộn cao hơn trà xuân sớm Tỉnh Ninh Bình, xuân muộn cao hơn xuân sớm 12,1 tạ/ha, tỉnh Nam Định, Vĩnh Phúc chênh lệch 9 tạ/ha
Từ những năm 1982 trở đi, ngoài ảnh hưởng của thời tiết và các yếu tố giống, kỹ thuật, còn có tác dụng quyết định của "chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động" nên năng suất lúa chiêm và lúa xuân đều tăng, riêng lúa xuân tăng nhiều hơn lúa chiêm
b) Diễn biến sản xuất về giống lúa, trà lúa Đông Xuân
Từ bộ giống lúa, bố trí các trà gieo mạ, hình thành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ vào 25/4 đến 10/5 Xuân sớm gieo mạ tháng 11; Xuân chính vụ gieo mạ tháng 12; Xuân muộn gieo mạ cuối tháng 1 đầu tháng 2
+ Giai đoạn trước 1990 : thời gian này có giống NN8 năng suất cao, có
ưu thế trong trà xuân chính vụ, có một số giống dài ngày năng suất khá ổn định nên cơ cấu chỉ đạo là :
- Xuân sớm 30 - 35% diện tích (DT); Xuân chính vụ 50 - 55% DT; Xuân muộn 10 - 20% DT
- Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10, DT 10, NN8, Xi 12, Cr 203
+ Giai đoạn trước 2000: thời gian này có giống Cr 203 ( IR 8423) thích ứng rộng, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp với trà xuân muộn nên cơ cấu chỉ đạo là :
Trang 28- Xuân sớm 30 - 35% DT'- Xuân chính vụ 15 - 20% DT;- Xuân muộn 45
- 65% DT
- Các giống chủ lực là : 13/2, VN 10, DT 10, Cr 203; Q5, Khang dân, lúa lai + Giai đoạn 2000 đến nay: nhiều năm Giống Khang Dân, Q5 là chủ lực, các giống lúa lai ngắn ngày, năng suất cao như Nhị ưu, Bồi tạp, các giống chất lượng cao như Bắc thơm, Hương thương, BC15, TBR1, HYT phát triển rộng nên cơ cấu chỉ đạo là: Giảm hẳn xuân chính vụ, xuân sớm; Tăng tối đa trà xuân muộn
Xuân chính vụ từ 55-60% diện tích đến nay giảm không còn đáng kể; Xuân sớm từ 30 - 40% diện tích đến nay giảm nhiều, chỉ còn ở một số tỉnh có chân đất lúa trũng như Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc cấy với tỷ lệ 10-15% diện tích; Xuân muộn từ 10 - 20% diện tích tăng lên 80-90% diện tích
Bộ giống lúa Đông Xuân khá phong phú, có 20 giống lúa đạt năng suất bình quân trên 60 tạ/ha chủ yếu là các giống ngắn ngày như Khang Dân 18, Q5
* Quy luật năng suất lúa Đông Xuân trong mối tương quan với thời tiết
ở đồng bằng sông Hồng được tổng kết là :
- Năm rét đậm : được mùa
- Năm rét bình thường : bội thu
- Năm ấm : năng suất lúa đông xuân không cao
2.2.4 Những tiến bộ và kinh nghiệm trong sản xuất lúa ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương và của tỉnh Thái Bình
Hưng Yên:
- Cơ cấu trà lúa, vụ lúa: Ngay từ năm 2001, Tỉnh đã chủ trương không cơ cấu diện tích lúa trà xuân trung, mục đích để chủ động né tránh các điều kiện thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng lúa, làm giảm giá trị thu nhập, kết quả năm 1997 vẫn còn 52,9% diện tích lúa gieo cấy trà Xuân trung, đến năm năm 2004 đã cơ bản không còn diện tích lúa gieo cấy trà Xuân
Trang 29Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 20
trung trên đồng ruộng, từ năm 2005 tỉnh thực hiện bước chuyển đổi mới nữa,
bỏ hẳn trà xuân sớm, tập trung toàn bộ diện tích gieo cấy trong trà Xuân muộn, nhằm khai thác lợi thế tiềm năng thời tiết khí tượng tạo năng suất lúa tối đa
- Trong khâu giống: Cơ cấu giống lúa có sự thay đổi thường xuyên, cập nhật kịp thời các tiến bộ sinh học về giống bổ sung thay thế các giống cũ không còn phù hợp, theo đó các giống C70, C71, CR203, Khâm dục, ĐV
108, X21 và các giống lúa lai Bồi tạp sơn thanh, Tạp giao 1, Tạp giao 3, năng suất, chất lượng thấp dã vắng bóng hẳn trên đồng ruộng Hưng Yên thay vào
đó là các giống lúa chất lượng cao: Bắc thơm 7, Hương thơm 1, QR1, nếp
BM 9603, nếp Yên Mỹ, nếp N87; 97 và các giống lúa lai vừa cho năng suất cao, vừa có chất lượng khá như: TH 3-3, Việt lai 20, Syn 6, Thục hưng 6, HYT 100, Bio 404, GS9…
- Trong kỹ thuật canh tác: Hầu hết diện tích lúa đã được cơ giới hóa trong các khâu làm đất, tưới tiêu, thu hoạch Nhiều tiến bộ kỹ thuật: gieo thẳng, sạ giống theo hàng được áp dụng rộng rãi; Thâm canh lúa theo hướng 3 giảm 3 tăng, bón phân cân đối phòng trừ sâu bệnh tổng hợp theo IPM
Nam Định:
Trước đây, ở Nam Định có tất cả các trà lúa như trà xuân sớm, xuân chính vụ (xuân trung) xuân muộn Từ năm 2000, tỉnh đã định hướng chuyển đổi làm lúa xuân hè với các giống lúa thuần ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng cao và lúa lai Những năm đầu thực hiện chuyển đổi cơ cấu trà lúa cũng gặp nhiều khó khăn, trà xuân muộn chiếm tỉ lệ thấp dưới 30- 50% diện tích vụ xuân Từ năm 2004 – 2005 được Cục Trồng trọt Bộ Nông nghiệp PTNT quan tâm, UBND tỉnh quyết liệt chỉ đạo các địa phương xoá sổ trà lúa xuân sớm và xuân trung để chuyển sang gieo cấy toàn bộ lúa xuân muộn Đây là khâu đột phá trong chuyển đổi cơ cấu giống và trà vụ nhằm tăng sản lượng lương thực
và hình thành vùng chuyên canh lúa hàng hoá Đến nay tỉ lệ trà lúa xuân
Trang 30muộn đã chiếm tỉ lệ 95% diện tích, trà lúa xuân sớm, xuân chính vụ chỉ còn là 5% DT
Tỉnh chỉ đạo các địa phương tập trung vào các giống lúa thuần chất lượng cao và lúa lai với các giống chính gồm: Bắc Thơm số 7, Hương Thơm
số 1, T10, TBR45, Khang Dân 18, QR1 và nhóm lúa nếp; nhóm lúa lai gồm các giống SYN 6, Thục Hưng 6, HYT 100, Bio404; GS9 So với lúa xuân sớm và lúa xuân trung, lúa xuân muộn có nhiều ưu thế hơn Trà lúa này gồm những giống ngắn ngày, thời vụ gieo cấy muộn, mạ gieo trên nền đất cứng hoặc gieo thẳng vào dịp lập xuân thời tiết ấm trên 15oC nên phát triển nhanh Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, lúa muộn không chịu tác động nhiều của thời tiết, ít sâu bệnh, năng suất cao trên 65 tạ/ha Đáng chú ý, việc tăng diện tích lúa xuân muộn cũng là biện pháp hữu hiệu để chống hạn trong điều kiện thiếu nước hiện nay
Để ngăn chặn tình trạng nông dân gieo cấy lúa sớm, ngay từ đầu vụ Sở nông nghiệp PTNT đã chỉ đạo các công ty thuỷ nông không điều hành bơm nước vào các chân ruộng Do vậy, nông dân các địa phương không có điều kiện để làm đất gieo mạ dược trà sớm Bên cạnh đó, để khuyến khích mở rộng diện tích lúa muộn, tỉnh đã hỗ trợ nông dân kinh phí để mua các giống lúa lai
để tăng sản lượng lương thực; đồng thời chỉ đạo nông dân cấy các giống lúa chất lượng cao, chiếm hơn 55% diện tích để hình thành các vùng thâm canh lúa hàng hoá
Hải Dương:
Những năm qua, tỉnh Hải Dương đã tích cực chỉ đạo giảm trà lúa xuân sớm, tăng trà xuân muộn Một số xã đã bỏ hẳn trà xuân sớm, chuyển sang gieo cấy toàn bộ lúa xuân muộn Vụ chiêm xuân 2010, toàn tỉnh có kế hoạch tiếp tục giảm trà lúa xuân sớm xuống chỉ còn chiếm 20% tổng diện tích Kinh nghiệm quan trọng nhất để giảm trà sớm là chủ động điều tiết nguồn nước, có
bộ giống xuân muộn tốt và tích cực tuyên truyền, tập huấn cho nông dân
Trang 31Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 22
Tuy nhiên, việc giảm trà lúa xuân sớm còn gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt là các huyện phụ thuộc vào nguồn nước thủy triều và có nhiều chân ruộng trũng như Kim Thành, Tứ Kỳ, Ninh Giang Nông dân phải cấy mạ dược ở chân trũng để lúa chống chịu với con nước lớn (cấy mạ sân hoặc gieo thẳng
dễ bị ngập) Để chuyển sang gieo cấy ở trà xuân muộn, tỉnh còn gặp khó khăn
về nguồn giống Nhiều giống lúa lai trà muộn có năng suất cao, chất lượng tốt nhưng nguồn cung không ổn định, giá bán cao, nhiều vụ không có giống cung ứng cho nông dân Mặt khác, tập quán gieo mạ dược, cấy sớm vẫn còn xảy ra
ở nhiều địa phương, không dễ thay đổi trong thời gian ngắn
Giảm tối đa trà lúa xuân sớm, chuyển sang gieo cấy trà lúa xuân muộn nhiều hơn, nếu bỏ hẳn trà sớm là điều tốt nhất Việc làm này cần làm kiên trì trong nhiều năm, nhưng phải thực hiện quyết liệt trong từng vụ Để làm được điều đó phải có các giải pháp hiệu quả cho từng địa phương, đặc biệt là những nơi còn nhiều diện tích lúa xuân sớm
Biện pháp đầu tiên là phải chủ động khâu điều tiết nước Nếu cho nước vào sớm, nông dân sẽ gieo mạ dược và cấy sớm Cần tăng cường thêm các trạm bơm tưới động lực, chủ động đưa nước muộn hơn sẽ tạo điều kiện để nông dân chuyển sang cấy trà muộn Rà soát lại diện tích cấy sớm, chỉ có diện tích trũng, phụ thuộc nước thủy triều thì mới để ở trà sớm Thứ hai, cơ quan chức năng cần chỉ đạo đơn vị cung ứng giống cung cấp cho nông dân nhiều giống lúa xuân muộn có năng suất, chất lượng cao, nguồn cung phải ổn định
để thay thế giống trà sớm Tích cực tuyên truyền, vận động nông dân bỏ tập quán cũ, chuyển sang canh tác lúa xuân muộn
Thái Bình:
Những năm 1960, Thái Bình thử nghiệm rất nhiều các giống lúa Thu với giống Nam Ninh, Trà Trung Tử, Lục Tài hiệu… sau đó làm thêm lúa mùa cưỡng vụ 3 với các giống cảm quang mạnh, Bao Thai lùn và giống Cảm
Hè-ôn ngắn ngày, giai đoạn này Thái Bình khẳng định chỉ trồng được 2 vụ lúa
Trang 32trong năm Nguyên nhân là vụ lúa hè-thu dễ gặp bão gió và sâu bệnh phá hại
Vụ mùa cưỡng trổ bông thường gặp rét sớm và khi chín lượng bức xạ ít nên năng suất thấp Nếu sau ngày 10 tháng 10 trổ bông thì hiếm có trường hợp năng suất đạt 4 tấn/ha
Từ năm 1973-1975 tại Thái Bình còn giữ quan điểm cấy lúa không được “Xuân hoá” qua giá rét, không để mạ già, bông bé và ít bông, ít hạt… do vậy đã tìm cách xử lý mạ già như cấy dày, xén mạ, tăng phân… tuy nhiên năng suất lúa vẫn không được cải thiện Đến năm 1978-1979 đã xác định rõ nguyên nhân lúa xuân ấm năng suất thấp là do khi lúa làm đòng và trỗ gặp điều kiện thời tiết xấu, từ đó xác định mốc lúa trỗ cho năng suất đạt 4 tấn/ha
an toàn từ ngày 25 tháng 4, đồng thời xây dựng làm mạ dược 70%, mạ sân 30% cho giống trung ngày NN8 mà mạ được gieo theo kiểu hình con thoi
Từ năm 1985, ngành Nông nghiệp Thái Bình xác định lúa mùa trỗ vào khoảng tuần 3 tháng 9 là có tính ưu việt nhất và đã chuyển hẳn trà mùa chính
vụ sang mùa trung Thay Mộc Tuyền bằng giống lúa ngắn ngày CR203 Điều này đánh dấu mốc son lịch sử làm tăng năng suất lúa vượt ngưỡng 40 tạ/ha
Sau đó, các giống Q5 (năm 1992) và giống Khang Dân 18 (1994) đưa vào cơ cấu gieo trồng chính trong tỉnh cho năng suất cao và ổn định Cũng từ
đó, nhờ những tiến bộ về giống trên toàn quốc, bộ giống lúa thuần tại Thái Bình đã trở nên phong phú Nhiều giống lúa năng suất đã được đưa vào trong
cơ cấu sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người trồng Các giống Xi23, X21, NX30, C70, VN10 là giống phổ biến nhất, tuy nhiên các giống lúa này thường có thời gian sinh trưởng tương đối dài và chỉ thích hợp cho các chân ruộng trũng
Đầu những năm 2000, thực hiện chủ trương đổi mới trong sản xuất nông nghiệp là thay thế các giống lúa dài ngày bằng các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao để thâm canh tăng vụ, chuyển từ 2 vụ lúa sang cơ cấu 2 vụ lúa 1
vụ màu Các giống lúa thuần như: Q5, Khang Dân 18 giữ vai trò chủ đạo
Trang 33Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 24
trong cơ cấu giống lúa trong toàn tỉnh Ngoài ra, còn một số giống chất lượng như: HT1, Bắc Thơm 7, N97… Tuy nhiện, từ năm 2005, giống lúa mới TBR-
1 cho năng suất cao, chống chịu tốt các loại sâu bệnh hại đã nhanh chóng được đưa vào cơ cấu sản xuất lúa của tỉnh Đặc biệt từ năm 2007 giống BC15 được đưa vào sản xuất chiếm ưu thế vì vừa cho năng suất cao mà chất lượng gạo lại ngon Cơ cấu giống Q5, Khang Dân có xu hướng giảm dần vì các giống lúa này chất lượng trung bình
Hiện nay, cơ cấu giống cây trồng đã được hoàn thiện, với hàng loạt giống lúa ngắn ngày có năng suất cao đưa năng suất lúa ở Thái Bình đạt mốc son mới trên 13 tấn thóc/ha/năm
Trang 343 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quỳnh Phụ là huyện nằm phía Bắc của tỉnh Thái Bình ở toạ độ địa lý từ
20090’ đến 200105’ vĩ độ Bắc và từ 106010’ đến 106025’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương, ranh giới là dòng sông Luộc Phía Đông giáp huyện Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng, ranh giới là sông Hoá Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thuỵ Phía Tây giáp huyện Hưng Hà Xung quanh huyện có hệ thống sông ngòi bao bọc, hệ thống đường bộ đa dạng gồm cả quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện nên rất thuận lợi cho hoạt động giao lưu hàng hoá giữa các địa phương trong và ngoài huyện Xung quanh huyện
có hai con sông vừa là ranh giới thiên nhiên với các tỉnh bạn vừa là tuyến giao thông thuỷ nối với các tỉnh thuộc tam giác động lực kinh tế trọng điểm phía Bắc là
Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng tạo cơ hội giao lưu kinh tế, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư phát triển các ngành kinh tế Quốc lộ 10 chạy qua huyện là tuyến đường nối Quảng Ninh - Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định vừa được nâng cấp, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá Ngoài ra, trong huyện còn có các tuyến đường tỉnh lộ như 396B, 455, 452, đường huyện như 72,
73, 75, 76 là những cơ sở hạ tầng quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương trong thời gian tới
Về mặt hành chính, Quỳnh Phụ có 38 đơn vị hành chính bao gồm: Thị trấn Quỳnh Côi, An Bài là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của
huyện và 36 xã
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình của huyện Quỳnh Phụ tương đối bằng phẳng, có địa mạo của một vùng đồng bằng châu thổ Địa hình có hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam tương tự như địa hình chung của toàn tỉnh Đại đa số diện tích đất của huyện có độ cao 1 - 2m trên mực nước biển (chiếm 62,5%), nơi cao nhất
Trang 35Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 26
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Trang 36là 3m thuộc xã Quỳnh Ngọc, nơi thấp nhất là các điểm ở Chiều Trắng, Chiều Ruồi thuộc thôn Lường Cả - xã An Ninh (0,4m)
Thực tế, đất đai của huyện cũng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, mương máng tạo thành các tiểu vùng khác nhau về độ cao, tuy nhiên sự khác biệt không lớn nên không gây nhiều khó khăn cho sản xuất mà chỉ tạo ra sự
đa dạng trong thâm canh tăng vụ
Nhìn chung, địa hình của huyện Quỳnh Phụ không phức tạp, đất đai được hình thành do sự bồi đắp của phù sa hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá nên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và canh tác lúa nước nói riêng
3.1.1.3 Khí hậu
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu có đặc điểm chung của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng là nóng ẩm, mưa nhiều, một năm chia thành hai mùa theo nhiệt độ là mùa nóng và mùa lạnh, nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 240C Trong một năm, lượng bức
xạ mặt trời khá lớn, khoảng trên 100Kcal/cm2/năm Số giờ nắng từ 1600-1800 giờ/năm và tổng nhiệt lượng cả năm ước khoảng 8.5000C Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.500 - 1.900 mm, độ ẩm không khí 80 - 90%
Diễn biến thời tiết phân mùa khá rõ rệt với hai mùa chính là mùa hè và mùa đông, hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu
* Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ mùa hè rất cao, trung bình > 260C, cao nhất là 39,20C Trong mùa hè thường gặp hai kiểu thời tiết là thời tiết dịu mát
và thời tiết ảnh hưởng của gió Tây Nam nóng khô Những ngày dịu mát nhiệt
độ trung bình khoảng 250C, những ngày gió Tây Nam nóng nhiệt độ lên tới
35 - 370C làm cho cây trồng bị héo ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng Nhiệt độ trung bình của mùa đông tại địa phương là 200C, nhiệt độ tối thấp là 4,10C Trong mùa đông thường có những đợt lạnh kéo dài do chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc, xen kẽ giữa các đợt gió lạnh này là
Trang 37Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 28
những ngày ẩm ướt do sự giao nhau giữa các khối không khí khác nhau về nhiệt ẩm Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh là khoảng 15 -
200C, biên độ nhiệt độ ngày đêm có khi lên tới trên 100C
* Lượng mưa: Lượng mưa mùa hè thường chiếm 80% tổng lượng mưa
cả năm và thường tập trung vào các tháng 7 - 8 Cường độ mưa lớn, có trận mưa tới 200 - 250mm Lượng mưa tập trung với cường độ lớn đã gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, gây nên hiện tượng úng ngập tại một số vùng có tiểu địa hình thấp, khó tiêu thoát nước Đặc biệt, mùa hè tại địa phương thường gặp hiện tượng mưa không đều, có những tháng hầu như không mưa, nắng gắt nên gây hạn, có những tháng mưa hết cả tháng gây úng ngập kéo dài Lượng mưa trong mùa đông rất thấp, chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm và tập trung vào các tháng 2, 3 là thời kỳ mưa phùn
ẩm ướt Còn các tháng 12, tháng 1 thì lượng mưa rất thấp, hầu như không có mưa và lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi nên cần có các biện pháp tưới nước cũng như giữ ẩm cho cây trồng
Bảng 3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu, thời tiết huyện Quỳnh Phụ
8 Số cơn bảo ảnh hưởng trực tiếp cơn 2-3
Nguồn : Trạm khí tượng thuỷ văn Thái Bình
Trang 38
* Gió và hướng gió:
- Vào mùa hè thịnh hành là gió Đông Nam mát mẻ, nhiều hơi nước, tốc
độ gió trung bình là 2-4m/giây Những tháng mùa hè thường hay có dông, bão gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống Mỗi năm, huyện chịu ảnh hưởng của 2-
3 cơn bão, cá biệt có năm là 6 cơn bão Ngoài gió Đông Nam, địa phương còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nóng khô Gió trong mùa đông chủ yếu là gió Bắc, Đông Bắc, xen kẽ cũng có các đợt gió Đông, Đông Nam Tốc độ gió tuy không mạnh nhưng cũng đạt cấp 3-5
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí của mùa hè thường cao, nhất là
những ngày có mưa ngâu độ ẩm có thể lên tới 90%, nhưng nếu có gió Tây Nam thì độ ẩm chỉ còn khoảng 30%
- Mùa đông, do có lượng bốc hơi cao trong khi lượng mưa thấp nên độ
ẩm không khí trong mùa đông tại huyện Quỳnh Phụ không cao Vào những ngày trời nắng hanh, độ bốc hơi cao làm cho độ ẩm không khí giảm chỉ còn 30-40%, xuất hiện chủ yếu vào nửa đầu của mùa đông Nửa cuối mùa đông do
có mưa phùn, trời ít nắng nên độ ẩm không khí khá cao, đạt >90%
Ngoài hai mùa chính là mùa hè và mùa đông, còn có hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu Các mùa chuyển tiếp thể hiện sự thay đổi của 2
hệ thống gió mùa: Đông Bắc (mùa đông) và Tây Nam (mùa hè) Do đó các đặc tính khí tượng, thời tiết rất không ổn định Song hai mùa chuyển tiếp có nhiều tính chất gần giống với mùa hè Như vậy khí hậu Quỳnh Phụ là khí hậu gió mùa nhiệt đới nóng ẩm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp quanh năm và đa dạng hoá cây trồng
Trang 39Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 30
chảy qua phía Bắc và phía Tây của huyện là nguồn nước chủ yếu và khá đầy
đủ cho sản xuất nông nghiệp
- Sông Yên Lộng là sông đào lấy nước từ sông Luộc tưới cho 8.238 ha trong đó có 1.000 ha tưới tự chảy
- Sông Sành, sông Diêm Hộ, sông Cô cũng là các sông đào lấy nước từ sông Luộc và sông Hoá dài 83 km cung cấp nước tưới cũng như tiêu thoát nước cho diện tích nội đồng trong cả huyện
- Các hệ thống cống dưới đê từ Lý Xá đến Láng Láy lấy nước của sông Hóa tưới cho 4.500 ha đất canh tác phía Tây của huyện
- Ngoài các hệ thống sông ngòi, trong huyện còn hệ thống hồ, đầm, kênh rạch với mật độ lớn phục vụ khá tốt cho sản xuất nông nghiệp
Đặc điểm chung của hệ thống sông ngòi, kênh rạch trong huyện là đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đổ ra biển Các sông lớn đều là nhánh của hệ thống sông Hồng (đa số các sông bắt nguồn từ sông Đuống hay sông Hồng) tạo ra lượng phù sa lớn bồi đắp nên những bãi bồi phì nhiêu Mặc dù
có nhiều sông ngòi chảy qua nhưng lòng hẹp, có độ dốc nhỏ nên khả năng tiêu thoát nước trong mùa mưa chậm, gây úng lụt khi tần xuất mưa cao Mặt khác, vào mùa mưa thường gây xói lở tại các khu vực bãi bồi, đe dọa lũ lụt đối với diện tích trong đê
Chế độ nước của hệ thống sông ngòi của huyện chịu ảnh hưởng của thuỷ triều rõ rệt trong thời gian từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mỗi chu kỳ thuỷ triều từ 13 - 14 ngày, trung bình triều cao là 1m Trong mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 8 thuỷ triều thường không thể gây nhiễm mặn cho đất
do lượng nước mưa chảy từ thượng nguồn đã đẩy vùng nước mặn ra xa phía biển Nhưng vào mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4 do lượng mưa ít, triều cường
đã đẩy nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền có thể gây nguy cơ nhiễm mặn cho đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cây trồng và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những năm hạn hán
Trang 40Nhìn chung, hệ thống thuỷ văn nước mặt của huyện Quỳnh Phụ khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, kể cả về mùa khô
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.1.5 Đặc điểm về đất đai
Đất đai của huyện Quỳnh Phụ được hình thành do phù sa hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình bồi đắp, phủ trên nền trầm tích sông và biển Nền trầm tích biển thường là cát pha hoặc sét pha có màu xám đen lẫn tầng xác sú vẹt, có hàm lượng lưu huỳnh cao (vượt chỉ tiêu 0,75% S tổng số) Tầng đất hữu hiệu (tầng đất mà rễ cây có thể vươn tới được) nói chung dày 60-80 cm, tầng canh tác trung bình dày 17-20 cm Khoảng 70% diện tích đất canh tác nằm trên chân vàn Theo nguồn gốc phát sinh, đất đai của huyện Quỳnh Phụ được chia làm 2 nhóm đất chính:
- Nhóm đất phèn (S): xuất hiện cả đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng
- Nhóm đất phù sa: Đất phù sa của huyện có diện tích chủ yếu là phù sa trong đê không được bồi hàng năm, ngoài ra còn có một ít diện tích đất phù sa được bồi hàng năm ở các xã ven đê chiếm tỷ lệ thấp
Nhìn chung đất phù sa của Quỳnh Phụ vẫn giữ được bản chất của nó Điều này được chứng minh bởi tính xen kẽ của các tầng đất theo quy luật bồi
tụ Tuy nhiên đất đai Quỳnh Phụ được tạo nên do bồi tụ của hai nguồn phù sa thuộc hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trong đó đất phù sa sông Hồng ít bị thay đổi hơn các loại đất phù sa khác, màu nâu tươi, giàu kali và lân, hàm lượng Ca2+ từ 6-8 lđl/100g đất và thường lớn hơn Mg2+ 3-4 lần, pHKCL từ 6,0 đến 7,50, kết cấu đất tơi xốp, thành phần cơ giới phần lớn là thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất phù sa sông Thái Bình có màu nâu nhạt, nâu vàng nhạt hoặc xám nhạt, hàm lượng lân tổng số trung bình, lượng Ca2+ thấp, pHKCL từ 4,50 đến 5,50, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, địa hình gồ ghề và nghiêng dần về hạ lưu